Ktetaichinh’s Blog

October 2, 2009

Can 7-Eleven Win Over Hong Kong Foodies?

Filed under: thị trường (market) — ktetaichinh @ 4:09 am

By Adam Rose / Hong Kong Thursday, Oct. 01, 2009
Office workers walk through the central business district of Hong Kong during a lunch hour
Natalie Behring / Onasia
It’s just before noon on a Tuesday, and despite the rain, a few dozen schoolgirls in white uniforms and navy cardigans are milling about the 7-Eleven on Tong Chong Gai, a bustling Hong Kong side street of restaurants and cafés. A few of the teenagers grab chocolate milk and sushi rolls from the open chiller. The others queue up to order a hot lunch at the brand-new food counter that is manned by half a dozen employees in bright orange uniforms.

Welcome to Hong Kong’s first 7 Café, part of the U.S. convenience-store chain’s global foray into fast food. Part convenience store, part fast-food restaurant, the café opened its doors last month with a rotating menu featuring dishes you’re more likely to see in a college cafeteria than a corner store: chicken fillet with onion and black-pepper sauce, Japanese udon noodles with curry, penne Bolognese. “We’ve been a snack destination,” says Tim Chalk, commercial director of Dairy Farm, which holds the 7-Eleven area franchise for Hong Kong, Macau, Singapore and Guangdong. “We want to be a food destination.” (See 10 things to do in Hong Kong.)

Convenience stores have long been in the business of selling smokes, cold drinks and candy bars, but as consumers spend more and more on meals away from the home, ramping up food services is now seen as key to the industry’s future. In Thailand, 7-Eleven sells burgers. In Japan, they fry their own chicken. In the U.S., a quarter of the chain’s stores have rolled out oven-cooked pizzas. 7-Eleven’s rival in Hong Kong, Circle K, serves toast and pasta dishes. “Convenience stores as an industry are heavily reliant on product categories such as cigarettes, which are under extreme pressure from a health and regulatory perspective,” says Dennis Phelps, vice president for fresh food at 7-Eleven’s corporate headquarters in Dallas. “People may choose to quit smoking, but they will not quit eating.”

The convenience store already occupies a special place in the heart of Hong Kong. Although most of the stores are no bigger than a New York studio apartment, they’re as ubiquitous as Starbucks in Seattle: there are nearly 1,000 7-Elevens in this city of 7 million — almost as many as in the whole state of California. (Circle K has a third of that number.) An estimated 85% of Hongkongers visit a 7-Eleven every month, according to the company, where they can do everything from withdraw money and replenish their subway passes to pay their electricity bill and send money overseas. (See pictures of Hong Kong.)

But in this food-obsessed city where the collision of Western and Chinese cuisines has created finely attuned tastes, trying to enter the fast-food market can be risky. Long before corporate chains began setting up shop, Hongkongers could find a quick meal at local cha chaan teng, or tea cafés, serving soup with noodles and meat, or storefront street vendors selling shao mai, or dumplings, and fish balls — spongy fried balls the size of jawbreakers that are made from minced fish and dough.

For years, 7-Eleven Hong Kong has shown deference to Hong Kong’s love of food by offering ready-to-eat local fare like pork buns, shao mai and fish balls. (The more familiar roller-grill hot dogs and Slurpees are also available at some of the stores.) In fact, Casey Lum, who teaches a class at NYU on Hong Kong food culture and is the director of graduate studies in communication at William Paterson University, says part of the company’s success in Hong Kong is due to the fact that it has become a “glocal” chain — a global brand adapted to local tastes and habits. For taxi drivers working the overnight shift, for instance, 7-Eleven is often the only place they can stop for a quick Cantonese snack. (See the top 10 food trends of 2008.)

But when it comes to a full meal, wooing customers away from their favorite haunts could be a challenge. Many of the street vendors, as well as the cha chaan teng and noodle shops, have deep roots in the community, and customers go to them intentionally to eat. Corporate global chains may be fine for a snack but “are not perceived to be authentic” when it comes to a meal, says Stephen Wong, program director of HKU/SPACE and a former food columnist for the Chinese-language newspaper Ming Pao. “People know they’re from the States. People expect an authentic American flavor,” he says. While U.S. brands are well-trusted in a city with widespread concerns about hygiene and food safety, Shaun Rein, managing director of the China Market Research Group, isn’t convinced this will translate into a successful restaurant business. “7-Eleven is going to have a hard time,” Rein says.

Others think the model could take off. “I don’t think 7-Eleven is competing with street vendors per se because the crowd is different,” says Lum. “The younger generation may go to 7-Eleven a lot more easily than those people who are older.” Back at the café on Tong Chong Gai, he appears to be correct. Loretta, 16, orders her lunch of laksa, a curry noodle soup. She says she likes the variety here. Plus, she says, “it’s new.” Vivian, 17, picks a temaki roll off the shelf and says she comes here because it’s cheap. “They don’t want to spend much money on lunch because they want to save it for entertainment,” she says, referring to the friends around her.

For now, 7 Café seems to have captured young Hong Kong’s attention. Whether the chain can keep it remains to be seen. Says another girl, as she opens a container holding a chicken fillet with mushroom gravy: “Today I go here, but maybe tomorrow I’ll go to another store.”


April 18, 2009

Giá thấp, chất lượng cao – chìa khóa vượt khủng hoảng

Filed under: khủng hoảng,thị trường (market) — ktetaichinh @ 9:02 pm
Tags: ,

Suy thoái kinh tế đã làm nhiều tập đoàn tại Nhật Bản phá sản, nhưng lại là cơ hội cho nhiều công ty khác chiếm lĩnh thị trường với công thức sản phẩm chất lượng tốt giá cạnh tranh, nhằm đối phó với tình trạng sức mua giảm mạnh.

Một cửa hàng Uniqlo của Fast Retailing. Ảnh: Daylife.

Hai công ty Nhật Bản chứng tỏ khả năng tận dụng cơ hội trong thời buổi kinh tế khó khăn là Fast Retailing, sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ các sản phẩm may mặc Uniqlo và Nitori, nhà bán lẻ sản phẩm nội thất. Cả hai công ty này đều thích nghi tốt với hiện tượng tiết giảm chi tiêu của phần đông người tiêu dùng. Họ sản xuất những sản phẩm rẻ tiền nhưng chất lượng lại cao hơn, làm cho khách hàng cảm thấy yên tâm với đồng tiền bỏ ra.

Kể từ năm 2006, nhà sản xuất và phân phối đồ may mặc Fast Retailing bắt đầu hợp tác với nhà sản xuất sợi vải Toray Industries nhằm cho ra những sản phẩm chất lượng cao, thu hút người tiêu dùng. Heat-Tech – quần dành cho phụ nữ – được sản xuất trên công nghệ mới, giúp chống vi khuẩn và có chức năng giữ hơi ấm, đồng thời nhẹ hơn các loại vải bình thường. Dòng sản phẩm này đạt doanh thu kỷ lục trong mùa thu đông vừa rồi và luôn luôn trong tình trạng cháy hàng tại các cửa hiệu của Fast. Công ty hy vọng sẽ bán được 28 triệu quần Heat-Tech trong mùa thu đông năm nay.

Một sản phẩm chất lượng cao khác là loại vải dành cho giặt máy được tung ra tháng 12/2008 cũng nhanh chóng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Loại vải này không bị giãn kể cả sau quá trình dài giặt bằng máy. Tadashi Yanai, Chủ tịch kiêm CEO của công ty, tự tin nói: “Chúng tôi đã dành rất nhiều năm nghiên cứu phát triển công nghệ. Những sản phẩm nào không bỏ công sức đầu tư thì không thể thành công được.”

Còn Nitori, nhà cung cấp đồ nội thất với 184 cửa hàng khắp nước Nhật, đã quyết định giảm giá 20% cho 1.000 loại sản phẩm từ tháng 5 đến tháng 11/2008, thời điểm tất cả các loại hàng hóa khác đều đang không ngừng tăng giá. Chính sách tưởng như ngược đời này cuối cùng đã mang lại kết quả xứng đáng. Trong 2008, khi hầu hết các doanh nghiệp Nhật rơi vào cảnh khó khăn, Nitori vẫn đánh dấu năm thứ 22 liên tiếp tăng trưởng cả lợi nhuận lẫn doanh thu. Năm nay, công ty có kế hoạch mở thêm 35 cửa hàng trên khắp nước Nhật. Chủ tịch công ty, ông Akio Nitori nói: “Chúng tôi tìm thấy cơ hội trong suy thoái, nhất là khi các công ty khác phải ngừng mở thêm hoặc thậm chí đóng cửa các gian hàng.”

70% các sản phẩm của Nitori được thiết kế và sản xuất trong nước Nhật. Công ty đảm nhiệm hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất, từ thu mua nguyên liệu đến phân phối. Do đó, chi phí ban đầu cho các sản phẩm của công ty này chỉ bằng 1/3 so các hãng đối thủ. Theo một lãnh đạo của Nitori, dù giảm giá 30 đến 40% thì họ vẫn có lãi.

Mùa xuân năm ngoái, Nitori bắt đầu thuê một nhà máy tại Ấn Độ sản xuất mặt hàng thảm nhà bếp. Trước đó, công ty đã phải bỏ ra 2 năm rưỡi nghiên cứu 5 nhà máy tại Ấn Độ nhằm tìm ra nơi có chi phí rẻ nhất. Kết quả mà Nitori đạt được là sản phẩm họ tung ra thị trường rẻ hơn 10% so với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.

Thanh Bình (theo Yomiuri Shimbun

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Mất tiền oan!

Vào những tháng cuối năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá của hầu hết nguyên vật liệu giảm mạnh, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp sản xuất.

Đặc biệt là các doanh nghiệp do lo sợ giá nguyên liệu vật tư tăng nhanh như các tháng đầu năm 2008 nên đã dự trữ khá nhiều nguyên vật liệu vào những tháng cuối năm và hệ quả là phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn.

Vấn đề không có gì đáng bàn nếu năm 2009 này giá nguyên liệu, vật tư bình ổn trở lại và cuối năm doanh nghiệp không phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2009. Như vậy, khoản dự phòng của năm 2008 sẽ được hoàn nhập, nhưng vấn đề này lại không đơn giản như bản chất vốn có của nó.

Mâu thuẫn khi hoàn nhập dự phòng

Mâu thuẫn nảy sinh khi các doanh nghiệp đang trích lập dự phòng này có mức thuế suất thuế ưu đãi 10%, 15%, 20%, tức là thấp hơn so với mức thuế suất thuế thu nhập chung cho các doanh nghiệp là 25% theo Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, vì theo Thông tư 130, khoản hoàn nhập dự phòng này được xem là “thu nhập khác”. Cụ thể, Khoản 7, Mục V, Phần C Thông tư 130 quy định một trong các khoản “thu nhập khác” là “hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ khó đòi và hoàn nhập khoản dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã trích nhưng hết thời gian trích lập không sử dụng hoặc sử dụng không hết”. Cũng theo quy định của Thông tư 130 thì “thu nhập khác” không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, Khoản 2.6, Mục I, Phần H quy định, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp không áp dụng đối với “các khoản thu nhập khác quy định tại Mục V, Phần C, Thông tư này”.

Như vậy, khoản hoàn nhập dự phòng của doanh nghiệp sẽ được xem là “thu nhập khác” và phải chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, tức là không áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ: Một doanh nghiệp năm 2008 có lãi trước thuế là 100 tỷ đồng, chưa trích lập dự phòng. Số dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho phải trích lập là 30 tỷ đồng. Như vậy, lãi trước thuế của doanh nghiệp sẽ là 70 tỷ đồng.

Nếu không trích lập dự phòng 30 tỷ đồng thì tiền thuế phải nộp cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 15% = 4,5 tỷ đồng (giả sử doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 15%). Nếu trích lập dự phòng, qua năm 2009 doanh nghiệp đó phải nộp thuế cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 25% = 7,5 tỷ đồng (doanh nghiệp không được áp dụng thuế suất ưu đãi 15%, mà phải áp dụng thuế suất chung là 25%). Số tiền thuế phải nộp thêm là: 7,5 – 4,5 = 3 tỷ đồng. Khoản nộp thuế thêm sẽ lớn hơn nếu như khoản trích lập dự phòng lớn hơn và chênh lệch của mức thuế suất ưu đãi và không ưu đãi lớn hơn.

Giải quyết thế nào?

Thiết nghĩ, việc Thông tư 130 xác định “thu nhập khác” bao hàm cả các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là không hợp lý, vì bản chất của nó là từ hoạt động sản xuất – kinh doanh chính, điều này dẫn đến hai hệ quả:

– Các doanh nghiệp không muốn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2008 vì sẽ phải nộp thêm tiền thuế vào năm 2009.

– Các công ty kiểm toán không thể chấp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp nếu không trích lập dự phòng vì không phản ánh trung thực tình hình giảm giá nguyên vật liệu. Thế nhưng, công ty kiểm toán không thể trả lời việc sau khi trích, doanh nghiệp vì phải phản ánh trung thực tình hình tài chính cho năm 2008 mà phải nộp thêm thuế thu nhập cho năm 2009!?

Vì vậy, ngay từ bây giờ, doanh nghiệp đã trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn cho năm 2008 mà hiện tại đang có thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất 25% phải kiến nghị ngay lên Bộ Tài chính để có chính sách phù hợp hơn cho trường hợp này.

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho của một số DN năm 2008

Tên doanh nghiệp

Giá trị trích lập (tỷ đồng)

CTCP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RAL)


CTCP Nam Việt (ANV)


CTCP Kim khí TP. HCM (HMC)


Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM)


CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG)


Nguyễn Khả Phong, Công ty TNHH Chế biến bột mỳ Mê Kông


CÁC TIN LIÊN QUAN: Siêu thị ĐM-NT Chợ Lớn: Giảm giá đến 50% để giải phóng hàng tồn kho

April 6, 2009

Thực trạng lao động bị mất việc: Có đáng ngại lắm không? 040609

Filed under: khủng hoảng,kinh tế,Ngành nghề,thị trường (market) — ktetaichinh @ 8:17 pm

TT – Còn nhiều ý kiến khác nhau về thực trạng mất việc và nguy cơ mất việc của người lao động. Đó là một trong những nội dung được đưa ra tại chương trình “Nói và làm” tháng 4-2009, do HĐND TP.HCM và Đài truyền hình TP.HCM tổ chức ngày 5-4.

Ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM – Ảnh: T.Xuân

Ông Nguyễn Đại Đồng, cục trưởng Cục Việc làm Bộ LĐ-TB&XH – Ảnh: T.Xuân

“Tôi không tâm đắc với số liệu về người lao động bị mất việc được đưa ra”

“Số liệu báo cáo của các doanh nghiệp là đáng tin cậy”

Ông Nguyễn Văn Xê – phó giám đốc Sở Lao động – thương binh và xã hội TP.HCM – cho biết tính đến cuối tháng 3-2009, tại 188 doanh nghiệp (DN) có 25.000 lao động bị giảm việc và 16.000 người bị thiếu việc. Tuy nhiên, theo ông Xê, trong số này hiện chỉ còn khoảng 5.000 người chưa có việc làm (chiếm gần 20%), nguyên nhân là do ốm đau, đang trong thời kỳ thai sản, trở về quê, số còn lại đã được giải quyết việc làm…

Tranh luận về số người mất việc

Ngay khi ông Xê dứt lời, ông Diệp Thành Kiệt – phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM – nói thẳng: “Tôi không thấy tâm đắc với số liệu được đưa ra”. Kịch bản xấu nhất đưa ra dự báo trong năm 2009 cả nước có 400.000 lao động bị mất việc, theo ông Kiệt, cũng không phản ánh được thực trạng. Ông Kiệt cho rằng lao động cả nước có khoảng 45 triệu, trong khi đưa ra dự báo như vậy là không thuyết phục lắm. Liệu có quá lạc quan không?

Phải tham gia đủ 12 tháng mới được bảo hiểm thất nghiệp

* Nhiều người dân thắc mắc nếu người lao động không tham gia đủ 12 tháng bảo hiểm thất nghiệp thì giải quyết chế độ ra sao?

– Ông Nguyễn Đại Đồng trả lời: Phải có đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, sau đó mất việc mới được hưởng chính sách này. Tuy nhiên, về nguyên tắc, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được cộng dồn để khi đủ điều kiện sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động có thể bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi không may mất việc và khi có việc làm lại thì tiếp tục đóng để đủ thời gian hưởng bảo hiểm này.

“Nhưng có trường hợp người lao động lớn tuổi, khả năng tìm kiếm việc làm mới rất khó để có thể tiếp tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho đủ thời gian theo quy định. Những trường hợp này giải quyết thế nào?” – ông Diệp Thành Kiệt đặt vấn đề. Ông Nguyễn Đại Đồng khẳng định: có nhiều chính sách để giải quyết chế độ cho người lao động bị mất việc, bảo hiểm thất nghiệp chỉ là một những chính sách. Nếu người lao động không có khả năng tìm việc làm mới thì được hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ xuất khẩu lao động…

Ông Nguyễn Đại Đồng – cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Lao động – thương binh và xã hội – lý giải: đúng là cả nước có 45 triệu lao động nhưng số làm việc tại các DN chỉ hơn 9 triệu người, còn lại lao động của khu vực ngoài DN, lao động tự do, hợp tác xã… Ông Đồng cũng nói có dự báo cho thấy số lao động bị mất việc dưới 400.000 người. Ông cho biết thống kê từ 47 tỉnh, thành phố thì số lao động bị sa thải cả năm 2008 khoảng 67.000 người, ba tháng đầu năm 2009 là trên 20.000 người.

Dường như chưa thỏa mãn, ông Diệp Thành Kiệt hỏi ngay: nếu cả nước có 400.000 lao động bị mất việc trong năm nay (dự báo cho tình huống xấu nhất) có phải là điều đáng lo không? “Số liệu báo cáo từ phía các DN là đáng tin cậy” – phó Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp TP.HCM Lâm Văn Tiếp khẳng định. Ông cũng cho biết tại các khu chế xuất và công nghiệp TP có 49 DN gặp khó khăn, 8.000 lao động bị mất việc làm và 11.000 người bị giảm việc (chỉ làm khoảng 4 ngày/tuần thay vì sáu ngày). Theo ông Tiếp, có 40 DN đang có nhu cầu tuyển khoảng 11.000 lao động, 9/49 DN gặp khó khăn cũng thông báo đã có đơn hàng mới.

Tuy vậy, ông Nguyễn Văn Minh – phó Ban văn hóa xã hội HĐND TP.HCM – vẫn băn khoăn: một số DN không có đơn hàng, hoạt động cầm chừng nhưng lại tuyên bố không sa thải công nhân và họ chỉ được hưởng 70% lương cơ bản. Dần dần số lao động này cầm cự không nổi nên tự xin nghỉ việc.

“Số này theo tôi là rất đáng quan tâm nhưng không xếp vào dạng bị sa thải hay mất việc” – ông Minh lo lắng. Ông Minh cho biết thêm có tình trạng lao động được giới thiệu việc làm mới nhưng công việc không phù hợp, chỉ sau một thời gian ngắn phải nghỉ việc. “Nếu chỉ căn cứ vào báo cáo thì lạc quan nhưng thực tế không đúng” – ông Minh nói.

Chậm giải quyết chính sách

“Báo chí có đăng tải TP.HCM vẫn chưa thể hỗ trợ người lao động mất việc, trong khi việc này đã triển khai nhiều tháng nay rồi” – ông Diệp Thành Kiệt thắc mắc. Ông Xê giải thích: để thực hiện chính sách này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở như Kế hoạch – đầu tư, Tài chính, Lao động – thương binh và xã hội.

Ông Xê cũng nói đến thời điểm này chưa có DN nào vay tiền để hỗ trợ giải quyết chính sách cho người lao động. Ông Kiệt bình luận “như vậy là chậm”. Ông Xê nhìn nhận có chậm trong giải quyết chính sách này, đồng thời hứa sẽ làm hết trách nhiệm của mình để giảm các thủ tục, đảm bảo giải quyết nhanh chóng.

Ông Kiệt nêu ý kiến: nếu giải quyết chế độ mất việc thì mỗi năm làm việc phải trả cho người lao động một tháng lương, trong khi giải quyết chế độ thôi việc thì chủ DN chỉ mất nửa tháng lương. Do vậy, một số DN sẽ tìm cách đối phó bằng cách đưa ra những thông tin khiến người lao động lo lắng và tự xin nghỉ việc. Cuối cùng họ chỉ được giải quyết trợ cấp nửa tháng lương do tự xin nghỉ việc. Ông Kiệt kiến nghị nên cho người lao động hưởng ngay chế độ bảo hiểm thất nghiệp thay vì phải đợi đủ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mới được hưởng.

Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo nhận xét: tình hình chung cho thấy có những khó khăn trong giải quyết việc làm nhưng đang có dấu hiệu tích cực. Bà đề nghị cần vận dụng tối đa các chính sách hiện có để hỗ trợ DN, giải quyết chế độ cho người lao động. Bà Thảo cũng yêu cầu các cơ quan chức năng cần tích cực hơn trong việc giải quyết thủ tục người lao động được vay vốn đào tạo nghề, tạo việc làm mới…

April 5, 2009

Tình trạng khiếu nại, tố cáo tại TPHCM – Bức xúc vẫn ở lĩnh vực nhà đất 040409

“Các vụ tranh chấp, khiếu nại tố cáo (KN-TC) trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư. Tình trạng KN-TC về nhà ở đang ngày càng bức xúc…” – Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 20/2006/CT – UBND, Quyết định 132/2006/QĐ-UBND và 1 năm thực hiện Quyết định 3141/QĐ-UBND của UBND TPHCM về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư KN-TC tổ chức ngày 3-4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân.

  • 9 đời chủ tịch vẫn… chưa xong!

Người dân đang phản ảnh thắc mắc, kiến nghị tại phòng tiếp công dân UBND quận 8. Ảnh: H.Hoa

Ông Hoàng Đức Long, Phó chánh Thanh tra Thường trực TPHCM cho biết: Trong 2 năm 2007-2008, trong tổng số trên 25.000 đơn thuộc thẩm quyền các cấp, các ngành phải giải quyết, đã có hơn 22.700 đơn được giải quyết (tỷ lệ 88,66%). Tuy nhiên, ông Long cũng nhìn nhận, thời hạn giải quyết khiếu nại vẫn còn kéo dài, tình trạng đơn thư tồn đọng quá hạn giải quyết vẫn chưa được khắc phục triệt để. “Các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư vẫn là chủ yếu và gây bức xúc lớn trong dân”, ông Long nhấn mạnh.

Còn theo ông Phan Đức Nhạn, Phó giám đốc Sở Xây dựng thì KN-TC về nhà đất ngày càng gay cấn và bức xúc do giá trị về nhà đất rất lớn, trong khi đó nội dung những vụ việc này lại phức tạp, đa dạng.

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cũng tâm sự: “Tôi là chủ tịch đời thứ 9 rồi mà vẫn có những đơn thư kéo dài đến nay chưa giải quyết xong. Thậm chí, có rất nhiều người dân biết rất rõ địa chỉ nhà tôi ở Đồng Nai và đến tận nhà, chờ đợi để đưa tận tay đơn thư KN-TC. Tất cả điều đó chỉ giải thích được một điều là người dân bức xúc lắm, vì ảnh hưởng quá lớn đến đời sống của họ nên họ sẵn sàng bỏ cả công ăn việc làm để đi tìm cho được câu giải đáp. Một ngày bình quân tôi nhận khoảng 10 đơn các loại gửi đích danh chủ tịch UBND TP, trong đó có những câu chuyện đọc xong đêm không ngủ được vì thấy buồn và day dứt lắm”…

Lý giải về số lượng đơn thư thuộc thẩm quyền nhưng chưa giải quyết rốt ráo và kéo dài, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân cho rằng: Phần lớn đơn thư đó có nội dung phức tạp, liên quan đến chính sách đền bù, giải tỏa, thu hồi đất, tái định cư… đòi hỏi phải có thời gian thẩm tra, xác minh từ nhiều cơ quan chức năng khác nhau nên thường bị kéo dài về thời gian. Khối lượng đơn thư khá lớn trong khi cán bộ thiếu kinh nghiệm, trình độ nên gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, theo Sở Xây dựng, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nhà đất còn thiếu, đôi khi nội dung mâu thuẫn nhau.

  • Luật thiếu, cán bộ yếu

Từ thực tế trên, đã có rất nhiều giải pháp tâm huyết được các đại biểu trình bày tại hội nghị. Chủ nhiệm Văn phòng tiếp công dân TP Phạm Văn Thành đề xuất: HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ TP cần nâng cao hiệu quả giám sát những trường hợp KN-TC phức tạp, đông người. Sau khi giám sát phải có văn bản kết luận đúng sai ngay đối với những vụ việc đã được các cơ quan chức năng giải quyết. Có vậy, KN-TC mới có điểm dừng, nếu không kịp thời giải quyết nhanh những KN-TC mới phát sinh dưới cơ sở thì chuyện vượt cấp là điều dễ hiểu!

Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng và củng cố các tổ chức hòa giải để hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau. Cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và cung cấp đầy đủ thông tin về quá trình giải quyết giữa các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến cơ sở. Với các dự án có khiếu nại đông người thì phải công khai từ việc quy hoạch, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, phương án bồi thường tái định cư và nhanh chóng cử cán bộ có kinh nghiệm giải quyết các khiếu nại của người dân có liên quan.

Ông Châu Văn La, Phó Chủ tịch UBND quận Tân Bình kiến nghị: sửa đổi Quyết định 132 của UBND TP về việc ủy quyền trong đối thoại cho phù hợp với Luật KN-TC. Vì thực tế, khi các cơ quan tham mưu đối thoại thường không phải là thủ trưởng cơ quan chủ trì mà giao cho cấp phó, có khi ở cấp chuyên viên tiếp xúc người khiếu nại. Nhiều trường hợp không trả lời dứt khoát được vụ việc cần giải quyết thế nào nên người dân bức xúc và tiếp tục KN-TC vượt cấp. Cần có văn bản quy định rõ trách nhiệm, hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức không hợp tác, chậm trễ khi phối hợp với cơ quan tham mưu giải quyết khiếu nại vì thường một vụ việc KN-TC có tính chất phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực.

Phó Chánh Thanh tra Thường trực TPHCM Hoàng Đức Long cho rằng: UBND TP tiếp tục đề xuất Trung ương thay đổi, bổ sung các quy định pháp luật để các văn bản quy phạm pháp luật không trái với Luật KN-TC; đồng thời chỉ đạo xây dựng “Hệ thống chương trình quản lý hồ sơ tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại” của từng cơ quan và liên thông giữa 5 cơ quan (Thanh tra TP, Sở TN-MT, Sở Xây dựng, Văn phòng tiếp công dân TP và Văn phòng HĐND- UBND TP) nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng thông tin báo cáo cũng như đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành của UBND TP trong công tác KN-TC trên địa bàn TP.

Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân: Thanh tra công vụ để ngăn ngừa tiêu cực

Các cơ quan thanh tra tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp dưới trong tiếp công dân, giải quyết KN-TC. Đặc biệt, các đơn vị phải tăng cường thanh tra công vụ để kịp thời hạn chế và ngăn ngừa phát sinh tiêu cực trong giải quyết tranh chấp KN-TC. Trong khi hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, các quy định và văn bản pháp luật về đất đai, xây dựng còn thay đổi, chồng chéo, bất cập thì yếu tố góp phần kéo giảm tình trạng KN-TC chính là nâng chất đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân.

April 4, 2009

Điều chỉnh giảm GDP cần tính đến vấn đề thất nghiệp – 040209

Tại phiên họp thường kỳ tháng 3 vừa kết thúc hôm qua, 1-4, Chính phủ đã thống nhất điều chỉnh GDP năm 2009 xuống mức 5%, bội chi ngân sách không quá 8%. Đồng thời tiếp tục bổ sung thêm nhiều giải pháp kích cầu, trong đó đáng chú ý sẽ tập trung kích cầu cho khu vực nông nghiệp; tiếp tục bổ sung đối tượng được hỗ trợ lãi suất 4% và kéo dài thời gian bù lãi suất. Việc điều chỉnh này đang nhận được sự ủng hộ của các chuyên gia kinh tế.

GDP: 5%, bội chi ngân sách: Khống chế 8%!

Giải thích về việc Chính phủ trình Quốc hội chỉ tiêu bội chi ngân sách tối đa không quá 8%, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp cho biết, căn cứ vào tình hình thực tế của quý I-2009, Bộ Tài chính tính toán lại mức thu ngân sách. Hiện nay, về cơ bản Chính phủ thống nhất với phương án lấy căn cứ là giá dầu thô 45 USD/thùng, GDP tăng 5% thì bội chi ngân sách sẽ là 8%.

Điều chỉnh giảm GDP, liệu tình trạng thất nghiệp có tăng lên? (trong ảnh là cảnh công nhân thất nghiệp chờ đón xe về quê)

Ngoài ra, với việc thực hiện giãn, giảm các loại thế (thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp, VAT) cũng khiến giảm thu ngân sách lớn. Tuy nhiên, Chính phủ kiên quyết dù giảm thu cũng không giảm chi, nhất là chi cho kích cầu, an sinh xã hội, thậm chí Bộ Tài chính trình Chính phủ phải tăng chi cho an sinh xã hội. Vì vậy, bội chi sẽ phấn đấu khống chế ở mức 8%. Việc chi sẽ tính toán lại cho phù hợp hơn, giảm chi những thứ không cần thiết, ví dụ như mua ô tô.

Theo ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, bình thường bội chi đã là 5%, vì vậy trong điều kiện hiện nay, Chính phủ đề ra bội chi 8% cũng là cao. Tuy nhiên, nếu bội chi tăng thêm để vực nền kinh tế thì cũng nên sẵn sàng. Các tổ chức nước ngoài còn dự báo bội chi có thể lên đến 9%.

Vẫn theo ông Thiên, việc Chính phủ điều chỉnh GDP đồng nghĩa với việc giảm chỉ tiêu quan trọng nhất. Động thái này có hai ý nghĩa. Thứ nhất, đây là một thay đổi trong cách điều hành, theo xu hướng chung khi bị tác động từ khủng hoảng kinh tế. Thứ hai, chứng tỏ Chính phủ đã bám sát được tình hình thực tế.

Theo dự báo của các chuyên gia quốc tế, tốc độ tăng trưởng năm 2009 của Việt Nam dao động ở mức 3,5% – 4%. Vì vậy, ông Thiên cho rằng, Chính phủ đưa ra con số 5% là phù hợp với dự báo thế giới và thực lực, quyết tâm của mình. Thậm chí, nếu cần, Chính phủ có thể xác định GDP khoảng từ 4% – 5% để dễ điều hành.

Nhưng việc điều chỉnh GDP đồng nghĩa với việc phải tính đến hàng loạt mục tiêu khác, như tạo việc làm. Cứ theo công thức thì tăng trưởng 1% sẽ giải quyết được 0,34% việc làm. Vì vậy, giảm GDP kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tăng lên. Và đó là bài toán mà Chính phủ phải tính toán để xử lý kịp thời.

Có nên cho DN vay bù lãi suất để đảo nợ?

Xoay quanh vấn đề thực hiện việc bù lãi suất 4%, nhiều ý kiến hiện nay vẫn băn khoăn về hiệu quả thực tế. Vào thời điểm hiện tại, không ít doanh nghiệp còn tồn đọng nợ xấu, không có khả năng thế chấp để vay với lãi suất hỗ trợ. Cũng đã diễn ra hiện tượng doanh nghiệp vay bù lãi suất để dành cho việc đảo nợ.

Suy thoái kinh tế, lượng khách du lịch đến VN ít, ngành du lịch sẽ thất thu, giảm việc làmẢnh: VIỆT DŨNG

Theo quy định của Chính phủ, DN không được vay để đảo nợ nhưng cũng có nhiều ý kiến đề nghị nên cho DN vay để đảo nợ. “Doanh nghiệp có thể trả dứt nợ xấu thông qua vốn vay hỗ trợ lãi suất của gói kích cầu. Đã là giải pháp kích cầu, không nên chỉ dựa vào quy tắc của ngân hàng để nói chưa trả nợ thì chưa cho vay. Tháo gỡ cho doanh nghiệp chính là ở chỗ này. Phải vì DN hơn, không thể dùng nguyên tắc bình thường. Cần tập trung cho cứu trợ, yểm trợ khu vực DN”, ông Thiên phân tích.

Ông Thiên cũng cho rằng, hiện nay nhiều DN khó khăn không tiếp cận được nguồn vốn bù lãi suất, vì vậy Chính phủ cần phải có điều tra quá trình thực hiện. Đa số DN không vay vì họ không có cơ may thị trường, áp lực chuyển hướng tiêu thụ thị trường nội địa cũng lớn vì nhiều DN không thể chuyển hướng được sang thị trường nội địa.

DN đang cạnh tranh gay gắt vì phải dồn hàng, lại gặp hàng hóa các nước ùa vào nên rất khó khăn. Theo Thứ trưởng Bộ KH-ĐT Cao Viết Sinh, sau phiên họp Chính phủ tháng 3 này, các thành viên Chính phủ sẽ kiểm tra tình hình thực hiện giải pháp kích cầu ở địa phương để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc.

Tập trung vào nông nghiệp nông thôn – hướng đi đúng

Tại phiên họp Chính phủ vừa kết thúc, Chính phủ đã xác định sẽ tập trung cho nông nghiệp, nông thôn. Theo các chuyên gia kinh tế, đây là xác định rất đúng đắn của Chính phủ. Vì nông thôn là  khu vực xuất khẩu lớn về tôm cá, gạo cà phê, cao su, ảnh hưởng đến đời sống đông đảo người lao động. Nông thôn cũng là “vùng đệm” để giảm sốc cho những người thất nghiệp, mất việc làm. Vì thế, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn không chỉ giải quyết bài toán tăng trưởng mà giữ lại được cả thế ổn định xã hội rất căn bản.

Bình luận về niềm tin của Chính phủ khi cho rằng, quý 2 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ khá hơn, ông Thiên tỏ ra dè dặt vì cho rằng, độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất rộng. Kinh tế nước ta phụ thuộc vào thị trường thế giới lớn (phản ánh qua tỷ lệ xuất khẩu của Việt Nam quá lớn so với GDP, chiếm gần 70%). Vì vậy, một khi thị trường thế giới đang ảm đạm thì dù nỗ lực để phục hồi sớm, Việt Nam vẫn không thể có tốc độ phát triển nhanh. Đó là chưa kể đầu tư của Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào thế giới; khập khẩu lớn. Ông Thiên thận trọng hơn khi cho rằng, năm 2010, kinh tế nước ta mới phục hồi và đó là thời điểm Chính phủ cần ra sức kích thích cho xuất nhập khẩu.

Redrawing the landscape 040109

The Banker

It is almost impossible to generalise about the Asian infrastructure story. In a sprawling region that includes 44 economies, from the central Asia republics to the Pacific islands, it is unfeasible to compare markets such as Vietnam or Indonesia with others such as India or China in terms of levels of infrastructure development, investment or private participation. Moreover, while Asia offers a wealth of opportunities – comprising as it does of most of the world’s fastest growing economies, many in desperate need of even basic infrastructure – investment in many countries is fraught with government restrictions or legal and regulatory risk.

However, one thing is certain: nobody disputes the need for huge infrastructure spending in the region. According to most development agencies, the quantum of anticipated infrastructure spending within the wider Asian market is estimated at between $250bn and $300bn a year for the foreseeable future. It is likely that a significant proportion of this expenditure will be witnessed in the four countries – China, India, Indonesia and Vietnam – that are among the most populous, with some of the fastest forecast economic growth rates in the region, but where significant current and future bottlenecks will be experienced in both economic and social infrastructure.

Running to keep up

Rising populations, economic growth and greater discretionary spending power in many Asian countries mean that demand for energy has increased. A rule of thumb is that for every 1% increase in gross domestic product, demand for power increases by 1.5%, so governments have to constantly run to keep up with demand. At the same time, although the high export focus of many Asian countries means that investment in roads, railways, ports and airports has been identified as central to improving efficiency and promoting foreign trade flows, few governments have kept pace with growth. In Vietnam, for example, double-digit growth is being achieved in spite of the dong’s devaluation, high levels of foreign currency debt, and virtually no transportation logistics infrastructure.

“A period of high economic growth across the region has led infrastructure development rather than followed infrastructure development; consequently there is an infrastructure deficit in whichever country you choose to look at,” says Nick van Gelder, head of Asia and Middle East infrastructure funds at Macquarie in Singapore.

Western banks pull back

But a crucial question now is: where will the money come from? Alongside investment by government and multilateral entities, and loans from major Asian banks, big Western project finance houses such as BNP Paribas, Dexia, Depfa and Royal Bank of Scotland have historically played a major role in Asian infrastructure, but there are signs that the bank universe is being drastically redrawn through a combination of capital constraints and political pressure. It has quickly become clear that banks that have received significant state support are under growing pressure to focus their core lending on domestic markets. For the other banks – particularly in Europe and America – that have overstretched their balance sheets, lending patterns will be reduced. Inevitably, they will shrink their operations faster in non-core markets than in core markets.

RBS – the biggest project finance lender globally in 2008, which inherited a sizeable Asian project finance business through its now controversial ABN AMRO acquisition – has already stated that as part of its restructuring in the wake of the UK government’s part nationalisation, it will be closing its project finance business. Dexia, a major force in Asian public-private partnerships (PPP) and private finance initiatives (PFI), is reported to be closing its Australian office and selling its loan book. Others such as Depfa and DZ Bank are rumoured to be at least pulling back, if not pulling out, from the region.

“We are already seeing a number of banks retrenching project finance specialists, not because of a lack of opportunities but because of the need to refocus their business model on their home market,” says Ian Mathews, executive director and head of project finance, Asia, for ANZ Bank. “As such, we expect to see either an exodus of non-Asia-Pacific banks from the region or a marked slowdown in their appetite for new projects,” he says.

While the long gestation period of many infrastructure projects means that the real impact of such withdrawal is unlikely to be felt immediately, anecdotal evidence suggests that available liquidity is already falling and that it is getting more difficult to raise funds; especially the long-term funding on which project finance usually relies. For example, the PPP funding for Singapore’s ITE College West was closed last August. The $300S ($195.31) deal secured a 26.5-year financing via a fully hedged bank loan. The same deal would not close on those terms now, as transactions are lucky to attract five or seven-year money.

Less long-term money

“Liquidity constraints have inevitably led to a reduction in tenors. Banks are less willing and able to commit funding for long-dated assets. This has particular implications for large-scale infrastructure projects where debt tenors of more than 15 years were not uncommon previously,” says Mr Mathews.

The contraction of liquidity and tenor will have a direct impact on the projects that get under way. With the ‘go-go days’ now over, the focus is back on risk, project quality, and relationships. The projects that do get out of the starting blocks will be those where there are long-term partnerships between stakeholders and strong bank-sponsor relationships. Against the backdrop of slowing economies, a number of projects that were in the pipeline have been delayed, postponed or cancelled.

“For example, there are about half a dozen coal-fired power projects currently in development in Vietnam. If these all go ahead, they would need about $6bn of long-term debt and $3bn of equity. Clearly, in the current market environment, the commercial bank market cannot support that quantum of debt financing in Vietnam. By necessity, therefore, the result will be a phasing of projects and preferential financing for those projects developed by proven sponsors with deep relationships with commercial banks, development agencies and other key stakeholders,” says Mr Mathews.

Capital will target deals of the best quality, with strong off-take agreements and solid concessions. More risky greenfield projects with no proven track record for traffic flows or usage patterns, but which represent the lion’s share of emerging Asia’s infrastructure needs, will likely struggle the most to secure funding.

“Where capital is available, there is now a lot more scrutiny of projects and a great deal more due diligence. Capital will flow to those projects where the quality of the project and the quality of the contract surrounding concessions are assured,” says Mark Rathbone, a specialist in PPP/PFI projects and a partner in PricewaterhouseCoopers’ Asia practice. “Projects such as the better structured power deals that have very good concession-based financings in place and other similarly well structured deals will stand a better chance of attracting investment.”

Need for multilaterals

In India and China, there is a better chance that local lenders are able to fill the funding gap. In China, which boasts the second and third largest project finance houses in Asia, direct lending by Chinese institutions jumped from $120bn in December 2008 to $237bn in January 2009 on the back of the government’s pump priming packages. State Bank of India is the second largest project finance house globally and the largest in Asia, but a recent McKinsey report says India still faces a $190bn shortfall as the global crisis chokes off investment.

However, other countries have less domestic capacity and many expect that there will have to be increased equity commitment in deals. Governments such as Indonesia and Vietnam are seeking to actively re-involve the private sector in areas that they have recently regarded as the preserve of the state. (In Vietnam, for example, despite growth in electricity demand running at more than 15% a year, no new private sector power projects have been financed since 2003). Others anticipate that there will need to be greater participation by development finance institutions and export credit agencies, particularly for larger transactions.

The latter could play a particularly important role for greenfield projects that fail to attract enough investment, or where government and multilateral involvement is needed to ‘credit wrap’ a project. “Multilaterals will play an enormous role in the next 18 months or so,” says Mr Rathbone. “The participation of institutions such as the World Bank, the Asian Development Bank and the Japan Bank for International Co-operation will be crucial in keeping Asian growth going, particularly in ‘real’ developing economies such as Vietnam, Laos, Indonesia, Cambodia and the Philippines. In these markets it is much more difficult to get comfortable with concession agreements and the specific territory’s regulatory framework; in order to attract foreign capital these elements will have to be robust. Many investors may even require multilateral participation as a means to reduce the regulatory and credit risk inherent in a transaction.”

Indonesia is one example of where multilateral involvement could go a long way towards reassuring equity investors and foreign lenders, who have historically lacked confidence in the legal and regulatory framework surrounding projects. This is particularly true with regard to issues surrounding the legitimacy of land acquisition and critical financing features such as tariff structures. The legal details relating to who owns the land and contractual issues about whether road toll rates will be allowed to rise when they are supposed to can be political hot potatoes. But lack of certainty about them ratchets up the risk and makes the environment much less attractive to private investors or bank lenders.

“The Indonesian government is putting in a lot of effort to address many of the issues surrounding projects, and the government is now looking to procure toll roads and other large-scale infrastructure projects. It is increasingly a better story but it remains predominantly a market for participants who are able to get comfortable with the risk exposure of bidding for and completing deals in the territory,” says Mr Rathbone. “It is in this kind of environment where multilaterals can be hugely important in working with other market participants to help build confidence in the project finance environment; by helping to establish sound procurement guidelines, for example, or ensuring that concessions agreements are watertight and that handback procedures are in place.”

Although some state-owned and policy banks within north Asia have redirected their attentions to domestic markets in line with proposed government stimulus packages, others have already increased investment abroad. “The quantum of lending of state-owned institutions such as JBIC [Japan Bank for International Co-operation] has actually stepped up markedly in support of their key clients investing overseas,” says Mr Mathews.

Other organisations are making plans to do so. In March, the Asian Development Bank (ADB) announced that it is setting up a regional infrastructure fund that can be accessed by its members, including Indonesia. The bank has managed to bring together funding pledges amounting to about $5bn, including from the Islamic Development Bank, with other possible funding sources still being explored, including those from China and South Korea. According to the ADB, the Islamic Development Bank has committed $1bn to the scheme.

Equity investors

With commercial bank lenders often reserving balance sheets for core clients, many projects are seeking greater participation from equity investors at the same time that investors are facing funding constraints – and their risk appetites have dropped and equity costs have risen accordingly.

Yet infrastructure funds are finding that investors – including institutional players – are still attracted to Asian infrastructure. Standard Chartered and the International Lease Finance Corporation’s joint SCI Asia Infrastructure Fund did a second close in January at more than $600m; the seven limited partners (LPs) include the founding partners, along with European and American institutional investors. Appetite is such that the fund is targeting a third close at about $800m or even $1bn before the end of the year, according to Andrew Yee, global head of infrastructure, principal finance at Standard Chartered.

“European and North America LP investors have shown themselves to be ahead of the curve in their understanding of infrastructure. They have gained a lot of experience in their own, more mature markets, which proved that infrastructure investments are less susceptible to downturns. They are consequently increasingly open to opportunities in less mature infrastructure markets such as Asia,” says Mr Yee.

Macquarie’s Mr van Gelder is also upbeat about the potential of infrastructure. He believes that the infrastructure industry will emerge from the crisis with its reputation enhanced relative to other asset classes – and that this is already being reflected in increasing allocations. “Many institutions who have had a challenging time across their entire investment spectrum are actually increasing allocations to unlisted infrastructure at this time, and to about 10% of their entire portfolio in some cases,” says Mr van Gelder. “There is a growing realisation around the world that long-dated infrastructure income streams have a meaningful role in pension fund portfolios, especially if these income streams are either explicitly or implicitly linked to inflation via toll rate rises, etc.”

Golden age?

In fact, the next three years could turn out to be a “golden age for private equity” in the infrastructure business, says Mr van Gelder. Government investment in new infrastructure will likely benefit existing projects simply because one infrastructure project often benefits another. And because raising equity capital via the initial public offering markets will be challenging and debt will be much tighter, it will leave a huge gap for private equity capital, either through funds or direct investment. A few years down the line, healthy exits are on the cards.

“The capital that many governments consume over the next 24 months in economic recovery packages will leave them short of funding for infrastructure development and they will have no choice but to increase levels of private participation over time. Privatisation of stimulus projects in five to 10 years may offer another level of opportunity for the industry,” says Mr van Gelder.

Mr Yee also believes that, with a few caveats, 2009 and 2010 will be “good vintage years” for infrastructure investment. “There are a lot more opportunities and much less competition. The next couple of years could be very good ones for investment. That said, when assets are getting cheaper, you have to invest very carefully. Projects where sponsors are being too aggressive or where not enough due diligence has been done will fall by the wayside.”

As Western banks tighten their purse strings or even withdraw from the market, there will clearly be a funding gap. It will also mean the loss of key project finance practitioners who have brought their experience of mature infrastructure markets to the region. But for local and regional banks, it is a golden opportunity to grab market share from some of the established Western players. As the global financial crisis and economic slowdown reshape the world’s capital flows, the effects could help to redraw the dynamics of infrastructure investment and the competitive landscape in the Asian region.

Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu- Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam 032809

TT(Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc…

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng – chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN – khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất… “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”…

Vừa đi cùng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục – vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ – công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người”. Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh – chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng VN – cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy ximăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc làm.

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy ximăng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” – ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai – viện phó Viện Kinh tế xây dựng – góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc…

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

Ngành xây dựng cảnh báo về nhà thầu ngoại

Báo Tuổi Trẻ vừa có bài tường thuật tọa đàm hôm 27/03 của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, trong có đưa ra cảnh báo về thực trạng ‘lấn sân’ của nhà thầu Trung Quốc.

Báo này cho hay vấn đề lớn được bàn luận tại hội thảo của các chuyên gia và giới chức ngành xây dựng là việc “rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc”.

Báo Tuổi Trẻ vừa có tổng biên tập mới, ông Phạm Đức Hải, từ ngày 26/03.

Ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, được trích lời nói tại cuộc tọa đàm về kích cầu trong xây dựng rằng nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất… đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

Hơn mười công trình xây dựng nhà máy xi măng, nhiều công trình xây dựng nhà máy điện lớn, đều đang do công ty Trung Quốc thực hiện.

Ông Hùng cho hay: “Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.”

Một quan chức có mặt tại tọa đàm đã xác nhận mỗi công trình, “công nhân TQ sang đến 2.000 người”.

Được biết doanh nghiệp TQ được hỗ trợ của nhà nước về nhiều mặt, như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn hẳn các công ty nước ngoài khác. Do vậy, khả năng trúng thầu của họ cao hơn.

Tuy nhiên, giới xây dựng VN cảnh báo tình trạng nhà thầu ngoại chỉ dùng công nhân và nguyên vật liệu của nước họ dẫn tới việc “triệt tiêu nội lực”.

Giải quyết thất nghiệp

Việc Trung Quốc đưa công nhân vào Việt Nam đã từng được đề cập tới trong bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi đầu năm.

Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam Trần Ngọc Hùng

Trong bức thư yêu cầu dừng dự án bauxite Tây Nguyên, Tướng Giáp viết: “Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án)”.

Thực ra, chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế cho bản thân nước này.

Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.

Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Trần Đức Minh từng nói với BBC hồi tháng Hai 2009 rằng thất nghiệp là “thách thức lớn nhất mà Trung Quốc đang đối diện”.

“Kinh tế sụt giảm cũng là khi nguy cơ bất ổn xã hội gia tăng.”

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối phó với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, dù chưa có cơ chế để thống kê con số thực tế. Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội trong một báo cáo ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.

April 3, 2009

“Giãi bày” chuyện tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng 032809

Việc tính giá điện theo giờ cao điểm vào buổi sáng đã gặp phải sự phản đối của nhiều doanh nghiệp và địa phương.

Chính vì thế mà chiều 27/3, đại diện Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã phải nhờ đến báo chí để “giãi bày” quanh việc tính giá điện theo cách trên.

Lý giải cho việc áp dụng tính giá điện theo giờ cao điểm vào cả buổi sáng (từ 9h30 – 11h30) và buổi tối (từ 17h – 23h), Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Phạm Mạnh Thắng cho rằng, lý do đơn giản nhất là do chúng ta còn thiếu điện, nên buộc phải khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng điện vào những giờ thấp điểm.

Hơn nữa, theo ông, việc áp dụng tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng dù là khá mới ở Việt Nam, nhưng ở hầu hết các nước đều đã áp dụng cách tính này.

Ông Thắng nói, từ năm 2007 trở về trước, hệ thống điện của cả nước có tỷ trọng công suất cao nhất là thành phần ánh sáng sinh hoạt và dịch vụ nên cao điểm hệ thống rơi vào các giờ buổi tối từ 17h đến 22h.

Tuy nhiên, do nhu cầu điện cho sản xuất trong những năm qua luôn tăng cao nên từ năm 2007, điện cho sản xuất đã chiếm tỷ lệ ngày càng cao (trên 50% tổng sản lượng điện), nên giờ cao điểm của hệ thống điện đã dịch chuyển một phần sang buổi sáng từ khoảng 9h đến 12h.

Chính điều này đã làm cho công suất của cả hệ thống điện vào những giờ cao điểm buổi sáng đã cao hơn công suất vào các giờ cao điểm buổi tối.

“Mất” thêm tối đa 18% tiền điện

Lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực thừa nhận, việp áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng “ở mức nào đó” sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, qua tính toán sơ bộ, với việc áp dụng giá giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm của doanh nghiệp sẽ có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp có các ca làm khác nhau.

Nếu doanh nghiệp sản xuất 3 ca, 7 ngày/ tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ vào khoảng 1%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 0,1 – 0,2%. Nếu doanh nghiệp sản xuất 2 ca, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện sẽ tăng thêm khoảng 4,6%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên từ 0,45 – 0,9%.

Còn nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất một ca mở rộng, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm có thể lên tới 18%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 1,8 – 3,6%.

Tuy nhiên theo ông Thắng, nếu doanh nghiệp áp dụng các biện pháp giảm những phụ tải không thiết yếu vào giờ cao điểm hoặc dịch chuyển giờ làm để tránh giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ thấp hơn đáng kể so với mức tính toán trên.

Còn Thứ trưởng Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu thì “an ủi: “Chúng tôi biết giữa lúc kinh tế đang khó khăn, việc tính giá điện theo giờ cao điểm sáng có thế khiến nhiều doanh nghiệp khó khăn hơn, nhưng nếu nhóm sản phẩm nào quá sức chịu đựng thì sẽ kiến nghị lên Thủ tướng xin có giải pháp tháo gỡ khó khăn”.

Cái lý của EVN

Theo ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc EVN, việc bắt buộc phải áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng là do đơn vị này đã phải “chịu thiệt” quá nhiều do chênh lệch công suất giữa giờ cao điểm – thấp điểm quá cao. Điều này cũng đồng nghĩa với việc có một số nhà máy được đầu tư nhưng chỉ vận hành vào giờ cao điểm với số giờ vận hành hằng năm thấp.

Bên cạnh đó, theo ông Tri, trong thời gian qua, khách hàng cũng đã được hưởng lợi nhiều do biểu giá điện bán lẻ cũ áp dụng cho năm 2007 và 2008 chưa quy định giá điện giờ cao điểm sáng thực nên giá bán lẻ điện thấp hơn giá thành sản xuất kinh doanh điện của các giờ cao điểm.

Do đó, theo ông Tri, việc tính giá giờ cao điểm vào buổi sáng là bất khả kháng. “Do đây là lần đầu tiên chúng ta áp dụng nên cũng không thể tránh khỏi những phản ứng của doanh nghiệp và dư luận. Song nếu không thực hiện thì sẽ gây thiệt hại cho EVN, đồng thời về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến an ninh cung cấp điện của cả hệ thống và thậm chí là cả khách hàng”, ông nói.

Gỡ khó giá điện cho doanh nghiệp: Phải chờ qua 1/4

Chúng tôi biết giữa lúc kinh tế thế này, việc tính giá điện theo giờ cao điểm sáng có thế khiến nhiều doanh nghiệp khó khăn. Nếu nhóm sản phẩm nào quá sức chịu đựng thì sẽ kiến nghị lên Thủ tướng xin gỡ khó” –Thứ trưởng Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu đã công bố như vậy tại cuộc họp báo chiều 27/3, tại Hà Nội.

Ông Khu cũng nói thêm : “Nhưng sức chịu đựng của doanh nghiệp, sản phẩm đến đâu phải chờ sau 1/4, lúc có hóa đơn điện tháng 3 mới biết được… ”

Phản ứng vì…quá mới?

Theo Thứ trưởng Bùi Xuân Khu, nhu cầu điện cho sản xuất trong những năm qua đã tăng với tốc độ rất cao, từ năm 2007, điện cho sản xuất đã vượt 50% tổng sản lượng điện.

Doanh nghiệp kêu áp dụng giá điện vào buổi sáng khiến chi phí của họ tăng rất mạnh. Ảnh VNN

Chính vì thế, giờ cao điểm thay vì chỉ tập trung vào buổi tối do tăng lượng điện sinh hoạt đã “phát sinh thêm” khoảng 2 tiếng  ban ngày (9h30-11h30). Thậm chí, phụ tải của giờ cao điểm sáng còn cao hơn hẳn phụ tải của giờ cao điểm tối.

Theo ông Khu đây là 2 tiếng tốn kém nhất cả về chi phí sản xuất lẫn vận hành.

Giải thích cụ thể hơn, ông Đặng Huy Cường, Giám đốc Trung tâm Điều độ điện quốc gia cho biết đặc thù của ngành điện là sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời. Do vậy, để  đảm bảo cung ứng điện cho 2 giờ cao điểm buổi sáng, đòi hỏi huy động từ các nhà máy có công nghệ cho phép tăng công suất nhanh.

Mà theo tính toán của ông Cường, chi phí đầu tư cho 1 kWh vào 30 phút đỉnh cao của phụ tải 500-600 MW là 5.770 -8.000 VNĐ/kWh (nếu chạy bằng diezel). Chưa kể, theo ông Cường, ngoài chi phí cao, nguồn cung điện rất dễ bị “sập” do quá tải.

“Việc tính giá điện theo giờ cao điểm, thấp điểm trong ngày đã được các nước khác thực hiện từ lâu vì khuyến khích các hộ tiêu dùng tiết kiệm điện, đảm bảo an toàn cho nguồn cung điện”, ông Cường kết luận.

Đồng tình với ông Cường về tính giá giờ cao điểm là đương nhiên, ông Khu cho rằng sự phản ứng của dư luận vừa qua một phần vì chưa quen với việc có giờ cao điểm sáng. “Khác những lần trước, lần này tăng giá điện này có thêm giờ cao điểm sáng, mà lại diễn ra trong bối cảnh kinh tế khó khăn nên doanh nghiệp mới phản ứng như vậy”.

Nhưng Thứ trưởng Khu tái khẳng định việc tính giá theo giờ cao điểm là hết sức bức thiết và không thể “cứ dư luận phản ứng là dừng hết cả lại được”.

Doanh nghiệp phải trả thêm 18% tiền điện

Giờ cao điểm sáng (9h30-11h30) diễn ra vào đúng lúc cao điểm sản xuất trong ngày nên khó có thể vừa bắt đầu giờ làm việc được 1 tiếng lại dừng lại để chờ 2 tiếng được. Việc nhiều doanh nghiệp cho là “bất khả thi” và quá tốn kém vì phải tốn công cũng như chi phí “khởi động lại”.

Đó chính là lý do thực sự khiến các doanh nghiệp phản ứng rất mạnh với cách tính giá giờ cao điểm chứ không đơn thuần vì “lần đầu tiên tính giờ cao điểm sáng” như ông Khu nói.

Điều gì sẽ xảy ra nếu các doanh nghiệp không thể giảm tải hoặc tránh được giờ cao điểm?

Chi phí “đội thêm” của doanh nghiệp:
• DN 3 ca (24/24h), 7 ngày/ tuần, chi phí điện tăng thêm 1%, làm tăng giá sản phẩm lên 0,1-0,2%
• DN 2 ca (6-22h), 6 ngày/tuần, chi phí điện tăng thêm 4,6%, làm tăng giá sản phẩm lên 0,45-0,9%
• DN 1 ca (7-17h), 6 ngày/tuần, chi phí điện tăng thêm 18%, làm tăng giá sản phẩm lên 1,8-3,6%

Cục điều tiết điện lực ước tính chi phí tiền điện của doanh nghiệp sẽ tăng thêm khá cao kéo theo giá thành sản phẩm bị “đội” lên.

Cụ thể, tăng cao nhất là doanh nghiệp sản xuất 1 ca, 6 ngày/tuần, chi phí tiền điện phụ trội do cách tính này có thể lên đến 18% và “đội” thêm vào giá thành sản phẩm 1,8-3.6%.

Ông Khu cho rằng các doanh nghiệp 1 ca đa số là cơ sở sản xuất quy mô nhỏ mua điện từ cấp điện áp trung thế 22 kV trở xuống nên không tác động cao như các doanh nghiệp hoạt động 2-3 ca và 7 ngày/tuần.

Nhưng chính với những cơ sở sản xuất nhỏ này, tăng thêm bất cứ % nào đều không hề nhỏ giữa bối cảnh kinh tế khó khăn.

Tăng thêm 18% chắc chắn không phải là con số nhỏ.

Số doanh nghiệp làm việc 1 ca cũng không nhỏ trong tổng số lượng các doanh nghiệp đang họat động.

Hy vọng “gỡ khó” mong manh

Tuy nhiên, các doanh nghiệp đang quá khó khăn vì chi phí đầu vào vẫn còn chút hy vọng dù khá mong manh vào biện pháp “gỡ khó”có thể có của Chính phủ.

Ông Khu cho biết, Bộ Công Thương đang chỉ đạo các đơn vị tập hợp số liệu về tác động thực tế của các đối tượng sử dụng điện khác nhau (sản xuất 1 ca, 2 ca, 3 ca). Bộ cũng đã cử các đoàn kiểm tra làm việc với các địa phương và doanh nghiệp nhằm đánh giá đúng tình hình.

Chí phí sản phẩm sẽ đội lên đên 3,6% khi tính giá điện theo giừo cao điểm sáng – Ảnh VNN

Trên cơ sở kiểm tra của các đoàn công tác cộng với hóa đơn điện thực tế tháng 3, Bộ sẽ phối hợp với các bộ ngành kiên quan đánh giá chi tiết và đưa ra biện pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho từng nhóm đối tượng sử dụng điện.


Lý do là từ khi áp dụng quy định mới về giá điện theo giờ cao điểm chưa được một tháng nên chưa thể tính được sức chịu đựng của các doanh nghiệp tới mức nào. Hơn nữa việc tính giá điện theo giờ cao điểm còn phải chờ lắp đặt công tơ ba giá.

Theo ông Khu “nếu doanh nghiệp, sản phẩm nào qúa sức chịu đựng thì có thể kiến nghị lên Thủ tướng”. Còn gỡ khó cụ thể thế nào, phải chờ Chính phủ quyết và ít nhất phải qua 1/4/2009.

Còn trước mắt, ngoài những doanh nghiệp sản xuất 24h/7 ngày và là hộ tiêu dùng lớn có thể hy vọng sẽ có chính sách giá điện ưu đãi hơn, ông Khu cho rằng các doanh nghiệp nên thực tế. “Các nhà sản xuất buộc phải tìm cách bố trí công việc sao cho thật tiết kiệm, giảm chi phí”, ông khuyến cáo.

Đó cũng là quan điểm “xuyên suốt” của Bộ Công Thương khi cân nhắc cách tính giá điện này.

“Các giải pháp gỡ khó nếu có phải cân nhắc kỹ nhằm không làm sai lệch mục đích cuối cùng là đưa ngành điện hoạt động theo cơ chế thị trường, xóa bỏ bao cấp thông qua giá điện và đảm bảo anh ninh cung cấp điện của hệ thống”, ông Khu kết luận.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.