Ktetaichinh’s Blog

April 18, 2009

GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG-Phạm Duy Nghĩa

Filed under: kinh tế,Pháp luật — ktetaichinh @ 3:11 am
Tags: ,

Phạm Duy Nghĩa

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [[1]].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [[2]]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [[3]].

Được tạo đà bởi xu thế quốc hữu ít như cần thiết, dân doanh lớn như có thể; khéo léo khơi gợi mơ ước về một môi trường kinh doanh bình đẳng của lớp doanh nhân đang tiến tới con số nửa triệu vào năm 2010, những người soạn luật dường như đã thuyết phục được dư luận xã hội về việc cần có một đạo luật chung. Nhìn lại như vậy đủ mừng cho trình độ vận động đã ngày càng chuyên nghiệp của người soạn luật nước ta. Tuy nhiên, từ giác độ của một người nghiên cứu, tôi vẫn cho rằng sự bình đẳng không hề được tạo ra bởi những đạo luật đồ sộ áp dụng cho tất cả các loại hình thương nhân, từ người kinh doanh đơn lẻ, hợp danh, công ty khép kín, cho tới các công ty đại chúng với hàng vạn cổ đông [[4]]. Thường thì người buôn đơn lẻ chỉ cần một quy chế giản đơn hơn nhiều lần so với các hợp danh, cũng như thế các hợp danh về cơ bản được tạo nên bởi quan hệ hợp đồng. Sự can thiệp của nhà nước sẽ tăng dần lên khi tính tổ chức của liên kết gia tăng, thậm chí hầu như tách rời khỏi ý chí của cổ đông, như trường hợp của các công ty đại chúng. Khi ấy luật về công ty là luật tổ chức, phân tách khỏi luật hợp đồng.

Nước láng giềng Trung Quốc tách bạch hợp danh ra khỏi mô hình công ty và điều chỉnh hợp danh theo các nguyên tắc của dân luật đã hình thành từ những năm 1986 với những giải thích ngày càng chuyên nghiệp của tòa án. Luật công ty Trung Quốc ban hành năm 1993, nay được thay thế bởi đạo luật sửa đổi ngày 27/10/2005 với 13 chương và 219 điều có hiệu lực từ 01/01/2006 (dưới đây viết tắt là LCT 2005), chỉ điều chỉnh công ty TNHH và CTCP. Riêng về công ty niêm yết có những quy chế riêng, ví dụ Tiêu chuẩn về quản trị công ty niêm yết do UBCK Trung Quốc ban hành 07/02/2002 hoặc hướng dẫn về quy chế thành viên HĐQT độc lập trong công ty niêm yết tháng 5/2004 [[5]]. Những sửa đổi của LCT 2005 của Trung Quốc có một số xu hướng tương đồng, song nhiều điểm thậm chí dè dặt hơn LDN 2005 của Việt Nam.

Thành lập doanh nghiệp: Giảm chi phí gia nhập thị trường

Cũng như LCT 2005 Trung Quốc áp dụng cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, người soạn thảo LDN 2005 của Việt Nam có ý đồ nhân rộng tư duy đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp từ khu vực tư nhân trong nước sang khu vực đầu tư nước ngoài [[6]]. Riêng đối với quốc doanh, không nên khuyến khích thành lập mới, trái lại cần thắt chặt chúng dưới sự giám sát của cơ quan dân cử. Nếu việc bỏ vốn pháp định, bỏ thủ tục cấp phép đầu tư, bỏ thẩm định luận chứng khả thi, bỏ quy định về thẩm định vốn góp.. cũng được áp dụng với đầu tư nước ngoài, thì nước ta tiến gần đến sự tự do của Delaware! Người Trung Quốc dè dặt hơn, cũng như nhiều nước Châu Âu [[7]], họ vẫn quy định vốn tối thiểu cho công ty TNHH là 30.000 tệ, cho CTCP là 5.000.000 tệ. Hơn thế nữa, người góp vốn theo luật Trung Quốc, tuy không phải góp đủ một lần như quy định trước đây, song cũng không có được sự thoải mái tự định lấy tiến độ góp vốn như theo LDN 2005 của Việt Nam. Người ta vẫn buộc thành viên công ty phải đóng góp ít nhất 20% vốn điều lệ vào thời điểm đăng kí công ty, nếu góp vốn bằng tiền và hiện vật, thì số vốn góp bằng tiền không được phép ít hơn 30% vốn điều lệ, nếu góp bằng tiền thì phải đóng đủ ngay bằng cách gửi vào một tài khoản của công ty, thời gian để góp đủ toàn bộ số vốn điều lệ không thể vượt quá 02 năm và nhà làm luật trù liệu một cơ quan nhà nước có quyền thẩm định vốn góp khi cần thiết nhằm chống lại việc khai khống vốn [[8]].

Cũng giống như ở Việt Nam, người Trung Quốc tìm cách chống nạn khai khống vốn bằng cách buộc thành viên công ty và người định giá phải bồi hoàn cho công ty và chủ nợ [[9]]. Song người soạn luật Trung Quốc đi xa hơn các đồng nghiệp Việt Nam bằng cách quy định lỗi suy đoán và đảo ngược nghĩa vụ chứng minh cho các thành viên công ty nhằm bảo vệ tốt hơn vị thế các chủ nợ ngay tình. Thêm nữa, khai không vốn ngay lập tức dẫn tới các chế tài phạt theo luật hành chính và hình sự [[10]].

Sự dễ dãi trong thủ tục đăng kí kinh doanh có thể đã là một tác nhân tạo nên sự gia tăng tới gần 20 vạn doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong sáu năm qua. Tuy nhiên, đằng sau con số dễ gây ảo giác đó, chỉ có một phần doanh nghiệp thực sự có vốn, có hoạt động và tạo việc làm. Nỗi lo bị lừa bởi công ty ma đẩy các chủ nợ làm ăn với công ty tới một thói quen hành xử đáng lưu ý hơn; họ không chấp nhận tính chịu trách nhiệm hữu hạn và tìm mọi cách cá thể hóa công ty, buộc thành viên công ty phải chịu trách nhiệm cuối cùng cho mọi khoản nợ. Ngân hàng yêu cầu thành viên, người điều hành công ty TNHH thế chấp nhà đất tư cho nợ của công ty; chủ nợ và thừa phát lại không hiếm khi tới tận nhà của các thành viên công ty mà xiết nợ. Thành ra, như tôi đã nhiều lần cảnh báo, nếu không thực thi được tính chịu TNHH và tách bạch giữa công ty và thành viên của nó, thì chúng ta đã có 20 vạn tiệm buôn gia đình núp dưới bóng các công ty hiện đại.

Thêm nữa, ngày vui đăng kí kinh doanh thì ngắn, mà những tháng ngày xin con dấu, mã số thuế đến chiều lòng quan chức thì dài [[11]]. Chi phí gia nhập thị trường chỉ có thể giảm, nếu cương tỏa được nhằng nhịt các giấy phép con, cháu và điều kiện kinh doanh, vốn bướng bỉnh như đầu Phạm Nhan [[12]]. Dựa trên LDN 2005, một nghị định về giấy phép kinh doanh đang được Viện Quản lí kinh tế Trung ương chủ soạn; sức công phá của những con chữ đầy tâm huyết ấy vào hệ thống hành chính quan liêu đương quyền có lẽ sẽ rất khiêm tốn [[13]]. Người Trung Quốc buộc cơ quan đăng kí kinh doanh phải công bố tất cả các loại giấy phép, chỉ khi công bố chúng mới có hiệu lực [[14]]. Thêm nữa, từ một tầm nhìn xa hơn, gia nhập thị trường còn phụ thuộc vào cuộc chia thương quyền giữa những liên minh quyền lực quan thương và giới kinh doanh hiện hữu. Những chi phí ấy khó có thể giảm chỉ bởi một tiếng én lẻ loi; LDN 2005 dường như đã tới giới hạn của nó trong việc góp phần giảm chi phí gia nhập thị trường.

Một số chi tiết kĩ thuật khác trong đăng kí kinh doanh vẫn chưa được LDN 2005 xử lí chuyên nghiệp, ví dụ thiếu vắng một hệ thống đăng kí doanh nghiệp liên thông quốc gia. 7.000 phòng kinh tế cấp huyện, 64 phòng đăng kí kinh doanh ở các sở KH&ĐT cấp tỉnh cũng như hệ thống đăng kí kinh doanh của ngân hàng, cơ sở y tế, giáo dục chưa thể liên kết và chia sẻ thông tin. Tin xấu về một nhà hàng Phố Núi (vụ PMU 18) có thể chạnh lòng vô số doanh nghiệp cùng tên trên khắp đất nước này. Cũng như thế SITC đã mở tới 29 chi nhánh, quỵt học phí của 3 vạn học sinh và nợ lương của hàng ngàn giáo viên Anh ngữ, mà các cơ quan đăng kí kinh doanh vẫn chẳng hay biết chủ đầu tư đã bỏ trốn. Thêm nữa, các quy định đơn sơ của §§ 13-37 LDN 2005 chắc rằng vừa có vẻ quá thừa đối với cá nhân kinh doanh đơn lẻ, song lại quá thiếu và khó có thể phù hợp cho các CTCP [[15]].

Từ hộ kinh doanh tới doanh nghiệp tư nhân, hợp danh và các công ty

Một số lượng lớn các cá nhân, hộ kinh doanh, ước tính từ 2,5 -2,9 triệu hộ, vẫn lưỡng lự khi chuyển đổi từ khu vực “không chính thức” này sang khu vực doanh nghiệp. Có nhiều lí do cho sự e dè này, song phần cũng bởi cân đo lợi ích mà mô hình doanh nghiệp có thể đem lại cho họ. LDN 2005 đã có một quy định khá khiên cưỡng, yêu cầu các hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở nên buộc phải lựa chọn mô hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) hoặc công ty [[16]].Ý tưởng cưỡng bức này thực ra đã có từ những năm 2004, chưa triển khai thành công, đã vội được nâng thành luật.

Một cá nhân có thể thành lập một hay vô số công ty TNHH đơn hoặc đa thành viên; có thể tham gia vào vô số CTCP, song anh ta chỉ có thể thành lập một DNTN [[17]]. Lí do cho sự hạn chế này chưa mấy rõ ràng. Chỉ biết rằng, sau khi ra đời, DNTN có sản nghiệp riêng, có tên riêng, có con dấu và người điều hành, được đánh thuế thu nhập như bất kì doanh nghiệp nào khác; sản nghiệp ấy có thể được cho thuê hoặc bán cho người khác. Như vậy, cũng như LDN 1999, đạo luật mới năm 2005 gián tiếp đã thừa nhận DNTN như một thực thể kinh tế khá độc lập, tách ra khỏi cá nhân làm chủ. Tuy nhiên, về mặt pháp lí, LDN 2005 chưa hề tiến xa hơn người tiền nhiệm của nó. Chủ doanh nghiệp vẫn là nguyên đơn, bị đơn trong các giao dịch pháp lí. Điều rầy rà sẽ xuất hiện, nếu ông chủ đó đột nhiên vô năng hoặc chết đi, trong khi DNTN vẫn hiện hữu và tiếp tục cuộc kinh doanh của nó với tư cách là một doanh nghiệp.

Từ bốn điều cũ của LDN 1999, phần về hợp danh của đạo luật mới đã được cơi nới thành 11 điều, tạo dựng những khuôn mẫu chi tiết hơn cho các thỏa thuận hợp danh. Theo luật chuyên ngành, hợp danh có thể trở thành mô hình pháp lí bắt buộc đối với một số dịch vụ, ví dụ văn phòng luật sư, kiểm toán độc lập, phòng mạch, kiến trúc sư. Các nhà soạn luật tặng cho hợp danh tư cách pháp nhân; song tính nghiệp dư của người soạn luật có thể thấy ngay ở trong cùng một điều luật, bởi nếu hợp danh đã là pháp nhân thì người tạo vốn cho chúng không còn là đồng sở hữu [[18]]. Thêm nữa, liệu hợp danh có trở nên phổ biến hay không còn phụ thuộc vào lợi ích mà mô hình này mang lại cho chủ đầu tư. Nhiều nước không áp dụng thuế thu nhập công ty cho mô hình hợp danh. Nếu chọn mô hình hợp danh, nhà đầu tư có thể chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân mà tránh bị đánh thuế hai lần. Lợi thế này không hề có theo pháp luật nước ta; cũng như các công ty, hợp danh là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày LDN 2005 có hiệu lực có thể lựa chọn hai cách: (i) không đăng kí lại, hoạt động theo các quy chế cũ theo điều lệ, hợp đồng liên doanh và các giấy phép đầu tư đã được cấp; (ii) đăng kí lại theo các mô hình doanh nghiệp của LDN 2005 trong thời hạn 02 năm [[19]]. Liên doanh hay các doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN đều có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hoặc tiến hành cổ phần hóa; người soạn luật chỉ quên số phận của các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), vốn rất phổ biến ở các ngành dầu khí, viễn thông, du lịch và một số dịch vụ khác, như khai thác khách sạn, sân golf, trường đua ngựa. LDN 2005 chưa có các quy định cụ thể về quy trình chuyển đổi hợp đồng BCC thành công ty TNHH hay hợp danh.

Phá hạn trách nhiệm: Piercing the corporate veil hay là Durchgriffhaftung

Mặc dù bốn định nghĩa của LDN 2005 về tính chịu TNHH có phần khác nhau, song TNHH là một tấm màn; nếu được hiểu đúng sẽ bảo vệ rất đắc lực cho các chủ kinh doanh và dồn một phần rủi ro cho các chủ nợ [[20]]. Không thể bênh vực người gian xù nợ, người làm luật Trung Quốc và Việt Nam đều du nhập vô khối ngoại lệ để phá TNHH, buộc thành viên phải mang tài sản cá nhân trả cho nợ của công ty [[21]]. Các điều luật này đều được thể hiện ở dạng quyền đòi đền bù thiệt hại của chủ nợ; buộc thành viên công ty phải liên đới (bên cạnh trách nhiệm của công ty và các thành viên khác) và chịu trách nhiệm đến cùng (vô hạn), cho các khoản nợ của công ty.

Các quy định phá hạn này có thể sẽ gây sự chú ý đáng kể đối với các nhà đầu tư từ những xứ quen với tính chịu TNHH, song chắc sẽ ít ý nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc, nơi thương nhân mới đang tập làm quen với sự tách bạch giữa thành viên và công ty và tòa án hiếm hoi mới thụ lí một vụ phá sản.

Bảo vệ cổ đông thiểu số

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chập chững học những bài đầu tiên; nhà đầu tư cá nhân hành xử theo tâm lí đám đông, bị dẫn dắt bởi vô khối tin đồn. Chìm sâu dưới những làn sóng bất cân xứng thông tin đó, các nhà đầu tư thiết chế và đại cổ đông lặng lẽ toan tính những cuộc thâu tóm nguồn tài nguyên và hệ thống tiêu thụ. Bảo vệ cổ đông thiểu số, bởi thế là một quan tâm hàng đầu của quản trị công ty, lan rộng từ các nước OECD đến các thị trường mới nổi, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam [[22]].

Theo các khuôn mẫu quản trị công ty của OECD, người soạn luật hai nước Việt Nam và Trung Hoa đều tìm cách tăng quyền có được thông tin cho cổ đông, quy định quyền yêu cầu triệu tập các đại hội đồng cổ đông của nhóm cổ đông thiểu số, du nhập nguyên tắc cộng dồn phiếu trong bầu cử thành viên hội đồng quản trị (hay hội đồng giám sự theo luật Trung Hoa) [[23]]. Trong một số trường hợp, ví dụ khi chống lại các quyết định tái tổ chức, sửa đổi điều lệ, hay nếu 05 năm liền không nhận được cổ tức khi công ty có lãi, thành viên công ty TNHH, cổ đông có thể buộc công ty mua lại phần vốn góp hoặc cổ phiếu của mình [[24]]. Thu nhập của người quản lí công ty cũng buộc phải minh bạch hơn đối với các cổ đông và công chúng.

Dù nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số của pháp luật hai nước về cơ bản có thể so sánh được với nhau, song cũng như ở vài khía cạnh đã được minh họa kể trên, dường như người soạn luật Trung Hoa có phần chuyên nghiệp hơn các đồng nghiệp Phương Nam của mình. Quyền của cổ đông sẽ vẫn chỉ là quyền trên giấy, nếu thiếu các tố quyền, tức là thiếu quyền cầu viện công lí, nại ra tòa và yêu cầu can thiệp. Theo pháp luật Trung Quốc, thành viên công ty TNHH hoặc cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án hủy các nghị quyết của hội đồng quản trị hay đại hội đồng cổ đông, nếu chúng vi phạm các nguyên tắc triệu tập, thông tin và biểu quyết hay có bằng chứng cho thấy cổ đông đa số đã lạm dụng vị thế của mình để bóc lột cổ đông thiểu số. Tương tự như vậy, trong hội đồng quản trị của các CTCP niêm yết phải có ít nhất 02 thành viên độc lập, chỉ khi hai vị này kí xác nhận thì các báo cáo tài chính mới được trình lên đại hội đồng cổ đông [[25]]. Đối chiếu với các thủ tục triệu tập, mời họp, bỏ phiếu khá phức tạp đã được du nhập vào LDN 2005, người ta vẫn băn khoăn tự hỏi, liệu cổ đông trên thực tế có thể làm được gì để ép giám đốc các công ty buộc phải tuân thủ những quy trình minh bạch đó [[26]].

Thay cho lời kết: Từ hải đoàn thuyền thúng tới chiến hạm hiện đại

Sau hai thập kỉ đổi mới, 82 triệu người Việt Nam đã tạo nên 20 vạn doanh nghiệp với bình quân thu nhập đầu người hàng năm chưa vượt quá 600 USD. Bạn sẽ nghĩ gì nếu biết rằng cũng con rồng cháu tiên, song chỉ với 2 triệu người ở hải ngoại một hệ thống 20 vạn doanh nghiệp Việt kiều đã hình thành, góp phần chuyển về cố hương hàng năm trên dưới 4 tỷ USD kiều hối. Cho đến 2010, người ta đang mơ ước cứ 180 người dân nước Việt sẽ có một doanh nhân. Giảm quy chế, tạo mọi dễ dàng cho khởi sự doanh nghiệp là một xu thế tất yếu đã được LDN 2005 tái khẳng định. Song doanh nghiệp của người Việt Nam, dù là của người trong nước hay ở hải ngoại, đều là một hải đoàn thuyền thúng và xuồng lá tre so với chiến hạm tối tân của doanh nhân các dân tộc láng giềng. Du nhập quản trị công ty hiện đại, tạo kênh dẫn ngàn vạn đồng tiền lẻ tích tụ thành những nguồn vốn lớn và lựa chọn nhng nhà quản trị tài năng làm cho nguồn tài nguyên khan hiếm đó sinh sôi chính là triết lí của mọi sự giàu có; đó cũng chính là hy vọng người nước ta chờ đợi vào LDN 2005./.


* PGS TS Khoa Luật, ĐHQG HN, nghiadp@vnu.edu.vn

[1] LDN 2005, § 166 II, 171 II. (Dưới đây quy ước viết tắt: § là điều, I, II.. là các khoản).

[2] Chương trình phát triển kinh tế tư nhân MPDF và Văn phòng Quốc hội, Dự án Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư chung, Hà Nội, 8/2005.

[3] Xem Ngân hàng thế giới, Môi trường kinh doanh năm 2004, Tìm hiểu quy chế (Understanding Regulation) và Môi trường kinh doanh 2006, Tạo việc làm (Creating Jobs), đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, nguyên tác có thể tải về từ trang Web: http://www.doingbusiness. org.

[4] Phạm Duy Nghĩa, Giò lụa hay xúc-xích: Lại bàn về làm luật, NCLP, 2005, I, tr. 42-46.

[5] Nguồn LCT 2005 của Trung Quốc có thể tải về từ: www.saic.gov.cn/ggl/zwgg_detail.asp?newsid=314. Bản quy chế quản trị công ty niêm yết của Trung Quốc có thể tải về từ: http://www.ecgi.org.

[6] Xem § 6 LCT 2005 Trung Quốc, § 13 I LDN 2005 Việt Nam, cả hai đều áp dụng cho tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

[7] Ví dụ Đức vẫn quy định vốn tiểu thiểu 25.000 Euro cho công ty TNHH và 50.000 Euro cho CTCP.

[8] So sánh §§ 26II, 27, 28, 29, 81 I LCT 2005 của Trung Quốc với §§ 29, 30, 39 I LDN 2005 Việt Nam.

[9] Xem § 30 II LDN 2005 của Việt Nam, §§ 20 III, 208 III LCT 2005 của Trung Quốc.

[10] § 208 III LCT 2005 Trung Quốc, §§ 200, 201 và 158 BLHS Trung Quốc

[11] CIEM-GTZ, Từ ý tưởng đến thực tiễn kinh doanh, Hà Nội, 2005

[12] Ban nghiên cứu của Thủ tướng-GTZ, Cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh ở Việt Nam, Hà Nội, 2006

[13] Dự thảo nghị định về đăng kí kinh doanh có thể tải về từ: http://www.vibonline.com; xem them bình luận của Nguyễn Tấn, Cơ chế mới hạn chế giấy phép con, TBKTSG, 18/05/2006.

[14] Xem § 88 LCT 2005 Trung Quốc với khoảng 180 giấy phép kinh doanh các loại có thể tải về từ các trang dưới đây: http://www.hbgs.gov.cn/biaoge/qz.doc; http://www.ccgs.gov.cn/html/bszzn

[15] Xem thêm: Nguyễn Mạnh Bách, Những điều bất cập trong Luật doanh nghiệp 2005, TBKTSG, 04/05/2006.

[16] § 170 IV LDN 2005.

[17] § 141 III LDN 2005

[18] § 130 Ia và II LDN 2005. Pháp nhân phải là chủ sở hữu tài sản riêng của nó. §§ 3, 4 LCT 2005 của Trung Quốc hay § 29 LDN 2005 của Việt Nam đều đã làm rõ điều này, đáng tiếc lại có một quy định mâu thuẫn tại § 130 Ia khi cho rằng thành viên hợp danh là đồng sở hữu công ty. Người Trung Quốc nhấn mạnh rằng thành viên công ty chỉ có quyền hưởng lợi từ công ty, chứ tuyệt nhiên không là đồng sở hữu công ty. Người ta đang tìm cách áp dụng điều này đối với cả DNNN, từ 2003 một thiết chế quản lí, kinh doanh công sản đã hình thành và tìm cách thực hiện quyền cổ đông trong các công ty quốc hữu lớn. Năm 2005 Việt Nam cũng đã du nhập mô hình này (TCT quản lí và kinh doanh vốn nhà nước thuộc Bộ tài chính).

[19] § 170 II LDN 2005

[20] Xem bốn định nghĩa về TNHH: §§ 38 I b, 63 I, 77 I c, 130 Ic LDN 2005.

[21] Xem ví dụ: §§ 30 II, 39 II, 59 II, 62, 66 I, 94, 108 IV LDN 2005 của Việt Nam, §§ 20, 21, 28, 31, 84, 94, 95,113, 153, 190, 208 LCT 2005 của Trung Quốc.

[22] Tổng quan về quản trị công ty (corporate governance), có thể tham khảo: http://www.ecgi.org

[23] Xem §§ 34, 40, 43, 103, 117 LCT 2005 Trung Quốc và §§ 41, 79 LDN 2005 của Việt Nam.

[24] Xem § § 75, 143 I, 183 LCT 2005 Trung Quốc, §§ 43, 90 LDN 2005 của Việt Nam.

[25] Xem §§ 22 II, 123 LCT 2005 của Trung Quốc.

[26] Theo § 107 LDN 2005, cổ đông có quyền yêu cầu tòa án hoặc trọng tài hủy bỏ quyết nghị của ĐHĐCĐ nếu trình tự và thủ tục triệu tập vi phạm pháp luật hoặc vi phạm điều lệ công ty. Mới đây có vụ đảo

Advertisements

Doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính bán niên

Filed under: kinh tế,Ngành nghề,Pháp luật — ktetaichinh @ 1:22 am
Tags: , ,

CafeF) – Việc làm này nhằm mục đích minh bạch hóa thông tin và tránh những sự khác biệt trong báo cáo tài chính quý của doanh nghiệp với báo cáo tài chính năm được kiểm toán.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} @font-face {font-family:”\.VnTime”; mso-font-alt:”Courier New”; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:3 0 0 0 1 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} p.MsoBodyTextIndent3, li.MsoBodyTextIndent3, div.MsoBodyTextIndent3 {mso-style-unhide:no; mso-style-link:”Body Text Indent 3 Char”; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:0in; margin-left:1.5in; margin-bottom:.0001pt; text-align:justify; text-indent:-.5in; mso-pagination:widow-orphan; font-size:14.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; font-family:”.VnTime”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”; layout-grid-mode:line;} span.BodyTextIndent3Char {mso-style-name:”Body Text Indent 3 Char”; mso-style-unhide:no; mso-style-locked:yes; mso-style-link:”Body Text Indent 3″; mso-ansi-font-size:14.0pt; font-family:”.VnTime”,”sans-serif”; mso-ascii-font-family:”\.VnTime”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-hansi-font-family:”\.VnTime”; layout-grid-mode:line;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-hansi-font-family:Calibri;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.0in 1.0in 1.0in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Ông Nguyễn Thế Thọ, trưởng ban quản lý phát hành Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho biết hiện nay do ảnh hưởng của tình hình kinh tế và việc đầu tư tài chính của một số công ty dẫn đến báo cáo tài chính quý không phản ánh hết được tình hình tài chính công ty.

Ngoài ra đây là trong những báo cáo tài chính quý do công ty tự tập nên có trường hợp công ty chưa thực hiện trích một số khoản dự phòng trong báo cáo.

Vì vậy, điều đó gây ra những sự khác biệt từ báo cáo tài chính quý, đặc biệt là quý IV hoặc năm của doanh nghiệp với báo cáo đã được kiểm toán.

Trên cơ sở đó, để khắc phục tình trạng xảy ra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã công bố Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

Theo đó, tổ chức niêm yết phải lập và công bố thông tin về báo cáo tài chính bán niên (sáu tháng đầu năm) được kiểm toán soát xét báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật (và bản dịch Tiếng anh (nếu có)) trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày kết thúc Quý 2 hàng năm.

Báo cáo tài chính bán niên của tổ chức niêm yết phải công bố trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết và phải lưu trữ ít nhất trong vòng mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của tổ chức để nhà đầu tư tham khảo.

Ông Thọ cho biết, với những công ty nộp báo cáo tài chính muộn Uỷ ban yêu cầu 2 Sở nhắc nhở và gửi công văn yêu cầu các công ty thực hiện nghiêm túc quy định này. Nếu công ty nào tái diễn Uỷ ban sẽ yêu cầu giải trình và xem xét mức độ để chuyển cho thanh tra UBCKNN xem xét.

Tuy nhiên, như dự thảo, cũng vẫn có những trường hợp bất khả kháng có thể hoãn nộp báo cáo tài chính.

Theo thống kê từ Uỷ ban chứng khoán, tính tới 31/3/2009 chỉ mới 105/177 (chiếm 59,3%) doanh nghiệp trên HaSTC và 91/177 trên HoSE thực hiện nộp báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Một số điểm mới trong Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} p.MsoBodyText, li.MsoBodyText, div.MsoBodyText {mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-link:”Body Text Char”; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:6.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} span.BodyTextChar {mso-style-name:”Body Text Char”; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-unhide:no; mso-style-locked:yes; mso-style-link:”Body Text”; mso-ansi-font-size:11.0pt; mso-bidi-font-size:11.0pt;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-hansi-font-family:Calibri;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.0in 1.0in 1.0in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Cổ đông lớn: Tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng, trong thời hạn bảy (07) ngày kể từ ngày thực hiện giao dịch (kể cả trường hợp cho, tặng, thừa kế, chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu phát hành thêm…), hoặc không thực hiện giao dịch nhưng có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá một phần trăm (1%) số lượng cổ phiếu cùng loại đang lưu hành phải thực hiện báo cáo.

Trong vòng hai mươi bốn (24) giờ sau khi có sự thay đổi đầu tiên về số lượng cổ phiếu sở hữu làm cho tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan không còn là cổ đông lớn thì phải thực hiện báo cáo cho công ty đại chúng, UBCKNN và SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết hoặc đăng ký giao dịch) và trước thời hạn bảy (07) ngày kể từ ngày hoàn tất sự thay đổi trên.

Giao dịch cổ phiếu quỹ: Công ty đại chúng khi hoàn tất việc mua lại cổ phiếu của chính mình làm cổ phiếu quỹ hoặc bán cổ phiếu quỹ, phải báo cáo kết quả thực hiện cho UBCKNN và SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết hoặc đăng ký giao dịch) trong vòng mười (10) ngày kể từ ngày kết thúc giao dịch để thực hiện công bố thông tin. Trường hợp không thực hiện hết khối lượng đăng ký, công ty đại chúng phải giải trình nguyên nhân.

April 5, 2009

Tình trạng khiếu nại, tố cáo tại TPHCM – Bức xúc vẫn ở lĩnh vực nhà đất 040409

“Các vụ tranh chấp, khiếu nại tố cáo (KN-TC) trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư. Tình trạng KN-TC về nhà ở đang ngày càng bức xúc…” – Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 20/2006/CT – UBND, Quyết định 132/2006/QĐ-UBND và 1 năm thực hiện Quyết định 3141/QĐ-UBND của UBND TPHCM về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư KN-TC tổ chức ngày 3-4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân.

  • 9 đời chủ tịch vẫn… chưa xong!

Người dân đang phản ảnh thắc mắc, kiến nghị tại phòng tiếp công dân UBND quận 8. Ảnh: H.Hoa

Ông Hoàng Đức Long, Phó chánh Thanh tra Thường trực TPHCM cho biết: Trong 2 năm 2007-2008, trong tổng số trên 25.000 đơn thuộc thẩm quyền các cấp, các ngành phải giải quyết, đã có hơn 22.700 đơn được giải quyết (tỷ lệ 88,66%). Tuy nhiên, ông Long cũng nhìn nhận, thời hạn giải quyết khiếu nại vẫn còn kéo dài, tình trạng đơn thư tồn đọng quá hạn giải quyết vẫn chưa được khắc phục triệt để. “Các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư vẫn là chủ yếu và gây bức xúc lớn trong dân”, ông Long nhấn mạnh.

Còn theo ông Phan Đức Nhạn, Phó giám đốc Sở Xây dựng thì KN-TC về nhà đất ngày càng gay cấn và bức xúc do giá trị về nhà đất rất lớn, trong khi đó nội dung những vụ việc này lại phức tạp, đa dạng.

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cũng tâm sự: “Tôi là chủ tịch đời thứ 9 rồi mà vẫn có những đơn thư kéo dài đến nay chưa giải quyết xong. Thậm chí, có rất nhiều người dân biết rất rõ địa chỉ nhà tôi ở Đồng Nai và đến tận nhà, chờ đợi để đưa tận tay đơn thư KN-TC. Tất cả điều đó chỉ giải thích được một điều là người dân bức xúc lắm, vì ảnh hưởng quá lớn đến đời sống của họ nên họ sẵn sàng bỏ cả công ăn việc làm để đi tìm cho được câu giải đáp. Một ngày bình quân tôi nhận khoảng 10 đơn các loại gửi đích danh chủ tịch UBND TP, trong đó có những câu chuyện đọc xong đêm không ngủ được vì thấy buồn và day dứt lắm”…

Lý giải về số lượng đơn thư thuộc thẩm quyền nhưng chưa giải quyết rốt ráo và kéo dài, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân cho rằng: Phần lớn đơn thư đó có nội dung phức tạp, liên quan đến chính sách đền bù, giải tỏa, thu hồi đất, tái định cư… đòi hỏi phải có thời gian thẩm tra, xác minh từ nhiều cơ quan chức năng khác nhau nên thường bị kéo dài về thời gian. Khối lượng đơn thư khá lớn trong khi cán bộ thiếu kinh nghiệm, trình độ nên gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, theo Sở Xây dựng, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nhà đất còn thiếu, đôi khi nội dung mâu thuẫn nhau.

  • Luật thiếu, cán bộ yếu

Từ thực tế trên, đã có rất nhiều giải pháp tâm huyết được các đại biểu trình bày tại hội nghị. Chủ nhiệm Văn phòng tiếp công dân TP Phạm Văn Thành đề xuất: HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ TP cần nâng cao hiệu quả giám sát những trường hợp KN-TC phức tạp, đông người. Sau khi giám sát phải có văn bản kết luận đúng sai ngay đối với những vụ việc đã được các cơ quan chức năng giải quyết. Có vậy, KN-TC mới có điểm dừng, nếu không kịp thời giải quyết nhanh những KN-TC mới phát sinh dưới cơ sở thì chuyện vượt cấp là điều dễ hiểu!

Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng và củng cố các tổ chức hòa giải để hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau. Cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và cung cấp đầy đủ thông tin về quá trình giải quyết giữa các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến cơ sở. Với các dự án có khiếu nại đông người thì phải công khai từ việc quy hoạch, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, phương án bồi thường tái định cư và nhanh chóng cử cán bộ có kinh nghiệm giải quyết các khiếu nại của người dân có liên quan.

Ông Châu Văn La, Phó Chủ tịch UBND quận Tân Bình kiến nghị: sửa đổi Quyết định 132 của UBND TP về việc ủy quyền trong đối thoại cho phù hợp với Luật KN-TC. Vì thực tế, khi các cơ quan tham mưu đối thoại thường không phải là thủ trưởng cơ quan chủ trì mà giao cho cấp phó, có khi ở cấp chuyên viên tiếp xúc người khiếu nại. Nhiều trường hợp không trả lời dứt khoát được vụ việc cần giải quyết thế nào nên người dân bức xúc và tiếp tục KN-TC vượt cấp. Cần có văn bản quy định rõ trách nhiệm, hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức không hợp tác, chậm trễ khi phối hợp với cơ quan tham mưu giải quyết khiếu nại vì thường một vụ việc KN-TC có tính chất phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực.

Phó Chánh Thanh tra Thường trực TPHCM Hoàng Đức Long cho rằng: UBND TP tiếp tục đề xuất Trung ương thay đổi, bổ sung các quy định pháp luật để các văn bản quy phạm pháp luật không trái với Luật KN-TC; đồng thời chỉ đạo xây dựng “Hệ thống chương trình quản lý hồ sơ tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại” của từng cơ quan và liên thông giữa 5 cơ quan (Thanh tra TP, Sở TN-MT, Sở Xây dựng, Văn phòng tiếp công dân TP và Văn phòng HĐND- UBND TP) nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng thông tin báo cáo cũng như đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành của UBND TP trong công tác KN-TC trên địa bàn TP.

Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân: Thanh tra công vụ để ngăn ngừa tiêu cực

Các cơ quan thanh tra tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp dưới trong tiếp công dân, giải quyết KN-TC. Đặc biệt, các đơn vị phải tăng cường thanh tra công vụ để kịp thời hạn chế và ngăn ngừa phát sinh tiêu cực trong giải quyết tranh chấp KN-TC. Trong khi hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, các quy định và văn bản pháp luật về đất đai, xây dựng còn thay đổi, chồng chéo, bất cập thì yếu tố góp phần kéo giảm tình trạng KN-TC chính là nâng chất đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân.

March 26, 2009

Tính kỹ trước khi khai thuế 122208

Filed under: kinh tế,Pháp luật — ktetaichinh @ 12:01 am
Tags: ,

TT – Hàng triệu người đang ngồi khai thuế thu nhập cá nhân. Theo các chuyên gia, khai thuế có lợi nhất phụ thuộc vào nhiều “biến số”, không ai như ai, vì thế phải nắm rõ giảm trừ gia cảnh, biểu thuế lũy tiến từng phần, thế nào là người phụ thuộc, thu nhập của người nộp thuế và ngồi… tính

Khai cho người có thu nhập cao
Nguyên tắc này đúng với đa số người phải khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Trong gia đình, vợ chồng cùng đi làm, nếu một người có thu nhập cao hơn thì nên để người đó nhận khai người phụ thuộc để giảm thu nhập chịu thuế.
Ví dụ gia đình ông A, vợ có thu nhập 4 triệu đồng/tháng, chồng thu nhập 20 triệu đồng/tháng, có bốn người phụ thuộc (gồm hai con và cha mẹ già). Trường hợp này nên khai giảm trừ gia cảnh cả bốn người phụ thuộc cho ông A. Ông A được giảm trừ gia cảnh 10,4 triệu đồng: bản thân ông A là 4 triệu đồng, 4 người phụ thuộc là 6,4 triệu đồng (1,6 triệu x 4 người). Thu nhập chịu thuế của ông A chỉ còn 9,6 triệu đồng (20 triệu – 10,4 triệu), ông A nộp thuế TNCN là 710.000 đồng.
Cụ thể, theo biểu thuế lũy tiến từng phần, thu nhập chịu thuế 9,6 triệu đồng của ông A được tính như sau:
* Đến 5 triệu đồng thuộc bậc 1 biểu thuế có thuế suất là 5%: 5 triệu x 5% = 250.000 đồng;
* Phần còn lại 4,6 triệu đồng thuộc bậc 2 của biểu thuế có thuế suất 10%: 4,6 triệu x 10%= 460.000 đồng.
Còn bà A do thu nhập chỉ đủ giảm trừ gia cảnh nên không còn thu nhập chịu thuế, vì thế không phải đóng thuế.
Biểu thuế lũy tiến từng phần
Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) Thuế suất (%)
1 Ðến 60 Ðến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35
Thu nhập ngang nhau, khai cho ai?
Theo các chuyên gia, hai vợ chồng có hai con, có thu nhập ổn định và ngang nhau, nếu khai giảm trừ gia cảnh cho hai người có lợi hơn là khai tập trung vào một người.
Khai cho người thu nhập ổn định
Theo những người am hiểu về thuế TNCN, với trường hợp vợ/chồng có thu nhập ổn định, người còn lại có thu nhập theo “thương vụ” như mua bán bất động sản… thì nên khai giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc cho người có thu nhập ổn định để giảm tiền thuế phải nộp hằng tháng. Theo Luật thuế TNCN, chỉ có cá nhân thu nhập từ tiền lương, tiền công và sản xuất kinh doanh mới được giảm trừ gia cảnh.
Trường hợp gia đình cha mẹ già có đông con nhưng chỉ có một người có thu nhập ổn định thì nên cùng thỏa thuận để người có thu nhập ổn định khai người phụ thuộc để khai thác tối đa quy định về giảm trừ gia cảnh vì Luật thuế TNCN không giới hạn số người phụ thuộc.
A.HỒNG
Vợ chồng ông B thu nhập 6 triệu đồng/người/tháng. Nếu khai hai người phụ thuộc cho ông B thì ông B không phải nộp thuế thu nhập (4 triệu +3,2 triệu = 7,2 triệu, trong khi thu nhập chỉ có 6 triệu đồng). Còn bà B phải nộp thuế 100.000 đồng= (6 triệu – 4 triệu gia cảnh cho bản thân) x 5%. Nhưng nếu mỗi người khai một người phụ thuộc thì thuế phải nộp chỉ có 40.000 đồng (mỗi người nộp 20.000 đồng = {6 triệu – (4 triệu +1,6 triệu)} x 5%.
Với những người độc thân cũng có thể khai tăng khoản giảm trừ gia cảnh nếu có người thân đáp ứng điều kiện là “người phụ thuộc”. Những người có liên quan trong gia đình nên ngồi lại, bàn bạc, như gia đình có cha mẹ già thì nên để những người độc thân có thu nhập cao khai giảm trừ gia cảnh. Tuy nhiên, các trường hợp người phụ thuộc “xa” hơn như anh, em… thì bên cạnh điều kiện phải ngoài độ tuổi lao động, hoặc trong độ tuổi nhưng mất khả năng lao động còn có điều kiện là người đó đang được người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng.
Khai thuế bất động sản
Những người có nhiều BĐS đã có chủ quyền sẽ khai thác tối đa quy định “miễn thuế TNCN trong trường hợp chuyển nhượng BĐS cho người thân”. Giả sử ông A có hai căn nhà, thay vì đứng ra bán cho người khác thì phải chịu thuế do có hai căn nhà, ông A sẽ làm thủ tục cho nhà cho con và người con đứng ra bán nhà. Cả hai đều không phải nộp thuế TNCN vì đáp ứng điều kiện “cha cho con nhà được miễn thuế TNCN”, còn người con khi bán nhà thì đáp ứng điều kiện “bán căn nhà duy nhất nên được miễn thuế TNCN”.
Như vậy, trong gia đình, khi cho qua cho lại để đỡ thuế, phải chọn cho những người chưa sở hữu BĐS, vì nếu cho người đã sở hữu một BĐS thì khi người này bán vẫn phải chịu thuế.
Những người kinh doanh BĐS cũng có thể không phải nộp thuế TNCN nếu biết tính toán. Với người đang sở hữu nhiều nền đất, nhà, căn hộ, đều chưa có giấy tờ sở hữu hợp pháp, chỉ mới dừng ở dạng hợp đồng với công ty BĐS. Những trường hợp này không vội vã gì làm giấy chủ quyền, cứ thong thả làm chủ quyền từng căn một để đáp ứng điều kiện “chỉ có một BĐS duy nhất khi chuyển nhượng thì được miễn thuế TNCN”. Bán xong rồi mới làm chủ quyền cho căn khác, như vậy vẫn chỉ sở hữu có một BĐS.
Nhưng theo giới kinh doanh BĐS, nhiều người không vội làm giấy chủ quyền, bán dưới dạng hợp đồng sang tay với nhau để khỏi nộp thuế. Hiện pháp luật quy định việc chuyển nhượng BĐS phải có giấy tờ hợp pháp như giấy hồng, giấy đỏ… Tuy nhiên, trên thực tế, người kinh doanh vẫn chuyển nhượng các hợp đồng góp vốn mua căn hộ, đất nền, nhà… và vẫn phát sinh thu nhập nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng qua cơ quan chức năng nên cũng “bỏ qua” công đoạn khai thuế.
Ai là người phụ thuộc?

– Mức giảm trừ gia cảnh: 4 triệu đồng/tháng cho người khai thuế và 1,6 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc, không giới hạn người phụ thuộc. Phần giảm trừ gia cảnh 4 triệu đồng/tháng được tính bình quân trong năm, không phân biệt tháng không có hoặc thu nhập dưới 4 triệu đồng.
* Người phụ thuộc:
+ Con, gồm: con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng) hoặc trên 18 tuổi bị tàn tật, không có khả năng lao động; con đang học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, không có thu nhập hoặc thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng.
+ Vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng.
+ Với các trường hợp khác như anh, chị, em ruột; ông, bà nội, ông, bà ngoại; cô, dì, cậu, chú, bác ruột; cháu ruột (gồm con của anh, chị, em ruột) chỉ được xem là người phụ thuộc nếu ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng nhưng phải do người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng.
(Nguồn: Thông tư 84 về thuế thu nhập cá nhân của Bộ Tài chính)
T.TU.
Thứ Hai, 22/12/2008, 07:41 (GMT+7)

March 21, 2009

Thuế giảm 3 lần, giá ô tô trong nước vẫn… đứng im! 11130

Filed under: Pháp luật,thị trường (market) — ktetaichinh @ 6:37 pm
Tags: ,

Nguồn: Thanh Niên 13/11/07) Ngày 16.11.2007, quyết định giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ 70% xuống 60% chính thức có hiệu lực. Đây là lần thứ ba trong năm 2007, Bộ Tài chính thực hiện giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc.

Trước khi quyết định giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc lần thứ ba trong năm, Bộ Tài chính và Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô trong nước (VAMA) đã thương lượng với nhau, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe hứa sẽ tính toán, điều chỉnh giảm giá bán. Chờ đợi việc thực hiện lời hứa của VAMA quá lâu, buộc Bộ Tài chính phải quyết định tiếp tục giảm thuế. Tuy không nói ra nhưng ai cũng biết, mục đích khi đưa ra quyết định giảm thuế xe nhập khẩu, Bộ Tài chính muốn kéo giá xe sản xuất và lắp ráp trong nước xuống. Đó cũng là mong muốn của người tiêu dùng.

Quyết định giảm thuế tuy chưa có hiệu lực nhưng đã có vài doanh nghiệp chuyên nhập khẩu xe nguyên chiếc công bố giảm giá bán. Sau ngày 16.11, giá xe nhập khẩu sẽ giảm từ 300 USD đến 4.000 USD/xe, tùy theo chủng loại. Dòng xe hạng sang có mức giảm giá nhiều: xe BMW 320i có giá 72.800 USD giảm còn 69.900 USD, BMW 325i từ 82.800 USD xuống còn 80.900 USD, BMW 730Li từ 185.900 USD xuống 181.900 USD. Công ty ô tô Trường Hải, đơn vị nhập khẩu và phân phối xe Kia cho biết, công ty này sẽ giảm giá từ 500 USD đến 900 USD/xe. Dòng New Morning model 2008, số tay có mức giảm thấp nhất, từ 18.500 USD xuống 18.000 USD/xe, xe Rio số tay giảm từ 21.600 USD xuống 21.000 USD/xe, CARENS chạy xăng, số tay giá 29.000 USD giảm còn 28.100 USD/xe…

Tuy nhiên việc giảm thuế chưa có tác động gì đến xe lắp ráp trong nước. Cho đến thời điểm này, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe trong nước vẫn “ung dung tự tại”, không một đơn vị nào có động thái giảm giá. Hiện nay khách hàng muốn mua xe cũng không có, muốn có phải đặt tiền trước và phải đợi vài tháng sau mới được nhận xe. Riêng 10 liên doanh sản xuất, lắp ráp trong nước hiện đang còn nợ khách hàng (đã đặt cọc mua) khoảng 10.000 xe.

Theo giới kinh doanh ô tô, sự cạnh tranh giữa xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước chưa đến mức căng thẳng, vì số lượng đơn vị nhập xe và số xe được nhập không nhiều, nên lượng xe nhập về chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu. Mức giảm giá nhiều lại tập trung ở những dòng xe nhập khẩu cao cấp, có giá từ 60.000 USD/xe trở lên. Đây lại không phải là phân khúc thị trường của xe sản xuất và lắp ráp trong nước. Một thành viên của VAMA hiên ngang tuyên bố: “Giá xe sản xuất, lắp ráp trong nước sẽ vẫn giữ giá như hiện nay, ít nhất là từ nay cho đến hết năm 2007″.

Đánh thuế lũy tiến BĐS: Doanh nghiệp sẽ bị thuế chồng thuế? 111207

Vietnamnet 12/11/07) Nếu việc áp dụng đánh thuế lũy tiến đối với nhà và đất mà không phân biệt đối tượng, doanh nghiệp có thể sẽ là nơi đầu tiên “lãnh đủ” khi áp dụng.
Dư luận thời gian gần đây rất hoan nghênh chủ trương của Chính phủ là đánh thuế lũy tiến vào nhà đất và thuế sở hữu tài sản bất động sản (BĐS) để chống nạn đầu cơ. Cụ thể, mới đây Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo Bộ Tài chính nghiên cứu, sửa đổi pháp lệnh thuế nhà đất theo hướng đánh thuế lũy tiến đối với người có nhiều nhà, đất vượt hạn mức qui định, hoặc có nhà đất nhưng không đưa vào sử dụng.

Sẽ hạn chế được nạn đầu cơ

Giải pháp trên đã nhận được sự ủng hộ từ nhân dân và nhiều giới. Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng đây là giải pháp rất đúng để ngăn chặn nạn đầu cơ và đại dịch sốt. Thực ra, các đề xuất này đã được giáo sư đề đạt lên Quốc hội từ những năm 2004-2005.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, các đại dịch sốt là do mất cân đối cung cầu, mà thủ phạm là nạn đầu cơ gây ra. Giải trừ được nạn đầu cơ là sẽ giải quyết được tình trạng sốt giá, sẽ đưa giá cả về lại với thị trường.

“Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua dưới dạng một pháp lệnh về thuế. Như vậy, sau ba tháng tập trung, các sắc thuế đổi mới có thể phát huy tác dụng điều tiết có hiệu quả cho thị trường bất động sản” – vị giáo sư này sốt sắng.

Tiến sĩ Trần Du Lịch, Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM, cho rằng hiện nay bất ổn nhất chính là thị trường BĐS. Ông cũng cho rằng đánh thuế đất lũy tiến vào nhà đất và thuế sở hữu tài sản bất động sản là giải pháp hữu hiệu kéo giá đất trở lại… mặt đất.

Tiến sĩ Trần Du Lịch cũng đã từng có kiến nghị như Giáo sư Đặng Hùng Võ từ nhiều năm qua. Và có lẽ nội dung này cũng sẽ tiếp tục chưa được xem xét nếu không có sự cố “cơn điên” The Vista và Sky Garden 3 ở TP.HCM.

“Tôi không dám bình luận vì sao Chính phủ chậm đưa ra các chính sách tài chính để điều chỉnh thị trường bất động sản. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không có trở ngại gì ở đây cả, trên thế giới người ta đều sử dụng các sắc thuế đối với bất động sản, ví dụ thuế luỹ tiến, mà tôi đã từng kiến nghị nhiều năm nay” – Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM nói.

Giáo sư Nguyễn Quang A cũng đồng tình với chủ trương mới này. Ông nói: “Chừng nào còn chưa có thuế thì không tránh khỏi đầu cơ, thậm chí các nguồn tiền bẩn cũng sẽ được chuyển thành bất động sản”.

Giá đất tiếp tục tăng cao chứ không hạ?

Các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM hoàn toàn ủng hộ chủ trương của Chính phủ là phải ngăn chặn nạn đầu cơ. Tuy nhiên, DN cũng e ngại việc đánh thuế lũy tiến sẽ khiến DN thêm khó khăn.

Lãnh đạo các công ty kinh doanh địa ốc Vạn Phát Hưng, Phúc Đức, Kiến Á, là các ông Trần Văn Thành, Lâm Văn Chúc, Huỳnh Trương Phất đều cùng quan điểm cho rằng việc đánh thuế lũy tiến là cần thiết, nhưng nếu không phân biệt là đối tượng đầu cơ với DN đang kinh doanh, việc áp dụng sẽ sai đối tượng và doanh nghiệp lại tiếp tục phải nộp thuế mức cao.

Những nhà kinh doanh này đều cùng cho rằng, hiện tại thuế thu nhập doanh nghiệp đã là một hình thức lũy tiến. Vậy nếu áp dụng đánh thuế lũy tiến BĐS và tài sản, DN sẽ bị thuế chồng thuế, số tiền nộp sẽ bị tăng cao.

“Nếu áp dụng chủ trương này mà không phân biệt đối tượng, ắt doanh nghiệp sẽ là nơi đầu tiên bị áp dụng trước” – ông Lâm Văn Chúc, Giám đốc Công ty Phúc Đức lo lắng (không biết người viết bài này có biết ông Chúc đã đầu cơ lời được bao nhiêu trong đợt sốt vừa qua không ???).

“Bởi lẽ không ai nhiều đất đai, bất động sản bằng doanh nghiệp, và cũng không lĩnh vực nào ỳ ạch, chậm trễ bằng kinh doanh nhà đất” – ông Huỳnh Trương Phất, Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Kiến Á, nói.

Ông Chúc cho rằng, cuối cùng người mua nhà và đất phải chịu khoản tăng thêm này. Ông Chúc e ngại rằng để đảm bảo cân đối tài chính và lợi nhuận, chắc chắn DN sẽ phải nâng giá bán. Lúc đó giá nhà đất tăng lên sẽ khiến DN khó mua bán. Người nghèo, người thu nhập trung bình và thấp càng khó mua được nhà.

Các DN cho rằng, việc áp dụng chủ trương trên có thể ngăn chặn được một phần tình trạng đầu cơ, tuy nhiên cũng có thể xảy ra tình trạng đóng băng nếu DN cũng phải thực hiện chủ trương này.

Cần hỗ trợ các giải pháp thúc đẩy kinh doanh

Ông Trần Văn Thành, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty địa ốc Vạn Phát Hưng, cho rằng cần phải phân biệt rõ, DN không phải là nhà đầu cơ (chính xác! nhưng mà có ai dám chắc ban lãnh đạo doanh nghiệp ko đầu cơ ???), mà là lực lượng tập trung nguồn lực cho nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển. Vì vậy, ông đề nghị khi áp dụng chủ trương đánh thuế lũy tiến vào nhà đất và tài sản sở hữu, nên xem xét không áp dụng với DN.

“Nên làm thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp có điều kiện thực hiện nhanh dự án thay vì áp dụng thuế. Bởi nếu áp dụng thuế mà không có biệp pháp hỗ trợ thực hiện dự án, thì vẫn cứ bế tắc” – ông Thành nói.

“Chẳng hạn Nhà nước hỗ trợ nhanh về thủ tục duyệt, cấp phép dự án, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, huy động vốn… thì dự án sẽ được thực hiện nhanh hơn”

Như vậy, thị trường sẽ được đáp ứng thêm sản phẩm, đảm bảo cân đối cung cầu, giá nhà đất ổn định. Cách này giúp ngăn chặn nạn đầu cơ hiệu quả không kém đánh thuế lũy tiến.

Ông Thành cảnh báo rằng, việc đánh thuế trong thời gian ngắn có thể có hiệu quả, song về lâu về dài vẫn có điểm bất lợi. Về lâu dài tính khả thi sẽ hạn chế, hoặc nếu áp dụng triệt để thì sẽ đẩy giá lên, trong khi giá đất đã rất cao.

Ông Huỳnh Trương Phất nói rằng hiện nay, DN kinh doanh BĐS vẫn còn rất vất vả, một phần bởi những khó khăn đặc thù của thị trường và quan trọng hơn là chưa có đầy đủ các công cụ hỗ trợ từ phía Nhà nước. Bởi lẽ đó, việc Nhà nước hỗ trợ DN để thúc đẩy kinh doanh nhằm làm đòn bẩy thúc đẩy thị trường, góp phần phát triển kinh tế, là biện pháp cần thiết hơn trong giai đoạn này.

“Doanh nghiệp nào cũng muốn dự án của mình thực hiện nhanh để nhanh chóng thu hồi và quay vòng vốn, trả lãi ngân hàng. Không doanh nghiệp nào lại ngâm dự án của mình, làm chậm trễ hoạt động kinh doanh của mình” – ông Huỳnh Trương Phất nói (ngâm mà giá bán tăng gấp 2-3 lần thì lãi vay có đáng gì !).

Ông Thành nói rằng hiện nay các DN đã phải “mang” rất nhiều thứ trên mình, “như một nồi lẩu thập cẩm”, trong đó, các khoản thuế, phí, lệ phí đã hàng chục loại.

“Chỉ cần thêm một thứ gì nữa, doanh nghiệp sẽ như con ngựa thồ quá tải, sẽ ngã quỵ không gỡ nổi” – Phó Chủ tịch HĐQT Vạn Phát Hưng cảnh báo (bức xúc quá).

Sau hàng loạt nội dung ban ra từ các nghị định 181, 17, 02, 153, với các quy định ngày càng khắt khe, DN kinh doanh BĐS ngày càng khó khăn hơn trong việc huy động vốn. Trong đó, các quy định như phải hoàn thành cơ sở hạ tầng và làm xong nghĩa vụ tài chính mới được cấp “sổ đỏ”, không được huy động vốn của khách hàng khi chưa làm xong phần móng… là những ràng buộc khiến DN rất khó khăn và lúng túng. Đã có rất nhiều DN bỏ cuộc, hoặc từ bỏ BĐS, chuyển hướng kinh doanh.

Đặng Vỹ

Vi phạm Chỉ thị 03, xử lý thế nào? 112907

Filed under: chứng khóan,ngân hàng,Pháp luật — ktetaichinh @ 6:19 pm
Tags: , ,

Ngày 31/12 tới là hạn chót để các ngân hàng thương mại đảm bảo tỷ lệ cho vay chứng khoán dưới 3%/tổng dư nợ tín dụng. Hiện tại, các ngân hàng này rất lo lắng về việc Ngân hàng Nhà nước có áp dụng nguyên tắc bất hồi tố hay không.
Ngày 28/11, một quan chức Ngân hàng Nhà nước cho biết, Ngân hàng Nhà nước tôn trọng mọi quy chuẩn pháp luật và sẽ rà soát từng ngân hàng để không bỏ qua những trường hợp cố tình không rút tỷ lệ cho vay chứng khoán dưới hạn mức quy định.

Lâu nay, các ngân hàng thương mại quốc doanh chỉ chú trọng giải ngân vào các dự án lớn và những khoản vay dài hạn nên “miếng bánh” cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán hầu như chỉ dành cho khối ngân hàng thương mại cổ phần.

Những ngày này, khi “vòng kim cô 03” đang siết đến giới hạn cuối cùng và thật dễ hiểu, trong khi các ngân hàng quốc doanh không bận tâm lắm về chuyện này thì có tới 50% số ngân hàng thương mại cổ phần như ngồi trên đống lửa vì hạn mức cho vay chứng khoán không thể nào kéo về 3% trước ngày 31/12/2007.

Một nửa số ngân hàng thương mại cổ phần vượt quá hạn mức

Ông Trương Đình Song, Phó trưởng ban Pháp luật Hiệp hội ngân hàng (VNBA) cho biết: “Có tới 50% số lượng ngân hàng thương mại cổ phần không có khả năng khống chế dư nợ vốn cho vay đầu tư chứng khoán dưới mức 3%/ tổng dư nợ tín dụng”.

Để có được con số này, VNBA đã tiến hành khảo sát và nhận thấy: mặc dù các ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực nhằm giảm dư nợ xuống dưới tỷ lệ 3% theo quy định như: tổ chức rà soát, sao kê các khoản cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán đến ngày 30/6/2007; đi sâu phân tích, phân loại nợ, tính mức trích lập dự phòng rủi ro theo quy định; phân công cán bộ theo sát khách hàng để thu nợ đến hạn, họp với khách hàng bàn các giải pháp tài chính vận động trả nợ một phần hoặc toàn bộ nợ chưa đến hạn.

Tuy nhiên, VNBA cho rằng, đến thời điểm 31/12/2007, sẽ vẫn còn một số ngân hàng thương mại, công ty tài chính không rút được dư nợ cho vay chứng khoán xuống theo như tỷ lệ quy định của Chỉ thị số 03.

Ông Song cho biết thêm, hiện tại, tỷ lệ trên tại VIB là 10%, Đông Nam Á 10% (tội nghiệp quá, bị ổng nêu tên rồi), cá biệt còn nhiều ngân hàng ở mức cao hơn. Cách đây ít lâu, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng cho biết, Ngân hàng Nhà nước đã kiểm tra tại 19 ngân hàng thương mại cổ phần và hầu hết trong số này, tỷ lệ cho vay chứng khoán đều ở mức 10 – 24%!

Xem xét nguyên tắc bất hồi tố

Trước tình hình này, VNBA đã gửi công văn số 384/HHNH lên Ngân hàng Nhà nước, kiến nghị cân nhắc xử lý đối với những trường hợp vi phạm sau thời hạn 31/12. Theo VNBA, hiện tại còn khá nhiều hợp đồng tín dụng hợp pháp, hợp lệ được ký kết trước khi Chỉ thị 03 ban hành và có thời gian đáo hạn sau ngày 31/12/2007.

Ngoài biện pháp ngân hàng phải chủ động thuyết phục, nếu khách hàng không đồng ý thì ngân hàng cũng không thể vi phạm hợp đồng để buộc khách hàng phải trả nợ trước hạn được. Bởi những hợp đồng này đã được ký trước ngày 30/6/2007. Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng Ban pháp chế VCCI, nói: “Về nguyên tắc, trong giao dịch hợp đồng dân sự, kinh tế là không áp dụng hồi tố. Nếu áp dụng và gây thiệt hại cho phía bên kia thì phải bồi thường. Những việc đã xảy ra trước khi ban hành văn bản luật, sau đó cho một hạn mức thời gian để “hồi” thì không thể “hồi” được”.

Theo ông Huỳnh, phải tôn trọng hợp đồng đã có từ trước trong giao dịch giữa ngân hàng và bên vay tiền, nếu hợp đồng đó không trái luật. Trong trường hợp những giao dịch này đúng theo Luật Dân sự, Luật Tín dụng thì Chỉ thị 03 không thể can thiệp đối với những giao dịch trước đó. Điều này được hiểu nôm na rằng ngày xưa luật quy định 16 tuổi mới được hôn nhân nhưng nay, luật “nâng” lên 18 tuổi thì không có nghĩa, các cặp vợ chồng cưới nhau lúc 16 tuổi trước khi luật ra đời, buộc phải ly hôn!

Ngày 28/11/2007, trả lời phỏng vấn của chúng tôi, một quan chức Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Chúng tôi tôn trọng nguyên tắc làm việc theo đúng quy định pháp luật. Những trường hợp nào làm đúng và vượt quá hạn mức thì Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét. Còn những trường hợp vượt hạn mức nhưng không chứng minh được thời điểm hợp đồng ký trước ngày chỉ thị 03 có hiệu lực, đương nhiên sẽ bị xử lý nghiêm”.

Cũng theo vị quan chức này, cho vay chứng khoán chủ yếu là cho vay ngắn hạn, trong thời hạn 6 tháng kể từ khi chỉ thị có hiệu lực (01/7 – 31/12), các ngân hàng hoàn toàn có đủ thời gian để khống chế tỷ lệ dư nợ này xuống dưới mức 3% như quy định. Chỉ có điều, họ có làm một cách riết nóng hay không mà thôi. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước sẽ rà soát từng hợp đồng của từng ngân hàng thương mại để xem xét cụ thể và vấn đề này không có gì phức tạp vì thời điểm ký hợp đồng với khách hàng đều thể hiện đầy đủ trên sổ sách chứng từ.

Tuy nhiên, mặc dù không nói ra nhưng Ngân hàng Nhà nước hiện không thể nào rà soát và kiểm tra được tính trung thực đối với những hợp đồng cho vay chứng khoán nhưng núp dưới bóng “cho vay tiêu dùng”, “cho vay mua nhà”, “cho vay hộ gia đình đầu tư sản xuất kinh doanh”… Ông Trương Đình Song nói: “Với những hợp đồng kiểu này thì cũng không thể nào thanh tra, kiểm tra được!”.

Một vấn đề khác là mức độ xử phạt của Ngân hàng Nhà nước đối với sự vi phạm này là “nghiêm” đến mức nào. Theo quy định hiện nay, mức xử phạt bằng tiền thuộc thẩm quyền Ngân hàng Nhà nước là từ 20 triệu đồng đến 60 triệu đồng và cùng với đó là thu hồi giấy phép hoạt động của mảng nghiệp vụ mà ngân hàng đó vi phạm. Một vài ý kiến cho rằng mức phạt tiền như trên đối với các ngân hàng thương mại không phải vấn đề to tát. Chỉ có điều, các ngân hàng rất e ngại Ngân hàng Nhà nước “treo” đúng mảng nghiệp vụ mà mình đang ăn nên làm ra!

Được biết, hiện tại Ngân hàng Nhà nước đã mở đợt tổng rà soát thực hiện Chỉ thị 03 tại tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần và đến 31/12 sẽ có kết quả cuối cùng.

Nguyễn Hoài

Hợp nhất mã số thuế với mã số đăng ký kinh doanh

Filed under: chính sách,Pháp luật — ktetaichinh @ 5:56 pm
Tags: , ,

(Nguồn: TTXVN 30/11/07) 30/11, tham dự Hội nghị toàn quốc Ngành Kế hoạch và Đầu tư nhằm triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhắc nhở ngành cần phải nhanh chóng hợp nhất mã số thuế với mã số đăng ký kinh doanh.Thử tướng chỉ đạo: Ngành Kế hoạch và Đầu tư phải tập trung cải cách thủ tục hành chính; huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh tốc độ triển khai xây dựng các công trình xây dựng cơ bản của đất nước, khắc phục tình trạng cạn kiệt công suất của các công trình hạ tầng như hiện nay.

Lãnh đạo Ngành Kế hoạch và đầu tư, cần tập trung chỉ đạo đảm bảo tốc độ tăng trưởng 9%, đồng thời kiểm soát lạm phát, mức tăng giá dưới mức tăng GDP; đảm bảo tăng trưởng bền vững; ổn định kinh tế vĩ mô, cán cân cung cầu của nền kinh tế; cải thiện đời sống nhân dân (đặc biệt chú ý đến bà con vùng sâu, vùng xa, vùng chịu hậu quả của thiên tai lũ lụt). Năm 2008, cần tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo nghề; tạo cơ chế đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp; coi đây là nhiệm vụ đột phá nhằm tạo việc làm cho lao động đồng thời nâng cao hiệu quả nền kinh tế.

Cán bộ Ngành Kế hoạch và Đầu tư, nhất là các Sở Kế hoạch và Đầu tư cần phát huy chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội để đảm bảo thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn ODA; phân bổ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đi liền với bảo vệ môi trường.

Ngành cần tiếp tục thực hiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; triển khai thực hiện hợp nhất mã số thuế với mã số đăng ký kinh doanh; rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp nhất là tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh; tạo điều kiện tốt nhất để huy động mọi nguồn lực cho phát triển.

Song song với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, Ngành cũng cần triển khai các kế hoạch, biện pháp ngăn chặn, phòng chống tham nhũng, lãng phí, đặc biệt là các vị trí tiếp nhận hồ sơ, cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh tránh làm ảnh hưởng đến uy tín của Ngành, của hệ thống chính trị. Ngành cũng cần hỗ trợ và thực hiện đảm bảo quốc phòng – an ninh; giữ gìn trật tự an toàn giao thông; trật tự và an toàn xã hội…

Thủ tướng cũng chỉ rõ những hạn chế mà toàn Ngành cần tiếp thu, khắc phục trong thời gian tới: Chất lượng hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, chưa bền vững. Công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Việc sử dụng, tiêu hao năng lượng trong quá trình phát triển của nền kinh tế còn ở mức cao.

(Theo TTXVN)

Bãi bỏ thêm nhiều thủ tục thành lập DN !!! 121307

Filed under: chính sách,Pháp luật — ktetaichinh @ 5:55 pm
Tags: , ,

(Nguồn: Vietnamnet 13/12/07) Bộ Kế hoạch – Đầu tư cho biết, Bộ đang tiếp tục thực hiện lộ trình cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho DN gia nhập thị trường nhằm tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để phát triển DN. Một trong những công việc cụ thể mà Bộ KH-ĐT đang phối hợp với các bộ ngành để thực hiện là xóa bỏ những công việc, thủ tục bất hợp lý, giảm bớt giấy tờ không cần thiết cho DN.

Theo đó, những giấy phép đang được tính toán để bãi bỏ là giấy phép khắc dấu, giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế và tiến tới thống nhất mã số kinh doanh và mã số thuế cho DN.

Bộ KH-ĐT cho biết, theo tinh thần Luật DN thì con dấu là tài sản DN. Như vậy, có con dấu là quyền của DN, DN chỉ cần đăng ký con dấu với cơ quan nhà nước để thực hiện quản lý nhà nước và bảo hộ tài sản với DN. Vì vậy, việc bãi bỏ giấy phép là hợp lý và có thể làm được.

Để làm việc này, Bộ Công an sẽ phải thay đổi các quy định về quản lý con dấu theo hướng xóa bỏ giấy phép khắc dấu. Và công an phải có trách nhiệm cùng với cơ sở khắc dấu làm con dấu cho DN thay vì DN dùng giấy giới thiệu của công an để đến cơ sở khắc dấu như hiện nay.

Bên cạnh đó, Bộ KH-ĐT sẽ cùng với Bộ Tài chính và Bộ Công an nghiên cứu việc bãi bỏ giấy chứng nhận đăng ký thuế và tiến tới thống nhất mã số kinh doanh và mã số thuế cho DN. Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ nhận mã số thuế để ghi vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có giá trị thay thế giấy chứng nhận đăng ký thuế.

Để thực hiện điều này, sở kế hoạch – đầu tư các địa phương sẽ đóng vai trò là đầu mối để DN nộp một bộ hồ sơ chung để thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh – đăng ký thuế – khắc dấu. Nếu áp dụng tốt công nghệ thông tin thì quy trình này DN hoàn toàn có thể thực hiện đăng ký và theo dõi tiến độ thực hiện hồ sơ qua mạng.

Phước Hà

Chính phủ yêu cầu xem lại thuế nhập khẩu ôtô !!!

Filed under: chính sách,Pháp luật,thị trường (market) — ktetaichinh @ 5:53 pm
Tags: , ,

Nguồn: VNExpress 14/12/07) Trước tình trạng giao thông ùn tắc, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân, Chính phủ vừa có văn bản yêu cầu Liên bộ Tài chính – Công Thương rà soát lại thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ôtô, xe máy.

Chính phủ giao cho Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ ngành có liên quan rà soát các cơ chế, chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ôtô, xe máy hiện hành. Trong thẩm quyền của mình, Bộ Tài chính được chủ động sửa đổi bổ sung hoặc đề xuất các phương án nhằm khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông đang diễn ra khắp nơi, ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các tổ chức, cá nhân…

Chiến lược phát triển nền công nghiệp ôtô VN:

– Đến năm 2005, sản lượng xe khách đạt 15.000 chiếc, đáp ứng 50% nhu cầu thị trường. Đến năm 2010 đạt 36.000 xe, đáp ứng 80% nhu cầu thị trường. Tỷ lệ trong nước đạt 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010.

– Dòng xe tải: mục tiêu đề ra đến năm 2005 có sản lượng 68.000 chiếc, đáp ứng trên 50% nhu cầu thị trường, đến năm 2010 đạt 127.000 xe, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu thị trường. Tỷ lệ sản xuất trong nước đạt trên 40% vào năm 2005 và khoảng 60% vào năm 2010.

– Dòng xe con 4-9 chỗ ngồi do các doanh nghiệp trong nước sản xuất, đến năm 2005 có sản lượng 3.000 xe, đáp ứng khoảng 10% nhu cầu thị trường. Đến năm 2010 đạt 10.000 xe đáp ứng khoảng 15% nhu cầu. Tỷ lệ xe con thông dụng đạt 30% vào năm 2005 và trên 50% vào năm 2010.

Việc Bộ Tài chính liên tục điều chỉnh thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ôtô mới nguyên chiếc từ 90% xuống 80%, 70% rồi 60% thời gian qua đã tác động đáng kể đến thị trường xe hơi trong nước.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, chỉ tính riêng hai đợt giảm thuế từ 80% ngày 11/1 và /2007 – thời điểm gia nhập WTO, xuống 70% hôm 6/8, lượng xe dưới 8 chỗ đã vượt qua con số 5.800 xe.

Riêng trong tháng 8, dù trùng vào tháng 7 âm lịch người tiêu dùng kiêng mua sắm, tổng lượng xe dưới 8 chỗ nhập khẩu vẫn đạt con số khoảng 650 chiếc.

Đây là bước tăng trưởng vượt bậc bởi con số 5.800 chiếc (gồm xe 5 chỗ và xe đa dụng MPV/SUV) của 8 tháng năm nay đã cao hơn tới 60% số xe nhập về của cả 2006. Bắt đầu từ tháng 4, lượng xe dưới 8 chỗ cập cảng lúc nào cũng đạt trên 700 chiếc, trong khi suốt 12 tháng của năm 2006, không một lần doanh số nhập vượt quá mức 450.

Xe nhập khẩu về nhiều với giá ngày một rẻ, khiến cho nhu cầu sử dụng của người dân càng tăng lên.

Động thái mới của Chính phủ được giới kinh doanh nhìn nhận rất có thể sẽ khiến các bộ ngành tăng thuế nhập khẩu hoặc dùng giải pháp nào đấy để hạn chế lượng ôtô, xe máy đăng ký mới.

Chính sách thuế từ năm 1991 đến nay.
– Từ năm 1991-2001, thuế nhập ôtô nguyên chiếc luôn duy trì mức 100% đối với xe chở người và xe chở hàng dưới 5 tấn. Thuế linh kiện bộ CKD, IKD luôn ở mức thấp 3-25%.

– Từ năm 2002 đến nay: Chính phủ thực hiện chủ trương cho phép nhập khẩu xe nguyên chiếc dưới 9 chỗ ngồi ngồi (bắt đầu từ năm 2003) và xe dưới 9 chỗ đã qua sử dụng từ tháng 5/2006.

– Thuế ôtô mới nguyên chiếc giảm từ 100% xuống còn 90% vào tháng 11/2005, xuống 80% vào ngày 11/1/2007 – thời điểm gia nhập WTO, xuống 70% vào tháng 8/2007 và hôm 19/10, thuế mặt hàng này còn 60%.

Trong khoảng thời gian từ 1/5/2006 đến nay, thuế ôtô đã qua sử dụng cũng hai lần điều chỉnh và giảm khoảng 20% so với quy định ban đầu.

Hồng Anh

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.