Ktetaichinh’s Blog

April 18, 2009

Bảo vệ nhà đầu tư: Góc nhìn từ Đạo luật Sarbanes-Oxley – CHỨNG KHOÁN

Filed under: chứng khóan,kinh tế,Ngành nghề — ktetaichinh @ 1:45 am
Tags: , ,

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những sacndal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán.

Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng

Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

Hai là, các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó.

Ba là, các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra.

Bốn là, ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty.

Năm là, hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.

Sáu là, các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802).

Một điểm đáng chú ý khác, trong Mục 404 của đạo luật yêu cầu: “Các công ty được yêu cầu phải công bố thông tin trong báo cáo hàng năm của họ liên quan đến phạm vi và phù hợp với kiểm soát nội bộ. Các công ty phải đăng ký kế toán, trong cùng một báo cáo, chứng thực và báo cáo về việc đánh giá về hiệu quả của các cơ cấu kiểm soát nội bộ và các thủ tục cho các báo cáo tài chính…”.

Trong một diễn văn của mình tại Việt Nam năm 2008, ông Paul Sarbanes cho rằng, lúc đầu đạo luật này có nhiều điểm bị phản ứng mạnh từ phía các công ty đại chúng ở Mỹ, đặc biệt là các công ty đang niêm yết cổ phiếu trên sàn New York do những yêu cầu rất cao về tính minh bạch.

Tuy nhiên sau những thỏa thuận về một vài thay đổi đáp ứng những yêu cầu từ các nhà làm luật, đạo luật này mới chính thức được thông qua ở Hạ viện và Thượng viện trước khi được nguyên Tổng thống George W.Bush (năm 2002) ký thông qua thành luật.

Bảo vệ nhà đầu tư

Mới đây, Ủy ban Chứng khoán khoán Nhà nước đã có thông báo không cho Công ty Cổ phần Mai Linh được phát hành cổ phiếu thưởng vì kết quả hoạt động kinh doanh của công ty này từ năm 2005 đến năm 2007 bị lỗ và có nhiều khoản bị ngoại trừ, trong khi công ty lại công bố báo cáo tài chính “đã được kiểm toán” là có lãi.

Hoặc Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (mã BBT-HOSE) biến lỗ thành lãi cũng như nhiều sai phạm trong công tác công bố thông tin… đã dẫn đến hậu quả là cổ phiếu bị đưa vào kiểm soát và chỉ được giao dịch 15 phút cuối phiên giao dịch.

Nếu tìm thấy có điểm chung giữa trường hợp của Mai Linh và BBT thì có thể thấy người chịu trách nhiệm cao nhất là tổng giám đốc, kế toán trưởng vẫn “bình chân như vại”, để lại những hậu quả và những mất mát cho các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông nhỏ.

Còn các công ty kiểm toán và kiểm toán viên cũng chịu mức kỷ luật chưa đủ để răn đe và chưa mang tính “phòng bệnh” cho những sai phạm sau này có thể xảy ra của các công ty khác.

Người viết cho rằng, nếu tạo ra một hành lang pháp lý chặt hơn đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát nội bộ,.. đồng thời gắn trách nhiệm cao đối với các giám đốc điều hành, kế toán trưởng (hay giám đốc tài chính) như các quy định có thể tham khảo trong Đạo luật Sarbanes-Oxley thì rất có thể sẽ tạo nên sự minh bạch cao hơn, qua đó tạo thêm niềm tin cho nhà đầu tư tại Việt Nam

Advertisements

Doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính bán niên

Filed under: kinh tế,Ngành nghề,Pháp luật — ktetaichinh @ 1:22 am
Tags: , ,

CafeF) – Việc làm này nhằm mục đích minh bạch hóa thông tin và tránh những sự khác biệt trong báo cáo tài chính quý của doanh nghiệp với báo cáo tài chính năm được kiểm toán.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} @font-face {font-family:”\.VnTime”; mso-font-alt:”Courier New”; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:3 0 0 0 1 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} p.MsoBodyTextIndent3, li.MsoBodyTextIndent3, div.MsoBodyTextIndent3 {mso-style-unhide:no; mso-style-link:”Body Text Indent 3 Char”; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:0in; margin-left:1.5in; margin-bottom:.0001pt; text-align:justify; text-indent:-.5in; mso-pagination:widow-orphan; font-size:14.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; font-family:”.VnTime”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”; layout-grid-mode:line;} span.BodyTextIndent3Char {mso-style-name:”Body Text Indent 3 Char”; mso-style-unhide:no; mso-style-locked:yes; mso-style-link:”Body Text Indent 3″; mso-ansi-font-size:14.0pt; font-family:”.VnTime”,”sans-serif”; mso-ascii-font-family:”\.VnTime”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-hansi-font-family:”\.VnTime”; layout-grid-mode:line;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-hansi-font-family:Calibri;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.0in 1.0in 1.0in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Ông Nguyễn Thế Thọ, trưởng ban quản lý phát hành Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho biết hiện nay do ảnh hưởng của tình hình kinh tế và việc đầu tư tài chính của một số công ty dẫn đến báo cáo tài chính quý không phản ánh hết được tình hình tài chính công ty.

Ngoài ra đây là trong những báo cáo tài chính quý do công ty tự tập nên có trường hợp công ty chưa thực hiện trích một số khoản dự phòng trong báo cáo.

Vì vậy, điều đó gây ra những sự khác biệt từ báo cáo tài chính quý, đặc biệt là quý IV hoặc năm của doanh nghiệp với báo cáo đã được kiểm toán.

Trên cơ sở đó, để khắc phục tình trạng xảy ra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã công bố Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

Theo đó, tổ chức niêm yết phải lập và công bố thông tin về báo cáo tài chính bán niên (sáu tháng đầu năm) được kiểm toán soát xét báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật (và bản dịch Tiếng anh (nếu có)) trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày kết thúc Quý 2 hàng năm.

Báo cáo tài chính bán niên của tổ chức niêm yết phải công bố trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết và phải lưu trữ ít nhất trong vòng mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của tổ chức để nhà đầu tư tham khảo.

Ông Thọ cho biết, với những công ty nộp báo cáo tài chính muộn Uỷ ban yêu cầu 2 Sở nhắc nhở và gửi công văn yêu cầu các công ty thực hiện nghiêm túc quy định này. Nếu công ty nào tái diễn Uỷ ban sẽ yêu cầu giải trình và xem xét mức độ để chuyển cho thanh tra UBCKNN xem xét.

Tuy nhiên, như dự thảo, cũng vẫn có những trường hợp bất khả kháng có thể hoãn nộp báo cáo tài chính.

Theo thống kê từ Uỷ ban chứng khoán, tính tới 31/3/2009 chỉ mới 105/177 (chiếm 59,3%) doanh nghiệp trên HaSTC và 91/177 trên HoSE thực hiện nộp báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Một số điểm mới trong Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} p.MsoBodyText, li.MsoBodyText, div.MsoBodyText {mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-link:”Body Text Char”; margin-top:0in; margin-right:0in; margin-bottom:6.0pt; margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Calibri”,”sans-serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;} span.BodyTextChar {mso-style-name:”Body Text Char”; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-unhide:no; mso-style-locked:yes; mso-style-link:”Body Text”; mso-ansi-font-size:11.0pt; mso-bidi-font-size:11.0pt;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-hansi-font-family:Calibri;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.0in 1.0in 1.0in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Cổ đông lớn: Tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng, trong thời hạn bảy (07) ngày kể từ ngày thực hiện giao dịch (kể cả trường hợp cho, tặng, thừa kế, chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu phát hành thêm…), hoặc không thực hiện giao dịch nhưng có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá một phần trăm (1%) số lượng cổ phiếu cùng loại đang lưu hành phải thực hiện báo cáo.

Trong vòng hai mươi bốn (24) giờ sau khi có sự thay đổi đầu tiên về số lượng cổ phiếu sở hữu làm cho tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên quan không còn là cổ đông lớn thì phải thực hiện báo cáo cho công ty đại chúng, UBCKNN và SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết hoặc đăng ký giao dịch) và trước thời hạn bảy (07) ngày kể từ ngày hoàn tất sự thay đổi trên.

Giao dịch cổ phiếu quỹ: Công ty đại chúng khi hoàn tất việc mua lại cổ phiếu của chính mình làm cổ phiếu quỹ hoặc bán cổ phiếu quỹ, phải báo cáo kết quả thực hiện cho UBCKNN và SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết hoặc đăng ký giao dịch) trong vòng mười (10) ngày kể từ ngày kết thúc giao dịch để thực hiện công bố thông tin. Trường hợp không thực hiện hết khối lượng đăng ký, công ty đại chúng phải giải trình nguyên nhân.

April 6, 2009

Thực trạng lao động bị mất việc: Có đáng ngại lắm không? 040609

Filed under: khủng hoảng,kinh tế,Ngành nghề,thị trường (market) — ktetaichinh @ 8:17 pm
Tags:

TT – Còn nhiều ý kiến khác nhau về thực trạng mất việc và nguy cơ mất việc của người lao động. Đó là một trong những nội dung được đưa ra tại chương trình “Nói và làm” tháng 4-2009, do HĐND TP.HCM và Đài truyền hình TP.HCM tổ chức ngày 5-4.

Ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM – Ảnh: T.Xuân

Ông Nguyễn Đại Đồng, cục trưởng Cục Việc làm Bộ LĐ-TB&XH – Ảnh: T.Xuân

“Tôi không tâm đắc với số liệu về người lao động bị mất việc được đưa ra”

“Số liệu báo cáo của các doanh nghiệp là đáng tin cậy”

Ông Nguyễn Văn Xê – phó giám đốc Sở Lao động – thương binh và xã hội TP.HCM – cho biết tính đến cuối tháng 3-2009, tại 188 doanh nghiệp (DN) có 25.000 lao động bị giảm việc và 16.000 người bị thiếu việc. Tuy nhiên, theo ông Xê, trong số này hiện chỉ còn khoảng 5.000 người chưa có việc làm (chiếm gần 20%), nguyên nhân là do ốm đau, đang trong thời kỳ thai sản, trở về quê, số còn lại đã được giải quyết việc làm…

Tranh luận về số người mất việc

Ngay khi ông Xê dứt lời, ông Diệp Thành Kiệt – phó chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM – nói thẳng: “Tôi không thấy tâm đắc với số liệu được đưa ra”. Kịch bản xấu nhất đưa ra dự báo trong năm 2009 cả nước có 400.000 lao động bị mất việc, theo ông Kiệt, cũng không phản ánh được thực trạng. Ông Kiệt cho rằng lao động cả nước có khoảng 45 triệu, trong khi đưa ra dự báo như vậy là không thuyết phục lắm. Liệu có quá lạc quan không?

Phải tham gia đủ 12 tháng mới được bảo hiểm thất nghiệp

* Nhiều người dân thắc mắc nếu người lao động không tham gia đủ 12 tháng bảo hiểm thất nghiệp thì giải quyết chế độ ra sao?

– Ông Nguyễn Đại Đồng trả lời: Phải có đủ 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, sau đó mất việc mới được hưởng chính sách này. Tuy nhiên, về nguyên tắc, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được cộng dồn để khi đủ điều kiện sẽ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động có thể bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi không may mất việc và khi có việc làm lại thì tiếp tục đóng để đủ thời gian hưởng bảo hiểm này.

“Nhưng có trường hợp người lao động lớn tuổi, khả năng tìm kiếm việc làm mới rất khó để có thể tiếp tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho đủ thời gian theo quy định. Những trường hợp này giải quyết thế nào?” – ông Diệp Thành Kiệt đặt vấn đề. Ông Nguyễn Đại Đồng khẳng định: có nhiều chính sách để giải quyết chế độ cho người lao động bị mất việc, bảo hiểm thất nghiệp chỉ là một những chính sách. Nếu người lao động không có khả năng tìm việc làm mới thì được hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ xuất khẩu lao động…

Ông Nguyễn Đại Đồng – cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Lao động – thương binh và xã hội – lý giải: đúng là cả nước có 45 triệu lao động nhưng số làm việc tại các DN chỉ hơn 9 triệu người, còn lại lao động của khu vực ngoài DN, lao động tự do, hợp tác xã… Ông Đồng cũng nói có dự báo cho thấy số lao động bị mất việc dưới 400.000 người. Ông cho biết thống kê từ 47 tỉnh, thành phố thì số lao động bị sa thải cả năm 2008 khoảng 67.000 người, ba tháng đầu năm 2009 là trên 20.000 người.

Dường như chưa thỏa mãn, ông Diệp Thành Kiệt hỏi ngay: nếu cả nước có 400.000 lao động bị mất việc trong năm nay (dự báo cho tình huống xấu nhất) có phải là điều đáng lo không? “Số liệu báo cáo từ phía các DN là đáng tin cậy” – phó Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp TP.HCM Lâm Văn Tiếp khẳng định. Ông cũng cho biết tại các khu chế xuất và công nghiệp TP có 49 DN gặp khó khăn, 8.000 lao động bị mất việc làm và 11.000 người bị giảm việc (chỉ làm khoảng 4 ngày/tuần thay vì sáu ngày). Theo ông Tiếp, có 40 DN đang có nhu cầu tuyển khoảng 11.000 lao động, 9/49 DN gặp khó khăn cũng thông báo đã có đơn hàng mới.

Tuy vậy, ông Nguyễn Văn Minh – phó Ban văn hóa xã hội HĐND TP.HCM – vẫn băn khoăn: một số DN không có đơn hàng, hoạt động cầm chừng nhưng lại tuyên bố không sa thải công nhân và họ chỉ được hưởng 70% lương cơ bản. Dần dần số lao động này cầm cự không nổi nên tự xin nghỉ việc.

“Số này theo tôi là rất đáng quan tâm nhưng không xếp vào dạng bị sa thải hay mất việc” – ông Minh lo lắng. Ông Minh cho biết thêm có tình trạng lao động được giới thiệu việc làm mới nhưng công việc không phù hợp, chỉ sau một thời gian ngắn phải nghỉ việc. “Nếu chỉ căn cứ vào báo cáo thì lạc quan nhưng thực tế không đúng” – ông Minh nói.

Chậm giải quyết chính sách

“Báo chí có đăng tải TP.HCM vẫn chưa thể hỗ trợ người lao động mất việc, trong khi việc này đã triển khai nhiều tháng nay rồi” – ông Diệp Thành Kiệt thắc mắc. Ông Xê giải thích: để thực hiện chính sách này cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở như Kế hoạch – đầu tư, Tài chính, Lao động – thương binh và xã hội.

Ông Xê cũng nói đến thời điểm này chưa có DN nào vay tiền để hỗ trợ giải quyết chính sách cho người lao động. Ông Kiệt bình luận “như vậy là chậm”. Ông Xê nhìn nhận có chậm trong giải quyết chính sách này, đồng thời hứa sẽ làm hết trách nhiệm của mình để giảm các thủ tục, đảm bảo giải quyết nhanh chóng.

Ông Kiệt nêu ý kiến: nếu giải quyết chế độ mất việc thì mỗi năm làm việc phải trả cho người lao động một tháng lương, trong khi giải quyết chế độ thôi việc thì chủ DN chỉ mất nửa tháng lương. Do vậy, một số DN sẽ tìm cách đối phó bằng cách đưa ra những thông tin khiến người lao động lo lắng và tự xin nghỉ việc. Cuối cùng họ chỉ được giải quyết trợ cấp nửa tháng lương do tự xin nghỉ việc. Ông Kiệt kiến nghị nên cho người lao động hưởng ngay chế độ bảo hiểm thất nghiệp thay vì phải đợi đủ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mới được hưởng.

Chủ tịch HĐND TP Phạm Phương Thảo nhận xét: tình hình chung cho thấy có những khó khăn trong giải quyết việc làm nhưng đang có dấu hiệu tích cực. Bà đề nghị cần vận dụng tối đa các chính sách hiện có để hỗ trợ DN, giải quyết chế độ cho người lao động. Bà Thảo cũng yêu cầu các cơ quan chức năng cần tích cực hơn trong việc giải quyết thủ tục người lao động được vay vốn đào tạo nghề, tạo việc làm mới…

April 4, 2009

Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu- Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam 032809

TT(Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc…

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng – chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN – khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất… “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”…

Vừa đi cùng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục – vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ – công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người”. Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh – chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng VN – cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy ximăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc làm.

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy ximăng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” – ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai – viện phó Viện Kinh tế xây dựng – góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc…

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

Ngành xây dựng cảnh báo về nhà thầu ngoại

Báo Tuổi Trẻ vừa có bài tường thuật tọa đàm hôm 27/03 của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, trong có đưa ra cảnh báo về thực trạng ‘lấn sân’ của nhà thầu Trung Quốc.

Báo này cho hay vấn đề lớn được bàn luận tại hội thảo của các chuyên gia và giới chức ngành xây dựng là việc “rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc”.

Báo Tuổi Trẻ vừa có tổng biên tập mới, ông Phạm Đức Hải, từ ngày 26/03.

Ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, được trích lời nói tại cuộc tọa đàm về kích cầu trong xây dựng rằng nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất… đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

Hơn mười công trình xây dựng nhà máy xi măng, nhiều công trình xây dựng nhà máy điện lớn, đều đang do công ty Trung Quốc thực hiện.

Ông Hùng cho hay: “Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.”

Một quan chức có mặt tại tọa đàm đã xác nhận mỗi công trình, “công nhân TQ sang đến 2.000 người”.

Được biết doanh nghiệp TQ được hỗ trợ của nhà nước về nhiều mặt, như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn hẳn các công ty nước ngoài khác. Do vậy, khả năng trúng thầu của họ cao hơn.

Tuy nhiên, giới xây dựng VN cảnh báo tình trạng nhà thầu ngoại chỉ dùng công nhân và nguyên vật liệu của nước họ dẫn tới việc “triệt tiêu nội lực”.

Giải quyết thất nghiệp

Việc Trung Quốc đưa công nhân vào Việt Nam đã từng được đề cập tới trong bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi đầu năm.

Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam Trần Ngọc Hùng

Trong bức thư yêu cầu dừng dự án bauxite Tây Nguyên, Tướng Giáp viết: “Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án)”.

Thực ra, chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế cho bản thân nước này.

Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.

Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Trần Đức Minh từng nói với BBC hồi tháng Hai 2009 rằng thất nghiệp là “thách thức lớn nhất mà Trung Quốc đang đối diện”.

“Kinh tế sụt giảm cũng là khi nguy cơ bất ổn xã hội gia tăng.”

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối phó với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, dù chưa có cơ chế để thống kê con số thực tế. Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội trong một báo cáo ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.

April 3, 2009

“Giãi bày” chuyện tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng 032809

Việc tính giá điện theo giờ cao điểm vào buổi sáng đã gặp phải sự phản đối của nhiều doanh nghiệp và địa phương.

Chính vì thế mà chiều 27/3, đại diện Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã phải nhờ đến báo chí để “giãi bày” quanh việc tính giá điện theo cách trên.

Lý giải cho việc áp dụng tính giá điện theo giờ cao điểm vào cả buổi sáng (từ 9h30 – 11h30) và buổi tối (từ 17h – 23h), Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Phạm Mạnh Thắng cho rằng, lý do đơn giản nhất là do chúng ta còn thiếu điện, nên buộc phải khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng điện vào những giờ thấp điểm.

Hơn nữa, theo ông, việc áp dụng tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng dù là khá mới ở Việt Nam, nhưng ở hầu hết các nước đều đã áp dụng cách tính này.

Ông Thắng nói, từ năm 2007 trở về trước, hệ thống điện của cả nước có tỷ trọng công suất cao nhất là thành phần ánh sáng sinh hoạt và dịch vụ nên cao điểm hệ thống rơi vào các giờ buổi tối từ 17h đến 22h.

Tuy nhiên, do nhu cầu điện cho sản xuất trong những năm qua luôn tăng cao nên từ năm 2007, điện cho sản xuất đã chiếm tỷ lệ ngày càng cao (trên 50% tổng sản lượng điện), nên giờ cao điểm của hệ thống điện đã dịch chuyển một phần sang buổi sáng từ khoảng 9h đến 12h.

Chính điều này đã làm cho công suất của cả hệ thống điện vào những giờ cao điểm buổi sáng đã cao hơn công suất vào các giờ cao điểm buổi tối.

“Mất” thêm tối đa 18% tiền điện

Lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực thừa nhận, việp áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng “ở mức nào đó” sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, qua tính toán sơ bộ, với việc áp dụng giá giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm của doanh nghiệp sẽ có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp có các ca làm khác nhau.

Nếu doanh nghiệp sản xuất 3 ca, 7 ngày/ tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ vào khoảng 1%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 0,1 – 0,2%. Nếu doanh nghiệp sản xuất 2 ca, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện sẽ tăng thêm khoảng 4,6%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên từ 0,45 – 0,9%.

Còn nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất một ca mở rộng, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm có thể lên tới 18%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 1,8 – 3,6%.

Tuy nhiên theo ông Thắng, nếu doanh nghiệp áp dụng các biện pháp giảm những phụ tải không thiết yếu vào giờ cao điểm hoặc dịch chuyển giờ làm để tránh giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ thấp hơn đáng kể so với mức tính toán trên.

Còn Thứ trưởng Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu thì “an ủi: “Chúng tôi biết giữa lúc kinh tế đang khó khăn, việc tính giá điện theo giờ cao điểm sáng có thế khiến nhiều doanh nghiệp khó khăn hơn, nhưng nếu nhóm sản phẩm nào quá sức chịu đựng thì sẽ kiến nghị lên Thủ tướng xin có giải pháp tháo gỡ khó khăn”.

Cái lý của EVN

Theo ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc EVN, việc bắt buộc phải áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng là do đơn vị này đã phải “chịu thiệt” quá nhiều do chênh lệch công suất giữa giờ cao điểm – thấp điểm quá cao. Điều này cũng đồng nghĩa với việc có một số nhà máy được đầu tư nhưng chỉ vận hành vào giờ cao điểm với số giờ vận hành hằng năm thấp.

Bên cạnh đó, theo ông Tri, trong thời gian qua, khách hàng cũng đã được hưởng lợi nhiều do biểu giá điện bán lẻ cũ áp dụng cho năm 2007 và 2008 chưa quy định giá điện giờ cao điểm sáng thực nên giá bán lẻ điện thấp hơn giá thành sản xuất kinh doanh điện của các giờ cao điểm.

Do đó, theo ông Tri, việc tính giá giờ cao điểm vào buổi sáng là bất khả kháng. “Do đây là lần đầu tiên chúng ta áp dụng nên cũng không thể tránh khỏi những phản ứng của doanh nghiệp và dư luận. Song nếu không thực hiện thì sẽ gây thiệt hại cho EVN, đồng thời về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến an ninh cung cấp điện của cả hệ thống và thậm chí là cả khách hàng”, ông nói.

Điện giờ cao điểm – doanh nghiệp kêu thấu trời! 032709

Filed under: chính sách,kinh tế,Ngành nghề — ktetaichinh @ 11:56 pm
Tags: ,
Sản xuất ca đêm để tận dụng điện giá rẻ.
(LĐ) – Đến nay, chưa tròn 1 tháng TCty Điện lực VN (EVN) áp dụng giá điện bậc thang đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp quả quyết: “Giờ cao điểm” đang điểm huyệt doanh nghiệp.

Còn theo EVN, cách tính giá điện bậc thang (giờ cao điểm và thấp điểm) đã được nghiên cứu và bắt đầu thử nghiệm áp dụng từ năm 1997, lúc đầu các doanh nghiẹp (DN) không đồng tình, nhưng thực tế cho thấy, việc áp dụng điện giờ cao điểm đã góp phần đáng kể vào việc điều hoà biểu đồ phụ tải của hệ thống điện.

Ngành điện tăng lợi nhuận – DN thiệt

Ông Nguyễn Văn Hải – Phó GĐ Cty CP cơ khí xây dựng Long An – cho rằng quy định cả về thời gian và giá điện giờ cao điểm như hiện nay là chưa thỏa đáng. Trước đây (giờ cao điểm từ 17h – 20h) là thỏa đáng cho cả ngành điện và DN. Đây là thời gian hầu như mọi gia đình đều sử dụng điện, nếu các DN cũng tập trung sản xuất thì chắc chắn điện lưới sẽ bị quá tải, chất lượng điện sẽ kém đi, nên cần có sự khống chế bằng biện pháp giá cao.

Thời gian cao điểm từ 17h – 20h cũng dễ cho các DN sắp xếp dừng sản xuất.

Còn quy định giờ cao điểm như hiện nay (thêm từ 9h30 – 11h30) là không thực tế, vì đây không phải là khoảng thời gian “cả nước xài điện”, lại là lúc các DN rất khó cho dừng sản xuất. “Chẳng lẽ công nhân làm việc được vài giờ lại phải tạm dừng để chờ qua giờ cao điểm”.

Việc tính giờ cao điểm từ 9h30 – 11h30 chỉ có ý nghĩa về doanh thu và lợi nhuận cho ngành điện hơn là thực tế đòi hỏi toàn dân hạn chế sử dụng điện trong trong khoảng thời gian này.

Còn về giá điện, cách tính hiện nay là không bình đẳng, thiệt thòi cho DN. Cụ thể giá điện giờ cao điểm cao hơn giá bình thường khoảng 900 đồng (gấp đôi), trong khi giá điện giờ thấp điểm chỉ thấp hơn khoảng 450 đồng. Chúng tôi cần nguồn điện có chất lượng tốt để sản xuất nên thấy cần áp dụng “giờ cao điểm”, nhưng quy định về thời gian và giá cần cân nhắc lại.

Ông Nguyễn Văn Đạo – Tổng GĐ Cty CP Gò Đàng (KCN Mỹ Tho, Tiền Giang) – quả quyết, quy định tính tiền điện giờ cao điểm như hiện nay đang “điểm huyệt” ngành chế biến thủy sản xuất khẩu. Các nhà máy đông lạnh hoạt động theo quy trình khép kín nên không thể ngừng để “né” giờ cao điểm. Nếu ngừng hoạt động đột ngột thì chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng nghiêm trọng, vì vậy DN phải “cắn răng” trả điện giá cao gấp đôi để duy trì sản xuất trong giờ cao điểm.

Cty Gò Đàng đã thử tổ chức sản xuất vào giờ thấp điểm (từ 22h – 4h hôm sau) để tận dụng điện giá thấp, nhưng xét ra không hiệu quả vì giá điện thấp hơn không bao nhiêu mà chi phí nhân công làm đêm tăng gấp đôi.

Các DN chuyên xay xát và lau bóng gạo ở huyện Cái Bè (Tiền Giang) thì buộc phải chọn cách dừng sản xuất vào giờ cao điểm. Vào nửa cuối buổi sáng, công nhân các nhà máy xay lúa ngồi đầy 2 bên đường để tránh giờ cao điểm.

Sau khi đi khảo sát tình hình ở nhiều DN, UBND tỉnh Tiền Giang đã có văn bản khẩn, kiến nghị Bộ Công thương tạm thời chưa áp dụng quy định thời gian giờ cao điểm như hiện nay. Chủ tịch UBND tỉnh – ông Nguyễn Hữu Chí – cũng đang chuẩn bị kiến nghị Chính phủ cho xem xét lại việc này.

Trưởng phòng Cơ điện thuộc Cty CP May 10 – ông Nguyễn Đắc Nghĩa khẳng định: Việc EVN quy định giờ cao điểm từ 9 giờ 30 đến 11 giờ 30- đó là quy định oái oăm, không thể hiểu nổi. Chi phí giá điện sẽ tăng khoảng trên 32% so với trước đây, chứ không phải là con số 7% như ước tính của các cơ quan chức năng.

Ông Nguyễn Tiến Bình – Giám đốc Cty TNHH Bình Minh khẳng định, các DN không thể tránh được giờ cao điểm. Công nhân làm việc bắt đầu từ 7 giờ đến 18 giờ, mới làm việc được khoảng 2 tiếng rưỡi lại nghỉ đến 11 giờ 30 để tránh giờ cao điểm. Công nhân lại làm việc thêm nửa tiếng nữa (12 giờ) thì đã đến giờ nghỉ trưa.

Chẳng lẽ để đảm bảo giá thành sản phẩm, chúng tôi lại phải cơ cấu lại giờ làm việc cho công nhân. Với cách tính giờ cao điểm như vậy, ngành điện có lợi, còn các DN thì lao đao.

Ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó giám đốc Cty CP khoá Việt – Tiệp nhấn mạnh: EVN  cho rằng áp dụng giờ cao điểm là khuyến khích DN tiết kiệm. Nhưng tiết kiệm chẳng thấy đâu, chỉ thấy EVN đánh đố DN mà thôi.

EVN: Giờ cao điểm phù hợp đặc điểm sử dụng điện

Trước những lời kêu thấu trời của các DN, chiều 25.3 buộc EVN lên tiếng qua thư trả lời báo chí. EVN khẳng định rằng một số nước cũng đã áp dụng hai khoảng thời gian giờ cao điểm là để phù hợp với đặc điểm sử dụng của nước mình.

Tính theo giờ cao điểm thì EVN phải lập trình lại biểu thời gian cho khoảng 86 nghìn công tơ điện tử trước ngày 1.5, nhưng do có một số khách hàng chưa đồng tình với việc áp dụng hai khoảng thời gian giờ cao điểm nên việc cài đặt côngtơ số của EVN cũng gặp khó khăn.

EVN đang chỉ đạo tổng hợp các ý kiến phản ánh vướng mắc của các DN để báo cáo Bộ Công Thương xem xét.

Bộ Công Thương: Sẽ sớm có biện pháp tháo gỡ

Chiều ngày 24.3, Bộ Công thương đã có công văn số 2510 gửi UBND các địa phương, nội dung: Từ 1.4 khi có các hoá đơn tiền điện của tháng đầu tiên được áp dụng theo quy định mới, Bộ Công Thương sẽ đánh giá cụ thể tác động của chính sách giá điện giờ cao điểm lên các đối tượng sử dụng điện khác nhau như sản xuất 1 ca, 2 ca, 3 ca và đưa ra các biện pháp tháo gỡ cho từng nhóm đối tượng.

Kích cầu… hàng Trung Quốc? 032709

(TBKTSG) – Bộ Công Thương cách đây vài ngày gửi văn bản yêu cầu Bộ Tài chính sớm quyết định điều chỉnh thuế suất nhập khẩu thép và phôi thép. Vì có một thực tế đang diễn ra là nhiều doanh nghiệp nước ngoài (đặc biệt là Trung Quốc), thông qua các công ty Việt Nam, đang tận dụng những chính sách còn bất hợp lý để giải phóng hàng tồn kho.

“Năm 2009, ngành thép trong nước đủ năng lực để sản xuất 5,5-6 triệu tấn phôi thép, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu thực tế trong nước về phôi thép. Riêng phôi cho cán tấm nóng thì vẫn phải nhập khẩu do trong nước chưa sản xuất được. Về thép cán xây dựng thông thường, tổng công suất đầu tư trong nước đã vượt xa nhu cầu”, Thứ trưởng Lê Dương Quang nêu trong văn bản Bộ Công Thương gửi Bộ Tài chính hôm 20-3.

Nói tóm lại, riêng về ngành thép, Việt Nam chỉ cần có ưu đãi đôi chút với mặt hàng chưa sản xuất được là phôi cán nóng. Ở các chủng loại thép còn lại, vì trong nước đã sản xuất được nên không khuyến khích ưu đãi trong chính sách nhập khẩu

Ở ngành hàng thiết yếu như thép, chiếm tỷ trọng 9,99% trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và đóng góp tới 8,92% vào mức tăng chung của CPI nước ta năm 2008 thì bất cứ một sự điều chỉnh nào từ các chính sách trong và ngoài nước cũng có tác động rất lớn đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp.

Nên từ lâu, mối quan ngại lớn nhất của nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam, trong sự suy thoái kinh tế toàn cầu là tình trạng bán phá giá hàng hóa từ nước có nguồn cung lớn nhất là Trung Quốc vào các thị trường lân cận, qua các chính sách kích cầu, hạ thuế xuất khẩu xuống mức thấp nhất có thể.

Nhiều cảnh báo đã được đưa ra, như nhận định hồi đầu tháng này từ Trung tâm Thông tin công nghiệp – thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, kể từ tháng 12-2008, Trung Quốc đã hạ thuế xuất khẩu từ 15% xuống còn 0% đối với các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, đồng thời với việc nới rộng quản lý bằng giấy phép đối với xuất

khẩu thép để thúc đẩy đầu ra được mạnh hơn. Đây là những chi tiết cụ thể trong chính sách hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc đối với chín ngành hàng trọng điểm năm 2009, đã được Trung Quốc công bố. Tất nhiên, thép có mặt trong danh sách.

Thép xây dựng Trung Quốc, qua một vài nhà nhập khẩu Việt Nam, đã đàng hoàng đi bằng cửa chính vào thị trường nội địa với một số lượng đáng kể mà hầu như không vấp phải một hàng rào thuế quan nào, do các nhà xuất và nhập khẩu chọn được một lỗ hổng rất lớn trong chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam.

Đó là việc nhập một loại thép cuộn dùng cho xây dựng có hàm lượng Boron (gọi tắt là Bo) lớn hơn hoặc bằng 0,0008%. Nhờ sự có mặt của hàm lượng chất Bo (một trong những chất có thể làm gia tăng độ cứng) trong thép nhưng không phải là thành phần cần thiết cấu thành chất lượng thép xây dựng, khoảng 22.000 tấn thép cuộn được áp mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0% dành cho thép hợp kim cán nóng. Cách áp thuế cho chủng loại thép này gặp phải sự phản đối dữ dội của các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, kể cả các doanh nghiệp FDI.

Đến mức trung tuần tháng 3, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã gửi văn bản số 22 đến Tổng cục Hải quan, Cục Quản lý thị trường Bộ Công Thương đề nghị kiểm tra một số lô thép dạng này được nhập về từ Trung Quốc.

Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch VSA, nêu lý do: “VSA nhận được thông tin từ một số công ty thành viên cung cấp, theo đó những lô hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam trong hai tháng đầu năm được chủ hàng khai với Hải quan là thép cuộn hợp kim, được hưởng thuế suất nhập khẩu 0% nên bán ra thị trường với giá rất hạ so với thép cuộn sản xuất trong nước làm cho tiêu thụ thép cuộn trong nước giảm rõ rệt”.

Văn bản này còn nói rằng, một số công ty đã lấy mẫu của các lô hàng trên đưa kiểm định tại Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng I (thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam) và kết quả thu được không đúng với tờ khai hải quan, do chỉ là thép carbon thông thường.

Câu chuyện này đúng sai đến đâu vẫn còn đang được làm rõ. Bộ Tài chính thật ra cũng đã nhận ra những sơ sót này, qua việc sửa đổi bổ sung Biểu thuế suất thuế nhập khẩu, có hiệu lực từ ngày 2-2-2009, áp dụng cho các tờ khai hải quan đăng ký từ ngày 1-1-2009, đưa mặt hàng thép hợp kim cán nóng dùng cho xây dựng có hàm lượng Bo lớn hơn hoặc bằng 0,0008% bị đánh thuế nhập khẩu 5%.

Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, hải quan vẫn chưa truy thu được hơn 10 tỉ đồng tiền thuế của doanh nghiệp nhập khẩu vì nơi nhập cho rằng, mặt hàng này cần phải được tính vào diện ưu đãi như trước.

Đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, Chủ tịch VSA Phạm Chí Cường khẳng định: “Đây không phải là câu chuyện về vài phần trăm mức thuế mà là một kẽ hở chính sách bị lợi dụng. Nếu đơn thuần là câu chuyện nhỏ về một doanh nghiệp, về một mục thuế, có lẽ không có nhiều doanh nghiệp phản ứng đến thế. Chúng tôi không muốn nhìn thấy chính sách trong nước lại kích cầu cho hàng nước khác trong điều kiện đầu ra quá khó khăn như hiện nay”.

March 25, 2009

Xúc tiến đầu tư 111008

Filed under: kinh tế,Ngành nghề,đầu tư — ktetaichinh @ 11:31 pm
Tags:

11/10/2008 1:05

Việt Nam đang trở thành điểm sáng thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI), song công tác xúc tiến, quảng bá, kêu gọi nhà đầu tư vẫn chưa được đặt đúng tầm và đang có dấu hiệu tụt hậu.

Ngày 10.10, Bộ Kế hoạch – Đầu tư lần đầu tiên đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác xúc tiến đầu tư trong 20 năm qua. Theo ông Lê Hữu Quang Huy – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư miền Trung – nguồn vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 9 tháng đầu năm nay đã lên đến 57,1 tỉ USD. Nếu thống kê chính xác hơn thì có thể lên đến 62 tỉ USD, cao hơn cả tổng vốn FDI trong giai đoạn 2001 – 2007. Dự báo đến cuối năm con số này có thể đạt 65 tỉ USD, bằng 95% so với tổng GDP cả nước.

Điều này được lý giải bởi sau khi Việt Nam gia nhập WTO, môi trường đầu tư ngày càng rõ ràng, minh bạch nên nguồn vốn đổ vào càng nhiều. “Mặc dù tình hình thu hút đầu tư đã thay đổi nhưng công tác xúc tiến đầu tư vẫn lạc hậu như cũ, như vậy làm sao có thể đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao trong việc cạnh tranh thu hút đầu tư?” – ông Huy nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Trúc Sơn – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư tỉnh Bến Tre – nhận xét: “Hiện nay không có mẫu số chung cho tổ chức xúc tiến đầu tư, thậm chí nhiều nơi còn quan niệm công tác xúc tiến đầu tư là một hoạt động đơn giản, chỉ là công tác lễ tân hay đón tiếp đoàn. Cơ quan xúc tiến thường không có quyền can thiệp vào quá trình xem xét và cấp giấy chứng nhận đầu tư nên các nhà đầu tư cảm thấy không tiện lợi và hiệu quả về mặt thời gian khi tiếp xúc với trung tâm xúc tiến”. Ông Phan Hữu Thắng – Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài –  thừa nhận: “Việc tổ chức cơ quan xúc tiến đầu tư ở các địa phương hiện nay theo nhiều mô hình khác nhau, không có sự thống nhất hướng dẫn từ trung ương. Trong thời gian gần đây còn xuất hiện tình trạng mất cân đối và chồng chéo trong việc tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư giữa các địa phương theo kiểu mạnh ai nấy làm, gây lãng phí nguồn lực và không hiệu quả”.

Mô hình nào cho các cơ quan xúc tiến đầu tư trong tình hình mới? Ông Lê Hữu Quang Huy nói: “Cơ quan xúc tiến đầu tư hiện nay chỉ na ná mà không tương thích với các tổ chức tương tự trên thế giới. Đến nay mô hình này không còn hiệu quả và không phù hợp với tình hình thực tế ở các địa phương. Theo tôi, trong giai đoạn trước mắt thì có thể giữ nguyên mô hình hiện nay, tập trung củng cố thành một đầu mối, đẩy mạnh các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư triển khai dự án sau cấp phép, tăng cường các hoạt động có thu để bù đắp kinh phí. Về lâu dài có thể chuyển đổi thành cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia hoặc chuyển đổi sang hình thức công ty PR, phụ trách việc định hướng quan hệ công chúng. Khi đó các công việc còn lại sẽ để cho tư nhân làm, Chính phủ chỉ có tính định hướng, đối tượng ngành nghề và thời gian tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư”.

Ông Lê Trường Sơn – Giám đốc Saigon Co.op đồng tình: “Nguồn vốn FDI chảy mạnh vào Việt Nam phải kể đến sự đóng góp trong việc xúc tiến đầu tư của các công ty tư vấn, ngân hàng, công ty luật… Đối với các cơ quan xúc tiến của Nhà nước thì hiện đang có nhiều mặt hạn chế về cơ chế hoạt động, về ngân sách, nhân lực. Vì vậy cần thiết phải có một chính sách để khu vực tư nhân tham gia vào trong cùng đội hình để cùng đạt được mục tiêu thu hút nhà đầu tư”.

Theo ông Huy, những việc cần phải làm ngay là thống nhất mô hình hoạt động, cơ chế vận hành, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp xúc tiến, kể các cơ chế lobby. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng tránh chồng lấn về thị trường, địa phương, thời gian; tập trung đào tạo nguồn lực theo hướng chuyên nghiệp hóa, tăng cường hợp tác quốc tế và tham gia Hiệp hội các cơ quan xúc tiến đầu tư thế giới.

March 24, 2009

Doanh nghiệp “kêu trời” vì giá điện giờ cao điểm 032409

Filed under: kinh tế,Ngành nghề — ktetaichinh @ 9:15 pm
Tags:

Sự bất hợp lý của quy định tính giá điện trong giờ cao điểm  và cách xác định giờ cao điểm đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng thừa nhận và cam kết điều chỉnh trong thời gian sớm nhất.

Áp giá điện cao vào giờ cao điểm là để hạn chế tiêu dùng, khuyến khích tiết kiệm điện nhưng với qui định 2 tiếng buổi sáng là giờ cao điểm hiện nay thì đó là tác dụng ngược. Các doanh nghiệp sản xuất cho biết, thực chất, chi phí tiền điện của họ tăng hơn 30% chứ không phải xấp xỉ 7% như tính toán ban đầu của cơ quan chức năng.

Các doanh nghiệp cho rằng quy định về giá điện giờ cao điểm khiến chi phí giá điện cuả họ tăng trên 30%. Ảnh: VNN.

Theo Thông tư 05/2009 của Bộ Công Thương hướng dẫn chi tiết giá bán điện, mức tăng bình quân giá điện cho sản xuất là 6,7%. Giờ cao điểm từ 9h30- 11h30 và từ 17h- 20h trong các ngày từ thứ 2 đến thứ 7. Giá bán lẻ điện cho sản xuất cấp điện áp dưới 6kV, giờ cao điểm có giá 1.900đ/kWh, giờ thấp điểm là 540đ/kWh và giờ bình thường là 955đ/kWh. Trước đây, giờ cao điểm được quy định vào 4 tiếng buổi tối từ 18h – 22h, giờ bình thường từ 4h- 18h.

Ngành sản xuất bị “hớ” giá điện

Bộ Công Thương đã khẳng định, chính sách tăng giá điện là theo hướng ưu tiên cho sản xuất với nguyên tắc tỷ lệ tăng giá điện cho sản xuất sẽ thấp hơn tỷ lệ tăng giá bán điện bình quân và tỷ lệ tăng giá bán điện cho sinh hoạt. Tuy nhiên, chính sách này sẽ khó thành hiện thực.

“Đó là kiểu giờ oái oăm”, ông Nguyễn Đắc Nghĩa, Trưởng phòng Cơ điện, Công ty CP May 10, Hà Nội than thở. “Chi phí giá điện của chúng tôi tính ra sẽ đội lên khoảng 32,5% so với trước đây chứ không phải là tăng gần 7% như công bố củ a cơ quan chức năng.”

TIN LIÊN QUAN

Khoản tiền điện ước tính của May 10 là đội thêm khoảng 1,5 tỷ đồng/năm.  Trong khi tiền điện của công ty này sẽ chỉ đội giá khoảng 400 triệu đồng/năm nếu tính  theo mức tăng 7%. Đây là số tiền quá lớn và sẽ làm tăng giá thành sản phẩm.

Nguyên nhân là do hoạt động sản xuất của doanh nghiệp sẽ không thể tránh được giờ cao điểm. Nếu áp dụng thời gian làm việc như năm 2008, công nhân đi làm từ 7h-18h mỗi ngày, buổi trưa nghỉ 1 tiếng, từ 12h-13 thì kiểu gì, Công ty May 10 cũng phải “dính” 3 tiếng giờ cao điểm. Do đó, ông Nguyễn Đắc Nghĩa cho biết đang làm văn bản kiến nghị cơ quan quản lý về sự oái oăm của giá điện này.

Cùng trong tình trạng dở khóc dở cười với giá điện, ông Nguyễn Kim Hồng, Trưởng phòng Kỹ thuật, công ty Dệt kim Đông Xuân, Hà Nội nói, quy định giờ cao điểm như vậy là rất vô lý. “Với dây chuyền dệt nhuộm phải chạy liên tục 3 ca thì chúng tôi đành chịu. Nhưng với may, chúng tôi không thể may quần áo vào ban đêm được.

Thông thường, mỗi DN nếu làm việc 8 tiếng thì mất khoảng 2 tiếng cho giờ cao điểm, tương đường 25% thời gian làm việc chịu giá điện cao. Các doanh nghiệp ngành dệt may, da giày… thường làm thêm khoảng 2-3 tiếng sau giờ hành chính, khoảng 10-11 tiếng/ngày thì sẽ phải chịu 40-45% thời gian làm việc trả tiền điện giá cao.

Tránh giờ cao điểm thì đảo lộn sản xuất

Hoạt động sản xuất là phải liền mạch, không thể đang hoạt động rồi cho dừng dây chuyền sản xuất trong 2 tiếng buổi sáng rồi lại khởi động lại được. Nói cách khác, quy định rải rác giờ cao điểm, 2 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều, lại đúng vào nhịp độ sản xuất bình thường thì không khác nào, ép buộc mọi doanh nghiệp sẽ phải dùng điện giá cao.

Ông Nguyễn Văn Tuấn, Phó Tổng giám đốc phụ trách về sản xuất của Công ty CP Khoá Việt Tiếp rất bức xúc: Nếu áp dụng giờ cao điểm như vậy mà bảo, khuyến khích tiết kiệm thì thật “đánh đố” doanh nghiệp.

Không thể dồn mọi sản xuất vào giờ thấp điểm là ban đêm (ảnh: P.H)

Tại công ty khoá Việt Tiệp, có những thiết bị bắt buộc phải chạy liên tục máy đúc áp lực để sản xuất các chi tiết khoá hay dây chuyền mạ sản phẩm. Giả sử, để tránh giờ cao điểm mà tạm dừng sản xuất thì… còn tốn tiện điện hơn. Mỗi lần phải khởi động lại máy hay dây chuyền thì mất từ 1- 2 tiếng, rất hao điện năng. Chưa kể, đặc thù kỹ thuật sản xuất không cho phép làm vậy.

Ông Tuấn cho biết, để mạ các chi tiết sản phẩm, dây chuyền mạ chạy liên tục từ 6h sáng đến 6h tối. Đây là dây chuyền khép kín tự động. Nếu ví bất cứ lý do gì mà phải ngừng dây chuyền, các sản phẩm mạ dở coi như là hỏng.

Với lập luận, các doanh nghiệp cần đổi ca để tránh giờ cao điểm, ông Nguyễn Đắc Nghĩa lắc đầu ngao ngán: “Ngành may mặc rất khó đổi giờ. Không thể bắt người lao động đi làm sớm quá, từ 6h sáng được. Đồng thời, quần áo thì không thể may vào ban đêm được, sẽ không đảm bảo chất lượng sản phẩm và năng suất làm việc cũng kém đi. Hơn nữa, nếu có tránh được giờ cao điểm và chuyển sang giờ thấp điểm là làm đêm, các doanh nghiệp sẽ đối mặt với việc tăng 30% lương và tiền bồi dưỡng cho công nhân theo chính sách cho người lao động. Cách gì doanh nghiệp cũng bị làm khó”.

Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội năng lượng Việt Nam lý giải, bản chất quy định này là để bù lỗ cho ngành điện. Khoảng thời gian đó thường thiếu điện nên ngành điện huy động thêm các nhà máy chạy dầu. Trung bình, lượng công suất huy động thêm khoảng vài ba nghìn MW với mức giá từ 1.400-1.500đ/kWh. Do vậy, ngành điện tính toán nếu huy động giá dầu thì sẽ lỗ hàng trăm tỷ mỗi ngày. Vì thế, giờ cao điểm bị đẩy giá lên gấp đôi là để bù lỗ giá điện cho việc chạy dầu.

Ông Nguyễn Kim Hồng cũng cho rằng, đây là khoảng thời gian có cường độ làm việc tốt nhất. Công nhân không thể đến làm việc vào 6h sáng rồi đến 9h30 lại nghỉ được để tránh giá điện cao được.

“Ý nghĩa ban đầu về quy định giờ cao điểm đã trở thành tác động ngược” -ông Đàm Tiến Thắng, Trưởng phòng quản lý điện năng, Sở Công Thương Hà Nội đánh giá.

Sau khi ban hành thông tư 05, Phòng quản lý điện năng nhận được không ít những phàn nàn của các doanh nghiệp trên địa bàn. Ông Thắng phân tích, quy định giờ cao điểm là để hạn chế tiêu dùng, khuyến khích tiết kiệm điện. Nhưng nếu làm đúng như vậy nghĩa là các doanh nghiệp sẽ phải giảm bớt sản xuất vào giờ đó thì đồng nghĩa là giảm tiến độ sản xuất.

Các doanh nghiệp đều kiến nghị, nhà nước phải tính toán lại cho hợp lý, hoặc đổi lại giờ cao điểm như trước đây hoặc giảm tiền điện giờ cao điểm, tạo thuân lợi cho sản xuất. Được biết, khi làm việc với tỉnh Tiền Giang, lãnh đạo Bộ Công Thương đã thừa nhận những bất cập quy định này và sẽ có hướng điều chỉnh.

  • Phạm Huyền

Blog at WordPress.com.