Ktetaichinh’s Blog

May 2, 2009

BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2008- 050109

Báo cáo “Kinh tế Việt Nam 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị và trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (CEPR) thuộc đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện. Báo cáo nhận định suy giảm và bất ổn của kinh tế của Việt Nam trong năm 2008 là do những bất cập của chính sách quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế, khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới đóng vai trò đẩy sâu thêm quá trình này. Nội công, ngoại kích, thách thức đổi mới lớn hơn bao giờ hết. Trong lúc bị động chờ khủng hoảng thế giới đi qua, cần chủ động điều trị “nội thương” để giảm tổn thất và chuẩn bị cho sự phục hồi

Kinh tế 2008 suy giảm: vì sao?

Những nhà nghiên cứu trẻ, khảo sát tình hình kinh tế năm 2008 của Việt Nam, nhìn thấy quá trình suy giảm từ trong những bất cập về quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế. Diễn biến khủng hoảng kinh tế của thế giới chỉ đẩy sâu quá trình suy giảm ấy

Với vai trò chủ biên báo cáo này, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nhận xét: “Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”. Ông dẫn chứng: Vào đầu quý 4/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới tràn tới chúng ta thông qua sự thoái vốn đầu tư nước ngoài và sụt giảm cầu xuất khẩu. Nhưng từ trước đó, chúng ta đã gặp phải những khó khăn cơ bản như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai cao, tỷ giá dao động khó lường và doanh nghiệp điêu đứng vì thắt chặt tiền tệ.

Những bất ổn vĩ mô

Những khó khăn ấy, theo TS. Phạm Thế Anh là do những nguyên nhân trong nước. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền quá cao sau nhiều năm đã khiến cho tổng phương tiện thanh toán M2 vượt giá trị GDP danh nghĩa từ sau năm 2006, còn M1 xấp xỉ giá trị GDP danh nghĩa trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ vượt xa tốc độ tăng GDP thực tế trong một thời gian dài khiến lạm phát bùng nổ là điều không thể tránh khỏi.

Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được TS Thế Anh nhận định là chậm trễ, thiếu linh hoạt, và thiếu nhất quán trong phản ứng. Những lúng túng đầu năm trong việc lựa chọn giữa mục tiêu bình ổn giá cả với thúc đẩy tăng trưởng và ổn định tỷ giá khiến cho các hành động chính sách trở nên bất nhất. Điều này một mặt làm cho việc kiềm chế lạm phát không đạt hiệu quả, mặt khác gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại. Vào cuối năm, các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ lại quá cứng và thắt chặt quá mức, cùng với sự cộng hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đã khiến cho nền kinh tế càng thêm khó khăn. Các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ xa rời và không có vai trò dẫn dắt thị trường.

Đến lượt mình, những bất ổn vĩ mô tích tụ trong nội tại nền kinh tế bùng phát từ quý 4/2007 đã tác động tiêu cực lên thị trường chứng khóan, cuốn đi nhiều thành tựu trước đó của thị trường này trước đó. Sự giảm nhiệt của nền kinh tế nói chung đã làm thị trường suy giảm theo một khuynh hướng khó lòng đảo ngược. TS Nguyễn Đức Thành cũng chỉ ra rằng kỳ vọng của nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong diễn biến của thị trường và vì vậy, sự đi xuống của thị trường từ giữa năm 2008 đến nay là có thể hiểu được. Theo ông, những điều kiện thực tiễn và chính sách vĩ mô có khả năng thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ là tác nhân tiên quyết cho sự phục hồi của thị trường trong thời gian tới. Kết quả tính toán cho phép xác định giá trị của VN–index tương ứng cho từng kịch bản bi quan, lạc quan. Thật đáng lo khi kết quả ước lượng mức dao động của VN–index trong năm 2009 (tương đương từ quý 2/2009 đến hết quý 1/2010) nằm trong khoảng 260 điểm tới 540 điểm.

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008 nói trên, dưới góc nhìn “tiết kiệm và đầu tư”, TS Phạm Văn Hà phát hiện rằng nếu như năm 1997 chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,77% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%), chúng ta phải đầu tư tới 43,13% GDP. “Chúng ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi phải chăng vốn đầu tư tăng liên tục trong mười năm qua đã có đủ hiệu quả như năm 1997”, ông Hà nói. Và, quan trọng hơn, là phải tìm ra được câu trả lời vì sao.

Và cơ cấu nền kinh tế

Câu trả lời dường như nằm ở năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp với những phân tích. Tiến sĩ Tô Trung Thành chỉ ra rằng trong khi các quốc gia khác như Trung Quốc và ASEAN đã có những nỗ lực rất mạnh mẽ để nâng tầm cạnh tranh công nghiệp thông qua tăng cường giá trị gia tăng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành hàng sử dụng công nghệ cao, tăng cường tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung – cao, Việt Nam trong suốt gần một thập niên đầy những biến động về xu thế cạnh tranh toàn cầu, dường như không có bất kỳ một sự thay đổi nào về năng lực cạnh tranh công nghệ. Nước ta vẫn dựa vào lợi thế cạnh tranh so sánh truyền thống trong những ngành công nghiệp hàm chứa ít công nghệ, có giá trị gia tăng thấp nên dễ bị tổn thương, đã được bộc lộ rõ nét trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008. Đồng thời, tỷ trọng sản xuất cũng như xuất khẩu những ngành hàm lượng công nghệ trung và cao rất thấp, thậm chí kém xa các nước khác trong khu vực ở thời điểm cách đây từ 10 đến 20 năm, với cùng trình độ phát triển và nguồn lực tương đương.

“Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”

Bức tranh u tối này thể hiện ngay cả trong khu vực FDI – nơi được kỳ vọng sẽ thu hút được công nghệ tiên tiến của các nước. Theo thạc sĩ Jago Penrose, Michael Kalecki (1954) từ lâu đã chỉ ra rằng là sự ưu tiên và chiến lược của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khác với chính phủ nội địa. Những nghiên cứu gần đây hơn đã xác nhận xu hướng này. Các doanh nghiệp FDI chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình so cho phù hợp với nền kinh tế địa phương, có cân nhắc đến nguồn tài nguyên nội địa, trình độ lao động, quy mô và thị hiếu thị trường nội địa… Thực tế tại nước ta, các doanh nghiệp FDI có xu hướng đầu tư vào các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu và lao động không có kỹ năng. Một báo cáo của UNDP cho thấy rằng để ứng phó trước áp lực phải tăng tiền lương danh nghĩa, hầu hết các công ty may mặc với công nghệ chẳng có gì là hiện đại đã hạ thấp tiêu chuẩn tuyển dụng của họ, lựa chọn ngày càng nhiều các công nhân không có kỹ năng.

Chính sách thương mại quốc tế cũng là một minh chứng cho sự yếu kém của nền kinh tế. Theo TS Từ Thuý Anh, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu 2008 còn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công, với biểu hiện thương mại nội ngành là chủ yếu (doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu, linh kiện, thực hiện gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu).

Đã có những chuyển dịch rõ nét theo hướng tích cực là đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhưng thị trường nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á, đặc biệt là tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng cao. Điều này, theo TS Thuý Anh “dường như minh chứng rằng Việt Nam đang chịu nhiều tác động chuyển hướng thương mại hơn là tạo lập thương mại từ các thoả thuận tự do hoá thương mại khu vực như AFTA và ACFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc). Việt Nam bị thiệt nhiều hơn là được lợi từ các liên kết kinh tế vùng”.

Khó chồng khó

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008, dưới góc nhìn “tăng trưởng và chu kỳ kinh tế”, TS Phạm Văn Hà, cho rằng năm 2008 là năm đánh dấu nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn thu hẹp của chu kỳ kinh tế. Sử dụng các công cụ định lượng cơ bản lượng nhằm loại bớt các yếu tố mùa vụ và phân tích khuynh hướng dài hạn của nền kinh tế, ông vạch ra rằng tốc độ tăng trưởng đã có dấu hiệu nóng và lên đến đỉnh vào quý 4/2007. Giai đoạn thu hẹp chính thức bắt đầu từ quý 1/2008 và trở nên rõ rệt vào quý 2/2008. Dưới tác động của khủng hoảng thế giới vào quý 3/2008, nền kinh tế của ta đã không có được một cuộc hạ cánh “mềm” như kỳ vọng mà tiếp tục bị đẩy sâu vào giai đoạn đi xuống. Theo ông, trong cả ba quý cuối của năm 2008, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng dưới mức tiềm năng, mặc dù chính mức tiềm năng này cũng đang giảm dần. Cho đến cuối năm, những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chìm sâu vào giai đoạn thu hẹp thể hiện tương đối rõ: tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu suy giảm; thị trường chứng khoán xì hơi; giảm giá và ảm đạm trên thị trường bất động sản. “Hiện chưa có dấu hiệu gì nền kinh tế đã chạm đáy của thời kỳ thu hẹp”, TS Hà nhận định.

Trong bối cảnh này, các tác giả chỉ ra rằng, chính sách vĩ mô – các nhóm chính sách tài khoá, tiền tệ và cán cân thanh toán bị ràng buộc chặt chẽ với nhau và dư địa cho việc thực hiện không còn nhiều vì nền kinh tế đang trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt ngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao và tình trạng đô la hoá cao.

Các tác giả dự báo rằng tăng trưởng kinh tế của nước ta chỉ vào khoảng 4,7% với mức lạm phát được cho là khó dự báo hơn vì phụ thuộc tình hình kinh tế thế giới (thông qua đó ảnh hưởng đến giá nguyên liệu thô) và mức độ, cách thức can thiệp vĩ mô của chính phủ nhưng có nguy cơ bùng phát vào cuối năm. Tỷ giá sẽ diễn biến phức tạp do ảnh hưởng đa chiều của các nhóm chính sách vĩ mô. Nhìn chung có khuynh hướng tăng vì khả năng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể là lớn.

Nhóm tác giả

Tiến sĩ Phạm Thế Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giảng viên đại học Kinh tế quốc dân, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo.

Tiến sĩ Từ Thuý Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, giảng viên đại học Ngoại thương Hà Nội, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia kinh tế quốc tế.

Tiến sĩ Phạm Văn Hà: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Úc, hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hoá (CGE).

Tiến sĩ Lê Hồng Giang: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Úc, nguyên giảng viên Chương trình kinh tế Fulbright tại TP. HCM, giám đốc quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hoá.

thạc sĩ Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (chủ biên): tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Nhật, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giám đốc CEPR, giảng viên đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia về kinh tế vĩ mô.

Tiến sĩ Tô Trung Thành: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, giảng viên khoa kinh tế học – đại học Kinh tế Quốc dân, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo

Advertisements

April 23, 2009

Khủng hoảng toàn cầu và ứng phó của Việt Nam- 042209- Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 8:14 pm
Tags: , , ,

Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan.

Trong nhiều tháng nay đề tài khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu đã được nói đến ở mọi nơi, mọi lúc. Các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh, những người hoạch định chính sách và lãnh đạo quốc gia, các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị khu vực và toàn cầu và cả những người dân thường đồng thanh phân tích, mổ xẻ nguyên nhân, dự báo diễn biến, tiên đoán hậu quả của nó đối với mỗi người, mỗi quốc gia và cả thế giới. Bản thân người viết bài này cũng đã có dịp bày tỏ ý kiến trong bài “Nỗi bận tâm trong Mậu Tý” đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 1-2/2/2008 và “Khủng hoảng tài chính toàn cầu và nền kinh tế nước ta” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1/11/2008, cùng một số bài khác. So sánh hai cuộc khủng hoảng Cuộc đại suy thoái lớn nhất nửa đầu thế kỷ 20 (1929-1933) và cuộc khủng hoảng đầu tiên và nghiêm trọng nhất từ khi thế giới bước vào thế kỷ 21 có nhiều điều giống nhau. Cả hai cuộc đều bùng nổ ở khâu nhạy cảm nhất là thị trường chứng khoán, tài chính tiền tệ. Cả hai cuộc đều nổ ra tại nước Mỹ – một nền kinh tế lớn nhất thế giới. Cả hai cuộc đều bắt nguồn từ những nguyên nhân na ná giống nhau. Nếu ta “cắt lớp” chúng ra thì nguyên nhân trực tiếp là những sự bất ổn trong sự vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ, cho vay bừa bãi; ở lớp sâu hơn là chính sách tài chính dễ dãi kéo dài đưa tới tình trạng “xài quá cái làm ra” và ở tầng sâu kín bên trong là nghịch lý của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (hay nền kinh tế thị trường tự do?) thể hiện trong sự chiếm hữu và hoành hành của một nhúm người vì những lợi ích ích kỷ trong một nền kinh tế được xã hội hoá cao. Diễn biến của cả hai cuộc đều theo một kịch bản đại thể như nhau: hệ thống tài chính – ngân hàng rung chuyển, gây tắc nghẽn đối với dòng vốn đầu tư, kéo theo sự suy giảm sản xuất, tiêu dùng, xuất – nhập khẩu, làm cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa tới những xáo động chính trị – xã hội. Phác đồ chữa trị hai cuộc khủng hoảng tương tự như nhau, trong đó có hai vị thuốc nổi trội là sự can thiệp của nhà nước và mở hầu bao kích cầu nội địa đi liền với các biện pháp bảo hộ công khai hoặc trá hình. Cả hai cuộc đều dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và tài chính tiền tệ. Lần trước, chế độ bản vị vàng bị thay bằng các khu vực tiền tệ và sau Thế chiến thứ hai đã hình thành hệ thống Bretton Wood. Lần này, đang xuất hiện những ý tưởng về việc nâng cao vai trò của cơ chế quyền rút vốn đặc biệt (SDR), “đồng tiền quốc tế”, dùng nội tệ của nước này hay nước khác để thanh toán xuất – nhập khẩu, thậm chí có nơi còn quay về cơ chế cổ lỗ sĩ là “hàng đổi hàng”. Những điều nói trên nhắc nhở chúng ta nhiều điều: phải theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ hệ thống tài chính – ngân hàng, thị trường chứng khoán; phải ngăn ngừa những lợi ích nhóm phá hoại nền kinh tế; không xài quá cái làm ra và để nền kinh tế quá nóng; khi xuất hiện những biểu hiện bất ổn cần tính ngay tới tác động dây chuyền và xử lý đồng bộ chứ không thể xử lý từng khâu riêng lẻ; cần thường xuyên theo dõi diễn biến trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn, đặc biệt là kinh tế Mỹ… Tuy khủng hoảng chu kỳ hay cơ cấu là bạn đồng hành của kinh tế thị trường; sự phát sinh, diễn biến của nó thuận theo những quy luật nhất định song mỗi cuộc lại có những nét đặc thù riêng, do vậy hai cuộc khủng hoảng lớn cách nhau gần 8 thập kỷ cũng có những nét khác biệt. Lần này khủng hoảng tài chính, kinh tế diễn ra đồng thời với những xáo động về năng lượng, lương thực và cả khí hậu, môi trường. Do đó, giải quyết khủng hoảng ở mỗi nước và trên phạm vi toàn cầu phải tính đến đặc điểm này và mang tính tổng thể. Khác trước, với xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin, một lượng khổng lồ các phi vụ giao dịch tài chính được thực hiện qua mạng toàn cầu với tốc độ cực nhanh, tạo nên đồng tiền ảo có giá trị gấp trăm ngàn lần giá trị đồng tiền thật và không một ai có thể kiểm soát nổi. Đã hội nhập sâu với kinh tế thế giới và sống trong thời đại thông tin, chúng ta không thể không chú trọng tới đặc điểm mới này. Tuy khủng hoảng lần này rất trầm trọng, song chưa được gắn danh hiệu “đại khủng hoảng” vì tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay được dự báo sẽ ở mức âm một vài phần trăm, trong khi sản xuất những năm 1929-1933 sụt giảm tới 15-20%; lần này thương mại toàn cầu sụt giảm gần 10% so với trên 20% lần trước, tỷ lệ thất nghiệp dao động xung quanh 10% so với 25-30% lần trước… Tất nhiên đây mới là sự so sánh cho tới thời điểm hiện nay, kết cục cuối cùng chỉ có thể biết được sau khi kinh tế thế giới hồi phục. Ngày nay những xáo động chính trị – xã hội chưa nghiêm trọng như lần trước, mới chỉ có vài chính phủ ở các nước nhỏ bị sụp đổ do khủng hoảng tài chính – kinh tế, chính quyền ở các nước lớn chưa bị thay đổi như những năm 30 thế kỷ trước và đặc biệt khó có khả năng nổ ra chiến tranh thế giới. Nay cũng sẽ diễn ra quá trình cải tổ hệ thống tài chính-tiền tệ song có nhiều khả năng không đưa tới những biến động cơ bản như lần trước. Một khác biệt lớn nữa là lần này đã xuất hiện một cơ chế xử lý khủng hoảng đại diện cho cả các nền kinh tế phát triển lẫn các nền kinh tế đang phát triển; đó là G-20. Điều đó chứng tỏ tính tuỳ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa các nền kinh tế trong một thế giới bị toàn cầu hoá rất cao, mọi nền kinh tế đều ở trên một con thuyền. Cho dù cơ chế này chứa đựng không ít khuyết tật, song nó là một “hiện tượng” mới của thời đại. Những tác động lớn lao trên phạm vi toàn cầu Cho tới nay chưa ai có thể dự báo được chuẩn xác bao giờ kinh tế thế giới sẽ phục hồi cho dù đã xuất hiện vài “tia hy vọng”. Người ta đưa ra mấy kịch bản khác nhau (theo hình chữ V, U, L, W…). Dù có diễn ra kịch bản nào thì cuộc khủng hoảng lần này cũng đã gây ra sự tàn phá ghê gớm, đẩy hàng trăm quốc gia và hàng triệu người vào cảnh gian khó, để lại nhiều hậu quả lâu dài. Sau cuộc khủng hoảng lần trước đã xuất hiện lý thuyết kinh tế Keynes đề cao vai trò điều tiết của nhà nước. Những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước đã thịnh hành trường phái “tân tự do” dựa trên 3 trụ cột: tự do hoá, tư nhân hoá và phi điều tiết hoá. Cuộc khủng hoảng lần này đã lật nhào học thuyết đó và khơi dậy lý thuyết Keynes. Không biết rồi ra có hình thành lý thuyết kinh tế nào mới không, chúng ta cần đợi thêm. Mỗi cuộc khủng hoảng đều như một bộ lọc khổng lồ, gạn đi những gì không hợp lý, chôn vùi những gì không hiệu quả. Cuộc khủng hoảng lần này cũng không phải là ngoại lệ; rồi ra sẽ diễn ra cả một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế toàn cầu. Đó là quá trình cơ cấu lại nền sản xuất theo hướng tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường do đi đôi với khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng năng lượng và khủng hoảng khí hậu, môi trường. Đó là quá trình cơ cấu lại hệ thống tài chính tiền tệ song song với quá trình cơ cấu lại cơ chế quản lý, giám sát trong từng quốc gia và trên toàn cầu. Đó là việc điều chỉnh lại mối tương quan giữa chính sách hướng mạnh ra xuất khẩu và chính sách coi trọng thị trường nội địa vì vừa qua những nước gắn quá sâu với xuất khẩu đều chịu tác động mạnh. Trước mắt xu hướng bảo hộ gia tăng và sẽ gây ra nhiều khó khăn song nhiều khả năng không diễn ra cuộc “đại chiến” thương mại, xu thế toàn cầu hoá và vòng đàm phán Doha tuy bị chững lại song chắc rằng sẽ tiếp tục vì tính tuỳ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế quá lớn, không dễ gì xa rời, đối đầu nhau. Còn một quá trình cơ cấu lại nữa sẽ diễn ra là vai trò, vị trí của các nền kinh tế thay đổi. Mặc dầu kinh tế và đồng Đô la Mỹ vẫn còn giữ vị trí hàng đầu song bị thách thức nghiêm trọng trong khi các nền kinh tế mới nổi, trong đó người ta quan tâm nhiều nhất tới kinh tế Trung Quốc, đóng vai trò ngày càng quan trọng. Ngày nay Mỹ trở thành con nợ lớn nhất và Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của nước Mỹ – một điều không ai có thể hình dung nổi vào những thập kỷ trước. Cuộc đấu tranh để hình thành hệ thống tài chính – tiền tệ thế giới sẽ diễn ra gay gắt song trước mắt IMF vẫn được bơm thêm tiền để đóng vai trò điều tiết đi đôi với sự ra đời của cơ chế giám sát tài chính toàn cầu; đồng Đô la Mỹ vẫn đóng vai trò lớn, các ý tưởng về một đồng tiền quốc tế mới xem ra chưa thể trở thành hiện thực. Tất cả những tác động trên đều liên quan tới nước ta; trong việc hoạch định chính sách kinh tế và cả đối ngoại không thể không tính đến chúng. Ứng phó của Việt Nam Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, vả lại ngày nay kinh tế nước ta đã hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể không tính đến những tác động sâu xa, mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với Việt Nam, không thể không nghĩ tới một số vấn đề nảy sinh đối với nước ta. Về tác động thì có lẽ nên tính tới cả những tác động ngắn hạn lẫn trung hạn và dài hạn. Về những tác động ngắn hạn đã được nói tới nhiều, thậm chí đang được xử lý, nên có lẽ không cần đề cập lại. Ở tầm trung hạn, đã đến lúc nghĩ tới và chuẩn bị cho thời kỳ “hậu khủng hoảng”. Hiện nay chưa thể dự báo được quá trình phục hồi của kinh tế thế giới sẽ ra sao, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu. Dù sao đi nữa thì thị trường thế giới hàng hoá và cả dịch vụ, trong đó có các dịch vụ du lịch, lao động…, sẽ sống động trở lại đi đôi với những biện pháp bảo hộ và sự cạnh tranh gay gắt hơn; nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài sẽ quay lại; giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới, kể cả giá nhiên liệu sẽ gia tăng, có thể lạm phát sẽ diễn ra do vừa qua các nước tung ra lượng tiền cứu trợ quá lớn, thâm hụt ngân sách nghiêm trọng, lãi suất không còn thấp như hiện nay… Trong hoàn cảnh đó sẽ nổi lên 4 yêu cầu lớn: khôi phục và mở rộng thị trường bên ngoài đi đôi với việc đề phòng các biện pháp bảo hộ mậu dịch, nhưng không lơi lỏng thị trường trong nước; tạo dựng môi trường kinh doanh thật thông thoáng để thu hút các nguồn vốn đầu tư cả trong lẫn ngoài nước; đề phòng lạm phát tái bùng nổ, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là giảm thiểu bội chi ngân sách, thu hẹp các biện pháp cứu trợ kinh tế từ ngân sách; chú trọng xử lý các vấn đề xã hội do kinh tế giảm sút gây ra, nhất là tình trạng tái nghèo. Trong lúc bươn trải đối phó với những khó khăn trước mắt càng cần quan tâm tới các vấn đề lâu dài của nền kinh tế nước ta, chỉnh sửa những điểm yếu phát lộ rõ nét trong cơn khủng hoảng. Điều này càng trở nên bức thiết trong bối cảnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 sắp kết thúc và nước ta bước vào thời kỳ chiến lược 10 năm mới nhằm một mục tiêu khác về chất; đó là biến nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đây là vấn đề lớn, cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với con đường phát triển của nước ta trong thời gian dài, cần có sự nghiên cứu thấu đáo, chưa thể lạm bàn. Tuy nhiên, đối chiếu với những gì đang diễn ra dưới tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu, sơ bộ có mấy vấn đề cần suy nghĩ. Một là, sẽ diễn ra quá trình cơ cấu lại nền sản xuất thế giới theo hướng tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; chú trọng các nguồn năng lượng tái sinh; sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nước nào không bắt trúng mạch của xu thế phát triển đều lún sâu vào cảnh tụt hậu ngày càng xa. Vậy nước ta sẽ cơ cấu lại nền kinh tế ra sao? Chắc chắn rằng không thể tiếp tục con đường phát triển dựa vào khai thác và tiêu hao tài nguyên, phá hoại môi trường; cũng không thể tiếp tục chạy theo tốc độ, không chú trọng đúng mức tới hiệu quả và tính bền vững. Hai là, sẽ tính toán sao đây về mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường thế giới, hay nói một cách khác, kim ngạch xuất – nhập khẩu nên chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong GDP là hợp lý? Xưa kia nhiều nước đi theo con đường thay thế nhập khẩu rồi có thời người ta đề cao tác dụng của chiến lược hướng mạnh ra xuất khẩu (và trên thực tế nó đã đem lại sự phát triển vượt bậc của hàng loạt quốc gia), vậy nay sẽ như thế nào? Ba là, cơ cấu lại và hoàn thiện thể chế giám sát hệ thống tài chính tiền tệ, nhất là các ngân hàng này bao gồm rất nhiều ngân hàng tư nhân và cả ngân hàng nước ngoài, thị trường chứng khoán, bất động sản trở thành yêu cầu bức bách và cực kỳ quan trọng đối với sự ổn định kinh tế – xã hội. Bốn là, trước thất bại của chủ nghĩa tân tự do, nay người ta nói nhiều tới vai trò điều tiết của nhà nước. Lâu nay, khi chuyển sang thể chế thị trường chúng ta vẫn coi trọng vai trò điều tiết của nhà nước. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quay trở lại thể chế tập trung, quan liêu bao cấp, can thiệp vô lối vào hoạt động sản xuất kinh doanh; không đồng nghĩa với việc từ bỏ con đường cổ phần hoá, làm sống lại các doanh nghiệp quốc doanh theo kiểu cũ. Năm là, với việc cơ cấu lại vị thế của các quốc gia trong nền kinh tế (và cả chính trị) cũng như hệ thống tài chính – tiền tệ quốc tế, chúng ta cần chủ động định vị vị thế của mình, trong một thế giới đã thay đổi ở thời kỳ “hậu khủng hoảng”.

April 18, 2009

Giá thấp, chất lượng cao – chìa khóa vượt khủng hoảng

Filed under: khủng hoảng,thị trường (market) — ktetaichinh @ 9:02 pm
Tags: ,

Suy thoái kinh tế đã làm nhiều tập đoàn tại Nhật Bản phá sản, nhưng lại là cơ hội cho nhiều công ty khác chiếm lĩnh thị trường với công thức sản phẩm chất lượng tốt giá cạnh tranh, nhằm đối phó với tình trạng sức mua giảm mạnh.

Một cửa hàng Uniqlo của Fast Retailing. Ảnh: Daylife.

Hai công ty Nhật Bản chứng tỏ khả năng tận dụng cơ hội trong thời buổi kinh tế khó khăn là Fast Retailing, sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ các sản phẩm may mặc Uniqlo và Nitori, nhà bán lẻ sản phẩm nội thất. Cả hai công ty này đều thích nghi tốt với hiện tượng tiết giảm chi tiêu của phần đông người tiêu dùng. Họ sản xuất những sản phẩm rẻ tiền nhưng chất lượng lại cao hơn, làm cho khách hàng cảm thấy yên tâm với đồng tiền bỏ ra.

Kể từ năm 2006, nhà sản xuất và phân phối đồ may mặc Fast Retailing bắt đầu hợp tác với nhà sản xuất sợi vải Toray Industries nhằm cho ra những sản phẩm chất lượng cao, thu hút người tiêu dùng. Heat-Tech – quần dành cho phụ nữ – được sản xuất trên công nghệ mới, giúp chống vi khuẩn và có chức năng giữ hơi ấm, đồng thời nhẹ hơn các loại vải bình thường. Dòng sản phẩm này đạt doanh thu kỷ lục trong mùa thu đông vừa rồi và luôn luôn trong tình trạng cháy hàng tại các cửa hiệu của Fast. Công ty hy vọng sẽ bán được 28 triệu quần Heat-Tech trong mùa thu đông năm nay.

Một sản phẩm chất lượng cao khác là loại vải dành cho giặt máy được tung ra tháng 12/2008 cũng nhanh chóng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Loại vải này không bị giãn kể cả sau quá trình dài giặt bằng máy. Tadashi Yanai, Chủ tịch kiêm CEO của công ty, tự tin nói: “Chúng tôi đã dành rất nhiều năm nghiên cứu phát triển công nghệ. Những sản phẩm nào không bỏ công sức đầu tư thì không thể thành công được.”

Còn Nitori, nhà cung cấp đồ nội thất với 184 cửa hàng khắp nước Nhật, đã quyết định giảm giá 20% cho 1.000 loại sản phẩm từ tháng 5 đến tháng 11/2008, thời điểm tất cả các loại hàng hóa khác đều đang không ngừng tăng giá. Chính sách tưởng như ngược đời này cuối cùng đã mang lại kết quả xứng đáng. Trong 2008, khi hầu hết các doanh nghiệp Nhật rơi vào cảnh khó khăn, Nitori vẫn đánh dấu năm thứ 22 liên tiếp tăng trưởng cả lợi nhuận lẫn doanh thu. Năm nay, công ty có kế hoạch mở thêm 35 cửa hàng trên khắp nước Nhật. Chủ tịch công ty, ông Akio Nitori nói: “Chúng tôi tìm thấy cơ hội trong suy thoái, nhất là khi các công ty khác phải ngừng mở thêm hoặc thậm chí đóng cửa các gian hàng.”

70% các sản phẩm của Nitori được thiết kế và sản xuất trong nước Nhật. Công ty đảm nhiệm hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất, từ thu mua nguyên liệu đến phân phối. Do đó, chi phí ban đầu cho các sản phẩm của công ty này chỉ bằng 1/3 so các hãng đối thủ. Theo một lãnh đạo của Nitori, dù giảm giá 30 đến 40% thì họ vẫn có lãi.

Mùa xuân năm ngoái, Nitori bắt đầu thuê một nhà máy tại Ấn Độ sản xuất mặt hàng thảm nhà bếp. Trước đó, công ty đã phải bỏ ra 2 năm rưỡi nghiên cứu 5 nhà máy tại Ấn Độ nhằm tìm ra nơi có chi phí rẻ nhất. Kết quả mà Nitori đạt được là sản phẩm họ tung ra thị trường rẻ hơn 10% so với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc.

Thanh Bình (theo Yomiuri Shimbun

Tranh biếm họa khủng hoảng kinh tế Mỹ

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 9:01 pm
Tags: ,

Vận hạn đến với 3 đại gia xe hơi khiến cướp biển Somali cũng chẳng thèm ngó tới tàu chở hàng của họ. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson phải thay đổi chiến thuật thuyết phục Quốc hội. Dưới đây là chùm tranh biếm họa của Time về những diễn biến mới tại nền kinh tế lớn nhất thế giới.

“Chẳng kiếm chác được gì” – đến cướp biển Somali cũng chê 3 đại gia xe hơi của Mỹ. Những tập đoàn này đã cầu cứu Chính phủ Mỹ. CEO của General Motors thống thiết nói rằng sự sống còn của ngành công nghiệp xe hơi liên quan đến toàn bộ nền kinh tế, song các nghị sĩ Mỹ vẫn lặng thinh.
“Hy vọng túi khí hoạt động”. Ngành công nghiệp ôtô Mỹ sau khi Quốc hội im lặng trước lời cầu cứu của các hãng.
Tổng thống sắp mãn nhiệm Bush và Tổng thống đắc cử Obama đều mong chóng đến ngày ông Obama nhậm chức 20/1/2009. Nhưng tâm trạng của họ có lẽ khác nhau, nhất là với nền kinh tế được giới chuyên gia nhận định là đã suy thoái.
Cuối cùng thì giá xăng dầu đã giảm. Nhưng xem ra ôtô của người Mỹ, và cả nền kinh tế của họ, cũng không thể chạy như xưa.
Hệ quả mỗi khi người ta đưa ra một gói bảo lãnh (bailout) cho doanh nghiệp đang bên bờ phá sản…
Thực đơn của người Mỹ hiện có nhiều món nghe rất “thời sự” – subprime rib (sườn non – đồng âm với cho vay dưới chuẩn), black Tuesday sundae (mứt – ngày thứ ba đen tối của phố Wall khi Dow Jones mất tới gần 10%).
Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson thay đổi “chiến thuật”: cứ thử bỏ tiền ra bảo lãnh, được đến đâu, hay đến đó.

Lộ diện những “cú sốc” rủi ro tỷ giá 033009

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, đánh tụt kết quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Những rủi ro đó vẫn chưa dừng lại…

Quý 4/2008, kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (Gilimex) có đột biến. So với quý 3/2008, doanh thu tăng 11,8%; đặc biệt, lợi nhuận sau thuế đạt tăng tới 49,5%.

Có thể xem Gilimex là một hiện tượng khi đặt trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng từ thế giới, nhất là đối với hoạt động xuất khẩu. Nhưng, một thuận lợi tác động trực tiếp đến kết quả trên là do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trong quý 4/2008.

Gilimex cũng là một điển hình nhận được lợi ích từ chính sách tỷ giá, cũng như mục đích chính hỗ trợ xuất khẩu nói chung trong những đợt điều chỉnh vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. Đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá về mặt lợi. Nhưng, trên thực tế, có một “mặt thứ hai” đang lộ diện ở diện rộng: nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì tỷ giá tăng quá nhanh và mạnh.

Bóp méo cả kết quả kinh doanh

Trong câu chuyện với phóng viên, chủ tịch hội đồng quản trị một công ty niêm yết nói: “Rủi ro tỷ giá đã được thấy trước, lường trước và có thể chỉ là ảnh hưởng nhỏ đối với kết quả kinh doanh nếu so với dự phòng đầu tư tài chính. Thế nhưng, khi kết toán, nó làm méo mó kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp không dễ ứng xử với cổ đông và nhà đầu tư”.

Đó cũng là lý do để trong tháng 2 và 3 vừa qua, một loạt doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) phải có văn bản giải trình chênh lệch số liệu trong báo cáo tài chính kiểm toán 2008.

Như với Công ty Cổ phần Hàng hải Sài Gòn (SHC), kết quả kinh doanh năm 2008 được báo cáo với doanh thu đạt 174,436 tỷ đồng, tăng 83% so với năm 2007, đạt 116% kế hoạch; lợi nhuận trước thuế đạt 17,979 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2007, đạt 120% kế hoạch và lợi nhuận sau thuế 15,462 tỷ đồng.

Thế nhưng, sau khi kiểm toán, lợi nhuận sau thuế của công ty này chỉ có 13,925 tỷ đồng, không đạt kế hoạch (92,8%). Nguyên nhân là do SHC chưa tính đến khoản chênh lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ.

Trao đổi với VnEconomy, ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SHC, cho biết, những điều chỉnh trên là do khoản chênh lệch tỷ giá kết toán đối với khoản vay ngoại tệ mua tàu (USD) lên tới hơn 3,6 tỷ đồng, dù khoản chênh lệch tỷ giá này chỉ là dự phòng chưa xẩy ra (vì thời hạn của hợp đồng vay vốn là 5 năm). Ông Ái cũng kiến nghị Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mặt kỹ thuật kiểm toán đối với khoản mục này.

Do chỉ là dự phòng chưa xẩy ra nên ông Ái cho rằng doanh nghiệp không mất và không bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng các cổ đông phải chịu thiệt thòi, cụ thể là tỷ lệ chi trả cổ tức bị giảm, giá cổ phiếu trên sàn có thể bị ảnh hưởng…

Tương tự, rủi ro về tỷ giá cũng nổi bật trong loạt báo cáo giải trình của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác, với tác động chính là làm giảm lợi nhuận hoặc đánh tụt kết quả kinh doanh so với kề hoạch đề ra.

Chỉ riêng sự kiện ngày 26/12/2008, Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% cũng đã làm cho chi phí tài chính của nhiều doanh nghiệp biến động mạnh. Tại Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá, chênh lệch tỷ giá cuối năm tính vào chi phí quý 4/2008 đã tăng thêm tới hơn 441 triệu đồng, đồng nghĩa với lợi nhuận giảm tương ứng.

Hay tại Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, lợi nhuận quý 4/2008 giảm 15,7% cũng có nguyên nhân chính là tỷ giá USD/VND “có quá nhiều biến động”. Công ty đã phải hạch toán vào chi phí chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện cuối năm với số tiền lên tới 909.931.314 đồng. Với Công ty Cổ phần Gas Petrolimex, lợi nhuận giảm 17,7 tỷ đồng trong quý 4/2008 cũng chủ yếu do chênh lệch tỷ giá và trích dự phòng tài chính.

Ngoài ra, rủi ro tỷ giá có thể thấy ở tổn thất của nhiều doanh nghiệp niêm yết khác. Và không loại trừ ở nhiều trường hợp chưa niêm yết, khi thông tin tài chính thường chưa công bố công khai và cụ thể.

Thụ động hay rủi ro từ chính sách?

Năm 2008, chính sách tỷ giá và tỷ giá trên thị trường chứng kiến tần suất điều chỉnh và những mức tăng chưa từng có trong lịch sử. Biên độ liên tục được nới rộng; tỷ giá liên ngân hàng đã tăng tới 5%, của các ngân hàng thương mại tăng tới 9% – một mức tăng gây sốc trong báo cáo tài chính ở những trường hợp nói trên.

Năm 2009, đặt trong câu chuyện này, có thể nhiều doanh nghiệp sẽ tiếp tục đón một năm không bình yên. Ít nhất, từ ngày 24/3, biên độ tỷ giá đã được nới rộng lên +/-5%, tỷ giá USD/VND của các ngân hàng đã tăng thêm gần 2%.

Suốt những năm trước đó, tỷ giá USD/VND liên tục được duy trì ổn định, thường chỉ tăng quanh 1% mỗi năm. Thay đổi này ảnh hưởng không nhiều đối với chi phí tài chính của doanh nghiệp, và là một phần giải thích vì sao phần lớn chưa mặn mà với các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Cũng không loại trừ mức thay đổi quen thuộc và ổn định đó đã hạn chế sự chủ động của doanh nghiệp trước những điều chỉnh nhanh và khác thường của chính sách vừa qua.

Còn trong giải thích của một doanh nghiệp, năm 2008, tỷ giá đã có quá nhiều biến động khiến họ không thể thích nghi kịp thời để ổn định sản xuất kinh doanh.

Một giải pháp được đặt ra là doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh của các ngân hàng thương mại. Nhưng, bên cạnh phí dịch vụ, mới đây Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương tạm ngừng cung cấp các sản phẩm này.

Ở một ứng xử khác, như định hướng mà ông Lưu Tiến Ái, Chủ tịch Hội đồng Quản trị SHC, đưa ra là trong thời gian tới sẽ hạn chế dần những khoản vay bằng ngoại tệ. Trong khi đó, giải pháp mà Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen xác định là chuyển đổi các hợp đồng vay USD thành vay VND để tránh rủi ro tỷ giá trong năm 2009.

Liệu đây có phải là một phần nguyên nhân khiến cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng đầu năm nay có xu hướng giảm

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD thì không ít doanh nghiệp lại được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:”Cambria Math”; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} @font-face {font-family:Calibri; panose-1:2 15 5 2 2 2 4 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:swiss; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1073750139 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; margin-top:0cm; margin-right:0cm; margin-bottom:10.0pt; margin-left:0cm; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; mso-fareast-font-family:Calibri; mso-fareast-theme-font:minor-latin;} .MsoPapDefault {mso-style-type:export-only; margin-bottom:10.0pt; line-height:115%;} @page Section1 {size:21.0cm 842.0pt; margin:70.9pt 2.0cm 70.9pt 99.25pt; mso-header-margin:36.0pt; mso-footer-margin:36.0pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} –>
/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-priority:99;
mso-style-qformat:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin-top:0cm;
mso-para-margin-right:0cm;
mso-para-margin-bottom:10.0pt;
mso-para-margin-left:0cm;
line-height:115%;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:11.0pt;
font-family:”Calibri”,”sans-serif”;
mso-ascii-font-family:Calibri;
mso-ascii-theme-font:minor-latin;
mso-fareast-font-family:”Times New Roman”;
mso-fareast-theme-font:minor-fareast;
mso-hansi-font-family:Calibri;
mso-hansi-theme-font:minor-latin;
mso-bidi-font-family:”Times New Roman”;
mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
Bên cạnh những doanh nghiệp chịu “thiệt thòi” từ đợt nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá VND/USD lên + 5% do phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập ngoại, hoặc có nguồn vốn vay ngoại tệ lớn… thì cũng không ít doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ sự kiện này.

Vay ngoại tệ: Thiệt thòi !

PPC (Nhiệt điện Phả Lại) là một trong những cổ phiếu “thiệt kép” với đợt nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này. Do doanh nghiệp này vay nợ bằng Yên Nhật.

Do đó, khi đồng tiền này tăng lên so với USD, trong khi VND lại mất giá so với USD khiến cho khoản nợ của PPC tăng lên đáng kể. Phần doanh thu tăng thêm khoảng 96 tỷ đồng từ khoảng tăng giá điện mới đây quá “bèo bọt” so với con số của đợt biến động tỷ giá.

Tính đến ngày 31/12//2008, dư nợ vay là 36,2 tỷ JPY. Sự biến động tỷ giá trong năm ngoái đã khiến cho trăng trượng lợi nhuận kinh doanh ấn tượng của PPC không đủ bù đắp cho khoản lỗ kỷ lục 207,7 tỷ đồng tính đến cuối năm.

Khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện của PPC gần 1,600 tỷ đồng cho khoản vay nợ ngoại tệ trên và khoản lỗ 10 tỷ đồng chênh lệch tỷ giá đã thực hiện do thanh toán 1,8 tỷ JPY tiền gốc vay trong năm nay.

Với khoản nợ vay bằng Yên Nhật là 36 tỷ JPY, thì chỉ cần 1% biến động trong tỷ giá VND/JPY so với cuối năm 2008, PPC có thể phải trích lập thêm hoặc hoàn nhập gần 66.5 tỷ đồng.

Để hạn chế rủi ro này, hiện nay PPC cũng đang tìm kiếm đối tác để bảo hiểm rủi ro. Tuy nhiên, “thiệt thòi” chắc chắn cũng khó ước đoán do khoản vay này không hề nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, việc VND giảm giá so với USD sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành dầu khí thu được khoản lợi lớn nhờ tiền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch là USD.

Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng với những doanh nghiệp có sử dụng vốn vay bằng ngoại tệ như PVD. Trong quý 4/2009, do sự biến động của tỷ giá hối đoái, PVD chịu một khoản lỗ khoảng 140 tỷ đồng do đánh giá lại các khoản vay ngoại tệ.

Trong đó, khoảng 70 tỷ đồng đã được hiện thực hoá, 70 tỷ đồng còn lại mới được lập dự phòng và sẽ được hoàn nhập lại nếu tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho công ty.

Ngoài ra, trong quý 4/2009, chi phí quản lý của PVD tăng cao so với các tháng trước do công ty đã trích dự phòng mất việc làm, trả tiền lương tháng thứ 13 cho công nhân viên, trả phí quản lý cho tập đoàn Petrovietnam và phí tập đoàn bảo lãnh các khoản vay của PVD.

Theo dự báo của công ty Kim Eng Việt Nam, tổng doanh thu của PVD năm 2009 sẽ giảm khoảng 9,8% so với 2008 do sự thu hẹp của hoạt động thương mại và các dịch vụ liên quan tới hoạt động khoan dầu khí.

Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của công ty sẽ không thay đổi nhiều so với năm 2008 nhờ các hợp đồng dài hạn được ký cho đến hết tháng 7/2009. Trong những tháng còn lại, nhiều khả năng PVD sẽ cho công ty khai thác dầu Phú Quý thuê PV Drilling I theo một hợp đồng khoảng 140 ngày.

Mặc dù giá trị hợp đồng vẫn chưa được công bố nhưng giá thuê có lẽ không thể quá chênh lệch so với giá cho thuê giàn hiện tại tại khu vực Đông Nam Á khoảng 153.000 USD/ngày.

“Theo ước tính của chúng tôi, chi phí cho một giàn khoan một ngày khoảng 110.000-120.000 USD bao gồm chi phí hoạt động, quản lý, khấu hao và lãi vay. Như vậy, cho dù giá cho thuê giàn khoan sụt giảm mạnh chỉ còn khoảng 160.000 USD/ngày tỷ suất lợi nhuận kinh doanh của hoạt động này cũng được duy trì ở mức tối thiểu là 25%”.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty chứng khoán Kim Eng Việt Nam nhận định: “Theo dự báo của chúng tôi, doanh thu từ hoạt động cho thuê giàn khoan của PVD sẽ tăng bình quân 22%/năm trong vòng 5 năm tới. Về mặt lợi nhuận, khi mà hoạt động cho thuê giàn khoan chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu dịch vụ do PVD cung ứng, tỷ suất lợi nhuận gộp của công ty sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tiếp theo”.

Cơ hội với thị trường nội địa

Cũng chịu nhiều tác động xấu từ việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD lần này, nhưng những doanh nghiệp sữa “nội” có khả năng tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước có thể nhân cơ hội để mở rộng thị phần vẫn bị các doanh nghiệp “ngoại” chiếm ưu thế. Điển hình như “ông lớn” VNM (Vinamilk).

Tuy là một trong những doanh nghiệp chủ động trong việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước nguồn nguyên liệu chính là sữa bột, chiếm khoảng 50% nguyên liệu sản xuất, vẫn phải nhập khẩu hoàn toàn.

Như vậy, việc nới rộng biên độ tỷ giá VND/USD sẽ đẩy chi phí đầu vào của doanh nghiệp này tăng lên, đặc biệt trong quý 2/2009 vì VNM đã cam kết sẽ không tăng giá sữa đến hết tháng 5/2009.

Nhưng bên cạnh tác động tiêu cực, VNM hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội này để mở rộng thị phần sữa, đặc biệt là với sản phẩm sữa bột – vốn đang bị các nhà sản xuất ngoại chiếm ưu thế.

Năm 2008, Vinamilk chiếm 37% thị phần tính chung cho tất cả các sản phẩm sữa ở Việt Nam. Sản phẩm sữa bột nhãn hiệu Dielac của doanh nghiệp này chỉ chiếm 15% thị phần. Sản phẩm sữa bột có tỷ suất lợi nhuận gộp cao nên được VNM tập trung phát triển trong thời gian tới.

Sau khi đã tính đến yếu tố VND mất giá khoảng 8% so với USD trong năm 2009 thì tỷ suất lợi nhuận gộp năm nay của VNM sẽ tăng lên từ 31,7% lên 33,6%. Theo đó lợi nhuận sau thuế năm 2009 ước đạt 1.492 tỷ đồng, tăng trưởng 21% so với năm 2008.

Bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền – công ty Chứng khoán Kim Eng Việt Nam cho rằng: “Cổ phiếu VNM hiện đang được giao dịch quanh mức P/E dự kiến là 11,6 lần, khá thấp so với mức bình quân 16 lần của cổ phiếu ngành sữa trong khu vực Châu Á. Đây là cổ phiếu đáng được xem xét đầu tư khi nhìn vào tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn của thị trường sữa Việt Nam”.

Theo P.Lan
DĐDN

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Mất tiền oan!

Vào những tháng cuối năm 2008, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá của hầu hết nguyên vật liệu giảm mạnh, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp sản xuất.

Đặc biệt là các doanh nghiệp do lo sợ giá nguyên liệu vật tư tăng nhanh như các tháng đầu năm 2008 nên đã dự trữ khá nhiều nguyên vật liệu vào những tháng cuối năm và hệ quả là phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn.

Vấn đề không có gì đáng bàn nếu năm 2009 này giá nguyên liệu, vật tư bình ổn trở lại và cuối năm doanh nghiệp không phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2009. Như vậy, khoản dự phòng của năm 2008 sẽ được hoàn nhập, nhưng vấn đề này lại không đơn giản như bản chất vốn có của nó.

Mâu thuẫn khi hoàn nhập dự phòng

Mâu thuẫn nảy sinh khi các doanh nghiệp đang trích lập dự phòng này có mức thuế suất thuế ưu đãi 10%, 15%, 20%, tức là thấp hơn so với mức thuế suất thuế thu nhập chung cho các doanh nghiệp là 25% theo Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, vì theo Thông tư 130, khoản hoàn nhập dự phòng này được xem là “thu nhập khác”. Cụ thể, Khoản 7, Mục V, Phần C Thông tư 130 quy định một trong các khoản “thu nhập khác” là “hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ khó đòi và hoàn nhập khoản dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp đã trích nhưng hết thời gian trích lập không sử dụng hoặc sử dụng không hết”. Cũng theo quy định của Thông tư 130 thì “thu nhập khác” không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, Khoản 2.6, Mục I, Phần H quy định, việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp không áp dụng đối với “các khoản thu nhập khác quy định tại Mục V, Phần C, Thông tư này”.

Như vậy, khoản hoàn nhập dự phòng của doanh nghiệp sẽ được xem là “thu nhập khác” và phải chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, tức là không áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ: Một doanh nghiệp năm 2008 có lãi trước thuế là 100 tỷ đồng, chưa trích lập dự phòng. Số dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho phải trích lập là 30 tỷ đồng. Như vậy, lãi trước thuế của doanh nghiệp sẽ là 70 tỷ đồng.

Nếu không trích lập dự phòng 30 tỷ đồng thì tiền thuế phải nộp cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 15% = 4,5 tỷ đồng (giả sử doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 15%). Nếu trích lập dự phòng, qua năm 2009 doanh nghiệp đó phải nộp thuế cho khoản lợi nhuận này là: 30 tỷ đồng x 25% = 7,5 tỷ đồng (doanh nghiệp không được áp dụng thuế suất ưu đãi 15%, mà phải áp dụng thuế suất chung là 25%). Số tiền thuế phải nộp thêm là: 7,5 – 4,5 = 3 tỷ đồng. Khoản nộp thuế thêm sẽ lớn hơn nếu như khoản trích lập dự phòng lớn hơn và chênh lệch của mức thuế suất ưu đãi và không ưu đãi lớn hơn.

Giải quyết thế nào?

Thiết nghĩ, việc Thông tư 130 xác định “thu nhập khác” bao hàm cả các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho là không hợp lý, vì bản chất của nó là từ hoạt động sản xuất – kinh doanh chính, điều này dẫn đến hai hệ quả:

– Các doanh nghiệp không muốn trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho năm 2008 vì sẽ phải nộp thêm tiền thuế vào năm 2009.

– Các công ty kiểm toán không thể chấp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp nếu không trích lập dự phòng vì không phản ánh trung thực tình hình giảm giá nguyên vật liệu. Thế nhưng, công ty kiểm toán không thể trả lời việc sau khi trích, doanh nghiệp vì phải phản ánh trung thực tình hình tài chính cho năm 2008 mà phải nộp thêm thuế thu nhập cho năm 2009!?

Vì vậy, ngay từ bây giờ, doanh nghiệp đã trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho khá lớn cho năm 2008 mà hiện tại đang có thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất 25% phải kiến nghị ngay lên Bộ Tài chính để có chính sách phù hợp hơn cho trường hợp này.

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho của một số DN năm 2008

Tên doanh nghiệp

Giá trị trích lập (tỷ đồng)

CTCP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (RAL)

15,832

CTCP Nam Việt (ANV)

63,562

CTCP Kim khí TP. HCM (HMC)

86,242

Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM)

642,993

CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG)

185,041


Nguyễn Khả Phong, Công ty TNHH Chế biến bột mỳ Mê Kông

Theo ĐTCK

CÁC TIN LIÊN QUAN: Siêu thị ĐM-NT Chợ Lớn: Giảm giá đến 50% để giải phóng hàng tồn kho

Kẻ thắng, người thua sau hội nghị thượng đỉnh G20- 040309

(CafeF) – IMF, Mỹ, Pháp, Đức và nước ủng hộ thương mại tự do chiến thắng trong hội nghị G20. Thế nhưng cũng có không ít kẻ bại trận sau hội nghị.

Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc với cam kết của Tống thống Obama về việc nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Ai là kẻ bại trận sau hội nghị này? Đó chính là những “cao bồi” trên thị trường tài chính.

Tổng thống Obama trả lời phỏng vấn báo giới sau khi Hội nghị thượng đỉnh G20 kết thúc : “Mọi chuyện đều ổn.”

Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cảm thấy hài lòng và Thủ tướng Pháp cho biết ông chưa bao giờ tin rằng hội nghị thượng đỉnh G20 lại thành công đến thế.

Thông thường, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới sau hội nghị thượng đỉnh không bao giờ tuyên bố rằng họ đã làm được cái họ muốn. Điều này nhiều khi đúng. Tại London lần này, không khí sau buổi họp hết sức bình an, dễ chịu bởi đó là cái kết có hậu cho nhiều tuần tranh cãi về những vấn đề từ kế hoạch cứu kinh tế cho đến việc thắt chặt điều tiết thị trường tài chính toàn cầu.

Sau cuộc họp, ít nhất mỗi người đều hài lòng vì đã làm được một điều gì đó. Vậy kẻ thắng, người thua tại hội nghị thượng đỉnh G20 là ai?

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chiến thắng vang dội nhất

Nguồn tiền cho quỹ tăng từ 250 tỷ USD lên 750 tỷ USD. Trước khi khủng hoảng tài chính thế giới thật sự gây chấn động thế giới, không ai muốn vay tiền của quỹ này và uy tín của quỹ vì thế cũng đi xuống.

Tuy nhiên, trong khủng hoảng, IMF được coi như một “đấng cứu thế” của các nước lớn nhỏ, đặc biệt là những nước nào chịu ảnh hưởng chủ yếu từ bên ngoài. Latvia, Iceland, Hungary, và Ukraina và chuẩn bị có cả Mêhicô sẽ vay tiền của quỹ.

Có thêm tiền đồng nghĩa với sẽ phải chấp nhận một số thay đổi. IMF sẽ phải từ bỏ những điều kiện hết sức ngặt nghèo đi kèm các khoản vay trước đây. Thủ tướng Ấn Độ hết sức hài lòng về việc này : “Chúng tôi rất vui mừng khi điều kiện cho vay đã được nới lỏng.”

Trong vài năm tới, cấu trúc của IMF có thể sẽ thay đổi để tiếng nói của những nước như Trung Quốc hay Ấn Độ thêm trọng lượng.

Ai là người chiến thắng?

Mỹ

Mỹ đã không thể thuyết phục Đức và nhiều nước châu Âu khác tăng tiền cho các kế hoạch cứu kinh tế. Thế nhưng với số tiền khổng lồ được rót vào kinh tế thế giới thông qua số tiền 750 tỷ USD vào IMF, ngoài ra là 250 tỷ USD vào Ngân hàng Thế giới và một số ngân hàng phát triẻn khác, Mỹ hẳn cũng cảm thấy hài lòng.

Để đổi lại, Mỹ ủng hộ Đức và Pháp trong nỗ lực quản lý sát sao hơn các quỹ đầu cơ, đưa ra chính sách mạnh tay đối với hành vi trốn thuế và ủng hộ đối với hệ thống tài chính được điều tiết toàn cầu và tập trung – điều mà bao lâu nay các nước châu Âu mong muốn.

Pháp và Đức

Họ hết sức hài lòng bởi yêu cầu về thể chế của họ đã được đáp ứng, đặc biệt là yêu cầu về thuế. Tổng thống Pháp nhận xét : “Cuối cùng họ cũng nhận ra rằng mọi chuyện cần phải thay đổi.”

Những nước ủng hộ tự do thương mại

Trong nhóm này có Canada và Úc. Hai nước này và nhiều nước khác hết sức lo ngại về việc bảo hộ trên toàn cầu ngày một tăng cao, trong đó mới nhất có thể kể đến điều khoản “Buy American” trong kế hoạch 787 tỷ USD của Mỹ.

Họ hài lòng bởi G20 đã không chỉ đưa ra những cam kết về tự do thương mại – nhưng cam kết mà cuối cùng đã bị phá vỡ, nhà lãnh đạo các nền kinh tế lớn trên thế giới cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để kiểm soát những gì đang diễn ra trên thế giới và thông báo cụ thể về những hành vi nào là không thể chấp nhận được.

Thủ tướng Anh Gordon Brown

Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy ông không được lòng người dân Anh, việc kêu gọi nhà lãnh đạo trên thế giới và tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh G20 cũng khiến uy tín của ông có phần cải thiện. Tuy nhiên điều này nhiều khả năng sẽ vẫn là không đủ để ông có thể đắc cử.

Lãnh đạo các nền kinh tế thuộc G20 thừa nhận những thỏa thuận mới đạt được không thể ngay lập tức vực dậy nền kinh tế thế giới hay giải quyết những vấn đề ngày một nhiều của các ngân hàng. Để hồi phục, kinh tế thế giới phải mất cả một quá trình và họ dự kiến sẽ tiếp tục nhóm họp vào mùa thu năm nay để xem xét về tiến độ và kết quả thực hiện các biện pháp.

Có vẻ như không ai thua thiệt sau hội nghị thượng đỉnh G20, thực tế không đẹp đẽ như vậy.

Ai là kẻ thua cuộc?

Người đứng đầu ngân hàng, tổ chức tài chính

Những nhà tài phiệt tài chính và nhiều giám đốc điều hành khác, người đã ra đi để lại hàng loạt khoản thua lỗ cho ngân hàng hay công ty họ sẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất.

G20 sẽ thắt chặt quản lý các khoản lương thưởng của đội ngũ điều hành, lương thưởng của họ sẽ gắn liền với mức tăng trưởng dài hạn của công ty/ngân hàng/tổ chức đó. Chế độ luật mới sẽ được áp dụng đặc biệt chặt chẽ đối với các ngân hàng, ngăn tối đa rủi ro trong các hoạt động mà giám đốc điều hành mạo hiểm.

Nhà đầu tư tại các thị trường không chính thức sẽ phải chịu thiệt nhiều nhất. Theo chương trình cải tổ khung điều tiết mới, đòn bẩy sẽ được quản lý chặt chẽ hơn tại các công ty tài chính.

Ngọc Diệp

Theo CNN

April 17, 2009

Vietnam govt bond sales fail due to high yield bids

Filed under: khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 11:43 pm
Tags: , ,

HANOI, April 17 (Reuters) – Vietnam’s State Treasury failed to sell any government bonds this week because bidders sought higher yields than the Treasury was prepared to accept, the Hanoi stock market said.

Five bidders at the auction on Thursday sought to buy 600 billion dong ($34 million) worth of two-year bonds at yields of between 8.2-9.5 percent but the treasury’s ceiling was 7.6 percent, the exchange said in a statement.

Two bidders also sought 350 billion dong worth of five-year bonds at between 8.8-9.2 percent, well above the State Treasury’s ceiling of 7.9 percent. The exchange did not name any bidders.

The State Treasury had hoped to raise 1 trillion dong in the bond sale to big infrastructure projects, such as roads, bridges and ports.

At the previous auction of government Vietnamese dong-denominated bonds on March 12, the Treasury also failed to sell any two-year and three-year debt.

The government has pledged 17 trillion dong ($956 million) in economic stimulus, including loan subsidies. State media have reported that more such policies were in the works, but it was unclear how they would be funded.

Government bonds were an option if policymakers relaxed their stance on yields, the Vietnam News quoted former central bank governor and National Monetary Policy Consulting Council member Cao Sy Kiem on Wednesday as saying.

“If we want a more successful bond issue, the yield should be raised,” Kiem said. ($1=17,780 dong) (Reporting by Ho Binh Minh; Editing by John Ruwitch)

April 12, 2009

Multinationals take a longer view of Vietnam

Filed under: châu Á,khủng hoảng,kinh tế — ktetaichinh @ 12:24 pm
Tags: , ,
Companies scale back as they confront limitations in Vietnam’s workforce and other issues.
By Don Lee
April 11, 2009

Reporting from Ho Chi Minh City — Just a couple of years ago, this city was among the hottest investment zones in Asia.

Multinationals as large as chip maker Intel Corp. and smaller firms such as Ampac Packaging, a Cincinnati-based maker of shopping bags for Gap and Target, flocked here and to other parts of Vietnam. They set up plants to complement or, in some cases, replace facilities in China that were becoming increasingly expensive to operate. “China plus one,” they called it.

<!– #sponsored1 { border:1px solid #E5E6DA; margin-bottom:10px; margin-top:5px; padding:2px 10px 10px; position:relative; font-family:Arial, Helvetica, sans-serif; font-size:12px; } #sponsored1 .header-sect { background:#FFFFFF none repeat scroll 0%; text-align:center; position:relative; top:-12px; left:52px; width:108px; } #sponsored1 .header-sect a { color:#818181; font-size:10px; font-weight:bold; text-transform:uppercase; font-family:Verdana, Helvetica, sans-serif; } #sponsored1 a:link { color:#818181; outline-color:invert; outline-style:none; outline-width:medium; text-decoration:none; } #sponsored1 a:visited { color:#818181; outline-color:invert; outline-style:none; outline-width:medium; text-decoration:none; } #sponsored1 a:hover { color:#818181; outline-color:invert; outline-style:none; outline-width:medium; text-decoration:underline; } #sponsored1 a:active { color:#818181; outline-color:invert; outline-style:none; outline-width:medium; text-decoration:none; } #sponsored1 .ad-link { font-weight:bold; } #sponsored1 p { margin:2px 0; } #sponsored1 p.titulo { margin-top:8px; } #sponsored1 .link a { font-size:10px; color:#999999 !important; } #sponsored1 .titulo a { color:#007AAA; } // #googleads { padding-bottom:8px; border-bottom:1px solid #CCCCCC; } –>

Now, with the global downturn and China reasserting itself as the low-cost producer, Vietnam is feeling the effects of a different trend: “China minus one.”

In central Ho Chi Minh City, also known as Saigon, an apartment tower that would have been one of the city’s tallest buildings has been draped in green for months. Pinched for cash, its owner, Daewon Group of South Korea, stopped work on the development even after reaching the top floor. It’s one of many foreign projects in the region that have been halted or put off indefinitely.

Taiwan’s Wistron Corp. had planned to plow millions into building a laptop factory in Vietnam last winter, to supplement its main plant in the Shanghai area.

“Right now it’s just more or less on hold,” spokesman John Collins said.

Taiwanese investment in Vietnam in the first two months of this year was just one-fifth of what it was a year ago, said Catherine Chi, a senior director at Taiwan’s Chamber of Commerce, one of the largest foreign groups here. The government in Hanoi is expecting foreign capital inflows to fall by more than half this year.

Japanese companies such as Sony Corp. and Canon Inc. have closed or reduced operations in Vietnam. Chinese automaker Lifan Group suspended plans to make cars here.

By other measures, Vietnam’s economy is faring better than most in the region. Thanks to a rise in trade of consumer goods, government spending on infrastructure and numerous plant openings in the past, the country’s gross domestic product, or total economic output, is likely to grow by 5.5% this year. That would be the second highest in East Asia after China, according to the World Bank.

Vietnam’s comparative advantages include its motivated workforce, political stability and young population.

But the last couple of years also have been sobering to foreign managers. They’ve learned that Vietnam, with a population of about 87 million, isn’t a smaller version of China.

Though it shares East Asia’s Confucian values of education and family, Vietnam doesn’t have China’s command-and-control way of getting things done quickly. Businesses complain that, even after several years, workers still haven’t finished the highway from Ho Chi Minh City’s airport to downtown. Unlike China, relocation of families is painstakingly slow.

Nor does Vietnam have the depth of skilled labor that some thought. While young Vietnamese show a penchant for learning, universities tend to be heavily theoretical. Many of their graduates lack the practical and technical training needed for careers at multinational companies.

Intel found that out recently when it screened new hires for a $1-billion chip assembly and testing facility that it’s building here. The Santa Clara-based company managed to recruit enough engineering and skilled labor for its first wave of staffing, but realized it would need to build a talent pipeline if it wanted to grow in Vietnam, said people familiar with the situation. Intel is now trying to help local universities develop curriculum and programs.

Intel didn’t respond to a request for comment, but other Western companies also have begun to take a longer-term view of Vietnam.

“There’s been some rethinking,” said Sesto Vecchi, an attorney and consultant in Ho Chi Minh City for the last two decades. Although most foreign investors remain bullish on Vietnam over the long haul, he said, “there’s probably a more realistic sense now of how many people are available to support a fast high-tech industry.”

In some ways, Vietnam’s recent troubles have as much to do with China’s improved business climate than with any particular failing of its own.

Over the last decade, Vietnam had looked more appealing as the U.S. imposed anti-dumping duties on Chinese-made products such as furniture and plastic bags. At the same time, Chinese wages soared, as did raw material costs. Labor laws stiffened. The Chinese yuan surged in value. And authorities thumbed their noses at labor-intensive businesses, eliminating export tax rebates and cracking down on environmental and safety laws.

“The era of China as a low-cost, manufacturing-for-export market has come to an end,” the Shanghai American Chamber of Commerce declared in March 2008, noting that nearly one out of five companies surveyed had concrete plans to relocate some of their China operations to other countries, notably Vietnam.

But the global credit crisis and ensuing recession changed all that. The Chinese government revived export tax rebates and has beefed up infrastructure. China’s commodity prices fell, the yuan stabilized and officials backed away from pressing employers too hard, lest more plants close and jobs disappear.

The same chamber survey a year later found that the percentage of companies planning to relocate out of China had dropped by half, as had the number of respondents expressing concern about China losing its competitive edge.

“The larger companies that have had the experience of looking elsewhere have returned to China,” said Dean Ho, the Shanghai-based vice president of Unison International, an investment and consulting firm. Some of them couldn’t find enough good workers, he said. Others found rival countries had their own challenges.

Liu Guizhong, deputy director of foreign trade for China’s Galanz Group, the world’s largest microwave oven producer, remembers visiting Vietnam last April. He and his colleagues liked what they saw.

They got visas easily upon arrival. Ho Chi Minh City boasted several port facilities. Liu said production wages in Vietnam would be around $60 a month per worker, about half that of rural China and about one-third what Galanz pays workers in China’s coastal cities.

Galanz was considering three sites in Vietnam to build a $25-million plant, including the sprawling suburbs around Ho Chi Minh City near the Saigon River. Then Vietnam’s economy went into a tailspin. Inflation soared to 28% last summer, fueled by soaring commodity prices and rampant speculation in real estate and stocks. Vietnam’s currency sank. A series of labor strikes at garment and footwear plants added to the turmoil.

Galanz retreated. Like others, it now wants to wait until the global financial storm passes. Vietnamese authorities have rolled out new tax relief and other incentives to lure back investors, but Galanz remains noncommittal.

“Many companies are evacuating, so we decided to hold our plans,” Liu said. At the moment, “there are too many negative aspects.”

don.lee@latimes.com

April 10, 2009

Gói kích cầu lần 2 nếu lạm dụng ắt nảy sinh tiêu cực 040909

Dù nhìn nhận gói kích thích lần hai hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn là phù hợp trong bối cảnh hiện tại, song giới chuyên gia cho rằng, chỉ nên coi đây là giải pháp tạm thời, nếu lạm dụng sẽ phát sinh tiêu cực, tạo cơ chế xin cho và tâm lý ỷ lại trong doanh nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong – Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế xã hội – Viện nghiên cứu kinh tế – xã hội Hà Nội nhìn nhận, xét về mặt toàn diện thì việc đưa ra gói kích cầu bổ sung đảm bảo duy trì sự ổn định và mục tiêu tập trung của Chính phủ trong các giải pháp kích cầu. Các khoản hỗ trợ lãi suất đầu tư trung và dài hạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp tự tin và an toàn hơn trong việc đầu tư vay vốn, cải cách cơ cấu sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh…

Dù vậy, ông Phong cũng cho rằng, gói hỗ trợ không mang tính dài hạn, về lâu dài dễ gây ra lạm dụng, sử dụng không hiệu quả. Nhà nước phải có cơ chế rõ ràng để chống hiện tượng lạm dụng như ngân hàng và doanh nghiệp bắt tay nhau tạo ra khoản vay ảo với lãi suất hỗ trợ sau đó là chia chác kiếm lời, hay hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vay nhưng lại không đầu tư theo cam kết mà dùng để trả nợ, đáo hạn rồi gửi lại ngân hàng ăn lãi…

Doanh nghiệp được hưởng lợi từ gói kích cầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Theo ông Phong, không nên quá nhấn mạnh vào chuyện hỗ trợ lãi suất mà cần bổ sung thêm một số công cụ hỗ trợ khác, như bảo lãnh tín dụng liên quan đến quỹ đầu tư mạo hiểm, cho vay thu mua tài chính hay các công cụ tuyên truyền sao cho có hiệu quả hơn.

Đồng tình với quan điểm này, ông Bùi Kiến Thành, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư và Quản lý tài sản quốc tế nói: “Gói kích cầu thứ hai chọn chính sách tiền tệ với lãi suất hỗ trợ, tức là Nhà nước dốc ngân sách ra để trả cho ngân hàng 4% lãi suất để doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi. Đây là một cách làm theo tôi không mang tính lâu dài, gây lãng phí tiền của ngân sách Nhà nước. Lẽ ra hàng chục tỷ đồng ngân sách này phải được sử dụng vào nhiều việc khác”.

Theo ông, Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn có thể “cào bằng” một mức lãi suất thấp có thể 5%, 6% hay 7% thay vì mức 10,5% hiện hành mà không cần dùng đến gói kích cầu cả chục tỷ đồng ngân sách. Còn nếu một thị trường mà có tới 2 loại lãi suất ưu đãi (4%) và không ưu đãi (10,5%) thì sẽ tạo ra một sân chơi không bình đẳng, doanh nghiệp rất khó cạnh tranh lành mạnh.

Ông Thành cho rằng, việc liên tiếp đưa ra gói kích cầu đã xuất hiện một tâm lý ỷ lại và kéo tụt nền kinh tế của VN quay trở lại thời kỳ bao cấp và bảo hộ. Tức là nhảy từ thời kỳ tiến bộ về thời kỳ bao cấp, quan liêu dễ dẫn đến cơ chế xin cho. Chưa kể, việc hỗ trợ lãi suất như vậy sẽ đẩy nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đứng trước nguy cơ có thể bị kiến phá giá khi hàng được xuất sang các nước khác. Doanh nghiệp được sử dụng khoản vốn này dù là đầu tư hạ tầng, máy móc thiết bị hay sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu cũng đều được coi là bằng chứng để các đối tác nước ngoài kiện lại.

“Theo tôi, gói hỗ trợ của Chính phủ chỉ nên coi là giải pháp nhất thời chứ không nên lạm dụng. Ngân sách không phải là vô tận để có thể tiếp tục chi tới 4% lãi suất… ngân sách còn phải được sử dụng vào rất nhiều việc khác nữa”, ông Thành nhấn mạnh.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật và Quản lý Kinh tế TP HCM cũng cho rằng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp VN giờ đây là cạnh tranh tồn vong, một mất một còn trong cơn bão táp ác liệt, chứ không như trong điều kiện phát triển bình thường trước đây. Trong bối cảnh này, kinh tế VN không thể chống suy giảm thành công nếu chỉ bằng những gói giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng đang được triển khai và bằng lòng với những giải pháp đó mà không quan tâm đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ông Trí cho rằng những nhược điểm của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh yếu kém của VN vẫn còn nguyên và chưa được khắc phục. Do vậy, cần có những nhóm giải pháp tổng thể cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngay từ trong giai đoạn hiện nay. Trong đó việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, hoạch định chính sách ở cấp vĩ mô, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sức cạnh tranh quốc gia của VN phải được cải tiến…

Một chuyên gia cao cấp khác thì nhấn mạnh sự minh bạch của gói kích cầu là vấn đề hết sức quan trọng, vì tất cả các gói kích cầu trên thế giới hiện nay đều có vai trò giám sát của Quốc hội. Đối với hoạt động tín dụng, giám sát bao giờ cũng là công việc khó khăn vì luôn bất đối xứng về thông tin, người vay thường “vẽ” ra các dự án rất đẹp, người cho vay không có nhiều cơ sở để biết người ta vay tiền cho mình để làm gì, hiệu quả ra sao. Kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn vay lưu động sẽ dễ dàng hơn so với cho vay dự án. Do đó, việc giám sát cho vay đối với gói kích cầu thứ hai cần phải hết sức lưu ý.

Gói kích thích kinh tế lần hai được Chính phủ công bố hôm 6/4 nhằm cung cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp, song hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 1/4/ 2009 đến hết ngày 31/12/2011.

Trước đó ngày 23/1, Chính phủ công bố gói kích thích kinh tế lần một với lãi suất hỗ trợ 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.

Tiến sĩ Phạm Minh Trí cũng đề xuất một số giải pháp nhằm vào các mục tiêu chủ yếu gồm:

– Có chính sách đầu tư đổi mới công nghệ, hổ trợ doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật, nhất là đối với các dự án công nghệ mới để tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong bối cảnh hiện nay đầu tư đổi mới công nghệ có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.

– Khẩn trương nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua việc đẩy mạnh đào tạo công nhân kỹ thuật, lao động có tay nghề, kỹ sư thực hành, nhân viên quản ly cao cấp, giám đốc điều hành, đáp ứng nhu cầu mới của doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước và ngoài nước và nhu cầu phát triển kinh tế trong bối cảnh mới.

– Cải cách hành chính triệt để, nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải tiến chính sách thuế nhằm góp phần giảm chi phí xã hội, giúp doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

– Về mặt quản lý vĩ mô, Nhà nước cần nâng cao chất lượng điều hành, quản lý, hoạch định chính sách, quyết sách, nâng cao chất lượng công tác dự báo kinh tế. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái, suy giảm kinh tế hiện nay có nhiều yếu tố khách quan khó dự đoán chính xác nên càng phải hết sức thận trọng trong dự báo, nhất là những dự báo lạc quan thái quá để tránh những quyết sách vội vàng, thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

– Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ quốc gia, chiến lược sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, chiến lược phát triển trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

– Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, tư vấn, phản biện xã hội đối với điều hành, quản lý vĩ mô, các dự án phát triển kinh tế – xã hội nhằm tránh những quyết sách, quyết định thiếu cân nhắc đầy đủ mọi yếu tố kinh tế, chính trị – xã hội không phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.