Ktetaichinh’s Blog

April 25, 2009

Lệch cung – cầu ngoại tệ: Chưa dứt!

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 9:05 pm
Tags: , ,
Lệch cung - cầu ngoại tệ: Chưa dứt!

Cung ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng vẫn khan hiếm, xu hướng nắm giữ ngoại tệ vẫn cao.

Đồng USD trên thị trường tự do đã có chiều hướng giảm nhẹ trong 2 ngày qua, từ mức cao nhất 18.300 VND/USD xuống còn 18.181 – 18.200 VND/USD trong chiều 23/4.

Nhà xuất khẩu chưa muốn bán ngay ngoại tệ bởi tiếp tục kỳ vọng giá lên. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ mặt của nhà nhập khẩu vẫn duy trì khi cần thanh toán các L/C cũ, cũng như mở L/C mới.

Ông Phạm Quốc Thanh, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cho biết, cung – cầu ngoại tệ tại Ngân hàng tiếp tục căng thẳng. Một phần do lượng ngoại tệ khách hàng bán lại cho ABBank có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng khó giao dịch thành công hơn trước, cho dù giá cao hơn. Bởi các ngân hàng đều gặp phải tình trạng thiếu cung ngoại tệ, khó đáp ứng được cầu.

Tỷ giá liên ngân hàng trong những ngày gần đây được chào bán với giá cao hơn mức trần niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Trong ngày 23/4, tỷ giá niêm yết tại Eximbank, Vietcombank là 17.784 VND/USD (cả mua và bán), tăng 1 VND/USD so với một ngày trước đó. Song gần đây, tỷ giá niêm yết tại ngân hàng luôn đụng trần với diễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Cũng theo ông Thanh, hiện tượng nhà xuất khẩu hạn chế bán ngay ngoại tệ cho ngân hàng được lặp lại trong các tuần cuối tháng 4/2009, khiến nguồn cung USD cho ngân hàng càng khó hơn.

Nguồn USD vào ngân hàng bị hạn chế dần theo diễn biến đi lên của USD trên thị trường tự do, vì tỷ giá niêm yết của ngân hàng thấp hơn. Trong khi đó, tuy kim ngạch nhập khẩu hàng hóa có giảm so với trước, nhưng nhà nhập khẩu vẫn có nhu cầu thanh toán nhiều L/C cũ, cũng như mở thêm L/C mới.

Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp của một ngân hàng cho biết, trước đây khi tỷ giá trên thị trường tự do biến động theo chiều hướng nhích lên, muốn mua được USD từ nhà xuất khẩu, nhiều nhà băng đã sử dụng biện pháp mua – bán thỏa thuận ngầm để thu hút nguồn ngoại tệ.

Nhưng kể từ sau khi biên độ tỷ giá được nâng lên +/-5%, Ngân hàng Nhà nước có quy định cấm các ngân hàng thương mại mua – bán ngoại tệ ngoài giá niêm yết cũng như vượt trần cho phép, nên khó hút được nguồn USD từ khách hàng.

Trong khi đó, ông Đào Hồng Châu, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết, tâm lý của nhiều nhà xuất khẩu vẫn giữ quan điểm phải bán được giá cao nên trước mắt chưa vội bán USD khi có nguồn.

Thêm vào đó, sở dĩ nguồn ngoại tệ trở nên khan hiếm trong thời gian gần đây một phần do xuất hiện tình trạng vàng lậu vào thị trường Việt Nam, khi giá bán trong nước cao hơn giá thế giới.

Từ những thực tế trên gây sức ép lên tỷ giá, dẫn đến cung ngoại tệ tại Eximbank cũng không tránh được sự căng thẳng và khó đáp ứng được nhu cầu cho nhà nhập khẩu.

Advertisements

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 2:32 pm
Tags: ,

Vỡ mộng vì vay vốn qua công ty tài chính

Cần thêm tiền mua căn nhà, chị Ngọc Mai vay 120 triệu đồng tại một công ty tài chính với lãi suất ưu đãi, thủ tục nhanh gọn. Nhưng làm hợp đồng xong rồi, chị mới té ngửa ra khi thấy tiền lãi phải trả cao hơn rất nhiều.

Với cách tính lãi suất theo dư nợ ban đầu (add – on) mà Công ty Tài chính Prudential áp dụng cho vay tín dụng tín chấp hiện nay, nếu vay số tiền 120 triệu đồng trong thời hạn 48 tháng, lãi suất 1,25% một tháng, khách hàng sẽ phải trả số tiền lãi tổng cộng là 72 triệu đồng, trong khi nếu lãi suất được tính theo dư nợ giảm dần, khách hàng chỉ phải trả khoản lãi 36,75 triệu đồng.

Tuy nhiên, cũng có một số người thắc mắc, yêu cầu nhân viên giải thích thì mức độ tư vấn của đội ngũ nhân viên cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích là nhu cầu của khách hàng cần mua sản phẩm gì, khả năng trả trước bao nhiêu phần trăm, cần vay thêm bao nhiêu, thời hạn trả trong bao lâu… Nhân viên sẽ theo đó hướng dẫn khách hàng cách tính lãi, tiền gốc hàng tháng phải trả để họ cân nhắc trước khi ký hợp đồng vay.

Hầu hết các công ty tài chính khi cho vay đều có quy định số tiền khách hàng vay sẽ tùy thuộc vào thời hạn vay. Thời hạn vay càng ngắn, số tiền được vay sẽ càng bị hạn chế. Với mức thu nhập được vay 60 triệu đồng, khách hàng phải vay trong thời hạn 36-48 tháng, nếu muốn vay trong 24 tháng thì chỉ được số tiền 40 triệu đồng.

Trong khi đó, với cách tính lãi theo dư nợ ban đầu, thời hạn vay càng kéo dài, khách hàng càng thiệt thòi vì mỗi tháng phải trả lãi luôn cho cả phần nợ gốc đã được “trả dần” ở các tháng trước đó. Đặc biệt, trong tình hình lãi suất thị trường liên tục được điều chỉnh theo xu hướng giảm, người vay càng lỗ vì công ty vẫn cố định theo mức lãi cũ đã ký trong hợp đồng với khách hàng.

Vay tiêu dùng: Dễ mà khó

Khách hàng không cần tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh nếu cần một khoản tiền lớn phải vay tín chấp tại Ngân hàng Việt Á (VietAbank). Thời gian làm thủ tục vay chỉ trong vòng 32 giờ, với số tiền lên đến 200 triệu đồng.

Theo quy định của VietAbank, thời gian trả nợ gốc và lãi linh hoạt từ 12 đến 36 tháng. Mức lãi suất 0,75%-0,82% một tháng, tương đương 9-9,84% một năm, tính trên dư nợ ban đầu tùy theo mức tiền vay. Người vay chỉ cần có thu nhập thực lĩnh mỗi tháng từ 5 triệu đồng trở lên đối với khu vực TP HCM và 4 triệu đồng trở lên đối với khu vực ngoài TP HCM.

Tuy nhiên, điều khó chấp nhận đối với phần lớn khách hàng khi tiếp cận sản phẩm này là theo quy định của nhà băng, khách hàng phải mở tài khoản tại VietAbank và tài khoản này sẽ bị khóa lại. Khi có nhu cầu mua sắm khách hàng phải viết giấy ủy nhiệm chi để ngân hàng chuyển tiền đến nơi bán hàng. “Điều kiện ràng buộc như vậy khiến khách hàng cảm thấy bị bó buộc, không thoải mái”, chị Thanh, nhân viên một công ty xuất nhập khẩu quận 1 cho hay.

Trong khi cách tính lãi suất của đa số các ngân hàng đối với sản phẩm vay tiêu dùng tín chấp là theo dư nợ ban đầu khiến nhiều người phải đắn đo, cân nhắc thì cách tính lãi dựa trên dư nợ giảm dần mà một số ngân hàng đang áp dụng cũng khiến nhiều người chùn tay. Tất cả chỉ vì mức lãi quy định quá cao….

Sản phẩm vay tiêu dùng của Ngân hàng TNHH Một thành viên HSBC (Việt Nam) với lãi suất 0% khá ấn tượng đối với những người có nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, mức lãi suất 0% chỉ áp dụng cho tháng đầu tiên, những tháng còn lại sau đó các “thượng đế” sẽ phải đối mặt với mức lãi cao ngất ngưởng, lên đến 24% một năm.

Gian nan xin bảo lãnh vốn vay

Rất nhiều ý kiến bức xúc khi tiếp cận chương trình bảo lãnh vay vốn được các doanh nghiệp nêu ra tại hội thảo “Chính sách ưu đãi thuế và tín dụng ngân hàng nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế” do Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Trung tâm phát triển doanh nhân Việt Nam phối hợp Ngân hàng Liên Việt tổ chức tại TP HCM sáng 24/4. Phần lớn các khó khăn xuất phát từ chính sách về thủ tục kê khai thuế, tài sản thế chấp.

April 18, 2009

Lộ diện những “cú sốc” rủi ro tỷ giá 033009

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, đánh tụt kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những rủi ro đó vẫn chưa dừng lại…

Quý 4/2008, kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex) có đột biến. So với quý 3/2008, doanh thu tăng 11,8%; đặc biệt, lợi nhuận sau thuế đạt tăng tới 49,5%.

Có thể xem Gilimex là một hiện tượng khi đặt trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng từ thế giới, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu. Nhưng, một thuận lợi tác động trực tiếp đến kết quả trên là do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trong quý 4/2008.

Gilimex cũng là một điển hình nhận được lợi ích từ chính sách tỷ giá, cũng như mục đích chính hỗ trợ xuất khẩu nói chung trong những đợt điều chỉnh vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. Đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá về mặt lợi. Nhưng, trên thực tế, có một “mặt thứ hai” đang lộ diện ở diện rộng: nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì tỷ giá tăng quá nhanh và mạnh.

Bóp méo cả kết quả kinh doanh

Trong câu chuyện với phóng viên, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty niêm yết nói: “Rủi ro tỷ giá đã được thấy trước, lường trước và có thể chỉ là ảnh hưởng nhỏ đối với kết quả kinh doanh nếu so với dự phòng đầu tư tài chính. Thế nhưng, khi kết toán, nó làm méo mó kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp không dễ ứng xử với cổ đông và nhà đầu tư”.

Đó cũng là lý do để trong tháng 2 và 3 vừa qua, một loạt doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) phải có văn bản giải trình chênh lệch số liệu trong báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Như với Công ty Cổ phần Hàng hải Sài Gòn (SHC), kết quả kinh doanh năm 2008 được báo cáo với doanh thu đạt 174,436 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007, đạt 116% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 17,979 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2007, đạt 120% kế hoạch và lợi nhuận sau thuế 15,462 tỷ đồng.

Thế nhưng, sau khi kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty này chỉ có 13,925 tỷ đồng, không đạt kế hoạch (92,8%). Nguyên nhân là do SHC chưa tính đến khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ.

Trao đổi với VnEconomy, ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SHC, cho biết, những điều chỉnh trên là do khoản chênh lệch tỷ giá kết toán đối với khoản vay ngoại tệ mua tàu (USD) lên tới hơn 3,6 tỷ đồng, dù khoản chênh lệch tỷ giá này chỉ là dự phòng chưa xẩy ra (vì thời hạn của hợp đồng vay vốn là 5 năm). Ông Ái cũng kiến nghị Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mặt kỹ thuật kiểm toán đối với khoản mục này.

Do chỉ là dự phòng chưa xẩy ra nên ông Ái cho rằng doanh nghiệp không mất và không bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng các cổ đông phải chịu thiệt thòi, cụ thể là tỷ lệ chi trả cổ tức bị giảm, giá cổ phiếu trên sàn có thể bị ảnh hưởng…

Tương tự, rủi ro về tỷ giá cũng nổi bật trong loạt báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác, với tác động chính là làm giảm lợi nhuận hoặc đánh tụt kết quả kinh doanh so với kề hoạch đề ra.

Chỉ riêng sự kiện ngày 26/12/2008, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% cũng đã làm cho chi phí tài chính của nhiều doanh nghiệp biến động mạnh. Tại Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá, chênh lệch tỷ giá cuối năm tính vào chi phí quý 4/2008 đã tăng thêm tới hơn 441 triệu đồng, đồng nghĩa với lợi nhuận giảm tương ứng.

Hay tại Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, lợi nhuận quý 4/2008 giảm 15,7% cũng có nguyên nhân chính là tỷ giá USD/VND “có quá nhiều biến động”. Công ty đã phải hạch toán vào chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện cuối năm với số tiền lên tới 909.931.314 đồng. Với Công ty Cổ phần Gas Petrolimex, lợi nhuận giảm 17,7 tỷ đồng trong quý 4/2008 cũng chủ yếu do chênh lệch tỷ giá và trích dự phòng tài chính.

Ngoài ra, rủi ro tỷ giá có thể thấy ở tổn thất của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác. Và không loại trừ ở nhiều trường hợp chưa niêm yết, khi thông tin tài chính thường chưa công bố công khai và cụ thể.

Thụ động hay rủi ro từ chính sách?

Năm 2008, chính sách tỷ giá và tỷ giá trên thị trường chứng kiến tần suất điều chỉnh và những mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Biên độ liên tục được nới rộng; tỷ giá liên ngân hàng đã tăng tới 5%, của các ngân hàng thương mại tăng tới 9% – một mức tăng gây sốc trong báo cáo tài chính ở những trường hợp nói trên.

Năm 2009, đặt trong câu chuyện này, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đón một năm không bình yên. Ít nhất, từ ngày 24/3, biên độ tỷ giá đã được nới rộng lên +/-5%, tỷ giá USD/VND của các ngân hàng đã tăng thêm gần 2%.

Suốt những năm trước đó, tỷ giá USD/VND liên tục được duy trì ổn định, thường chỉ tăng quanh 1% mỗi năm. Thay đổi này ảnh hưởng không nhiều đối với chi phí tài chính của doanh nghiệp, và là một phần giải thích vì sao phần lớn chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cũng không loại trừ mức thay đổi quen thuộc và ổn định đó đã hạn chế sự chủ động của doanh nghiệp trước những điều chỉnh nhanh và khác thường của chính sách vừa qua.

Còn trong giải thích của một doanh nghiệp, năm 2008, tỷ giá đã có quá nhiều biến động khiến họ không thể thích nghi kịp thời để ổn định sản xuất kinh doanh.

Một giải pháp được đặt ra là doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh của các ngân hàng thương mại. Nhưng, bên cạnh phí dịch vụ, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương tạm ngừng cung cấp các sản phẩm này.

Ở một ứng xử khác, như định hướng mà ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHC, đưa ra là trong thời gian tới sẽ hạn chế dần những khoản vay bằng ngoại tệ. Trong khi đó, giải pháp mà Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen xác định là chuyển đổi các hợp đồng vay USD thành vay VND để tránh rủi ro tỷ giá trong năm 2009.

Liệu đây có phải là một phần nguyên nhân khiến cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng đầu năm nay có xu hướng giảm

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD thì không ít doanh nghiệp lại được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0cm; margin-right:0cm; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0cm; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; margin-bottom:10.0pt; line-height:115%;} @page Section1 {size:21.0cm 842.0pt; margin:70.9pt 2.0cm 70.9pt 99.25pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin-top:0cm;
mso-para-margin-right:0cm;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0cm;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD lên + 5% do phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập ngoại, hoặc có nguồn vốn vay ngoại tệ lớn… thì cũng không ít doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

Vay ngoại tệ: Thiệt thòi !

PPC (Nhiệt điện Phả Lại) là một trong những cổ phiếu “thiệt kép” với đợt nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này. Do doanh nghiệp này vay nợ bằng Yên Nhật.

Do đó, khi đồng tiền này tăng lên so với USD, trong khi VND lại mất giá so với USD khiến cho khoản nợ của PPC tăng lên đáng kể. Phần doanh thu tăng thêm khoảng 96 tỷ đồng từ khoảng tăng giá điện mới đây quá “bèo bọt” so với con số của đợt biến động tỷ giá.

Tính đến ngày 31/12//2008, dư nợ vay là 36,2 tỷ JPY. Sự biến động tỷ giá trong năm ngoái đã khiến cho trăng trượng lợi nhuận kinh doanh ấn tượng của PPC không đủ bù đắp cho khoản lỗ kỷ lục 207,7 tỷ đồng tính đến cuối năm.

Khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện của PPC gần 1,600 tỷ đồng cho khoản vay nợ ngoại tệ trên và khoản lỗ 10 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá đã thực hiện do thanh toán 1,8 tỷ JPY tiền gốc vay trong năm nay.

Với khoản nợ vay bằng Yên Nhật là 36 tỷ JPY, thì chỉ cần 1% biến động trong tỷ giá VND/JPY so với cuối năm 2008, PPC có thể phải trích lập thêm hoặc hoàn nhập gần 66.5 tỷ đồng.

Để hạn chế rủi ro này, hiện nay PPC cũng đang tìm kiếm đối tác để bảo hiểm rủi ro. Tuy nhiên, “thiệt thòi” chắc chắn cũng khó ước đoán do khoản vay này không hề nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, việc VND giảm giá so với USD sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành dầu khí thu được khoản lợi lớn nhờ tiền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch là USD.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng với những doanh nghiệp có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ như PVD. Trong quý 4/2009, do sự biến động của tỷ giá hối đoái, PVD chịu một khoản lỗ khoảng 140 tỷ đồng do đánh giá lại các khoản vay ngoại tệ.

Trong đó, khoảng 70 tỷ đồng đã được hiện thực hoá, 70 tỷ đồng còn lại mới được lập dự phòng và sẽ được hoàn nhập lại nếu tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho công ty.

Ngoài ra, trong quý 4/2009, chi phí quản lý của PVD tăng cao so với các tháng trước do công ty đã trích dự phòng mất việc làm, trả tiền lương tháng thứ 13 cho công nhân viên, trả phí quản lý cho tập đoàn Petrovietnam và phí tập đoàn bảo lãnh các khoản vay của PVD.

Theo dự báo của công ty Kim Eng Việt Nam, tổng doanh thu của PVD năm 2009 sẽ giảm khoảng 9,8% so với 2008 do sự thu hẹp của hoạt động thương mại và các dịch vụ liên quan tới hoạt động khoan dầu khí.

Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của công ty sẽ không thay đổi nhiều so với năm 2008 nhờ các hợp đồng dài hạn được ký cho đến hết tháng 7/2009. Trong những tháng còn lại, nhiều khả năng PVD sẽ cho công ty khai thác dầu Phú Quý thuê PV Drilling I theo một hợp đồng khoảng 140 ngày.

Mặc dù giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố nhưng giá thuê có lẽ không thể quá chênh lệch so với giá cho thuê giàn hiện tại tại khu vực Đông Nam Á khoảng 153.000 USD/ngày.

“Theo ước tính của chúng tôi, chi phí cho một giàn khoan một ngày khoảng 110.000-120.000 USD bao gồm chi phí hoạt động, quản lý, khấu hao và lãi vay. Như vậy, cho dù giá cho thuê giàn khoan sụt giảm mạnh chỉ còn khoảng 160.000 USD/ngày tỷ suất lợi nhuận kinh doanh của hoạt động này cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 25%”.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty chứng khoán Kim Eng Việt Nam nhận định: “Theo dự báo của chúng tôi, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của PVD sẽ tăng bình quân 22%/năm trong vòng 5 năm tới. Về mặt lợi nhuận, khi mà hoạt động cho thuê giàn khoan chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu dịch vụ do PVD cung ứng, tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tiếp theo”.

Cơ hội với thị trường nội địa

Cũng chịu nhiều tác động xấu từ việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này, nhưng những doanh nghiệp sữa “nội” có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước có thể nhân cơ hội để mở rộng thị phần vẫn bị các doanh nghiệp “ngoại” chiếm ưu thế. Điển hình như “ông lớn” VNM (Vinamilk).

Tuy là một trong những doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước nguồn nguyên liệu chính là sữa bột, chiếm khoảng 50% nguyên liệu sản xuất, vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn.

Như vậy, việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD sẽ đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp này tăng lên, đặc biệt trong quý 2/2009 vì VNM đã cam kết sẽ không tăng giá sữa đến hết tháng 5/2009.

Nhưng bên cạnh tác động tiêu cực, VNM hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị phần sữa, đặc biệt là với sản phẩm sữa bột – vốn đang bị các nhà sản xuất ngoại chiếm ưu thế.

Năm 2008, Vinamilk chiếm 37% thị phần tính chung cho tất cả các sản phẩm sữa ở Việt Nam. Sản phẩm sữa bột nhãn hiệu Dielac của doanh nghiệp này chỉ chiếm 15% thị phần. Sản phẩm sữa bột có tỷ suất lợi nhuận gộp cao nên được VNM tập trung phát triển trong thời gian tới.

Sau khi đã tính đến yếu tố VND mất giá khoảng 8% so với USD trong năm 2009 thì tỷ suất lợi nhuận gộp năm nay của VNM sẽ tăng lên từ 31,7% lên 33,6%. Theo đó lợi nhuận sau thuế năm 2009 ước đạt 1.492 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm 2008.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam cho rằng: “Cổ phiếu VNM hiện đang được giao dịch quanh mức P/E dự kiến là 11,6 lần, khá thấp so với mức bình quân 16 lần của cổ phiếu ngành sữa trong khu vực Châu Á. Đây là cổ phiếu đáng được xem xét đầu tư khi nhìn vào tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của thị trường sữa Việt Nam”.

Theo P.Lan
DĐDN

Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng Việt Nam-Porter’s 5 forces

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 3:30 am
Tags:

(TBKTSG) – Bài viết này sử dụng mô hình của Michael Porter (Năm lực lượng của Porter – Porter’s 5 forces) để nhìn vào thị trường ngân hàng Việt Nam và phân tích những lực lượng cạnh tranh, các xu hướng phát triển cũng như cơ hội khai thác để tạo nên lợi thế cạnh tranh phù hợp với nguồn lực của các ngân hàng.

Nguy cơ từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập. Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình bảy năm. Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ.

Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài từ năm 2008.

Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam. Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai.

Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008. Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại.

Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được. Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam.

Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không. Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ.

Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối. Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất. Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM.

Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp. Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn.

Nguy cơ bị thay thế

Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:

• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)

• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

• Là nơi cho vay tiền

• Là nơi hoạt động kiều hối

Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.

Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng. Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm.

Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán. Chính sự bất tiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng.

Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất. Đó là chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi”. Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng. Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm.

Quyền lực của khách hàng

Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận. Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng. Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam.

Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao. Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác.

Quyền lực của các nhà cung cấp

Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.

Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân hàng khác. Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.

Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành

Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*). Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.

Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ. Họ đã phục vụ những khách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo.

Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản. Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể. Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking).

Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiều nước của ngân hàng ngoại. Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân hàng trong nước đã trang bị  hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự… khá quy mô. Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với khách hàng có sẵn. Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với những khách hàng quan trọng của họ.

Xu hướng trong ngành ngân hàng

Hiện nay Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng nhưng chưa có một ngân hàng thực sự mạnh tầm cỡ quốc tế. Nhìn chung, các ngân hàng đã đua nhau mở rộng quy mô mạng lưới để huy động nhiều vốn (phát triển theo chiều rộng). Việc này dẫn đến tình trạng các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt với nhau trong hoạt động tín dụng mà quên mất các sản phẩm và dịch vụ tiện ích kèm theo (chiều sâu). Đồng thời, các ngân hàng mở rộng quy mô nhưng do thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cho nên công tác quản trị lại không theo kịp quy mô phát triển.

Khủng hoảng kinh tế cũng mang lại rất nhiều khó khăn cho ngành ngân hàng, một số ngân hàng đã không thể duy trì được mức tăng trưởng trong năm vừa qua. Đây chính là cơ sở để nhiều chuyên gia về sáp nhập (M&A) đưa ra nhận định rằng xu hướng sáp nhập trong ngành ngân hàng đang đến gần.

Tuy nhiên, ngành ngân hàng là một trong những ngành nghề nhạy cảm, do vậy việc sáp nhập chỉ có thể xảy ra trong vòng một, hai năm nữa khi ngành ngân hàng đã được mở nhiều cửa hơn theo cam kết với WTO.

ThS. TRỊNH VIỆT DŨNG

Vì sao doanh nghiệp khó vay USD từ ngân hàng?

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 1:16 am
Tags: , ,
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng phòng Tổng hợp Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, hiện các ngân hàng đang thừa ngoại tệ để cho vay nhưng lại thiếu ngoại tệ để bán.

Gửi chứ không bán!

Ngoài việc khát vốn, tỷ giá VND/USD đang ở mức cao cũng làm không ít DN đau đầu. Tuy giá USD đang có xu hướng leo thang, song thực trạng khan hiếm ngoại tệ tại ngân hàng khiến không ít DN phải mua USD ngoài chợ đen với giá khá cao (trên 18.000 VND/USD).

Chính vì điều này khiến DN thích gửi ngoại tệ hơn bán, dẫn đến vốn huy động bằng ngoại tệ tại các ngân hàng tăng lên khá cao. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, vốn huy động trên địa bàn TP.HCM tăng 4,4%, trong đó tiền gởi bằng ngoại tệ có xu hướng tăng, trong khi tiền gởi bằng VND lại giảm mạnh.

Theo anh Nguyễn Văn Thành, Giám đốc một DN chuyên nhập khẩu, tái chế bao bì nhựa tại TP.HCM, mặc dù đã sử dụng những công cụ bảo hiểm tỷ giá khi vay USD, tuy nhiên DN vẫn thiệt hại hàng chục ngàn USD mỗi khi tỷ giá biến động.

“Tỷ giá VND/USD đang có xu hướng tăng cao. Bán USD trong thời điểm này có lợi, nhưng liệu có mua được khi cần nhập nguyện vật liệu?” – anh Thành nói.

Ông Dũng cho rằng, hiện số ngoại tệ của các DN trên địa bàn TP.HCM ước tính khoảng 9 tỷ USD. Tuy nhiên, hầu hết DN đều có suy nghĩ, bán ngoại tệ cho ngân hàng thì dễ nhưng mua lại thì rất khó.

Do đó, rất ít DN bán ngoại tệ cho ngân hàng. “Nếu DN không bán số ngoại tệ này mà chỉ gửi thì ngân hàng lấy đâu ra ngoại tệ để bán lại cho DN” – ông Dũng nói.

Vay USD hay VND?

Hiện, lãi suất cho vay VND tối đa là 10,5%/năm, trong khi đó lãi suất của USD chỉ có 6,5%/năm, song DN vẫn không muốn vay USD?

Anh Trần Thành Công, Giám đốc Công ty TNHH Triều Đại – DN chuyên nhập khẩu, lắp ráp các sản phẩm điện tử dân dụng, cho rằng, với lãi suất 6,5%/năm và tỷ giá gần 18.000 VND/USD như hiện nay, có vẻ như vay USD, DN sẽ rất có lợi.

Tuy nhiên, đến thời điểm trả nợ, chẳng may tỷ giá tăng mạnh như những tháng đầu năm 2009, lên mức 18.500 hay 19.000 VND/USD, DN sẽ bị lỗ 500 – 1.000 VND/USD từ chênh lệch tỷ giá. Ngoài ra, nếu cộng lãi suất, chi phí cho đồng nợ của DN lên đến 11,5%. “Lãi suất vay VND hiện ở mức tối đa 10,5%/năm, rõ ràng vay USD không có lợi” – anh Công cho biết.

Nếu tỷ giá đi xuống khi trả nợ, DN sẽ lợi được một khoản. Tuy nhiên, với xu hướng biến động tỷ giá thời gian qua, chủ yếu là tăng thì trường hợp trên khó xảy ra.

Tỷ giá VND/USD từ cuối năm 2008 đến nay liên tục tăng nóng từ 16.000 lên đến ngưỡng 19.000 VND/USD, với mức chênh lệch khoảng 3.000 đồng cho một USD đã làm nhiều DN điêu đứng, thậm chí thua lỗ chỉ qua một đợt biến động tỷ giá. Chính vì thế, để hạn chế rủi ro này, nhiều DN đã chọn VND như một nơi “trú ẩn” an toàn.

Tuy nhiên, theo bà Phạm Thanh Tuyền, Công ty Bao bì giấy nhôm New Toyo thì lựa chọn vay VND cũng chưa hẳn là phương án khả thi đối với tất cả các DN. Bởi lẽ, nhiều đơn hàng nhập khẩu bắt buộc phải thanh toán bằng USD, trong khi đó mỗi lần sốt USD, DN không dễ gì mua được vài trăm nghìn USD trong thời gian ngắn.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM, nhu cầu vay vốn đầu tư nói chung và vay USD nói riêng của nhiều DN đã giảm mạnh trong quý I/2009. Trong đó, xu hướng chuyển đổi các khoản vay bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) sang VND để hạn chế rủi ro khi tỷ giá USD/VND tăng nhanh và mạnh trong thời gian qua.

Ông Thắng cho rằng, tình kinh tế khó khăn chung khiến nhiều DN sản xuất cầm chừng để giữ khách hàng, giữ công nhân chứ không có lợi nhuận. Do vậy, thời điểm này DN phải thận trọng, tính toán rủi ro ở mức thấp nhất hãy quyết định vay vốn.

Ngân hàng lại thiếu đô la Mỹ

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 1:11 am
Tags:

Các L/C ngắn hạn thường từ 20 ngày đến 1 tháng, và hiện nay đã bắt đầu tới hạn nên nhu cầu đô la Mỹ đồng loạt tăng lên tại các ngân hàng.


st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

<!– /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:””; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:”Times New Roman”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
mso-para-margin:0in;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}
Sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5% vào ngày 24-3, tình trạng căng thẳng về đô la Mỹ của các ngân hàng cũng chỉ được giải quyết trong vòng gần nửa tháng và hiện nay đã lại rơi vào trạng thái khan hiếm ngoại tệ này như trước.

Các ngân hàng cổ phần chỉ duy trì được giá mua đô la Mỹ thấp hơn giá bán từ 24-3 đến những ngày đầu tháng 4, sau đó tình trạng giá mua bằng giá bán đã được lặp lại, như trước khi biên độ tỷ giá được nới rộng.

Từ ngày 8-4, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam đã niêm yết giá mua và giá bán đô la Mỹ bằng nhau và ở mức giá trần cho phép bởi NHNN; giá niêm yết hôm 13-4 là 17.785 đồng, tức tăng hết biên độ +5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng.

Các ngân hàng cho biết, thị trường mua bán đô la Mỹ liên ngân hàng gần như đóng băng khi chỉ có lệnh chào mua mà không có lệnh bán.

Giám đốc kinh doanh ngoại hối của một ngân hàng (không muốn nêu tên) cho biết trên thị trường liên ngân hàng sáng nay (13-4) có ngân hàng chào mua đô la Mỹ với giá 17.950 đồng, vượt mức giá trần quy định nhưng vẫn chẳng có lệnh bán nào đáp lại; trong khi NHNN hiện chỉ đáp ứng ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng thiết yếu như xăng dầu.

“Thị trường gần như đóng băng khi nguồn cung và cầu ngoại tệ quá chênh lệch”, vị giám đốc này nói.

Theo ông, khi biên độ tỷ giá được nới lỏng và thanh khoản ngoại tệ của các ngân hàng được cải thiện, các doanh nghiệp nhập khẩu nghĩ sẽ có thể mua ngoại tệ được dễ dàng hơn nên đã bắt đầu ký các hợp đồng nhập khẩu nguyên vật liệu lớn.

“Các L/C ngắn hạn thường từ 20 ngày đến 1 tháng, và hiện nay đã bắt đầu tới hạn nên nhu cầu đô la Mỹ đồng loạt tăng lên tại các ngân hàng dẫn tới tình trạng khan hiếm đô la hiện nay”, ông nói.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng phòng Tổng hợp NHNN chi nhánh TPHCM, trong buổi gặp doanh nghiệp tuần trước đã giải thích việc mất cân đối cung cầu ngoại tệ là do các doanh nghiệp xuất khẩu hiện chỉ thích gửi ngoại tệ vào ngân hàng để lấy lãi chứ không bán cho ngân hàng vì sợ sau này khó mua lại khi có nhu cầu.

Trong khi đó, các doanh nghiệp lại không chịu vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu vì sợ rủi ro tỷ giá, dẫn tới các ngân hàng hiện đang dư thừa nguồn ngoại tệ huy động và khan hiếm nguồn ngoại tệ để bán lại cho các doanh nghiệp có nhu cầu.

Ông dẫn chứng trong ba tháng đầu năm, tổng huy động của các ngân hàng trên địa bàn TPHCM tăng 4,4% so với cuối năm 2008, trong khi đó tiền gửi ngoại tệ tăng đến 11,5% còn dư nợ bằng ngoại tệ chỉ tăng 0,79%.

Theo NHNN, dư nợ cho vay đến cuối quí 1 năm 2009 của các tổ chức tín dụng ước tăng 2,67% so với cuối năm 2008. Trong đó, cho vay bằng đồng Việt Nam ước tăng 3,9% trong khi dư nợ bằng ngoại tệ (chủ yếu là đô la Mỹ) ước giảm 2,24%.

Tuy nhiên, các ngân hàng không thể lấy nguồn ngoại tệ huy động để đem bán cho doanh nghiệp.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, tình trạng căng thẳng tương tự đã diễn ra và biện pháp của NHNN là sử dụng công cụ kết hối (ép buộc các doanh nghiệp xuất khẩu bán ngoại tệ cho ngân hàng), nhưng sau đó dần dần được dỡ bỏ vì đi ngược lại với các cam kết quốc tế. Gần đây, trên thị trường đã có xuất hiện tin đồn về việc biện pháp này sẽ được áp dụng lại.

Vị giám đốc kinh doanh ngoại hối của ngân hàng vừa nêu trên cũng cho biết, nếu tình trạng này tiếp diễn và không có công cụ nào để ngân hàng mua bán ngoại tệ hợp pháp theo đúng cung cầu thì có thể các ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng của mình chuyển sang mở các L/C nhập khẩu dưới một ngoại tệ khác mà không bị neo tỷ giá.

Sáng ngày 13-4, giá đô la Mỹ trên thị trường tự do là 17.900 đồng mua vào và 18.050 đồng bán ra. Những ngày cuối tuần trước, giá đô la cũng đã giao dịch quanh mức 18.000 đồng.

April 10, 2009

Gói kích cầu lần 2 nếu lạm dụng ắt nảy sinh tiêu cực 040909

Dù nhìn nhận gói kích thích lần hai hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn là phù hợp trong bối cảnh hiện tại, song giới chuyên gia cho rằng, chỉ nên coi đây là giải pháp tạm thời, nếu lạm dụng sẽ phát sinh tiêu cực, tạo cơ chế xin cho và tâm lý ỷ lại trong doanh nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong – Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế xã hội – Viện nghiên cứu kinh tế – xã hội Hà Nội nhìn nhận, xét về mặt toàn diện thì việc đưa ra gói kích cầu bổ sung đảm bảo duy trì sự ổn định và mục tiêu tập trung của Chính phủ trong các giải pháp kích cầu. Các khoản hỗ trợ lãi suất đầu tư trung và dài hạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp tự tin và an toàn hơn trong việc đầu tư vay vốn, cải cách cơ cấu sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh…

Dù vậy, ông Phong cũng cho rằng, gói hỗ trợ không mang tính dài hạn, về lâu dài dễ gây ra lạm dụng, sử dụng không hiệu quả. Nhà nước phải có cơ chế rõ ràng để chống hiện tượng lạm dụng như ngân hàng và doanh nghiệp bắt tay nhau tạo ra khoản vay ảo với lãi suất hỗ trợ sau đó là chia chác kiếm lời, hay hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vay nhưng lại không đầu tư theo cam kết mà dùng để trả nợ, đáo hạn rồi gửi lại ngân hàng ăn lãi…

Doanh nghiệp được hưởng lợi từ gói kích cầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Theo ông Phong, không nên quá nhấn mạnh vào chuyện hỗ trợ lãi suất mà cần bổ sung thêm một số công cụ hỗ trợ khác, như bảo lãnh tín dụng liên quan đến quỹ đầu tư mạo hiểm, cho vay thu mua tài chính hay các công cụ tuyên truyền sao cho có hiệu quả hơn.

Đồng tình với quan điểm này, ông Bùi Kiến Thành, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý tài sản quốc tế nói: “Gói kích cầu thứ hai chọn chính sách tiền tệ với lãi suất hỗ trợ, tức là Nhà nước dốc ngân sách ra để trả cho ngân hàng 4% lãi suất để doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi. Đây là một cách làm theo tôi không mang tính lâu dài, gây lãng phí tiền của ngân sách Nhà nước. Lẽ ra hàng chục tỷ đồng ngân sách này phải được sử dụng vào nhiều việc khác”.

Theo ông, Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có thể “cào bằng” một mức lãi suất thấp có thể 5%, 6% hay 7% thay vì mức 10,5% hiện hành mà không cần dùng đến gói kích cầu cả chục tỷ đồng ngân sách. Còn nếu một thị trường mà có tới 2 loại lãi suất ưu đãi (4%) và không ưu đãi (10,5%) thì sẽ tạo ra một sân chơi không bình đẳng, doanh nghiệp rất khó cạnh tranh lành mạnh.

Ông Thành cho rằng, việc liên tiếp đưa ra gói kích cầu đã xuất hiện một tâm lý ỷ lại và kéo tụt nền kinh tế của VN quay trở lại thời kỳ bao cấp và bảo hộ. Tức là nhảy từ thời kỳ tiến bộ về thời kỳ bao cấp, quan liêu dễ dẫn đến cơ chế xin cho. Chưa kể, việc hỗ trợ lãi suất như vậy sẽ đẩy nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đứng trước nguy cơ có thể bị kiến phá giá khi hàng được xuất sang các nước khác. Doanh nghiệp được sử dụng khoản vốn này dù là đầu tư hạ tầng, máy móc thiết bị hay sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu cũng đều được coi là bằng chứng để các đối tác nước ngoài kiện lại.

“Theo tôi, gói hỗ trợ của Chính phủ chỉ nên coi là giải pháp nhất thời chứ không nên lạm dụng. Ngân sách không phải là vô tận để có thể tiếp tục chi tới 4% lãi suất… ngân sách còn phải được sử dụng vào rất nhiều việc khác nữa”, ông Thành nhấn mạnh.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật và Quản lý Kinh tế TP HCM cũng cho rằng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp VN giờ đây là cạnh tranh tồn vong, một mất một còn trong cơn bão táp ác liệt, chứ không như trong điều kiện phát triển bình thường trước đây. Trong bối cảnh này, kinh tế VN không thể chống suy giảm thành công nếu chỉ bằng những gói giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng đang được triển khai và bằng lòng với những giải pháp đó mà không quan tâm đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ông Trí cho rằng những nhược điểm của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh yếu kém của VN vẫn còn nguyên và chưa được khắc phục. Do vậy, cần có những nhóm giải pháp tổng thể cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngay từ trong giai đoạn hiện nay. Trong đó việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sức cạnh tranh quốc gia của VN phải được cải tiến…

Một chuyên gia cao cấp khác thì nhấn mạnh sự minh bạch của gói kích cầu là vấn đề hết sức quan trọng, vì tất cả các gói kích cầu trên thế giới hiện nay đều có vai trò giám sát của Quốc hội. Đối với hoạt động tín dụng, giám sát bao giờ cũng là công việc khó khăn vì luôn bất đối xứng về thông tin, người vay thường “vẽ” ra các dự án rất đẹp, người cho vay không có nhiều cơ sở để biết người ta vay tiền cho mình để làm gì, hiệu quả ra sao. Kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn vay lưu động sẽ dễ dàng hơn so với cho vay dự án. Do đó, việc giám sát cho vay đối với gói kích cầu thứ hai cần phải hết sức lưu ý.

Gói kích thích kinh tế lần hai được Chính phủ công bố hôm 6/4 nhằm cung cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp, song hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 1/4/ 2009 đến hết ngày 31/12/2011.

Trước đó ngày 23/1, Chính phủ công bố gói kích thích kinh tế lần một với lãi suất hỗ trợ 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí cũng đề xuất một số giải pháp nhằm vào các mục tiêu chủ yếu gồm:

– Có chính sách đầu tư đổi mới công nghệ, hổ trợ doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật, nhất là đối với các dự án công nghệ mới để tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong bối cảnh hiện nay đầu tư đổi mới công nghệ có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.

– Khẩn trương nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua việc đẩy mạnh đào tạo công nhân kỹ thuật, lao động có tay nghề, kỹ sư thực hành, nhân viên quản ly cao cấp, giám đốc điều hành, đáp ứng nhu cầu mới của doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước và ngoài nước và nhu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh mới.

– Cải cách hành chính triệt để, nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải tiến chính sách thuế nhằm góp phần giảm chi phí xã hội, giúp doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

– Về mặt quản lý vĩ mô, Nhà nước cần nâng cao chất lượng điều hành, quản lý, hoạch định chính sách, quyết sách, nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái, suy giảm kinh tế hiện nay có nhiều yếu tố khách quan khó dự đoán chính xác nên càng phải hết sức thận trọng trong dự báo, nhất là những dự báo lạc quan thái quá để tránh những quyết sách vội vàng, thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

– Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, chiến lược sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, chiến lược phát triển trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

– Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, tư vấn, phản biện xã hội đối với điều hành, quản lý vĩ mô, các dự án phát triển kinh tế – xã hội nhằm tránh những quyết sách, quyết định thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội không phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội.

Ngành ngân hàng Thụy Sĩ gặp ‘tai họa’ 03/2009

Filed under: ngân hàng — ktetaichinh @ 2:42 am
Tags:

Những biến cố lớn xảy ra thời gian qua khiến lĩnh vực kinh doanh nhà băng vốn được coi là niềm tự hào của người Thụy Sĩ đang mất dần vị thế trên trường quốc tế.

UBS, ngân hàng lớn nhất Thụy Sĩ đang phải gánh chịu mức thua lỗ kỷ lục trong năm 2008 là 18 tỷ USD. Từ đầu năm tới nay, cổ phiếu của ngân hàng này mất giá tới 67%.

Trụ sở của UBS tại Thụy Sĩ.

UBS một thời được coi là biểu tượng về sức mạnh kinh tế Thụy Sĩ, đang gặp khó khăn chồng chất khi chịu mức thua lỗ đậm nhất tại châu Âu trong khủng hoảng tài chính, buộc Chính phủ và Ngân hàng Trung ương  phải hỗ trợ 59 tỷ USD.

Trong khi đó, Ngân hàng Credit Suisse, một trong những trụ cột tài chính của Thụy Sĩ, cũng bị thua lỗ 1,3 tỷ Franc Thụy Sĩ (1,1 tỷ USD) trong quý III năm 2008. Không muốn nhờ tới sự cứu giúp của Chính phủ, ngân hàng này phải huy động 10 tỷ Franc Thụy Sĩ từ các nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động này làm dấy lên lo ngại rằng quyền kiểm soát các ngân hàng đang dần dịch chuyển về phía các nhà đầu tư ngoại quốc.

Ngành ngân hàng nước này cũng đối diện với một rủi ro lớn khác là hiện nay, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) liên tục gây áp lực đối với “truyền thống bí mật” của các nhà băng. Tháng trước, UBS phải nộp phạt 780 triệu USD và tiết lộ thông tin của khoảng 300 khách hàng cho Chính phủ Mỹ, sau khi bị các nhà chức trách cáo buộc đã giúp khách hàng Mỹ trốn thuế với số tiền 20 tỷ USD. Nếu không chịu nộp phạt và tiết lộ thông tin khách hàng, UBS sẽ đối mặt với khả năng hầu tòa. Vụ việc này thực sự là một đòn giáng vào truyền thống bảo mật của ngành ngân hàng Thụy Sĩ.

Bên cạnh đó, một thực tế khiến các quan chức UBS không kém phần lo lắng là việc khách hàng đang rút dần tiền khỏi két. Dòng vốn chảy ra cộng với sự sụt giảm giá trị của các khoản đầu tư như cổ phiếu và trái phiếu trong năm qua, đã khiến tổng giá trị tài sản của các khách hàng tư nhân mà UBS quản lý tính tới cuối năm 2008 chỉ còn 1.400 tỷ USD, so với mức xấp xỉ 2.000 tỷ USD vào cuối năm 2007.

Ông Charles Wyplosz, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiền tệ và Ngân hàng Quốc tế tại Geneve, nhận xét: “Bối cảnh hiện nay rất nguy hiểm đối với sự thịnh vượng của Thụy Sĩ. Nếu ngành ngân hàng co lại, hậu quả đối với mức sống của người dân nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng”.

về Ngân hàng Thụy Sĩ

( Bình chọn: 1 Thảo luận: 1 Số lần đọc: 2323)

Nói đến đề tài này thì trống ngực tự nhiên đập nghe liên hồi. Ngày xưa, tại Saigon nghe đến Thụy sĩ là người ta nghĩ đến Ngân Hàng mà thôi, chớ đâu có ai nghĩ đến chuyện đi du lịch làm chi ? Còn mở trương mục tại Thụy Sĩ thì là chuyện thần tiên. Có cắc nào đâu mà nói đến ? Nhưng tại Mỹ nầy chuyện mở một trương mục ký thác tại Ngân hàng là chuyện dễ ợt..Ngân Hàng Thụy sĩ làm mình bỗng nhiên muốn mai này nhào ra ngân hàng của mình mà rút ra vài trăm bạc, rồi gởi qua ngân hàng Thụy Sĩ để lấy le chơi.

Nói thì dễ nhưng làm không phải dễ. Hiện nay nhiều tay triệu phú loại multi-millionaire gởi kiểu này, từ Mỹ qua Thụy Sĩ hi vọng trốn thuế.  Họ, tất cả đều khoái gởi tiền qua Thụy Sĩ với trương mục bí mật (secret account) .

Ngân hàng Thụy Sĩ nghe như là một huyền thoại trên trời nào đó, nhưng nó có thiệt và hiện nay vẫn đứng vững như trời trồng, mặc dù đại đa số chính phủ ngoại quốc đều ghét nó hết… vì nó hút hết tiền của dân từ những tay cầm quyền tham nhũng, đến khi tay cầm quyền mới lên thì ngân quỹ hết sạch bách tiền rồi.. Lấy gì mà làm ăn cho dân chúng nó nhờ đây ?.

nhabang-thuysi.jpg

Một buổi chiều cuối thu, gần tan sở trên đại lộ Basel Thụy Sĩ nhiều cao ốc biệt thự, cứ vài bước là có một ngân hàng, cửa đóng im ỉm. Ngoài đường ít người qua lại vì lạnh từ núi cao Thụy Sĩ thổi về. Bầu trời thì xám xịt như pha chì, đường dốc thoai thoải lạng quạng là té như chơi, lòng đường lót toàn bằng đá cuội xanh thẩm đen. Có một ông già, rất già… tướng đi chậm chạp, áo quần tả tơi, vai vác một túi, hình như quần áo cũ, khá nặng. Lần bước lên dốc, thỉnh thoảng, cho chắc ăn không bị theo dõi, ông lão làm bộ đứng thở dốc, ho khù khụ tay vuốt ngực. Rồi ông tiếp tục hướng về một ngân hàng cao và bề thế nhất con đường Basel này. Thành lập trên gần hai trăm năm nay rồi. Tích sản nghe đồn lên đến hơn 400 tỉ đô la. Ông lão bước lên bậc thềm, mặc cho lính gác cổng nhìn hơi khó chịu. Lão chưa kịp mở cửa nặng nề, thì cửa mở với một người gác mặt khó chịu. Ông lão ăn mày ấy nói nho nhỏ điều gì đó vào lỗ tai người giữ cửa…  thì lập tức, có ba người từ góc tường ngân hàng chạy vội đến, gật gật đầu chào mời ông lão ấy vào. Trong nhóm ba người ấy thì người thứ nhất hơi mập và lùn, áo quần rất đẹp, trang trọng vội đưa tay bắt tay ông lão. Nhưng ông lão không thèm đáp lễ. Rồi 4 người theo sát luôn ông lão vào căn phòng lớn nhất, sau khi mở một cánh cửa bằng loại gỗ rất dầy, nặng như gỗ lim vậy, màu cánh cửa đen thẫm so với thời gian, trên trăm năm nay rồi còn gì ? Đó là Ông chủ ngân hàng Volksbank, ông ta vội vàng kéo màn cửa nhìn ra đường, che ánh sáng và ông tắt bớt vài ngọn đèn trong phòng. Tất cả ngồi xuống, giấy tờ ghi ghi chép chép, thêm 6 cô thư ký ngồi đếm một mớ giấy cũ lẫn mới từ trong túi balô của ông lão để trên bàn. Túi khá hôi, vì ông lão vừa mua của một tay ăn mày chính hiệu con nai vàng bên trạm xe lửa tại trạm Paris, rồi ông lão ra bờ sông Seine móc ra nào áo quần, vớ cũ thật hôi của tên ăn mày chánh hiệu con nai ấy mà vứt xuống sông Seine của Paris thơ mộng. Túi hôi rình thiệt, nhưng trong đó chính là một mùi mà mọi người không ngửi thấy đó là…  mùi tiền nó thơm hơn dầu thơm Chanel 5 gấp ngàn lần hơn. Trở lại ngân hàng ấy, trên bàn có hai cái máy electronic loại đếm tiền đô la của Mỹ chạy nghe ào ào, con số đếm lên đến con số triệu dollar rồi, còn một số chứng khoán cũ của ngân hàng Paris nữa, nhiều công khố phiếu lắm, mỗi tấm vài trăm ngàn đôla là chuyện nhỏ. Thành thử ông lão vừa lên dốc vừa ho là phải. Ông lão chỉ sợ mình đóng kịch khéo quá, tướng đi lạng quạng nếu mà té lăn bò càng trên đường thì. Lòi chành hết ráo tiền bạc triệu văng vãi tứ tung. Vả lại có gió thu thổi mạnh nữa đó, thổi bay tiền bạc tứ tung thế là mai có báo Thụy sĩ chạy tít to lớn trên trang chính… thì lộ chuyện tại nước nhà liền…
.
Giờ tan sở đã từ lâu rồi, nhưng mọi người trong phòng không chú ý gì hết. Tất cả đều chú ý đếm tiền. Khi đường đã lên đèn, thì đồng hồ cũ nhà thờ đong đưa 8 tiếng. Tối rồi, phố xá lên đèn và hơi sương trên núi đồi Thụy sĩ lần lần phà xuống phố. Ông lão mới rời ngân hàng thuộc loại xưa nhất Thụy Sĩ này. Ông quẹo vội vàng ba bốn góc đường, thì đã có một chiếc xe Mercedes đen loại SEL 600 đang nằm im chờ ông từ lúc nào rồi. Ông mỉm cười khoái trá, óc ráng nhớ câu thần chú bí mật Tư Râu Bạc và con số 353570. Vì số 35 là số của ông Thầy. Thầy Dê xồm đó, còn con số 70 là 2 con dê cộng lại. Thật là tuyệt diệu. Làm sao mà ai mò ra ám hiệu thần chú này được? Vả lại ngày gởi là ngày mình kỷ niệm ngày cưới vợ cho con. Còn con số gởi trong ngân hàng là 35 triệu lần trước và lần này cũng đúng 35 triệu nữa. Vị chi là 70 triệu. Thôi trở về thực tế đi. Chuyện gởi tiền vào bank Thụy Sĩ không phải như tôi vừa kể đâu. Make-up story cho vui cửa vui nhà đấy mà.

Ngân hàng Thụy Sĩ/ Swiss Bank tại Switzerland, rất kỵ chuyện tình tiết loại gián điệp James Bond 007. Bạn mà làm bộ đóng vai ông già ăn mày, vai ôm túi bạc mà vào ngân hàng gởi kiểu này… thì lạng quạng bị Security gần đấy, bẻ tay rồi nhốt vào bót trước cái đã rồi tính sau. Họ, Swiss Banks, thuộc vào loại võ lâm cao thủ về tiền mà. Lúc họ còn giữ tiền thiên hạ thì lúc đó Mỹ đang đánh giặc với tụi da đỏ bên miền Viễn Tây kia mà. Lúc họ đang cầm vận mạng Âu Châu, thì lúc đó anh cao bồi Mỹ đang bị. mọi Apache rượt thiếu điều.sút quần Jeans kia mà. Ta gọi là quần bò đấy. Thành thử mấy ngân hàng loại Citicorp hay Bank of America là loại. con nít, hỉ mũi chưa sạch. Tuổi tác đâu được bao nhiêu mà kể.

Tại Hoa Kỳ từ dân tới tổng thống Mỹ đều ớn tụi IRS ( Sở Thuế Vụ )… . thì họ, nhóm ngân hàng Thụy Sĩ đã cho tụi IRS vào chung danh sách Bad Guys cùng chung với tụi Gestapo của Hitler hay K.G.B. của Nga hay Phòng Nhì Bureau của Pháp thì đủ biết công lực họ thâm hậu đến chừng nào. Ngày xưa biết bao nhiêu anh chàng K.G.B hay Gestapo vào ngân hàng Thụy Sĩ gỡ cửa hỏi ông chủ nhà băng một vài câu chuyện tiền bạc của ông bá tước này hay ông nhân sĩ nọ. Tất cả đều vào ấp Thụy Sĩ mà gỡ lịch Thụy Sĩ hết ráo. Vì luật pháp Thụy Sĩ bắt bỏ bót mà không cần đưa ra Tòa chi cho nó mệt, những tay nào vào ngân hàng Thụy Sĩ nói trật ám hiệu bùa chú của. người khác. Nằm ấp như chơi. Luật Thụy sĩ như vậy đó. Còn ấp hay khám của Thụy Sĩ rất đúng giờ, như đồng hồ Thụy Sĩ vậy. Không có màn ân xá hay giảm khinh gì hết. Chỉ có việc ăn xong rồi tay ngó đồng hồ Omega hay Longine cho chắc ăn là đủ rồi.


Trở lại đề:
Ngân hàng Thụy Sĩ cống hiến rất nhiều loại trương mục cho thân chủ. Nơi đây là tiền. Tiền và Tiền viết chữ Hoa. Thân chủ chọn kiểu nào cũng có. Y như Las Vegas bên Mỹ vậy, thân chủ muốn chơi cờ bạc loại gì cũng có. Ðụng đến là tiền vô ào ào, nhưng ào ào bên chủ tiệm.

Nhưng nổi tiếng nhất thế giới của Ngân Hàng Thụy Sĩ là trương mục bí mật (secret numbered account). Loại trương mục này đã làm vang danh thiên hạ hàng trăm năm nay. Chắc chắn như thiên la địa võng của Trời vậy. Bất chấp những tay sư phụ xâm nhập vào mà phá lưới. Biết bao nhiêu thư tình của những sở thuế bên xứ lạ gửi đến, có đóng dấu quốc gia đàng hoàng gửi đến, rồi tất cả đều bị vứt vào thùng rác ngân hàng Thụy Sĩ. Họa hoằn lắm họ lịch sự gửi trả lại. Sorry ! No such name in here (Cáo lỗi, chúng tôi không có tên này trong ngân hàng). Dưới góc thơ của ngân hàng Thụy Sĩ có in dấu nổi cái Búa và cái Ðục. Ngụ ý là bạn cứ việc vác Búa và cái Ðục vào tiệm chúng tôi mà tìm.

Luật hiện hành của ngân hàng Thụy Sĩ là đòi hỏi sự riêng tư tuyệt đối cho thân chủ.
Ở đây không có tính tiền thuế cho trương mục đầu tư từ những tiền tệ ngoại quốc. Tiền tệ ngoại quốc được thông dụng và chấp nhận tại ngân hàng Thụy Sĩ là: Dollars USD,  Yen của Nhật, và British Pound Sterling của Anh quốc,
đồng tiền Mark (DM) của Ðức, nay là tiền Europe rồi. Tiền Maroc hay tiền Iraq đều phải đổi ra tiền thông dụng nói trên trước hết cái đã rồi mới tính sau.

Những ngân hàng lớn tại Thụy Sĩ hầu như đều có đủ nhân viên phục vụ biết nói tiếng ngôn ngữ của bạn. Bạn là người Tàu thì họ có người biết nói tiếng Quan Thoại hay tiếng Quảng Đông cho bạn liền lập tức. Dường như chỉ trừ tiếng da đỏ là họ chịu thua mà thôi. Hình như tiếng da đỏ này tụi Mỹ có xài cho ban truyền tin trong kỳ Ðệ Nhị Thế Chiến làm cho Ðức quốc Xã kẹt đạn rất nhiều. Vì tiếng Da đỏ không có trường dạy học mà cũng không có chữ viết luôn. Muốn biết tiếng đó thì chỉ có nước mà. ở trần múa bên đống lửa với tụi da đỏ chừng vài chục năm là hiểu liền.

Ngân hàng Thụy Sĩ dành riêng một loại ám số cho những người ngoại quốc có tiền gửi ngân hàng. Ám số này khác với ám số của những cư dân tại Thụy Sĩ. Vì được pháp luật bảo vệ chặt chẽ cho người gửi tiền, nên rất ít nhân viên cao cấp ngân hàng biết rõ danh tính người gửi tiền. Có thể ngân hàng có trên dưới hàng trăm nhân viên phục vụ tại ngân hàng, nhưng những người thẩm quyền cấp ám số và biết danh tích khách hàng có thể chừng vài ba người mà thôi. Và danh tánh người gửi sẽ không được hiện rõ, hay xuất hiện trên màn ảnh computer ngân hàng. Những danh sách được bảo vệ vô cùng cẩn thận tại những tủ sắt khóa rất kỹ những danh tính khách hàng. Nhân viên thẩm quyền ngân hàng chỉ có thể biết số mật mã và cho khách hàng biết số tiền tồn động ký thác tại ngân hàng bao nhiêu. Ðó là do thân chủ cung cấp sau khi được kiểm soát qua nhiều lần số mật mã.

Mở  Trương Mục Tại Ngân Hàng Thụy Sĩ (Opening an Account at Swiss Bank)

Có trên khoảng 1300 ngân hàng tại Thụy Sĩ hiện nay. Có nhiều ngân hàng rất lâu đời trên dưới 300 năm là thường. Có ngân hàng tích sản trên dưới 200 tỉ dollars USD cũng là thường. Cũng có trên dưới vài chục ngân hàng lớn ngoại quốc tại Thụy Sĩ, hoặc ngân hàng Thụy Sĩ có những phần hùn của F.B.I nữa không chừng. Lạng quạng gởi tiền vào những ngân hàng này thì đừng có ngạc nhiên la làng tại sao tụi thuế vụ IRS Mỹ biết rành từng con số nhỏ lẻ tẻ của bạn.

Tại Thụy Sĩ có ba ngân hàng lớn của Thụy Sĩ như: Swiss Bank Corporation, kế đó là Credit Suisse và chót là Swiss Volksbank. Những mùa tấp nập khách hàng nhất là những mùa nghỉ hè, tại Zurich thân chủ có thể được dẫn giải rất lễ độ của nhân viên ngân hàng đủ loại tiếng thông dụng nhất thế giới. Nên nhớ rõ ràng Liên Hiệp quốc đầu tiên xuất hiện tại Thụy Sĩ tức gọi là Hội Quốc Liên. Còn một điều lạ lùng là những xứ trên thế giới ai ai cũng nô nức muốn xứ mình trở thành một hội viên của Liên Hiệp Quốc để cho nó oai với xứ láng giềng, còn trái lại Thụy Sĩ là một xứ không là hội viên trong Liên Hiệp Quốc. Nay thì họ dở chứng kỳ cục là xin gia nhập Liên hiệp Quốc rồi.

Có khoảng trên 150 ngân hàng Thụy Sĩ do chính phủ làm chủ và nhận tiền gửi của khách hàng, để đầu tư investment, họ chia lời rất trọng hậu cho khách hàng.

Tại Mỹ cũng có chi nhánh của ngân hàng Thụy Sĩ, dĩ nhiên người khách phải chịu luật lệ của chủ nhà. Bạn mà gởi tiền vào ngân hàng Thụy Sĩ có chi nhánh tại Los Angeles, California Hoakỳ thì tốt hơn nên gởi tại sòng bạc Las Vegas là ấm tâm hồn, tối ngủ không sợ thuế vụ IRS hỏi thăm. Muốn gởi ngân hàng Thụy Sĩ thì tốt hơn nên bắt chước bác “Tư Râu Bạc” đi bộ đến ngân hàng tại Thụy Sĩ, mà nên nhớ cũng đừng gửi lầm ngân hàng nào mà có phần hùn hạp của Mỹ. Biết bao nhiêu anh hùng xa lộ tỉ phú, bán bột gạo trắng lời đến hàng trăm triệu dollars, gởi vào một ngân hàng tại Thụy Sĩ với một trương mục bí mật. Năm trước được chia lời hậu hĩnh, năm sau thì nằm ấp gỡ hàng chục cuốn lịch tại New York mà không hiểu vì sao tôi buồn, vì sao tôi buồn. Buồn vì gửi tiền lậu nhầm vào Sở Cảnh Sát Hoa Kỳ rồi. Ngày xưa, lúc còn Vua T… có một vụ làm động trời tại Hoàng Cung … là Hoàng hậu gửi tiền vào Ngân Hàng Thụy Sĩ… không dè gửi lầm vào ngân hàng trá hình nào đó… bị Họ lấy mất đến 6 triệu đôla một cách dễ dàng… tức gần chết mà Vua dám hó hé cho dân biết đâu ?

Có hai cách gửi tiền tại Thụy Sĩ. Cách đầu tiên là gửi thư xin hẹn, cách thứ nhì là cứ việc đường đường chính chính mở cửa ngân hàng và nói thẳng với nhân viên ngân hàng. Bạn có thể gửi viễn liên thẳng từ xứ bạn đến Thụy Sĩ mà xin cái hẹn tùy theo thuận lợi của bạn. Ngân hàng Thụy Sĩ đất nhỏ và rất nhiều so với Mỹ, nhưng tại Mỹ, bạn gửi tiền tại ngân hàng Mỹ không nghĩa là bạn giàu có đâu, mà gửi vào dùng để trả tiền nhà tiền điện. Biết bao nhiêu vị mày râu Mễ gửi trả tiền điện thoại hay tiền nhà bằng cash và rồi sau đó học khôn phải đứng xếp hàng tại ngân hàng Mỹ mà gởi tiền và. ký check.

Và khi gởi tiền tại ngân hàng Thụy Sĩ thì cũng đừng hỏi vụ thuế má ra làm sao, vụ này họ không biết, vào đây không phải chuyện nói về Tax Thuế với họ.

Nhưng thật sự nếu bạn là người quá nổi tiếng trên thế giới về Xã hội Ðen, thì thường thường ngân hàng Thụy Sĩ rất dễ dàng từ chối bạn. Mặc dù họ biết bạn gởi tiền vài trăm triệu dollars tại ngân hàng của họ ngày mai, để rồi cuối tuần bị. phơi xác ở góc đường New York Manhattan nào đó. Thì dĩ nhiên tiền đó thuộc về họ là cái chắc. Nhưng thật sự nếu như vậy, thì ngân hàng Thụy Sĩ đa số đều lắc đầu từ chối khéo và khuyên bạn nên chọn ngân hàng khác. Bạn đến ngân hàng khác tại Thụy Sĩ, nếu thấy ngân hàng đó rất ư là niềm nở quá mức tưởng tượng thì chắc chắn ngân hàng đó của tụi F.B.I/I.R.S có phần hùn lớn là cái chắc rồi. Tụi nó đang giương bẫy mà chộp bạn đó. Để rồi khi về lại New York thì cũng đừng có ngạc nhiên để mà nhảy cửa sổ khi thấy… tụi cảnh sát đến gỡ cửa apartment của bạn. Nhảy không kịp đâu, vì họ đã bủa lưới kỹ lắm rồi.

Những trương mục bí mật gửi tiền và số tiền lời hậu hĩnh qua phần đầu tư investment của ngân hàng Thụy Sĩ đa số đều đổi tiền gởi tối thiểu là $50 ngàn dollars USD. Còn ngân hàng nhỏ tối thiểu là $10 ngàn đô Mỹ.

Những nhân viên Ngân Hàng Thụy Sĩ họ biết rất có ít người công dân Mỹ mà đem gởi tiền 10 ngàn đô là Mỹ lắm. Vì đem khỏi xứ Mỹ 10 ngàn đô là chuyện khá giỏi, Vì muốn đem 10 ngàn đô bạn mà quên điền giấy tờ tại sân bay Mỹ thì lúc trở về bị nằm ấp thì đừng có la.

Hiện giờ tại Mỹ, những tiền xê dịch (transaction) mà lên đến $9995 đô Mỹ đều được bị bật đèn đỏ báo động cho IRS nhân viên tại ngân hàng mà bạn có tên đăng ký. Luật Hoakỳ bắt buộc như vậy. Họ sợ vụ “rửa tiền“ lắm. Vụ rửa tiền họ gọi nôm na là “ money laundery “… nằm ấp như chơi.

Còn nếu đem tiền đô đến Pháp, rồi từ Pháp vào biên giới Thụy Sĩ thì tất cả hành khách đều bị quan thuế Pháp khám xét tận tâm lắm. Nam khám nam, nữ khám nữ. Nếu bạn mang tiền đô trị giá tương đương đến $5 ngàn Franc Pháp thì dễ dàng nằm ấp lắm và gặm bánh mì ba gét loại dài cả thước tây với phô mai đầu bò. Luật Pháp cấm như vậy. Nay là tiền Euro còn khó hơn.

Nhưng còn ngõ trống tiện lợi vô cùng là ngỡ Belgium, tại biên giới Belgium hầu như không thấy nhân viên quan thuế trên xe lửa mà khám xét hành khách có đem nhiều tiền gởi vào Thụy Sĩ hay không.

Thật sự hiện nay có 3 xứ mà mang tiền ra vào không bị hạn chế khám xét là: Anh quốc, Hòa Lan và Ðức.

Vì tiền Thụy Sĩ nổi tiếng trên thế giới là một trong những đồng tiền mạnh nhất thế giới và ít bị lạm phát nhất trên thế giới từ hàng trăm năm nay. Nên vấn đề gửi tiền đều được chia lời rất hậu hĩnh và rất sòng phẳng với khách hàng.

RÚT TIỀN RA RẤT DỄ DÀNG

Nhưng cũng có vài điều lệ, nếu tiền rút ra trên $25 ngàn Swiss Franc thì trong vòng 30 ngày gởi vô rút ra rất dễ dàng. Không như ngân hàng Mỹ đâu. Sáng bạn gởi $10 ngàn và chiều buồn buồn nhớ Las Vegas rút ra $9 ngàn chơi thì bạn nên đợi thêm vài hôm để ngân hàng Mỹ gọi bạn đến trả. Gởi trên $25 ngàn Swiss Franc thì nên đợi 90 ngày mới rút được tiền. Tiền trên $25 ngàn đều chịu lệ phí tổn là 3%.

ÐIỀU KHÓ

Khi bạn gởi tiền vào ngân hàng Thụy Sĩ thì bắt buộc họ phải hỏi bạn địa chỉ để mà thông báo sổ sách hàng 3 tháng một lần hay 1 năm một lần. Chẳng lẽ bạn để địa chỉ là chợ Bến Thành Sài Gòn? Còn nếu gởi về tận nhà bạn thì tốt hơn kêu họ gởi thẳng vào địa chỉ police sướng hơn.

Từ năm 1968 đến 1971  IRS đã rõ danh tính trên 50 ngàn tay trốn thuế bằng cách gửi vào ngân hàng Thụy Sĩ. Vì  Bad Guys IRS có dặn bưu điện Mỹ khi nào có thư tình gửi từ ngân hàng Thụy Sĩ cho bất kỳ ai tại Mỹ thì phải gửi cho họ đọc trước cái đã rồi tính sau. Và 50 ngàn tay đó đều lần lượt được mời lên văn phòng IRS nói chuyện thăm nom nhan sắc tái xanh của họ.

Thường gửi tiền vào Thụy Sĩ thì nhân viên ngân hàng thường đòi hỏi bạn có người nào thân nhất hay người nào thừa kế khi lỡ thình lình bạn lên Thiên Ðàng đột ngột không lời từ giã bạn bè. Thì người thừa kế với đầy đủ giấy tờ hợp pháp thứ thiệt của chính quyền có quyền đem trọn gói về nhà không mất một xu . Mặc dầu người thừa kế đó không biết câu bùa chú của bạn để lại như “Tư Râu Bạc” và “353570”

NHỮNG NGÂN HÀNG NỔI TIẾNG KÍN ĐÁO NHẤT TẠI THỤY SĨ

Swiss bank Corp. tích sản $160 tỉ USD
Paradeplatz 6
8021 Zurich, Switzerland
Tel (01) 223 – 1111
Swiss Bank Corp
Aeschenplatz 6
4002 Basel, Switzerland
Tel (061) 207 – 020

Credit Suisse.tích sản 95 tỉ USD
Pradeplatz 8 (CH 8001)
8021 Zurich, Switzerland
Tel (01) 215 – 1111

Union Bank of Switzerland.tích sản 215 tỉ USD
45 Bahnhoftstrasse
8021 Zurich, Switzerland
Tel (01) 234 – 1111

Banque Contonale de Berne.tích sản 14 tỉ USD
Spiegelgasse 2
4051 Basel, Switzerland
Tel (031) 222 – 701

Swiss Volksbank.tích sản 70 tỉ USD
3001 Bern, Switzerland
Tel (031) 66 – 6011

Hypotheken and Handelsbank
8401 Winterthur, Switzerland
Tel (062) 238 – 021

ÐỊA LÝ THỤY SĨ

Thụy Sĩ đúng là xứ nằm ngay giữa Châu Âu. Cao nhất. Núi bọc khắp nơi. Bắc giáp Ðức, Tây giáp Áo (Austria) và Ðông giáp Pháp. Hai con sông lớn phát nguồn từ rặng núi Alps là sông Rhine qua Holland, rồi qua Ðức và ra biển Bắc (North Sea). Sông xuống tạo ra hồ Geneva (Nơi xưa ký hiệp định Geneve chia Nam Bắc) đó là sông Rhone, nhập chung dòng sông Saone của Pháp.

Hồ Geneva nổi tiếng vì nó chia phần của Pháp và của Thụy Sĩ.
Diện tích: 15943 square miles, kể luôn 523 square miles của những hồ.
Dân số: Ðộ 7 triệu người. Hơn 70% dân số nói tiếng Ðức. 20% dân nói tiếng Pháp. Còn 5% dân nói tiếng Ý Ðại Lợi.
Thủ đô: Bern. Ngoài ra những thành phố nổi tiếng hơn là Zurich, Basel, Geneva và Lausanne.

Tôn giáo:

Ða số là đạo Công giáo, và đạo Tin Lành
Tiền Tệ: US $1 = 1.35 Swiss francs
Kỹ nghệ: chính là đồng hồ, kim loại và nhất là ngành ngân hàng rất nổi tiếng đứng đắn trên thế giới. Ngoài ra nổi tiếng là chocolate sữa kẹo.
Thụy Sĩ gồm 23 Cantons (tương tự tiểu bang của Mỹ vậy). Nhưng rất độc lập hơn Mỹ.

Thời tiết:

Mùa hè mát và nhiều nắng mặt trời. Mùa đông thì âm u lạnh lẽo, gió thổi rất mạnh từ những ngọn núi cao 15000 feet (4600 met) ngọn Monte Rosa, gần xứ Ý Ðại Lợi.

Ngoài ra với những bạn chưa có trương mục tại Thụy Sĩ, và cũng không muốn đến thăm xứ Thụy Sĩ làm gì cho lạnh lẽo. thì xứ Thụy Sĩ chắc bạn chưa quên chuyện gia đình Swiss Robinson trên hoang đảo năm nào. Còn đại đa số dân chúng Thụy Sĩ rất nhàn hạ. Họ có thể ngồi ngó ly cà phê nhỏ giọt tại quán cà phê hàng năm sáu tiếng đồng hồ mà không chịu đi chỗ khác chơi. Và nổi danh môn chơi thiên hạ là ném Boule. Ðó là những cục sắt nặng tròn, rớt một cái là dập chân liền.

bandothuysi01.jpg

bandothuysi02.jpg

Thụy Sĩ gồm 23 Cantons (tương tự tiểu bang của Mỹ vậy). Nhưng rất độc lập hơn Mỹ

bandoauchau.jpg

Bản đồ Âu Châu. Thụy sĩ nằm giữa Pháp, Đức, Áo và Ý
Theo Vietsciences-Sagant Phan

An Update on Swiss Banking

Jacob Stein Esq.
March 31, 2009

Last week I travelled to Zurich to meet with several Swiss private banks.  We do a lot of business with Swiss banks, and the past few months have brought about many changes.

All of the recent changes in the Swiss banking regime are due to the scandal at UBS and the economic downturn.

UBS has forced the United States Treasury to step up its pressure on the Swiss banks to disclose information on US clients who have Swiss bank accounts.  The Swiss government has already bowed down to the pressure from the United States and has agreed that the Swiss banks will cooperate with US tax investigations.  This means that at least in some respects the vaunted Swiss bank privacy is gone.

The recent economic downturn has put pressure on many countries to seek new revenue sources.  The EU is now also exerting pressure on Swiss banks to cooperate with their tax investigations.  The so-called Judgment Day will take place on April 2, when EU holds a meeting on what to do with Swiss banking.

The conduct of the US and EU tax authorities is understandable.  They are entrusted to collect revenues, and if taxpayers use Swiss banking privacy laws to evade the payment of taxes, the Swiss should cooperate.  What I find appalling is the conduct of the Swiss government, which completely caved to the pressure.  Banking is a huge part of the Swiss economy.  The vast majority of Swiss bank accounts are not owned by tax cheats.  By significantly reducing the privacy of these accounts, the Swiss government has effectively cut the branch it is sitting on.  Stupid and shameful.

These new changes have a limited impact on our clients who seek Swiss bank accounts for asset protection purposes.

All Swiss banks who do business with US clients will require a W-9.  Our clients fully report their foreign bank accounts to the US tax authorities and this new requirement does not worry us.

The bigger worry is that many Swiss private banks are now getting out of the US market.  Many banks are actively kicking out their US clients, and it is getting more and more difficult to find Swiss banks willing to do business with US investors.

Fortunately, on my latest trip I was able to get assurances from our existing banking contacts that they will continue to do business with us and was able to secure several new relationships.

The most interesting new relationship comes from a Cantonal bank.  Depositors holding cash or equities with a Cantonal bank are granted an unlimited deposit guaranty by the Canton that owns the bank.  No more worries about FDIC insurance limits.

For more information on Swiss banking, log on to www.maximumassetprotection.com.

April 4, 2009

Thâm hụt ngân sách và gánh nặng tăng trưởng 040309

Dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu

Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đang chuẩn bị phương án bội chi ngân sách tăng lên 8% GDP để trình ra kỳ họp quốc hội vào tháng 5 tới, thay vì mức gần 5% được chấp nhận trước đây.

“Việt Nam khó có lựa chọn khác với các quốc gia trên thế giới, khi các chính phủ buộc phải tăng bội chi ngân sách nhằm chống suy thoái,” giám đốc quốc gia ADB Ayumi Konishi bình luận.

Mức bội chi này, nếu được Quốc hội thông qua, sẽ lần đầu tiên vượt qua số chi cho đầu tư phát triển ở mức 112,8 ngàn tỉ đồng trong năm nay. Tuy vậy, mức bội chi lên đến 8% GDP đang mang lại những quan ngại sâu sắc về ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn. Mức bội chi này sẽ tương đương với 144,8 ngàn tỉ đồng (khoảng 8,5 tỉ USD, với tỷ giá là 17.000 VND/USD), căn cứ trên mức bội chi đã được Quốc hội thông qua là 87,3 ngàn tỉ đồng (khoảng 5,1 tỉ USD) tương ứng với 4,82% GDP.

Như vậy, mức thâm hụt này là trầm trọng nhất trong vòng nhiều năm qua, so với các mức thâm hụt 66,2 ngàn tỉ đồng (năm 2008), 56,5 ngàn tỉ đồng (năm 2007), 48,5 ngàn tỉ đồng (năm 2006) và 40,7 ngàn tỉ đồng (năm 2005), theo các bộ Tài chính và Kế hoạch và đầu tư (xem biểu đồ).

Những thống kê trên cho thấy, thâm hụt ngân sách của năm 2009 sẽ vượt quá mức thâm hụt trung bình 5% GDP hàng năm, từ đầu thời kỳ kế hoạch 5 năm đến nay. “Đây là một tỷ lệ quá cao, dẫn đến rủi ro lớn về khả năng trả nợ trong tương lai”, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư thừa nhận.

Câu hỏi đặt ra là, vì sao phải đưa mức bội chi lên đến 8% GDP cho năm nay, và liệu nó có quá đi so với khả năng chịu đựng của nền kinh tế? “Chúng tôi thấy rằng, nếu trường hợp ta giảm chi, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là chính sách an sinh xã hội”, thứ trưởng bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp nói trên Thời báo Kinh tế Việt Nam.

Giải thích này xuất phát từ quan ngại nguồn thu ngân sách sẽ co lại do suy giảm từ các nguồn dầu thô (vốn chiếm tới 25% thu ngân sách), giãn thu thuế thu nhập cá nhân, giãn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% thuế VAT… Mức suy giảm của các nguồn này, theo bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh tại phiên họp giao ban của Chính phủ, sẽ vào khoảng 12.000 tỉ đồng. Điều này có nghĩa là, tổng thu cân đối ngân sách năm nay dự kiến sẽ còn 377,9 ngàn tỉ đồng, thay vì 389,9 ngàn tỉ đồng như cam kết với Quốc hội trước đây; và sẽ thấp hơn nhiều so với dự toán chi 491,3 ngàn tỉ đồng cho năm 2009.

Lý giải việc thâm hụt ngân sách luôn tăng cao, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư nói, “dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu”.

Thông thường, thâm hụt ngân sách được tài trợ bởi các nguồn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ. Trong động thái ủng hộ đề xuất tăng bội chi ngân sách của Chính phủ, Quốc hội dự kiến cho phép phát hành trái phiếu Chính phủ năm nay lên đến 64 ngàn tỉ đồng trong kỳ họp tháng 5 tới, tăng gần gấp đôi so với kế hoạch 36 ngàn tỉ đồng thông qua cuối năm ngoái.

Những bước đi này khiến các nhà tài trợ chính của Việt Nam e ngại. “Bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn vốn trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền, hoặc hạn chế đầu tư tư nhân, hoặc cả hai điều này; và trong trung hạn, có thể làm tăng lạm phát và gây cản trở đối với tăng trưởng”, ông Konishi, giám đốc ADB tại Việt Nam nói.

ADB cho rằng, thâm hụt ngân sách của Việt Nam, thậm chí lên tới 9,8% GDP (gần 9,3 tỉ USD) trong năm 2009. Ông Konishi cảnh báo, chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng, và nợ công tăng thêm (dự kiến 45,8% GDP năm 2009),… có thể lại khiến tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn trở lại.

Trong khi đó, ngân hàng Thế giới tỏ ra hoài nghi về chính sách tài khoá, vốn sẽ vẫn là công cụ chính sách vĩ mô quan trọng của Việt Nam. “Chính sách tài khoá hiệu quả đòi hỏi phải có nguồn thông tin đáng tin cậy về thu và chi của Chính phủ và kiểm soát tốt các dự án đầu tư công. Việt Nam còn nhiều thiếu sót về cả ba mặt này. Tính toán cân đối ngân sách của Việt Nam còn khác xa so với các chuẩn mực quốc tế”, chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới Martin Rama nhận xét trong báo cáo phát triển Việt Nam năm 2009.

Ông viết tiếp: “Việc trả nợ, duy trì tài khoản ngoại bảng và xử lý các khoản thu kết chuyển làm sai lệch tình hình ngân sách của Chính phủ. Thông tin đặc biệt yếu về các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách… Chính phủ cần chấm dứt, hoặc tạm dừng một cách có hệ thống các dự án mục tiêu không rõ ràng, thiếu vốn, hay có kết quả hoạt động kém”.

Hanoi’s Capital Games 020409- Currency devaluation is never a good idea, even if – especially if – the IMF tells you to do it.

Filed under: kinh tế,ngân hàng — ktetaichinh @ 12:52 am
Tags: ,

The usual currency complaint these days is that the U.S. dollar isn’t offering a sure enough anchor in stormy seas. The worst thing a developing economy can do is create even greater currency uncertainty. Yet that’s just what Vietnam is opting for now.

The State Bank of Vietnam announced last week that it will allow the dong to trade within a band of plus or minus 5% of the target dollar exchange rate, broader than the previous plus or minus 3%. The aim is to “facilitate the exchange rate to move more flexibly and fairly reflect the foreign exchange supply and demand,” the bank said in a statement.

But investment in Vietnam is declining, courtesy of the global financial crisis, and everyone expects even more depreciation. With those forces pushing the dong as low as traders can get away with, every widening of the band amounts to a depreciation. Since December 2007, Hanoi has widened the trading band five times. Each time the dong has quickly settled lower. This comes on top of a total 5% devaluation in the official mid-point rate the State Bank sets. All told, the dong has dropped 10% versus the dollar since January last year.

That may not seem like much, given events elsewhere in Asia. The Korean won has fallen 30% against the dollar in the same period. After a mid-year rally, the Taiwan dollar has fallen 11% from its peak. But depreciation has serious and often unintended side effects, which are felt most severely in small, relatively poor, developing economies. One immediate concern is inflation. Vietnam is just starting to right itself after inflation peaked at 28% last year. The latest CPI hit 11.25% for March, not as bad as last year but not good either. While some inflation can be healthy for a developing economy, artificially pumping up the dong price of goods via devaluation is the wrong way to do it.

Devaluation also risks undermining Vietnam’s nascent financial sector. Between one-fifth and one-quarter of bank loans in Vietnam are denominated in dollars; the central bank itself just issued $230 million in one-, two- and three-year dollar-denominated bonds. Continued devaluation makes those loans harder to repay for companies doing business in dong, or for a government that receives dong tax payments.

The same economic theories that sparked the Asian financial crisis of 1997-98 are once again in play. In a January report, the Harvard-backed Fulbright Economics Teaching Program based in Ho Chi Minh City argued the dong “is too strong relative to the currencies of Vietnam’s trading partners.” Because this strength makes imports cheaper and exports less profitable, “Vietnam cannot allow the real value of the [dong] to rise too high.” As for the International Monetary Fund, country representative Benedict Bingham told us in an email last week, “We have supported [Vietnam’s] move over the past 12-15 months . . . towards greater exchange rate flexibility.” He adds that this should happen “carefully” and “in the context of a sound macroeconomic policy framework.”

But this ignores the crucial role a stable exchange rate plays in encouraging investment, not to mention allowing businesses to plan and ultimately boosting growth and consumption. Currency stability will also make it possible for Vietnamese to increase their own consumption over time, a policy goal an inflationary depreciation risks thwarting.

If Hanoi wants to tinker with its economy, policy makers would be better off looking at real reforms such as further regulatory liberalization and privatization of state-owned companies. Devaluation, gradual or otherwise, isn’t the cure to what ails Vietnam.

Next Page »

Blog at WordPress.com.