Ktetaichinh’s Blog

May 16, 2009

051609

Filed under: kinh tế,thông tin — ktetaichinh @ 8:08 pm
Tags: ,

Dư nợ tín dụng tăng mạnh: Mừng hay lo?- 051109
Tình hình kinh tế 2009: Thu ít, chi nhiều, GDP khó dự đoán- Phap Luat- 051309

Phong van GS Krugman- Nguyen Van Phu- 051309


Advertisements

May 2, 2009

BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2008- 050109

Báo cáo “Kinh tế Việt Nam 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị và trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (CEPR) thuộc đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện. Báo cáo nhận định suy giảm và bất ổn của kinh tế của Việt Nam trong năm 2008 là do những bất cập của chính sách quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế, khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới đóng vai trò đẩy sâu thêm quá trình này. Nội công, ngoại kích, thách thức đổi mới lớn hơn bao giờ hết. Trong lúc bị động chờ khủng hoảng thế giới đi qua, cần chủ động điều trị “nội thương” để giảm tổn thất và chuẩn bị cho sự phục hồi

Kinh tế 2008 suy giảm: vì sao?

Những nhà nghiên cứu trẻ, khảo sát tình hình kinh tế năm 2008 của Việt Nam, nhìn thấy quá trình suy giảm từ trong những bất cập về quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế. Diễn biến khủng hoảng kinh tế của thế giới chỉ đẩy sâu quá trình suy giảm ấy

Với vai trò chủ biên báo cáo này, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nhận xét: “Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”. Ông dẫn chứng: Vào đầu quý 4/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới tràn tới chúng ta thông qua sự thoái vốn đầu tư nước ngoài và sụt giảm cầu xuất khẩu. Nhưng từ trước đó, chúng ta đã gặp phải những khó khăn cơ bản như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai cao, tỷ giá dao động khó lường và doanh nghiệp điêu đứng vì thắt chặt tiền tệ.

Những bất ổn vĩ mô

Những khó khăn ấy, theo TS. Phạm Thế Anh là do những nguyên nhân trong nước. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền quá cao sau nhiều năm đã khiến cho tổng phương tiện thanh toán M2 vượt giá trị GDP danh nghĩa từ sau năm 2006, còn M1 xấp xỉ giá trị GDP danh nghĩa trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ vượt xa tốc độ tăng GDP thực tế trong một thời gian dài khiến lạm phát bùng nổ là điều không thể tránh khỏi.

Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được TS Thế Anh nhận định là chậm trễ, thiếu linh hoạt, và thiếu nhất quán trong phản ứng. Những lúng túng đầu năm trong việc lựa chọn giữa mục tiêu bình ổn giá cả với thúc đẩy tăng trưởng và ổn định tỷ giá khiến cho các hành động chính sách trở nên bất nhất. Điều này một mặt làm cho việc kiềm chế lạm phát không đạt hiệu quả, mặt khác gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại. Vào cuối năm, các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ lại quá cứng và thắt chặt quá mức, cùng với sự cộng hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đã khiến cho nền kinh tế càng thêm khó khăn. Các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ xa rời và không có vai trò dẫn dắt thị trường.

Đến lượt mình, những bất ổn vĩ mô tích tụ trong nội tại nền kinh tế bùng phát từ quý 4/2007 đã tác động tiêu cực lên thị trường chứng khóan, cuốn đi nhiều thành tựu trước đó của thị trường này trước đó. Sự giảm nhiệt của nền kinh tế nói chung đã làm thị trường suy giảm theo một khuynh hướng khó lòng đảo ngược. TS Nguyễn Đức Thành cũng chỉ ra rằng kỳ vọng của nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong diễn biến của thị trường và vì vậy, sự đi xuống của thị trường từ giữa năm 2008 đến nay là có thể hiểu được. Theo ông, những điều kiện thực tiễn và chính sách vĩ mô có khả năng thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ là tác nhân tiên quyết cho sự phục hồi của thị trường trong thời gian tới. Kết quả tính toán cho phép xác định giá trị của VN–index tương ứng cho từng kịch bản bi quan, lạc quan. Thật đáng lo khi kết quả ước lượng mức dao động của VN–index trong năm 2009 (tương đương từ quý 2/2009 đến hết quý 1/2010) nằm trong khoảng 260 điểm tới 540 điểm.

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008 nói trên, dưới góc nhìn “tiết kiệm và đầu tư”, TS Phạm Văn Hà phát hiện rằng nếu như năm 1997 chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,77% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%), chúng ta phải đầu tư tới 43,13% GDP. “Chúng ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi phải chăng vốn đầu tư tăng liên tục trong mười năm qua đã có đủ hiệu quả như năm 1997”, ông Hà nói. Và, quan trọng hơn, là phải tìm ra được câu trả lời vì sao.

Và cơ cấu nền kinh tế

Câu trả lời dường như nằm ở năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp với những phân tích. Tiến sĩ Tô Trung Thành chỉ ra rằng trong khi các quốc gia khác như Trung Quốc và ASEAN đã có những nỗ lực rất mạnh mẽ để nâng tầm cạnh tranh công nghiệp thông qua tăng cường giá trị gia tăng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành hàng sử dụng công nghệ cao, tăng cường tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung – cao, Việt Nam trong suốt gần một thập niên đầy những biến động về xu thế cạnh tranh toàn cầu, dường như không có bất kỳ một sự thay đổi nào về năng lực cạnh tranh công nghệ. Nước ta vẫn dựa vào lợi thế cạnh tranh so sánh truyền thống trong những ngành công nghiệp hàm chứa ít công nghệ, có giá trị gia tăng thấp nên dễ bị tổn thương, đã được bộc lộ rõ nét trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008. Đồng thời, tỷ trọng sản xuất cũng như xuất khẩu những ngành hàm lượng công nghệ trung và cao rất thấp, thậm chí kém xa các nước khác trong khu vực ở thời điểm cách đây từ 10 đến 20 năm, với cùng trình độ phát triển và nguồn lực tương đương.

“Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”

Bức tranh u tối này thể hiện ngay cả trong khu vực FDI – nơi được kỳ vọng sẽ thu hút được công nghệ tiên tiến của các nước. Theo thạc sĩ Jago Penrose, Michael Kalecki (1954) từ lâu đã chỉ ra rằng là sự ưu tiên và chiến lược của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khác với chính phủ nội địa. Những nghiên cứu gần đây hơn đã xác nhận xu hướng này. Các doanh nghiệp FDI chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình so cho phù hợp với nền kinh tế địa phương, có cân nhắc đến nguồn tài nguyên nội địa, trình độ lao động, quy mô và thị hiếu thị trường nội địa… Thực tế tại nước ta, các doanh nghiệp FDI có xu hướng đầu tư vào các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu và lao động không có kỹ năng. Một báo cáo của UNDP cho thấy rằng để ứng phó trước áp lực phải tăng tiền lương danh nghĩa, hầu hết các công ty may mặc với công nghệ chẳng có gì là hiện đại đã hạ thấp tiêu chuẩn tuyển dụng của họ, lựa chọn ngày càng nhiều các công nhân không có kỹ năng.

Chính sách thương mại quốc tế cũng là một minh chứng cho sự yếu kém của nền kinh tế. Theo TS Từ Thuý Anh, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu 2008 còn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công, với biểu hiện thương mại nội ngành là chủ yếu (doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu, linh kiện, thực hiện gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu).

Đã có những chuyển dịch rõ nét theo hướng tích cực là đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhưng thị trường nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á, đặc biệt là tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng cao. Điều này, theo TS Thuý Anh “dường như minh chứng rằng Việt Nam đang chịu nhiều tác động chuyển hướng thương mại hơn là tạo lập thương mại từ các thoả thuận tự do hoá thương mại khu vực như AFTA và ACFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc). Việt Nam bị thiệt nhiều hơn là được lợi từ các liên kết kinh tế vùng”.

Khó chồng khó

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008, dưới góc nhìn “tăng trưởng và chu kỳ kinh tế”, TS Phạm Văn Hà, cho rằng năm 2008 là năm đánh dấu nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn thu hẹp của chu kỳ kinh tế. Sử dụng các công cụ định lượng cơ bản lượng nhằm loại bớt các yếu tố mùa vụ và phân tích khuynh hướng dài hạn của nền kinh tế, ông vạch ra rằng tốc độ tăng trưởng đã có dấu hiệu nóng và lên đến đỉnh vào quý 4/2007. Giai đoạn thu hẹp chính thức bắt đầu từ quý 1/2008 và trở nên rõ rệt vào quý 2/2008. Dưới tác động của khủng hoảng thế giới vào quý 3/2008, nền kinh tế của ta đã không có được một cuộc hạ cánh “mềm” như kỳ vọng mà tiếp tục bị đẩy sâu vào giai đoạn đi xuống. Theo ông, trong cả ba quý cuối của năm 2008, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng dưới mức tiềm năng, mặc dù chính mức tiềm năng này cũng đang giảm dần. Cho đến cuối năm, những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chìm sâu vào giai đoạn thu hẹp thể hiện tương đối rõ: tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu suy giảm; thị trường chứng khoán xì hơi; giảm giá và ảm đạm trên thị trường bất động sản. “Hiện chưa có dấu hiệu gì nền kinh tế đã chạm đáy của thời kỳ thu hẹp”, TS Hà nhận định.

Trong bối cảnh này, các tác giả chỉ ra rằng, chính sách vĩ mô – các nhóm chính sách tài khoá, tiền tệ và cán cân thanh toán bị ràng buộc chặt chẽ với nhau và dư địa cho việc thực hiện không còn nhiều vì nền kinh tế đang trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt ngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao và tình trạng đô la hoá cao.

Các tác giả dự báo rằng tăng trưởng kinh tế của nước ta chỉ vào khoảng 4,7% với mức lạm phát được cho là khó dự báo hơn vì phụ thuộc tình hình kinh tế thế giới (thông qua đó ảnh hưởng đến giá nguyên liệu thô) và mức độ, cách thức can thiệp vĩ mô của chính phủ nhưng có nguy cơ bùng phát vào cuối năm. Tỷ giá sẽ diễn biến phức tạp do ảnh hưởng đa chiều của các nhóm chính sách vĩ mô. Nhìn chung có khuynh hướng tăng vì khả năng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể là lớn.

Nhóm tác giả

Tiến sĩ Phạm Thế Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giảng viên đại học Kinh tế quốc dân, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo.

Tiến sĩ Từ Thuý Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, giảng viên đại học Ngoại thương Hà Nội, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia kinh tế quốc tế.

Tiến sĩ Phạm Văn Hà: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Úc, hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hoá (CGE).

Tiến sĩ Lê Hồng Giang: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Úc, nguyên giảng viên Chương trình kinh tế Fulbright tại TP. HCM, giám đốc quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hoá.

thạc sĩ Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (chủ biên): tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Nhật, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giám đốc CEPR, giảng viên đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia về kinh tế vĩ mô.

Tiến sĩ Tô Trung Thành: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, giảng viên khoa kinh tế học – đại học Kinh tế Quốc dân, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo

April 23, 2009

Khủng hoảng toàn cầu và ứng phó của Việt Nam- 042209- Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 8:14 pm
Tags: , , ,

Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Trong nhiều tháng nay đề tài khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu đã được nói đến ở mọi nơi, mọi lúc. Các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh, những người hoạch định chính sách và lãnh đạo quốc gia, các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị khu vực và toàn cầu và cả những người dân thường đồng thanh phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, dự báo diễn biến, tiên đoán hậu quả của nó đối với mỗi người, mỗi quốc gia và cả thế giới. Bản thân người viết bài này cũng đã có dịp bày tỏ ý kiến trong bài “Nỗi bận tâm trong Mậu Tý” đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 1-2/2/2008 và “Khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế nước ta” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/11/2008, cùng một số bài khác. So sánh hai cuộc khủng hoảng Cuộc đại suy thoái lớn nhất nửa đầu thế kỷ 20 (1929-1933) và cuộc khủng hoảng đầu tiên và nghiêm trọng nhất từ khi thế giới bước vào thế kỷ 21 có nhiều điều giống nhau. Cả hai cuộc đều bùng nổ ở khâu nhạy cảm nhất là thị trường chứng khoán, tài chính tiền tệ. Cả hai cuộc đều nổ ra tại nước Mỹ – một nền kinh tế lớn nhất thế giới. Cả hai cuộc đều bắt nguồn từ những nguyên nhân na ná giống nhau. Nếu ta “cắt lớp” chúng ra thì nguyên nhân trực tiếp là những sự bất ổn trong sự vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ, cho vay bừa bãi; ở lớp sâu hơn là chính sách tài chính dễ dãi kéo dài đưa tới tình trạng “xài quá cái làm ra” và ở tầng sâu kín bên trong là nghịch lý của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (hay nền kinh tế thị trường tự do?) thể hiện trong sự chiếm hữu và hoành hành của một nhúm người vì những lợi ích ích kỷ trong một nền kinh tế được xã hội hoá cao. Diễn biến của cả hai cuộc đều theo một kịch bản đại thể như nhau: hệ thống tài chính – ngân hàng rung chuyển, gây tắc nghẽn đối với dòng vốn đầu tư, kéo theo sự suy giảm sản xuất, tiêu dùng, xuất – nhập khẩu, làm cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa tới những xáo động chính trị – xã hội. Phác đồ chữa trị hai cuộc khủng hoảng tương tự như nhau, trong đó có hai vị thuốc nổi trội là sự can thiệp của nhà nước và mở hầu bao kích cầu nội địa đi liền với các biện pháp bảo hộ công khai hoặc trá hình. Cả hai cuộc đều dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và tài chính tiền tệ. Lần trước, chế độ bản vị vàng bị thay bằng các khu vực tiền tệ và sau Thế chiến thứ hai đã hình thành hệ thống Bretton Wood. Lần này, đang xuất hiện những ý tưởng về việc nâng cao vai trò của cơ chế quyền rút vốn đặc biệt (SDR), “đồng tiền quốc tế”, dùng nội tệ của nước này hay nước khác để thanh toán xuất – nhập khẩu, thậm chí có nơi còn quay về cơ chế cổ lỗ sĩ là “hàng đổi hàng”. Những điều nói trên nhắc nhở chúng ta nhiều điều: phải theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ hệ thống tài chính – ngân hàng, thị trường chứng khoán; phải ngăn ngừa những lợi ích nhóm phá hoại nền kinh tế; không xài quá cái làm ra và để nền kinh tế quá nóng; khi xuất hiện những biểu hiện bất ổn cần tính ngay tới tác động dây chuyền và xử lý đồng bộ chứ không thể xử lý từng khâu riêng lẻ; cần thường xuyên theo dõi diễn biến trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn, đặc biệt là kinh tế Mỹ… Tuy khủng hoảng chu kỳ hay cơ cấu là bạn đồng hành của kinh tế thị trường; sự phát sinh, diễn biến của nó thuận theo những quy luật nhất định song mỗi cuộc lại có những nét đặc thù riêng, do vậy hai cuộc khủng hoảng lớn cách nhau gần 8 thập kỷ cũng có những nét khác biệt. Lần này khủng hoảng tài chính, kinh tế diễn ra đồng thời với những xáo động về năng lượng, lương thực và cả khí hậu, môi trường. Do đó, giải quyết khủng hoảng ở mỗi nước và trên phạm vi toàn cầu phải tính đến đặc điểm này và mang tính tổng thể. Khác trước, với xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin, một lượng khổng lồ các phi vụ giao dịch tài chính được thực hiện qua mạng toàn cầu với tốc độ cực nhanh, tạo nên đồng tiền ảo có giá trị gấp trăm ngàn lần giá trị đồng tiền thật và không một ai có thể kiểm soát nổi. Đã hội nhập sâu với kinh tế thế giới và sống trong thời đại thông tin, chúng ta không thể không chú trọng tới đặc điểm mới này. Tuy khủng hoảng lần này rất trầm trọng, song chưa được gắn danh hiệu “đại khủng hoảng” vì tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay được dự báo sẽ ở mức âm một vài phần trăm, trong khi sản xuất những năm 1929-1933 sụt giảm tới 15-20%; lần này thương mại toàn cầu sụt giảm gần 10% so với trên 20% lần trước, tỷ lệ thất nghiệp dao động xung quanh 10% so với 25-30% lần trước… Tất nhiên đây mới là sự so sánh cho tới thời điểm hiện nay, kết cục cuối cùng chỉ có thể biết được sau khi kinh tế thế giới hồi phục. Ngày nay những xáo động chính trị – xã hội chưa nghiêm trọng như lần trước, mới chỉ có vài chính phủ ở các nước nhỏ bị sụp đổ do khủng hoảng tài chính – kinh tế, chính quyền ở các nước lớn chưa bị thay đổi như những năm 30 thế kỷ trước và đặc biệt khó có khả năng nổ ra chiến tranh thế giới. Nay cũng sẽ diễn ra quá trình cải tổ hệ thống tài chính-tiền tệ song có nhiều khả năng không đưa tới những biến động cơ bản như lần trước. Một khác biệt lớn nữa là lần này đã xuất hiện một cơ chế xử lý khủng hoảng đại diện cho cả các nền kinh tế phát triển lẫn các nền kinh tế đang phát triển; đó là G-20. Điều đó chứng tỏ tính tuỳ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa các nền kinh tế trong một thế giới bị toàn cầu hoá rất cao, mọi nền kinh tế đều ở trên một con thuyền. Cho dù cơ chế này chứa đựng không ít khuyết tật, song nó là một “hiện tượng” mới của thời đại. Những tác động lớn lao trên phạm vi toàn cầu Cho tới nay chưa ai có thể dự báo được chuẩn xác bao giờ kinh tế thế giới sẽ phục hồi cho dù đã xuất hiện vài “tia hy vọng”. Người ta đưa ra mấy kịch bản khác nhau (theo hình chữ V, U, L, W…). Dù có diễn ra kịch bản nào thì cuộc khủng hoảng lần này cũng đã gây ra sự tàn phá ghê gớm, đẩy hàng trăm quốc gia và hàng triệu người vào cảnh gian khó, để lại nhiều hậu quả lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng lần trước đã xuất hiện lý thuyết kinh tế Keynes đề cao vai trò điều tiết của nhà nước. Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước đã thịnh hành trường phái “tân tự do” dựa trên 3 trụ cột: tự do hoá, tư nhân hoá và phi điều tiết hoá. Cuộc khủng hoảng lần này đã lật nhào học thuyết đó và khơi dậy lý thuyết Keynes. Không biết rồi ra có hình thành lý thuyết kinh tế nào mới không, chúng ta cần đợi thêm. Mỗi cuộc khủng hoảng đều như một bộ lọc khổng lồ, gạn đi những gì không hợp lý, chôn vùi những gì không hiệu quả. Cuộc khủng hoảng lần này cũng không phải là ngoại lệ; rồi ra sẽ diễn ra cả một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu. Đó là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường. Đó là quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát trong từng quốc gia và trên toàn cầu. Đó là việc điều chỉnh lại mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa vì vừa qua những nước gắn quá sâu với xuất khẩu đều chịu tác động mạnh. Trước mắt xu hướng bảo hộ gia tăng và sẽ gây ra nhiều khó khăn song nhiều khả năng không diễn ra cuộc “đại chiến” thương mại, xu thế toàn cầu hoá và vòng đàm phán Doha tuy bị chững lại song chắc rằng sẽ tiếp tục vì tính tuỳ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế quá lớn, không dễ gì xa rời, đối đầu nhau. Còn một quá trình cơ cấu lại nữa sẽ diễn ra là vai trò, vị trí của các nền kinh tế thay đổi. Mặc dầu kinh tế và đồng Đô la Mỹ vẫn còn giữ vị trí hàng đầu song bị thách thức nghiêm trọng trong khi các nền kinh tế mới nổi, trong đó người ta quan tâm nhiều nhất tới kinh tế Trung Quốc, đóng vai trò ngày càng quan trọng. Ngày nay Mỹ trở thành con nợ lớn nhất và Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của nước Mỹ – một điều không ai có thể hình dung nổi vào những thập kỷ trước. Cuộc đấu tranh để hình thành hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới sẽ diễn ra gay gắt song trước mắt IMF vẫn được bơm thêm tiền để đóng vai trò điều tiết đi đôi với sự ra đời của cơ chế giám sát tài chính toàn cầu; đồng Đô la Mỹ vẫn đóng vai trò lớn, các ý tưởng về một đồng tiền quốc tế mới xem ra chưa thể trở thành hiện thực. Tất cả những tác động trên đều liên quan tới nước ta; trong việc hoạch định chính sách kinh tế và cả đối ngoại không thể không tính đến chúng. Ứng phó của Việt Nam Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, vả lại ngày nay kinh tế nước ta đã hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể không tính đến những tác động sâu xa, mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với Việt Nam, không thể không nghĩ tới một số vấn đề nảy sinh đối với nước ta. Về tác động thì có lẽ nên tính tới cả những tác động ngắn hạn lẫn trung hạn và dài hạn. Về những tác động ngắn hạn đã được nói tới nhiều, thậm chí đang được xử lý, nên có lẽ không cần đề cập lại. Ở tầm trung hạn, đã đến lúc nghĩ tới và chuẩn bị cho thời kỳ “hậu khủng hoảng”. Hiện nay chưa thể dự báo được quá trình phục hồi của kinh tế thế giới sẽ ra sao, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu. Dù sao đi nữa thì thị trường thế giới hàng hoá và cả dịch vụ, trong đó có các dịch vụ du lịch, lao động…, sẽ sống động trở lại đi đôi với những biện pháp bảo hộ và sự cạnh tranh gay gắt hơn; nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài sẽ quay lại; giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới, kể cả giá nhiên liệu sẽ gia tăng, có thể lạm phát sẽ diễn ra do vừa qua các nước tung ra lượng tiền cứu trợ quá lớn, thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, lãi suất không còn thấp như hiện nay… Trong hoàn cảnh đó sẽ nổi lên 4 yêu cầu lớn: khôi phục và mở rộng thị trường bên ngoài đi đôi với việc đề phòng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, nhưng không lơi lỏng thị trường trong nước; tạo dựng môi trường kinh doanh thật thông thoáng để thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong lẫn ngoài nước; đề phòng lạm phát tái bùng nổ, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là giảm thiểu bội chi ngân sách, thu hẹp các biện pháp cứu trợ kinh tế từ ngân sách; chú trọng xử lý các vấn đề xã hội do kinh tế giảm sút gây ra, nhất là tình trạng tái nghèo. Trong lúc bươn trải đối phó với những khó khăn trước mắt càng cần quan tâm tới các vấn đề lâu dài của nền kinh tế nước ta, chỉnh sửa những điểm yếu phát lộ rõ nét trong cơn khủng hoảng. Điều này càng trở nên bức thiết trong bối cảnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 sắp kết thúc và nước ta bước vào thời kỳ chiến lược 10 năm mới nhằm một mục tiêu khác về chất; đó là biến nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đây là vấn đề lớn, cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với con đường phát triển của nước ta trong thời gian dài, cần có sự nghiên cứu thấu đáo, chưa thể lạm bàn. Tuy nhiên, đối chiếu với những gì đang diễn ra dưới tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu, sơ bộ có mấy vấn đề cần suy nghĩ. Một là, sẽ diễn ra quá trình cơ cấu lại nền sản xuất thế giới theo hướng tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; chú trọng các nguồn năng lượng tái sinh; sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nước nào không bắt trúng mạch của xu thế phát triển đều lún sâu vào cảnh tụt hậu ngày càng xa. Vậy nước ta sẽ cơ cấu lại nền kinh tế ra sao? Chắc chắn rằng không thể tiếp tục con đường phát triển dựa vào khai thác và tiêu hao tài nguyên, phá hoại môi trường; cũng không thể tiếp tục chạy theo tốc độ, không chú trọng đúng mức tới hiệu quả và tính bền vững. Hai là, sẽ tính toán sao đây về mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường thế giới, hay nói một cách khác, kim ngạch xuất – nhập khẩu nên chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong GDP là hợp lý? Xưa kia nhiều nước đi theo con đường thay thế nhập khẩu rồi có thời người ta đề cao tác dụng của chiến lược hướng mạnh ra xuất khẩu (và trên thực tế nó đã đem lại sự phát triển vượt bậc của hàng loạt quốc gia), vậy nay sẽ như thế nào? Ba là, cơ cấu lại và hoàn thiện thể chế giám sát hệ thống tài chính tiền tệ, nhất là các ngân hàng này bao gồm rất nhiều ngân hàng tư nhân và cả ngân hàng nước ngoài, thị trường chứng khoán, bất động sản trở thành yêu cầu bức bách và cực kỳ quan trọng đối với sự ổn định kinh tế – xã hội. Bốn là, trước thất bại của chủ nghĩa tân tự do, nay người ta nói nhiều tới vai trò điều tiết của nhà nước. Lâu nay, khi chuyển sang thể chế thị trường chúng ta vẫn coi trọng vai trò điều tiết của nhà nước. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quay trở lại thể chế tập trung, quan liêu bao cấp, can thiệp vô lối vào hoạt động sản xuất kinh doanh; không đồng nghĩa với việc từ bỏ con đường cổ phần hoá, làm sống lại các doanh nghiệp quốc doanh theo kiểu cũ. Năm là, với việc cơ cấu lại vị thế của các quốc gia trong nền kinh tế (và cả chính trị) cũng như hệ thống tài chính – tiền tệ quốc tế, chúng ta cần chủ động định vị vị thế của mình, trong một thế giới đã thay đổi ở thời kỳ “hậu khủng hoảng”.

April 18, 2009

Tranh biếm họa khủng hoảng kinh tế Mỹ

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 9:01 pm
Tags: ,

Vận hạn đến với 3 đại gia xe hơi khiến cướp biển Somali cũng chẳng thèm ngó tới tàu chở hàng của họ. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson phải thay đổi chiến thuật thuyết phục Quốc hội. Dưới đây là chùm tranh biếm họa của Time về những diễn biến mới tại nền kinh tế lớn nhất thế giới.

“Chẳng kiếm chác được gì” – đến cướp biển Somali cũng chê 3 đại gia xe hơi của Mỹ. Những tập đoàn này đã cầu cứu Chính phủ Mỹ. CEO của General Motors thống thiết nói rằng sự sống còn của ngành công nghiệp xe hơi liên quan đến toàn bộ nền kinh tế, song các nghị sĩ Mỹ vẫn lặng thinh.
“Hy vọng túi khí hoạt động”. Ngành công nghiệp ôtô Mỹ sau khi Quốc hội im lặng trước lời cầu cứu của các hãng.
Tổng thống sắp mãn nhiệm Bush và Tổng thống đắc cử Obama đều mong chóng đến ngày ông Obama nhậm chức 20/1/2009. Nhưng tâm trạng của họ có lẽ khác nhau, nhất là với nền kinh tế được giới chuyên gia nhận định là đã suy thoái.
Cuối cùng thì giá xăng dầu đã giảm. Nhưng xem ra ôtô của người Mỹ, và cả nền kinh tế của họ, cũng không thể chạy như xưa.
Hệ quả mỗi khi người ta đưa ra một gói bảo lãnh (bailout) cho doanh nghiệp đang bên bờ phá sản…
Thực đơn của người Mỹ hiện có nhiều món nghe rất “thời sự” – subprime rib (sườn non – đồng âm với cho vay dưới chuẩn), black Tuesday sundae (mứt – ngày thứ ba đen tối của phố Wall khi Dow Jones mất tới gần 10%).
Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson thay đổi “chiến thuật”: cứ thử bỏ tiền ra bảo lãnh, được đến đâu, hay đến đó.

Lộ diện những “cú sốc” rủi ro tỷ giá 033009

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, đánh tụt kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những rủi ro đó vẫn chưa dừng lại…

Quý 4/2008, kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex) có đột biến. So với quý 3/2008, doanh thu tăng 11,8%; đặc biệt, lợi nhuận sau thuế đạt tăng tới 49,5%.

Có thể xem Gilimex là một hiện tượng khi đặt trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng từ thế giới, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu. Nhưng, một thuận lợi tác động trực tiếp đến kết quả trên là do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trong quý 4/2008.

Gilimex cũng là một điển hình nhận được lợi ích từ chính sách tỷ giá, cũng như mục đích chính hỗ trợ xuất khẩu nói chung trong những đợt điều chỉnh vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. Đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá về mặt lợi. Nhưng, trên thực tế, có một “mặt thứ hai” đang lộ diện ở diện rộng: nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì tỷ giá tăng quá nhanh và mạnh.

Bóp méo cả kết quả kinh doanh

Trong câu chuyện với phóng viên, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty niêm yết nói: “Rủi ro tỷ giá đã được thấy trước, lường trước và có thể chỉ là ảnh hưởng nhỏ đối với kết quả kinh doanh nếu so với dự phòng đầu tư tài chính. Thế nhưng, khi kết toán, nó làm méo mó kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp không dễ ứng xử với cổ đông và nhà đầu tư”.

Đó cũng là lý do để trong tháng 2 và 3 vừa qua, một loạt doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) phải có văn bản giải trình chênh lệch số liệu trong báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Như với Công ty Cổ phần Hàng hải Sài Gòn (SHC), kết quả kinh doanh năm 2008 được báo cáo với doanh thu đạt 174,436 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007, đạt 116% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 17,979 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2007, đạt 120% kế hoạch và lợi nhuận sau thuế 15,462 tỷ đồng.

Thế nhưng, sau khi kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty này chỉ có 13,925 tỷ đồng, không đạt kế hoạch (92,8%). Nguyên nhân là do SHC chưa tính đến khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ.

Trao đổi với VnEconomy, ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SHC, cho biết, những điều chỉnh trên là do khoản chênh lệch tỷ giá kết toán đối với khoản vay ngoại tệ mua tàu (USD) lên tới hơn 3,6 tỷ đồng, dù khoản chênh lệch tỷ giá này chỉ là dự phòng chưa xẩy ra (vì thời hạn của hợp đồng vay vốn là 5 năm). Ông Ái cũng kiến nghị Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mặt kỹ thuật kiểm toán đối với khoản mục này.

Do chỉ là dự phòng chưa xẩy ra nên ông Ái cho rằng doanh nghiệp không mất và không bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng các cổ đông phải chịu thiệt thòi, cụ thể là tỷ lệ chi trả cổ tức bị giảm, giá cổ phiếu trên sàn có thể bị ảnh hưởng…

Tương tự, rủi ro về tỷ giá cũng nổi bật trong loạt báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác, với tác động chính là làm giảm lợi nhuận hoặc đánh tụt kết quả kinh doanh so với kề hoạch đề ra.

Chỉ riêng sự kiện ngày 26/12/2008, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% cũng đã làm cho chi phí tài chính của nhiều doanh nghiệp biến động mạnh. Tại Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá, chênh lệch tỷ giá cuối năm tính vào chi phí quý 4/2008 đã tăng thêm tới hơn 441 triệu đồng, đồng nghĩa với lợi nhuận giảm tương ứng.

Hay tại Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, lợi nhuận quý 4/2008 giảm 15,7% cũng có nguyên nhân chính là tỷ giá USD/VND “có quá nhiều biến động”. Công ty đã phải hạch toán vào chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện cuối năm với số tiền lên tới 909.931.314 đồng. Với Công ty Cổ phần Gas Petrolimex, lợi nhuận giảm 17,7 tỷ đồng trong quý 4/2008 cũng chủ yếu do chênh lệch tỷ giá và trích dự phòng tài chính.

Ngoài ra, rủi ro tỷ giá có thể thấy ở tổn thất của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác. Và không loại trừ ở nhiều trường hợp chưa niêm yết, khi thông tin tài chính thường chưa công bố công khai và cụ thể.

Thụ động hay rủi ro từ chính sách?

Năm 2008, chính sách tỷ giá và tỷ giá trên thị trường chứng kiến tần suất điều chỉnh và những mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Biên độ liên tục được nới rộng; tỷ giá liên ngân hàng đã tăng tới 5%, của các ngân hàng thương mại tăng tới 9% – một mức tăng gây sốc trong báo cáo tài chính ở những trường hợp nói trên.

Năm 2009, đặt trong câu chuyện này, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đón một năm không bình yên. Ít nhất, từ ngày 24/3, biên độ tỷ giá đã được nới rộng lên +/-5%, tỷ giá USD/VND của các ngân hàng đã tăng thêm gần 2%.

Suốt những năm trước đó, tỷ giá USD/VND liên tục được duy trì ổn định, thường chỉ tăng quanh 1% mỗi năm. Thay đổi này ảnh hưởng không nhiều đối với chi phí tài chính của doanh nghiệp, và là một phần giải thích vì sao phần lớn chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cũng không loại trừ mức thay đổi quen thuộc và ổn định đó đã hạn chế sự chủ động của doanh nghiệp trước những điều chỉnh nhanh và khác thường của chính sách vừa qua.

Còn trong giải thích của một doanh nghiệp, năm 2008, tỷ giá đã có quá nhiều biến động khiến họ không thể thích nghi kịp thời để ổn định sản xuất kinh doanh.

Một giải pháp được đặt ra là doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh của các ngân hàng thương mại. Nhưng, bên cạnh phí dịch vụ, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương tạm ngừng cung cấp các sản phẩm này.

Ở một ứng xử khác, như định hướng mà ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHC, đưa ra là trong thời gian tới sẽ hạn chế dần những khoản vay bằng ngoại tệ. Trong khi đó, giải pháp mà Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen xác định là chuyển đổi các hợp đồng vay USD thành vay VND để tránh rủi ro tỷ giá trong năm 2009.

Liệu đây có phải là một phần nguyên nhân khiến cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng đầu năm nay có xu hướng giảm

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD thì không ít doanh nghiệp lại được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0cm; margin-right:0cm; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0cm; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; margin-bottom:10.0pt; line-height:115%;} @page Section1 {size:21.0cm 842.0pt; margin:70.9pt 2.0cm 70.9pt 99.25pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin-top:0cm;
mso-para-margin-right:0cm;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0cm;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD lên + 5% do phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập ngoại, hoặc có nguồn vốn vay ngoại tệ lớn… thì cũng không ít doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

Vay ngoại tệ: Thiệt thòi !

PPC (Nhiệt điện Phả Lại) là một trong những cổ phiếu “thiệt kép” với đợt nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này. Do doanh nghiệp này vay nợ bằng Yên Nhật.

Do đó, khi đồng tiền này tăng lên so với USD, trong khi VND lại mất giá so với USD khiến cho khoản nợ của PPC tăng lên đáng kể. Phần doanh thu tăng thêm khoảng 96 tỷ đồng từ khoảng tăng giá điện mới đây quá “bèo bọt” so với con số của đợt biến động tỷ giá.

Tính đến ngày 31/12//2008, dư nợ vay là 36,2 tỷ JPY. Sự biến động tỷ giá trong năm ngoái đã khiến cho trăng trượng lợi nhuận kinh doanh ấn tượng của PPC không đủ bù đắp cho khoản lỗ kỷ lục 207,7 tỷ đồng tính đến cuối năm.

Khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện của PPC gần 1,600 tỷ đồng cho khoản vay nợ ngoại tệ trên và khoản lỗ 10 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá đã thực hiện do thanh toán 1,8 tỷ JPY tiền gốc vay trong năm nay.

Với khoản nợ vay bằng Yên Nhật là 36 tỷ JPY, thì chỉ cần 1% biến động trong tỷ giá VND/JPY so với cuối năm 2008, PPC có thể phải trích lập thêm hoặc hoàn nhập gần 66.5 tỷ đồng.

Để hạn chế rủi ro này, hiện nay PPC cũng đang tìm kiếm đối tác để bảo hiểm rủi ro. Tuy nhiên, “thiệt thòi” chắc chắn cũng khó ước đoán do khoản vay này không hề nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, việc VND giảm giá so với USD sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành dầu khí thu được khoản lợi lớn nhờ tiền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch là USD.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng với những doanh nghiệp có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ như PVD. Trong quý 4/2009, do sự biến động của tỷ giá hối đoái, PVD chịu một khoản lỗ khoảng 140 tỷ đồng do đánh giá lại các khoản vay ngoại tệ.

Trong đó, khoảng 70 tỷ đồng đã được hiện thực hoá, 70 tỷ đồng còn lại mới được lập dự phòng và sẽ được hoàn nhập lại nếu tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho công ty.

Ngoài ra, trong quý 4/2009, chi phí quản lý của PVD tăng cao so với các tháng trước do công ty đã trích dự phòng mất việc làm, trả tiền lương tháng thứ 13 cho công nhân viên, trả phí quản lý cho tập đoàn Petrovietnam và phí tập đoàn bảo lãnh các khoản vay của PVD.

Theo dự báo của công ty Kim Eng Việt Nam, tổng doanh thu của PVD năm 2009 sẽ giảm khoảng 9,8% so với 2008 do sự thu hẹp của hoạt động thương mại và các dịch vụ liên quan tới hoạt động khoan dầu khí.

Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của công ty sẽ không thay đổi nhiều so với năm 2008 nhờ các hợp đồng dài hạn được ký cho đến hết tháng 7/2009. Trong những tháng còn lại, nhiều khả năng PVD sẽ cho công ty khai thác dầu Phú Quý thuê PV Drilling I theo một hợp đồng khoảng 140 ngày.

Mặc dù giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố nhưng giá thuê có lẽ không thể quá chênh lệch so với giá cho thuê giàn hiện tại tại khu vực Đông Nam Á khoảng 153.000 USD/ngày.

“Theo ước tính của chúng tôi, chi phí cho một giàn khoan một ngày khoảng 110.000-120.000 USD bao gồm chi phí hoạt động, quản lý, khấu hao và lãi vay. Như vậy, cho dù giá cho thuê giàn khoan sụt giảm mạnh chỉ còn khoảng 160.000 USD/ngày tỷ suất lợi nhuận kinh doanh của hoạt động này cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 25%”.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty chứng khoán Kim Eng Việt Nam nhận định: “Theo dự báo của chúng tôi, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của PVD sẽ tăng bình quân 22%/năm trong vòng 5 năm tới. Về mặt lợi nhuận, khi mà hoạt động cho thuê giàn khoan chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu dịch vụ do PVD cung ứng, tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tiếp theo”.

Cơ hội với thị trường nội địa

Cũng chịu nhiều tác động xấu từ việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này, nhưng những doanh nghiệp sữa “nội” có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước có thể nhân cơ hội để mở rộng thị phần vẫn bị các doanh nghiệp “ngoại” chiếm ưu thế. Điển hình như “ông lớn” VNM (Vinamilk).

Tuy là một trong những doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước nguồn nguyên liệu chính là sữa bột, chiếm khoảng 50% nguyên liệu sản xuất, vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn.

Như vậy, việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD sẽ đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp này tăng lên, đặc biệt trong quý 2/2009 vì VNM đã cam kết sẽ không tăng giá sữa đến hết tháng 5/2009.

Nhưng bên cạnh tác động tiêu cực, VNM hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị phần sữa, đặc biệt là với sản phẩm sữa bột – vốn đang bị các nhà sản xuất ngoại chiếm ưu thế.

Năm 2008, Vinamilk chiếm 37% thị phần tính chung cho tất cả các sản phẩm sữa ở Việt Nam. Sản phẩm sữa bột nhãn hiệu Dielac của doanh nghiệp này chỉ chiếm 15% thị phần. Sản phẩm sữa bột có tỷ suất lợi nhuận gộp cao nên được VNM tập trung phát triển trong thời gian tới.

Sau khi đã tính đến yếu tố VND mất giá khoảng 8% so với USD trong năm 2009 thì tỷ suất lợi nhuận gộp năm nay của VNM sẽ tăng lên từ 31,7% lên 33,6%. Theo đó lợi nhuận sau thuế năm 2009 ước đạt 1.492 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm 2008.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam cho rằng: “Cổ phiếu VNM hiện đang được giao dịch quanh mức P/E dự kiến là 11,6 lần, khá thấp so với mức bình quân 16 lần của cổ phiếu ngành sữa trong khu vực Châu Á. Đây là cổ phiếu đáng được xem xét đầu tư khi nhìn vào tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của thị trường sữa Việt Nam”.

Theo P.Lan
DĐDN

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Mất tiền oan!

Vào những tháng cuối năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá của hầu hết nguyên vật liệu giảm mạnh, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp sản xuất.

Đặc biệt là các doanh nghiệp do lo sợ giá nguyên liệu vật tư tăng nhanh như các tháng đầu năm 2008 nên đã dự trữ khá nhiều nguyên vật liệu vào những tháng cuối năm và hệ quả là phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn.

Vấn đề không có gì đáng bàn nếu năm 2009 này giá nguyên liệu, vật tư bình ổn trở lại và cuối năm doanh nghiệp không phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2009. Như vậy, khoản dự phòng của năm 2008 sẽ được hoàn nhập, nhưng vấn đề này lại không đơn giản như bản chất vốn có của nó.

Mâu thuẫn khi hoàn nhập dự phòng

Mâu thuẫn nảy sinh khi các doanh nghiệp đang trích lập dự phòng này có mức thuế suất thuế ưu đãi 10%, 15%, 20%, tức là thấp hơn so với mức thuế suất thuế thu nhập chung cho các doanh nghiệp là 25% theo Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, vì theo Thông tư 130, khoản hoàn nhập dự phòng này được xem là “thu nhập khác”. Cụ thể, Khoản 7, Mục V, Phần C Thông tư 130 quy định một trong các khoản “thu nhập khác” là “hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ khó đòi và hoàn nhập khoản dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã trích nhưng hết thời gian trích lập không sử dụng hoặc sử dụng không hết”. Cũng theo quy định của Thông tư 130 thì “thu nhập khác” không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, Khoản 2.6, Mục I, Phần H quy định, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp không áp dụng đối với “các khoản thu nhập khác quy định tại Mục V, Phần C, Thông tư này”.

Như vậy, khoản hoàn nhập dự phòng của doanh nghiệp sẽ được xem là “thu nhập khác” và phải chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, tức là không áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ: Một doanh nghiệp năm 2008 có lãi trước thuế là 100 tỷ đồng, chưa trích lập dự phòng. Số dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho phải trích lập là 30 tỷ đồng. Như vậy, lãi trước thuế của doanh nghiệp sẽ là 70 tỷ đồng.

Nếu không trích lập dự phòng 30 tỷ đồng thì tiền thuế phải nộp cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 15% = 4,5 tỷ đồng (giả sử doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 15%). Nếu trích lập dự phòng, qua năm 2009 doanh nghiệp đó phải nộp thuế cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 25% = 7,5 tỷ đồng (doanh nghiệp không được áp dụng thuế suất ưu đãi 15%, mà phải áp dụng thuế suất chung là 25%). Số tiền thuế phải nộp thêm là: 7,5 – 4,5 = 3 tỷ đồng. Khoản nộp thuế thêm sẽ lớn hơn nếu như khoản trích lập dự phòng lớn hơn và chênh lệch của mức thuế suất ưu đãi và không ưu đãi lớn hơn.

Giải quyết thế nào?

Thiết nghĩ, việc Thông tư 130 xác định “thu nhập khác” bao hàm cả các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là không hợp lý, vì bản chất của nó là từ hoạt động sản xuất – kinh doanh chính, điều này dẫn đến hai hệ quả:

– Các doanh nghiệp không muốn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2008 vì sẽ phải nộp thêm tiền thuế vào năm 2009.

– Các công ty kiểm toán không thể chấp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp nếu không trích lập dự phòng vì không phản ánh trung thực tình hình giảm giá nguyên vật liệu. Thế nhưng, công ty kiểm toán không thể trả lời việc sau khi trích, doanh nghiệp vì phải phản ánh trung thực tình hình tài chính cho năm 2008 mà phải nộp thêm thuế thu nhập cho năm 2009!?

Vì vậy, ngay từ bây giờ, doanh nghiệp đã trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn cho năm 2008 mà hiện tại đang có thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất 25% phải kiến nghị ngay lên Bộ Tài chính để có chính sách phù hợp hơn cho trường hợp này.

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho của một số DN năm 2008

Tên doanh nghiệp

Giá trị trích lập (tỷ đồng)

CTCP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RAL)

15,832

CTCP Nam Việt (ANV)

63,562

CTCP Kim khí TP. HCM (HMC)

86,242

Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM)

642,993

CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG)

185,041


Nguyễn Khả Phong, Công ty TNHH Chế biến bột mỳ Mê Kông

Theo ĐTCK

CÁC TIN LIÊN QUAN: Siêu thị ĐM-NT Chợ Lớn: Giảm giá đến 50% để giải phóng hàng tồn kho

Kẻ thắng, người thua sau hội nghị thượng đỉnh G20- 040309

(CafeF) – IMF, Mỹ, Pháp, Đức và nước ủng hộ thương mại tự do chiến thắng trong hội nghị G20. Thế nhưng cũng có không ít kẻ bại trận sau hội nghị.

Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc với cam kết của Tống thống Obama về việc nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Ai là kẻ bại trận sau hội nghị này? Đó chính là những “cao bồi” trên thị trường tài chính.

Tổng thống Obama trả lời phỏng vấn báo giới sau khi Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc : “Mọi chuyện đều ổn.”

Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cảm thấy hài lòng và Thủ tướng Pháp cho biết ông chưa bao giờ tin rằng hội nghị thượng đỉnh G20 lại thành công đến thế.

Thông thường, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới sau hội nghị thượng đỉnh không bao giờ tuyên bố rằng họ đã làm được cái họ muốn. Điều này nhiều khi đúng. Tại London lần này, không khí sau buổi họp hết sức bình an, dễ chịu bởi đó là cái kết có hậu cho nhiều tuần tranh cãi về những vấn đề từ kế hoạch cứu kinh tế cho đến việc thắt chặt điều tiết thị trường tài chính toàn cầu.

Sau cuộc họp, ít nhất mỗi người đều hài lòng vì đã làm được một điều gì đó. Vậy kẻ thắng, người thua tại hội nghị thượng đỉnh G20 là ai?

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chiến thắng vang dội nhất

Nguồn tiền cho quỹ tăng từ 250 tỷ USD lên 750 tỷ USD. Trước khi khủng hoảng tài chính thế giới thật sự gây chấn động thế giới, không ai muốn vay tiền của quỹ này và uy tín của quỹ vì thế cũng đi xuống.

Tuy nhiên, trong khủng hoảng, IMF được coi như một “đấng cứu thế” của các nước lớn nhỏ, đặc biệt là những nước nào chịu ảnh hưởng chủ yếu từ bên ngoài. Latvia, Iceland, Hungary, và Ukraina và chuẩn bị có cả Mêhicô sẽ vay tiền của quỹ.

Có thêm tiền đồng nghĩa với sẽ phải chấp nhận một số thay đổi. IMF sẽ phải từ bỏ những điều kiện hết sức ngặt nghèo đi kèm các khoản vay trước đây. Thủ tướng Ấn Độ hết sức hài lòng về việc này : “Chúng tôi rất vui mừng khi điều kiện cho vay đã được nới lỏng.”

Trong vài năm tới, cấu trúc của IMF có thể sẽ thay đổi để tiếng nói của những nước như Trung Quốc hay Ấn Độ thêm trọng lượng.

Ai là người chiến thắng?

Mỹ

Mỹ đã không thể thuyết phục Đức và nhiều nước châu Âu khác tăng tiền cho các kế hoạch cứu kinh tế. Thế nhưng với số tiền khổng lồ được rót vào kinh tế thế giới thông qua số tiền 750 tỷ USD vào IMF, ngoài ra là 250 tỷ USD vào Ngân hàng Thế giới và một số ngân hàng phát triẻn khác, Mỹ hẳn cũng cảm thấy hài lòng.

Để đổi lại, Mỹ ủng hộ Đức và Pháp trong nỗ lực quản lý sát sao hơn các quỹ đầu cơ, đưa ra chính sách mạnh tay đối với hành vi trốn thuế và ủng hộ đối với hệ thống tài chính được điều tiết toàn cầu và tập trung – điều mà bao lâu nay các nước châu Âu mong muốn.

Pháp và Đức

Họ hết sức hài lòng bởi yêu cầu về thể chế của họ đã được đáp ứng, đặc biệt là yêu cầu về thuế. Tổng thống Pháp nhận xét : “Cuối cùng họ cũng nhận ra rằng mọi chuyện cần phải thay đổi.”

Những nước ủng hộ tự do thương mại

Trong nhóm này có Canada và Úc. Hai nước này và nhiều nước khác hết sức lo ngại về việc bảo hộ trên toàn cầu ngày một tăng cao, trong đó mới nhất có thể kể đến điều khoản “Buy American” trong kế hoạch 787 tỷ USD của Mỹ.

Họ hài lòng bởi G20 đã không chỉ đưa ra những cam kết về tự do thương mại – nhưng cam kết mà cuối cùng đã bị phá vỡ, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để kiểm soát những gì đang diễn ra trên thế giới và thông báo cụ thể về những hành vi nào là không thể chấp nhận được.

Thủ tướng Anh Gordon Brown

Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy ông không được lòng người dân Anh, việc kêu gọi nhà lãnh đạo trên thế giới và tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh G20 cũng khiến uy tín của ông có phần cải thiện. Tuy nhiên điều này nhiều khả năng sẽ vẫn là không đủ để ông có thể đắc cử.

Lãnh đạo các nền kinh tế thuộc G20 thừa nhận những thỏa thuận mới đạt được không thể ngay lập tức vực dậy nền kinh tế thế giới hay giải quyết những vấn đề ngày một nhiều của các ngân hàng. Để hồi phục, kinh tế thế giới phải mất cả một quá trình và họ dự kiến sẽ tiếp tục nhóm họp vào mùa thu năm nay để xem xét về tiến độ và kết quả thực hiện các biện pháp.

Có vẻ như không ai thua thiệt sau hội nghị thượng đỉnh G20, thực tế không đẹp đẽ như vậy.

Ai là kẻ thua cuộc?

Người đứng đầu ngân hàng, tổ chức tài chính

Những nhà tài phiệt tài chính và nhiều giám đốc điều hành khác, người đã ra đi để lại hàng loạt khoản thua lỗ cho ngân hàng hay công ty họ sẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất.

G20 sẽ thắt chặt quản lý các khoản lương thưởng của đội ngũ điều hành, lương thưởng của họ sẽ gắn liền với mức tăng trưởng dài hạn của công ty/ngân hàng/tổ chức đó. Chế độ luật mới sẽ được áp dụng đặc biệt chặt chẽ đối với các ngân hàng, ngăn tối đa rủi ro trong các hoạt động mà giám đốc điều hành mạo hiểm.

Nhà đầu tư tại các thị trường không chính thức sẽ phải chịu thiệt nhiều nhất. Theo chương trình cải tổ khung điều tiết mới, đòn bẩy sẽ được quản lý chặt chẽ hơn tại các công ty tài chính.

Ngọc Diệp

Theo CNN

Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay- GS Đặng Phong

Filed under: kinh tế — ktetaichinh @ 4:28 pm
Tags: ,

Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong – tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng”

Ông mời tôi ăn cơm trưa: “Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô… không nuốt nổi”. Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

Người ta sợ tôi bị “mua”

Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?

– GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện… ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở trường ĐH Paris VII.

Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?

– Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California – Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng – nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ… không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa – sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?

Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?

– Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính – thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí… là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ – là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào… để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản… để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

Bộ máy kinh tế giỏi

Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?

– Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng… phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm…, Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng…) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế – xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm… trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?

– Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi…

Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?

– Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 – 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ – nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn…

Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?

– Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất… là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá… rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ…) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v… Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí… Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.

Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?

Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con đường “nâng giai cấp” của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.

Hơn và kém xưa

Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:

Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc… đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên – thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.

Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc… Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn… Mọi người được yên ổn làm ăn.

Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu… lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng… Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.

Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.

Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục… thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.

GIẤC MƠ NỬA TRIỆU DOANH NGHIỆP VÀ MỘT ĐẠO LUẬT CHUNG-Phạm Duy Nghĩa

Filed under: kinh tế,Pháp luật — ktetaichinh @ 3:11 am
Tags: ,

Phạm Duy Nghĩa

Cùng với Luật đầu tư, một đạo luật chung cho doanh nghiệp không phân biệt quốc hữu, tư hữu hay tư bản nước ngoài sẽ có hiệu lực từ ngày 01/07/2006. Liệu Luật doanh nghiệp (LDN 2005) có mang tới cho nhà đầu tư khuôn mẫu công ty hiện đại đủ sức ganh đua trong những không gian lạ với đường chân trời ngày càng lùi xa. Bước đầu so sánh với Luật công ty được ban hành cùng năm của nước láng giềng Phương Bắc, bài viết dưới đây bàn về vài diễn tiến đáng ghi nhận trong LDN 2005 cũng như đôi điều cần lưu ý khi thực thi đạo luật này.

Thai nghén và những cuộc vận động chuyên nghiệp

Cùng với làng nghề, phường hội, bàng, cuộc và gia đình nhà buôn truyền thống, theo chân kẻ thực dân, hội người, hội vốn, hội đồng lợi, hội nặc danh, ngân hàng cổ phần… đã bén rễ và nảy mầm trong văn hóa kinh doanh Việt Nam. Pháp luật công ty, vì lẽ ấy, đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỉ nay ở nước ta. Chỉ có điều cái mầm yếu ớt ấy sớm héo hon trước sự chèn ép của mại bản và những cơn biến động chính trị. Nam tiến, tìm lại những nhánh rễ rơi vãi ngày xưa, Luật công ty 1990 đã mở màn tái khám phá ra công ty TNHH và CTCP. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy được thay đổi bởi Luật doanh nghiệp 1999 với những tư duy táo bạo; giành lấy quyền tự do cho doanh nhân và từng bước hạn chế công lực, xóa bỏ giấy phép, xóa bỏ vốn pháp định, minh định thủ tục đăng kí kinh doanh. Những người soạn LDN 2005 có thâm ý làm lan rộng thần thái cải cách ấy sang cho khu vực doanh nghiệp quốc hữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khi có hiệu lực, LDN 2005 sẽ thay thể Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, trừ những điều khoản bảo lưu cho quá trình chuyển đổi của DNNN sang mô hình công ty trong một thời hạn chậm nhất là 04 năm [[1]].

Để làm được việc ấy, những người soạn thảo đã tiến hành vận động đầy cẩn trọng. Bắt đầu bằng một văn bản của Chính phủ xác định tư tưởng chỉ đạo và những nội dung cơ bản cần có, dự thảo LDN 2005 đã được hậu thuẫn bởi không dưới 25 công trình nghiên cứu quy mô quốc tế, hàng trăm cuộc hội thảo lớn nhỏ tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, giới chuyên gia với sự đưa tin và tạo dư luận của báo giới [[2]]. Tìm kiếm lí lẽ, kể cả bởi những phương cách mới như đánh giá tác động quy phạm (RIA), những người soạn LDN 2005 đã tìm thấy sự đồng điệu với trào lưu phi quy chế hóa toàn cầu. Quả là ở đâu quy chế pháp lí càng phức tạp thì dân nước đó càng nghèo [[3]].

Được tạo đà bởi xu thế quốc hữu ít như cần thiết, dân doanh lớn như có thể; khéo léo khơi gợi mơ ước về một môi trường kinh doanh bình đẳng của lớp doanh nhân đang tiến tới con số nửa triệu vào năm 2010, những người soạn luật dường như đã thuyết phục được dư luận xã hội về việc cần có một đạo luật chung. Nhìn lại như vậy đủ mừng cho trình độ vận động đã ngày càng chuyên nghiệp của người soạn luật nước ta. Tuy nhiên, từ giác độ của một người nghiên cứu, tôi vẫn cho rằng sự bình đẳng không hề được tạo ra bởi những đạo luật đồ sộ áp dụng cho tất cả các loại hình thương nhân, từ người kinh doanh đơn lẻ, hợp danh, công ty khép kín, cho tới các công ty đại chúng với hàng vạn cổ đông [[4]]. Thường thì người buôn đơn lẻ chỉ cần một quy chế giản đơn hơn nhiều lần so với các hợp danh, cũng như thế các hợp danh về cơ bản được tạo nên bởi quan hệ hợp đồng. Sự can thiệp của nhà nước sẽ tăng dần lên khi tính tổ chức của liên kết gia tăng, thậm chí hầu như tách rời khỏi ý chí của cổ đông, như trường hợp của các công ty đại chúng. Khi ấy luật về công ty là luật tổ chức, phân tách khỏi luật hợp đồng.

Nước láng giềng Trung Quốc tách bạch hợp danh ra khỏi mô hình công ty và điều chỉnh hợp danh theo các nguyên tắc của dân luật đã hình thành từ những năm 1986 với những giải thích ngày càng chuyên nghiệp của tòa án. Luật công ty Trung Quốc ban hành năm 1993, nay được thay thế bởi đạo luật sửa đổi ngày 27/10/2005 với 13 chương và 219 điều có hiệu lực từ 01/01/2006 (dưới đây viết tắt là LCT 2005), chỉ điều chỉnh công ty TNHH và CTCP. Riêng về công ty niêm yết có những quy chế riêng, ví dụ Tiêu chuẩn về quản trị công ty niêm yết do UBCK Trung Quốc ban hành 07/02/2002 hoặc hướng dẫn về quy chế thành viên HĐQT độc lập trong công ty niêm yết tháng 5/2004 [[5]]. Những sửa đổi của LCT 2005 của Trung Quốc có một số xu hướng tương đồng, song nhiều điểm thậm chí dè dặt hơn LDN 2005 của Việt Nam.

Thành lập doanh nghiệp: Giảm chi phí gia nhập thị trường

Cũng như LCT 2005 Trung Quốc áp dụng cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, người soạn thảo LDN 2005 của Việt Nam có ý đồ nhân rộng tư duy đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp từ khu vực tư nhân trong nước sang khu vực đầu tư nước ngoài [[6]]. Riêng đối với quốc doanh, không nên khuyến khích thành lập mới, trái lại cần thắt chặt chúng dưới sự giám sát của cơ quan dân cử. Nếu việc bỏ vốn pháp định, bỏ thủ tục cấp phép đầu tư, bỏ thẩm định luận chứng khả thi, bỏ quy định về thẩm định vốn góp.. cũng được áp dụng với đầu tư nước ngoài, thì nước ta tiến gần đến sự tự do của Delaware! Người Trung Quốc dè dặt hơn, cũng như nhiều nước Châu Âu [[7]], họ vẫn quy định vốn tối thiểu cho công ty TNHH là 30.000 tệ, cho CTCP là 5.000.000 tệ. Hơn thế nữa, người góp vốn theo luật Trung Quốc, tuy không phải góp đủ một lần như quy định trước đây, song cũng không có được sự thoải mái tự định lấy tiến độ góp vốn như theo LDN 2005 của Việt Nam. Người ta vẫn buộc thành viên công ty phải đóng góp ít nhất 20% vốn điều lệ vào thời điểm đăng kí công ty, nếu góp vốn bằng tiền và hiện vật, thì số vốn góp bằng tiền không được phép ít hơn 30% vốn điều lệ, nếu góp bằng tiền thì phải đóng đủ ngay bằng cách gửi vào một tài khoản của công ty, thời gian để góp đủ toàn bộ số vốn điều lệ không thể vượt quá 02 năm và nhà làm luật trù liệu một cơ quan nhà nước có quyền thẩm định vốn góp khi cần thiết nhằm chống lại việc khai khống vốn [[8]].

Cũng giống như ở Việt Nam, người Trung Quốc tìm cách chống nạn khai khống vốn bằng cách buộc thành viên công ty và người định giá phải bồi hoàn cho công ty và chủ nợ [[9]]. Song người soạn luật Trung Quốc đi xa hơn các đồng nghiệp Việt Nam bằng cách quy định lỗi suy đoán và đảo ngược nghĩa vụ chứng minh cho các thành viên công ty nhằm bảo vệ tốt hơn vị thế các chủ nợ ngay tình. Thêm nữa, khai không vốn ngay lập tức dẫn tới các chế tài phạt theo luật hành chính và hình sự [[10]].

Sự dễ dãi trong thủ tục đăng kí kinh doanh có thể đã là một tác nhân tạo nên sự gia tăng tới gần 20 vạn doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong sáu năm qua. Tuy nhiên, đằng sau con số dễ gây ảo giác đó, chỉ có một phần doanh nghiệp thực sự có vốn, có hoạt động và tạo việc làm. Nỗi lo bị lừa bởi công ty ma đẩy các chủ nợ làm ăn với công ty tới một thói quen hành xử đáng lưu ý hơn; họ không chấp nhận tính chịu trách nhiệm hữu hạn và tìm mọi cách cá thể hóa công ty, buộc thành viên công ty phải chịu trách nhiệm cuối cùng cho mọi khoản nợ. Ngân hàng yêu cầu thành viên, người điều hành công ty TNHH thế chấp nhà đất tư cho nợ của công ty; chủ nợ và thừa phát lại không hiếm khi tới tận nhà của các thành viên công ty mà xiết nợ. Thành ra, như tôi đã nhiều lần cảnh báo, nếu không thực thi được tính chịu TNHH và tách bạch giữa công ty và thành viên của nó, thì chúng ta đã có 20 vạn tiệm buôn gia đình núp dưới bóng các công ty hiện đại.

Thêm nữa, ngày vui đăng kí kinh doanh thì ngắn, mà những tháng ngày xin con dấu, mã số thuế đến chiều lòng quan chức thì dài [[11]]. Chi phí gia nhập thị trường chỉ có thể giảm, nếu cương tỏa được nhằng nhịt các giấy phép con, cháu và điều kiện kinh doanh, vốn bướng bỉnh như đầu Phạm Nhan [[12]]. Dựa trên LDN 2005, một nghị định về giấy phép kinh doanh đang được Viện Quản lí kinh tế Trung ương chủ soạn; sức công phá của những con chữ đầy tâm huyết ấy vào hệ thống hành chính quan liêu đương quyền có lẽ sẽ rất khiêm tốn [[13]]. Người Trung Quốc buộc cơ quan đăng kí kinh doanh phải công bố tất cả các loại giấy phép, chỉ khi công bố chúng mới có hiệu lực [[14]]. Thêm nữa, từ một tầm nhìn xa hơn, gia nhập thị trường còn phụ thuộc vào cuộc chia thương quyền giữa những liên minh quyền lực quan thương và giới kinh doanh hiện hữu. Những chi phí ấy khó có thể giảm chỉ bởi một tiếng én lẻ loi; LDN 2005 dường như đã tới giới hạn của nó trong việc góp phần giảm chi phí gia nhập thị trường.

Một số chi tiết kĩ thuật khác trong đăng kí kinh doanh vẫn chưa được LDN 2005 xử lí chuyên nghiệp, ví dụ thiếu vắng một hệ thống đăng kí doanh nghiệp liên thông quốc gia. 7.000 phòng kinh tế cấp huyện, 64 phòng đăng kí kinh doanh ở các sở KH&ĐT cấp tỉnh cũng như hệ thống đăng kí kinh doanh của ngân hàng, cơ sở y tế, giáo dục chưa thể liên kết và chia sẻ thông tin. Tin xấu về một nhà hàng Phố Núi (vụ PMU 18) có thể chạnh lòng vô số doanh nghiệp cùng tên trên khắp đất nước này. Cũng như thế SITC đã mở tới 29 chi nhánh, quỵt học phí của 3 vạn học sinh và nợ lương của hàng ngàn giáo viên Anh ngữ, mà các cơ quan đăng kí kinh doanh vẫn chẳng hay biết chủ đầu tư đã bỏ trốn. Thêm nữa, các quy định đơn sơ của §§ 13-37 LDN 2005 chắc rằng vừa có vẻ quá thừa đối với cá nhân kinh doanh đơn lẻ, song lại quá thiếu và khó có thể phù hợp cho các CTCP [[15]].

Từ hộ kinh doanh tới doanh nghiệp tư nhân, hợp danh và các công ty

Một số lượng lớn các cá nhân, hộ kinh doanh, ước tính từ 2,5 -2,9 triệu hộ, vẫn lưỡng lự khi chuyển đổi từ khu vực “không chính thức” này sang khu vực doanh nghiệp. Có nhiều lí do cho sự e dè này, song phần cũng bởi cân đo lợi ích mà mô hình doanh nghiệp có thể đem lại cho họ. LDN 2005 đã có một quy định khá khiên cưỡng, yêu cầu các hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở nên buộc phải lựa chọn mô hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) hoặc công ty [[16]].Ý tưởng cưỡng bức này thực ra đã có từ những năm 2004, chưa triển khai thành công, đã vội được nâng thành luật.

Một cá nhân có thể thành lập một hay vô số công ty TNHH đơn hoặc đa thành viên; có thể tham gia vào vô số CTCP, song anh ta chỉ có thể thành lập một DNTN [[17]]. Lí do cho sự hạn chế này chưa mấy rõ ràng. Chỉ biết rằng, sau khi ra đời, DNTN có sản nghiệp riêng, có tên riêng, có con dấu và người điều hành, được đánh thuế thu nhập như bất kì doanh nghiệp nào khác; sản nghiệp ấy có thể được cho thuê hoặc bán cho người khác. Như vậy, cũng như LDN 1999, đạo luật mới năm 2005 gián tiếp đã thừa nhận DNTN như một thực thể kinh tế khá độc lập, tách ra khỏi cá nhân làm chủ. Tuy nhiên, về mặt pháp lí, LDN 2005 chưa hề tiến xa hơn người tiền nhiệm của nó. Chủ doanh nghiệp vẫn là nguyên đơn, bị đơn trong các giao dịch pháp lí. Điều rầy rà sẽ xuất hiện, nếu ông chủ đó đột nhiên vô năng hoặc chết đi, trong khi DNTN vẫn hiện hữu và tiếp tục cuộc kinh doanh của nó với tư cách là một doanh nghiệp.

Từ bốn điều cũ của LDN 1999, phần về hợp danh của đạo luật mới đã được cơi nới thành 11 điều, tạo dựng những khuôn mẫu chi tiết hơn cho các thỏa thuận hợp danh. Theo luật chuyên ngành, hợp danh có thể trở thành mô hình pháp lí bắt buộc đối với một số dịch vụ, ví dụ văn phòng luật sư, kiểm toán độc lập, phòng mạch, kiến trúc sư. Các nhà soạn luật tặng cho hợp danh tư cách pháp nhân; song tính nghiệp dư của người soạn luật có thể thấy ngay ở trong cùng một điều luật, bởi nếu hợp danh đã là pháp nhân thì người tạo vốn cho chúng không còn là đồng sở hữu [[18]]. Thêm nữa, liệu hợp danh có trở nên phổ biến hay không còn phụ thuộc vào lợi ích mà mô hình này mang lại cho chủ đầu tư. Nhiều nước không áp dụng thuế thu nhập công ty cho mô hình hợp danh. Nếu chọn mô hình hợp danh, nhà đầu tư có thể chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân mà tránh bị đánh thuế hai lần. Lợi thế này không hề có theo pháp luật nước ta; cũng như các công ty, hợp danh là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước ngày LDN 2005 có hiệu lực có thể lựa chọn hai cách: (i) không đăng kí lại, hoạt động theo các quy chế cũ theo điều lệ, hợp đồng liên doanh và các giấy phép đầu tư đã được cấp; (ii) đăng kí lại theo các mô hình doanh nghiệp của LDN 2005 trong thời hạn 02 năm [[19]]. Liên doanh hay các doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN đều có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hoặc tiến hành cổ phần hóa; người soạn luật chỉ quên số phận của các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), vốn rất phổ biến ở các ngành dầu khí, viễn thông, du lịch và một số dịch vụ khác, như khai thác khách sạn, sân golf, trường đua ngựa. LDN 2005 chưa có các quy định cụ thể về quy trình chuyển đổi hợp đồng BCC thành công ty TNHH hay hợp danh.

Phá hạn trách nhiệm: Piercing the corporate veil hay là Durchgriffhaftung

Mặc dù bốn định nghĩa của LDN 2005 về tính chịu TNHH có phần khác nhau, song TNHH là một tấm màn; nếu được hiểu đúng sẽ bảo vệ rất đắc lực cho các chủ kinh doanh và dồn một phần rủi ro cho các chủ nợ [[20]]. Không thể bênh vực người gian xù nợ, người làm luật Trung Quốc và Việt Nam đều du nhập vô khối ngoại lệ để phá TNHH, buộc thành viên phải mang tài sản cá nhân trả cho nợ của công ty [[21]]. Các điều luật này đều được thể hiện ở dạng quyền đòi đền bù thiệt hại của chủ nợ; buộc thành viên công ty phải liên đới (bên cạnh trách nhiệm của công ty và các thành viên khác) và chịu trách nhiệm đến cùng (vô hạn), cho các khoản nợ của công ty.

Các quy định phá hạn này có thể sẽ gây sự chú ý đáng kể đối với các nhà đầu tư từ những xứ quen với tính chịu TNHH, song chắc sẽ ít ý nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc, nơi thương nhân mới đang tập làm quen với sự tách bạch giữa thành viên và công ty và tòa án hiếm hoi mới thụ lí một vụ phá sản.

Bảo vệ cổ đông thiểu số

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chập chững học những bài đầu tiên; nhà đầu tư cá nhân hành xử theo tâm lí đám đông, bị dẫn dắt bởi vô khối tin đồn. Chìm sâu dưới những làn sóng bất cân xứng thông tin đó, các nhà đầu tư thiết chế và đại cổ đông lặng lẽ toan tính những cuộc thâu tóm nguồn tài nguyên và hệ thống tiêu thụ. Bảo vệ cổ đông thiểu số, bởi thế là một quan tâm hàng đầu của quản trị công ty, lan rộng từ các nước OECD đến các thị trường mới nổi, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam [[22]].

Theo các khuôn mẫu quản trị công ty của OECD, người soạn luật hai nước Việt Nam và Trung Hoa đều tìm cách tăng quyền có được thông tin cho cổ đông, quy định quyền yêu cầu triệu tập các đại hội đồng cổ đông của nhóm cổ đông thiểu số, du nhập nguyên tắc cộng dồn phiếu trong bầu cử thành viên hội đồng quản trị (hay hội đồng giám sự theo luật Trung Hoa) [[23]]. Trong một số trường hợp, ví dụ khi chống lại các quyết định tái tổ chức, sửa đổi điều lệ, hay nếu 05 năm liền không nhận được cổ tức khi công ty có lãi, thành viên công ty TNHH, cổ đông có thể buộc công ty mua lại phần vốn góp hoặc cổ phiếu của mình [[24]]. Thu nhập của người quản lí công ty cũng buộc phải minh bạch hơn đối với các cổ đông và công chúng.

Dù nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số của pháp luật hai nước về cơ bản có thể so sánh được với nhau, song cũng như ở vài khía cạnh đã được minh họa kể trên, dường như người soạn luật Trung Hoa có phần chuyên nghiệp hơn các đồng nghiệp Phương Nam của mình. Quyền của cổ đông sẽ vẫn chỉ là quyền trên giấy, nếu thiếu các tố quyền, tức là thiếu quyền cầu viện công lí, nại ra tòa và yêu cầu can thiệp. Theo pháp luật Trung Quốc, thành viên công ty TNHH hoặc cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án hủy các nghị quyết của hội đồng quản trị hay đại hội đồng cổ đông, nếu chúng vi phạm các nguyên tắc triệu tập, thông tin và biểu quyết hay có bằng chứng cho thấy cổ đông đa số đã lạm dụng vị thế của mình để bóc lột cổ đông thiểu số. Tương tự như vậy, trong hội đồng quản trị của các CTCP niêm yết phải có ít nhất 02 thành viên độc lập, chỉ khi hai vị này kí xác nhận thì các báo cáo tài chính mới được trình lên đại hội đồng cổ đông [[25]]. Đối chiếu với các thủ tục triệu tập, mời họp, bỏ phiếu khá phức tạp đã được du nhập vào LDN 2005, người ta vẫn băn khoăn tự hỏi, liệu cổ đông trên thực tế có thể làm được gì để ép giám đốc các công ty buộc phải tuân thủ những quy trình minh bạch đó [[26]].

Thay cho lời kết: Từ hải đoàn thuyền thúng tới chiến hạm hiện đại

Sau hai thập kỉ đổi mới, 82 triệu người Việt Nam đã tạo nên 20 vạn doanh nghiệp với bình quân thu nhập đầu người hàng năm chưa vượt quá 600 USD. Bạn sẽ nghĩ gì nếu biết rằng cũng con rồng cháu tiên, song chỉ với 2 triệu người ở hải ngoại một hệ thống 20 vạn doanh nghiệp Việt kiều đã hình thành, góp phần chuyển về cố hương hàng năm trên dưới 4 tỷ USD kiều hối. Cho đến 2010, người ta đang mơ ước cứ 180 người dân nước Việt sẽ có một doanh nhân. Giảm quy chế, tạo mọi dễ dàng cho khởi sự doanh nghiệp là một xu thế tất yếu đã được LDN 2005 tái khẳng định. Song doanh nghiệp của người Việt Nam, dù là của người trong nước hay ở hải ngoại, đều là một hải đoàn thuyền thúng và xuồng lá tre so với chiến hạm tối tân của doanh nhân các dân tộc láng giềng. Du nhập quản trị công ty hiện đại, tạo kênh dẫn ngàn vạn đồng tiền lẻ tích tụ thành những nguồn vốn lớn và lựa chọn nhng nhà quản trị tài năng làm cho nguồn tài nguyên khan hiếm đó sinh sôi chính là triết lí của mọi sự giàu có; đó cũng chính là hy vọng người nước ta chờ đợi vào LDN 2005./.


* PGS TS Khoa Luật, ĐHQG HN, nghiadp@vnu.edu.vn

[1] LDN 2005, § 166 II, 171 II. (Dưới đây quy ước viết tắt: § là điều, I, II.. là các khoản).

[2] Chương trình phát triển kinh tế tư nhân MPDF và Văn phòng Quốc hội, Dự án Luật doanh nghiệp thống nhất và Luật đầu tư chung, Hà Nội, 8/2005.

[3] Xem Ngân hàng thế giới, Môi trường kinh doanh năm 2004, Tìm hiểu quy chế (Understanding Regulation) và Môi trường kinh doanh 2006, Tạo việc làm (Creating Jobs), đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, nguyên tác có thể tải về từ trang Web: http://www.doingbusiness. org.

[4] Phạm Duy Nghĩa, Giò lụa hay xúc-xích: Lại bàn về làm luật, NCLP, 2005, I, tr. 42-46.

[5] Nguồn LCT 2005 của Trung Quốc có thể tải về từ: www.saic.gov.cn/ggl/zwgg_detail.asp?newsid=314. Bản quy chế quản trị công ty niêm yết của Trung Quốc có thể tải về từ: http://www.ecgi.org.

[6] Xem § 6 LCT 2005 Trung Quốc, § 13 I LDN 2005 Việt Nam, cả hai đều áp dụng cho tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

[7] Ví dụ Đức vẫn quy định vốn tiểu thiểu 25.000 Euro cho công ty TNHH và 50.000 Euro cho CTCP.

[8] So sánh §§ 26II, 27, 28, 29, 81 I LCT 2005 của Trung Quốc với §§ 29, 30, 39 I LDN 2005 Việt Nam.

[9] Xem § 30 II LDN 2005 của Việt Nam, §§ 20 III, 208 III LCT 2005 của Trung Quốc.

[10] § 208 III LCT 2005 Trung Quốc, §§ 200, 201 và 158 BLHS Trung Quốc

[11] CIEM-GTZ, Từ ý tưởng đến thực tiễn kinh doanh, Hà Nội, 2005

[12] Ban nghiên cứu của Thủ tướng-GTZ, Cải cách hệ thống giấy phép kinh doanh ở Việt Nam, Hà Nội, 2006

[13] Dự thảo nghị định về đăng kí kinh doanh có thể tải về từ: http://www.vibonline.com; xem them bình luận của Nguyễn Tấn, Cơ chế mới hạn chế giấy phép con, TBKTSG, 18/05/2006.

[14] Xem § 88 LCT 2005 Trung Quốc với khoảng 180 giấy phép kinh doanh các loại có thể tải về từ các trang dưới đây: http://www.hbgs.gov.cn/biaoge/qz.doc; http://www.ccgs.gov.cn/html/bszzn

[15] Xem thêm: Nguyễn Mạnh Bách, Những điều bất cập trong Luật doanh nghiệp 2005, TBKTSG, 04/05/2006.

[16] § 170 IV LDN 2005.

[17] § 141 III LDN 2005

[18] § 130 Ia và II LDN 2005. Pháp nhân phải là chủ sở hữu tài sản riêng của nó. §§ 3, 4 LCT 2005 của Trung Quốc hay § 29 LDN 2005 của Việt Nam đều đã làm rõ điều này, đáng tiếc lại có một quy định mâu thuẫn tại § 130 Ia khi cho rằng thành viên hợp danh là đồng sở hữu công ty. Người Trung Quốc nhấn mạnh rằng thành viên công ty chỉ có quyền hưởng lợi từ công ty, chứ tuyệt nhiên không là đồng sở hữu công ty. Người ta đang tìm cách áp dụng điều này đối với cả DNNN, từ 2003 một thiết chế quản lí, kinh doanh công sản đã hình thành và tìm cách thực hiện quyền cổ đông trong các công ty quốc hữu lớn. Năm 2005 Việt Nam cũng đã du nhập mô hình này (TCT quản lí và kinh doanh vốn nhà nước thuộc Bộ tài chính).

[19] § 170 II LDN 2005

[20] Xem bốn định nghĩa về TNHH: §§ 38 I b, 63 I, 77 I c, 130 Ic LDN 2005.

[21] Xem ví dụ: §§ 30 II, 39 II, 59 II, 62, 66 I, 94, 108 IV LDN 2005 của Việt Nam, §§ 20, 21, 28, 31, 84, 94, 95,113, 153, 190, 208 LCT 2005 của Trung Quốc.

[22] Tổng quan về quản trị công ty (corporate governance), có thể tham khảo: http://www.ecgi.org

[23] Xem §§ 34, 40, 43, 103, 117 LCT 2005 Trung Quốc và §§ 41, 79 LDN 2005 của Việt Nam.

[24] Xem § § 75, 143 I, 183 LCT 2005 Trung Quốc, §§ 43, 90 LDN 2005 của Việt Nam.

[25] Xem §§ 22 II, 123 LCT 2005 của Trung Quốc.

[26] Theo § 107 LDN 2005, cổ đông có quyền yêu cầu tòa án hoặc trọng tài hủy bỏ quyết nghị của ĐHĐCĐ nếu trình tự và thủ tục triệu tập vi phạm pháp luật hoặc vi phạm điều lệ công ty. Mới đây có vụ đảo

Bảo vệ nhà đầu tư: Góc nhìn từ Đạo luật Sarbanes-Oxley – CHỨNG KHOÁN

Filed under: chứng khóan,kinh tế,Ngành nghề — ktetaichinh @ 1:45 am
Tags: , ,

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những sacndal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán.

Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng

Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

Hai là, các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó.

Ba là, các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra.

Bốn là, ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty.

Năm là, hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.

Sáu là, các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802).

Một điểm đáng chú ý khác, trong Mục 404 của đạo luật yêu cầu: “Các công ty được yêu cầu phải công bố thông tin trong báo cáo hàng năm của họ liên quan đến phạm vi và phù hợp với kiểm soát nội bộ. Các công ty phải đăng ký kế toán, trong cùng một báo cáo, chứng thực và báo cáo về việc đánh giá về hiệu quả của các cơ cấu kiểm soát nội bộ và các thủ tục cho các báo cáo tài chính…”.

Trong một diễn văn của mình tại Việt Nam năm 2008, ông Paul Sarbanes cho rằng, lúc đầu đạo luật này có nhiều điểm bị phản ứng mạnh từ phía các công ty đại chúng ở Mỹ, đặc biệt là các công ty đang niêm yết cổ phiếu trên sàn New York do những yêu cầu rất cao về tính minh bạch.

Tuy nhiên sau những thỏa thuận về một vài thay đổi đáp ứng những yêu cầu từ các nhà làm luật, đạo luật này mới chính thức được thông qua ở Hạ viện và Thượng viện trước khi được nguyên Tổng thống George W.Bush (năm 2002) ký thông qua thành luật.

Bảo vệ nhà đầu tư

Mới đây, Ủy ban Chứng khoán khoán Nhà nước đã có thông báo không cho Công ty Cổ phần Mai Linh được phát hành cổ phiếu thưởng vì kết quả hoạt động kinh doanh của công ty này từ năm 2005 đến năm 2007 bị lỗ và có nhiều khoản bị ngoại trừ, trong khi công ty lại công bố báo cáo tài chính “đã được kiểm toán” là có lãi.

Hoặc Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (mã BBT-HOSE) biến lỗ thành lãi cũng như nhiều sai phạm trong công tác công bố thông tin… đã dẫn đến hậu quả là cổ phiếu bị đưa vào kiểm soát và chỉ được giao dịch 15 phút cuối phiên giao dịch.

Nếu tìm thấy có điểm chung giữa trường hợp của Mai Linh và BBT thì có thể thấy người chịu trách nhiệm cao nhất là tổng giám đốc, kế toán trưởng vẫn “bình chân như vại”, để lại những hậu quả và những mất mát cho các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông nhỏ.

Còn các công ty kiểm toán và kiểm toán viên cũng chịu mức kỷ luật chưa đủ để răn đe và chưa mang tính “phòng bệnh” cho những sai phạm sau này có thể xảy ra của các công ty khác.

Người viết cho rằng, nếu tạo ra một hành lang pháp lý chặt hơn đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát nội bộ,.. đồng thời gắn trách nhiệm cao đối với các giám đốc điều hành, kế toán trưởng (hay giám đốc tài chính) như các quy định có thể tham khảo trong Đạo luật Sarbanes-Oxley thì rất có thể sẽ tạo nên sự minh bạch cao hơn, qua đó tạo thêm niềm tin cho nhà đầu tư tại Việt Nam

Next Page »

Blog at WordPress.com.