Ktetaichinh’s Blog

July 13, 2009

Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? – TS Vũ Minh Khương- 071309

Filed under: chính sách — ktetaichinh @ 12:26 pm
Tags: , , ,

(TuanVietNam) – Nghĩ về đất nước thấy trách nhiệm, nhìn ra thế giới thấy ước mơ. Bài viết của TS. Vũ Minh Khương nhằm thể hiện dũng khí của người Việt ta trong giai đoạn đầy thử thách hiện nay.


Chuyện xưa kể rằng: Trong một trận đánh quyết liệt có tính sống còn, nhưng quân sĩ cứ lui dần, lui dần đến bờ sông. Để thể hiện ý chí quyết tâm, các vị tướng đã quyết định chặt đi cây cầu duy nhất để không còn đường rút. Sau đó, khi giặc đến, tất cả đều hét vang xông lên can trường chiến đấu với ý chí vô song. Trận đánh thắng lợi và quyết định của các vị tướng khi đó đã trở thành một bài học lịch sử cho sự phát triển.

Dựa trên tích cổ này, trong một bài viết, TS. Vũ Minh Khương đã chọn tựa đề: Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? nhằm thể hiện dũng khí của thế hệ người Việt Nam chúng ta hôm nay. Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy tâm huyết này để mọi người cùng suy ngẫm.

I. Định lượng nỗi đau dân tộc:

Mỗi con người khi thấy dân tộc mình ở vào vị thế thấp kém so với tiềm năng đều mang trong mình một nỗi đau. Nỗi đau này dù không ai giống ai hoàn toàn và không thể đo đếm chính xác. Thế nhưng, nó cũng có thể ước định được ở một chừng mực nhất định. Dưới đây là một phương cách đơn giản.

Mỗi người hãy tự trả lời bốn câu hỏi sau:

  1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?

  2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?

  3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?

  4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Với mỗi câu hỏi, câu trả lời “có” được điểm 1 và câu trả lời “không” được điểm 0. Theo cách này, nỗi đau dân tộc của mỗi con người được đo bằng tổng số điểm của ba câu hỏi đầu trừ đi điểm của câu hỏi 4. Ví dụ, người mà câu trả lời là “có” cho cả ba câu hỏi đầu và “không” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng 3 (1+1+1-0=3); đó là nỗi đau ở mức tột cùng. Trái lại, người mà câu trả lời là “không” cho cả ba câu hỏi đầu và “có” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng -1 (0+0+0-1= -1); trong trường hợp này, người trả lời không có nỗi đau gì và thấy rất hài lòng với hiện tại.

Trong tập thể hàng triệu người, mức đau này có thể khác nhau, nhưng có lẽ, nhiều người cùng chia sẻ một cảm nhận là mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta cũng không thấp hơn quá xa so với mức tột cùng nói trên. Người viết bài này mong rằng Ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội khi có dịp hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình. Nếu mọi người thấy không đau mà lại tự hào vì thấy dân mình được “xếp hạng hạnh phúc hàng đầu thế giới”[1] thì cũng là điều đáng suy nghĩ lắm.

II. Định lượng nguy cơ mất nước:

Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

  1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

  2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

  3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào cách làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.

Ảnh minh họa: businessweek.com

III. Tình thế nước ta và đôi điều trăn trở

Ai đã sống ở nước Nhật chắc đều ấn tượng về sự sâu sắc và cẩn trọng trong hành xử của dân tộc này. Họ đã làm nên những điều kỳ vĩ trong cải cách Minh Trị trong nửa cuối thế kỷ 19 và sự vươn lên kỳ diệu từ đống tro tàn sau thế chiến thứ Hai.

Điều đặc biệt đáng nói là Nhật Bản đã và đang là quốc gia có sự đồng cảm và giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc phát triển vừa qua. Thế nhưng, dường như sự kỳ vọng cao của họ về một dân tộc Việt Nam có thể so sánh được với Hàn Quốc hay Nhật Bản có lẽ đang tắt dần. Quan sát động thái hợp tác của Nhật Bản với nước ta có thể giúp chúng ta thấy phần nào cảm nhận của bè bạn thế giới về tương lai của nước Việt chúng ta.

Năm 2006, tại Tokyo, Nhật Bản và Việt Nam có tuyên bố chung rất long trọng và ấn tượng khẳng định hai bên cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược[2]. Viện trợ của Nhật Bản cũng từ đó tăng lên.

Thế nhưng, Việt Nam, khác với những quốc gia và vùng lãnh thổ có công cuộc phát triển kỳ vĩ (như Hàn Quốc hay Đài Loan), viện trợ nhiều lên không làm chất lượng thể chế của chúng ta tốt lên, mà trái lại sa sút trong sự so sánh với thế giới (hình 1). Đáng buồn hơn nữa, tháng 12 năm 2008, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề tham nhũng và tin này công bố rộng rãi khắp thế giới.[3]

Hình 1. Việt Nam: Viện trợ Nhật Bản và chất lượng thể chế

Nguồn: số liệu về ODA Nhật bản (khoản cho vay) từ bộ ngoại giao Nhật bản; số liệu về hiệu lực chính phủ từ Ngân hàng Thế giới. (Click vào để xem hình lớn)

Ví dụ trên cho thấy sự sa sút của chúng ta không phải do ai chống phá, mà chính do sự yếu kém trong hệ thống trước công cuộc phát triển của dân tộc.

Trong thực tế hiện nay, chúng ta không thể đổ lỗi cho cá nhân cụ thể nào mà phải thấy đây là “lỗi hệ thống” như nhiều người đã từng nêu ra. Bản chất của lỗi hệ thống là sự khủng hoảng về hệ thức tư duy[4]. Nguyên nhân gốc rễ của sự khủng hoảng này là do những định đề và thiết kế tổ chức kiểu cũ đã trở thành lực cản cho quá trình nhận thức của tư duy và cải biến của xã hội sang khung thức vận hành mới.

Nếu hệ thống quản trị xã hội không chủ động tạo sự chuyển dịch có tính hồi sinh sang khung thức phát triển mới thì xã hội chắc chắn sẽ trải qua giai đoạn khủng hoảng trong sự suy tàn của hệ thống cai trị hiện thời. Trái lại, nếu hệ thống biết chủ động nắm bắt qui luật, mạnh dạn bước vào công cuộc hồi sinh thì nó có thể bước vào trạng thái khởi phát (xem Bảng 1 dưới đây).

Bảng 1. Đặc trưng Hệ thống trong Lựa chọn Chuyển đổi: Suy tàn hay Khởi phát

Tiêu chí Suy tàn Khởi phát

Tầm nhìn

Bị che mờ bởi hào quang quá khứ và sự lú lẫn của tư duy cũ được gia cường bởi lợi ích cá nhân và phe nhóm.

Hướng về khát vọng tương lai chia sẻ sâu sắc bởi mọi tầng lớp nhân dân. Đó là ước mơ đời đời thúc giục, người người khao khát.

Chiến lược

Mơ hồ; chủ yếu xoay xở để giữ ổn định bằng cách gia cường các chốt hãm tạo bởi những định đề có từ quá khứ.

Dựa trên sự trỗi dậy của nguyên khí dân tộc trong tầm nhìn thời đại và ý thức trách nhiệm với tương lai.

Phong cách lãnh đạo

Sự vụ, đối phó, né tránh sự thật.

Khơi dậy sự phấn khích của toàn dân bằng hoài bão lớn, phẩm chất hiến dâng, sự trân trọng từng con người, và khả năng qui tụ hiền tài.

Văn hóa tổ chức

Mọi người, dù là có chức vụ cao đều thấy không có quyền lực.

Trong đáy lòng, thực tế không còn những giá trị thiêng liêng để tôn thờ. Ngậm miệng ăn tiền.

Hệ thống không ghi nhận đóng góp hay qui trách nhiệm cho cá nhân về mỗi nỗ lực thực hiện.

Ai ai cũng thấy trách nhiệm và khả năng đóng góp của mình vào sự nghiệp chung.

Mọi người đều chia sẻ những giá trị thiêng liêng gắn với tiền đồ và danh dự dân tộc

Vai trò cá nhân được đặc biệt coi trọng. Mỗi mặt trận đều có vị tướng lĩnh xuất chúng.

Vận hành của hệ thống

Thụ động, thúc thủ, thậm chí tê liệt (trên bảo dưới không nghe)

Có định hướng mạnh mẽ vào các mục tiêu chiến lươc; sáng tạo, cộng hưởng, và hợp tác gắn bó.

Hệ thống thông tin

Mập mờ, sai lệch, thậm chí bị ém nhẹm, giấu giếm

Minh bạch, chính xác, có hệ thống với chất lượng và khả năng tiếp cận ngày một nâng cao với sự phản hồi và đóng góp chặt chẽ của công dân.

Sử dụng nguồn lực

Phung phí, dàn trải.

Luôn cảm thấy thiếu hụt tài chính và nguồn lực vật chất; trong khi coi thường giá trị con người.

Vô thức trong việc lãng phí tài nguyên và vay nợ nước ngoài.

Tiết kiệm, chiến lược, và tập trung trong sử dụng nguồn lực.

Trọng dụng người tài để nguồn lực luôn đến dồi dào, sinh sôi và phát huy mạnh mẽ.

Chỉ dùng đến tài nguyên và nợ nước ngoài cho những mục tiêu đặc biệt chiến lược và tính thấu đáo mọi hậu quả của nó.

IV. Làm gì để vượt lên

Không ít bè bạn đã có thời tin rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần quật khởi và là một ứng viên làm nên những kỳ tích phát triển ở nửa đầu thế kỷ 21. Trong thế kỷ 21 này, động lực cho sự phát triển thần kỳ chỉ có thể có được nếu ba điều kiện sau hội đủ:

1- Toàn dân tộc đồng tâm trong khát vọng vươn lên sánh vai các dân tộc vẻ vang của thời đại.

2- Hiểm họa an ninh quốc gia ngày càng gay gắt.

3- Hệ thống chính trị nhận thức được lòng dân là ánh sáng mặt trời và văn minh nhân loại là qui luật của trời đất. Trong nhận thức đó, lãnh đạo phải là người có thể ngẩng cao đầu đón ánh mặt trời của lòng dân và lái con thuyền dân tộc vượt qua biển cả trong sự thuận hòa của qui luật trời đất.

Kinh nghiệm của Indonesia với thắng lợi vang dội của Tổng thống Yudhoyono trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tháng 7 vừa rồi là điều đáng suy nghĩ. Ông được đánh giá là đã làm xuất sắc cương vị tổng thống trong 7 năm qua (2002-2009) với nỗ lực ấn tượng trong củng cố nền móng phát triển của Indonesia và chương trình chống tham nhũng với lời nói và hành động nhất quán và mạnh mẽ.

Cũng nhờ vậy mà trong mấy năm qua, Indonesia đã vượt lên từ sự sa sút sau sụp đổ của chính quyền độc tài Suharto và trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong các nước Đông Nam Á trong những tháng đầu năm 2009. Cũng trong bối cảnh dân chủ sống động, ở Malaysia, Thủ tướng mới Najib nhận được sự đồng thuận cao của người dân (65% tín nhiệm) sau 100 ngày cầm quyền nhờ những cải cách đặc biệt ấn tượng.

Trong nỗ lực cải cách hệ thống ở Việt Nam, với xu thế tất yếu hướng tới một nền dân chủ do dân và vì dân, chúng ta trước hết cần đặc biệt chú ý áp dụng một số cải tiến kỹ thuật, tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa cực kỳ then chốt. Dưới đây là hai ví dụ nhỏ.

Ảnh minh họa: businessweek.com

1- Lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử

Trong bối cảnh không dễ dàng đổi thay một cơ chế hay một hệ tư duy, việc lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử có tác dụng quan trọng.

Bài học này có từ kinh nghiệm của Tổng thống Abraham Lincoln khi ông còn là một luật sư. Khi đó nước Mỹ có luật là người lớn không thể đòi khoản nợ mà người vị thành niên vay mình. Điều luật này lập tức bị nhiều nhiều thiếu niên lạm dụng: họ vay tiền rồi từ chối trả nợ. Nhiều chủ nợ cay đắng chấp nhận vì luật pháp không ủng hộ họ.

Trong tình thế này, luật sư Lincoln cũng không có cách nào khác để giúp thân chủ của mình đòi nợ ngoài việc đề nghị tòa án lưu giữ hồ sơ là cậu thiếu niên này đã quỵt nợ và ghi rõ cậu đó sẽ không bao giờ được coi là người lớn nếu không trả món nợ này. Lo sợ về đề xuất này được thực hiện, cậu thiếu niên này và gia đình đã vội vã xin trả món nợ và tình trạng quỵt nợ kiểu này từ đó không còn nữa.

Bài học này cho thấy, con người ta sẽ thường chỉ có hành vi lạm dụng khi trốn lủi được sự phán xét. Do đó, chúng ta đề nghị có đạo luật để Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ phải lưu trữ thật tốt mọi luận bàn và quyết định quan trọng về chính sách phát triển và bổ nhiệm nhân sự để toàn xã hội được biết trong một thời hạn sớm nhất có thể. Khi đó, ai đề xuất hay quyết định những việc gì, dù tốt đẹp cho dân cho nước hay làm hại dân hại nước; dù đề bạt người hiền tài hay nâng đỡ kẻ tham nhũng sẽ đều được sự phán xét nghiêm minh của lịch sử.

2- Lựa chọn và đánh giá lãnh đạo dựa trên phân loại khoa học

Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo và chủ chốt có ý nghĩa sống còn với công cuộc phát triển. Công việc hệ trọng này nên dựa trên một sự phân loại khoa học, có hệ thống. Tối thiểu cần dựa trên hai tiêu chí: Phẩm chất hiến dâng và Tư duy cải cách. Trên mỗi tiêu chí, cho điểm từ 1 đến 5 (1=rất thấp so với mức trung bình; 2=thấp hơn mức trung bình; 3=mức trung bình; 4=cao hơn mức trung bình; 5=vượt xa mức trung bình).

Để lựa chọn người cho một cuộc bầu cử chính thức, một tổ chức (dù là Đảng, Quốc hội, hay Chính phủ) nên có phân loại khoa học theo hai tiêu chí trên. Ví dụ: (i) Ban Chấp Hành Trung ương đánh giá về các ủy viên Bộ Chính trị hiện tại hoặc các ủy viên dự kiến cho khóa tới; (ii) Quốc hội đánh giá các bộ trưởng và các vị giữ trọng trách cao hơn.

Hình 2: Phân loại và đánh giá cán bộ chủ chốt

Click vào để xem hình lớn.

Tổng hợp đánh giá của cả tập thể về một cán bộ chủ chốt sẽ cho phép phân loại cán bộ theo hình vẽ 2 nêu trên.

Theo đó, chỉ người có mức điểm trung bình cao (nghĩa là trên 3,0) trên cả hai tiêu chí: “Phẩm chất hiến dâng” và “Tư duy cải cách” (ô I) mới được lựa chọn vào bầu cử cho các cương vị cao như ủy viên Bộ chính trị hay bộ trưởng và các vị trí cao hơn. Đảng và Quốc hội, nếu muốn có lòng tin của dân cần công khai các chỉ số này cho cán bộ chủ chốt ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đánh giá của nhiều người, có nhiều cán bộ chủ chốt của ta ở ô III (có năng lực nhưng cơ hội, tham nhũng) và ở ô IV (vụ lợi cá nhân, bảo thủ). Điều đặc biệt đáng nói là cách đánh giá này không chỉ xác đáng còn tạo động lực để mỗi cán bộ đều tự rèn luyện và tốt hơn lên. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là, tất cả những ai được đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, thậm chí chỉ là cán bộ trong bộ máy nhà nước, đều phải ở ô I với độ tin cậy cao của toàn dân về phẩm chất hiến dâng và tư duy cải cách.

V. Thay lời kết

Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.

Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày. Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “chặt cầu để tiến lên không?”

  • TS. Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore)

Bài cùng tác giả:
Nhà nước kiến tạo phát triển phải từ quyết tâm chiến lược
Bàn thêm về mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển
Nền móng phát triển và mệnh lệnh cải cách

[1] Tổ chức New Economic Foundation vừa đưa ra xếp hạng chỉ số hạnh phúc năm 2009, trong đó Việt Nam xếp hạng 5. Điểm tốt của cách xếp hạng này là khuyến khích các nước tiêu dùng ít vật chất hơn. Điểm hạn chế là phương pháp dễ gây ngộ nhận cho các nước nghèo. Thứ nhất, họ dùng khảo sát mức độ hài lòng với cuộc sống thực hiện năm 2005 (nghĩa là 5 năm trước đây) và khảo sát này chủ yếu dựa vào một nhóm nhỏ người sống ở thành phố. Thứ hai, họ chia chỉ số hài lòng cho lượng vật chất tiêu dùng; nói một cách nôm na, chỉ số hài lòng của người Mỹ là 8 nhưng vì họ đi ô tô nên chỉ số hạnh phúc của họ thấp hơn Việt Nam với chỉ số hài lòng là 6,5 nhưng đi xe máy.

[2] “Japan-Vietnam Joint Statement: Toward a Strategic Partnership for Peace and Prosperity in Asia”; October 19, 2006; Ministry of Foreign Affair, Japan; URL: http://www.mofa.go.jp/region/asia-paci/vietnam/joint0610.html, xem ngày 11/07/2009.

[3] “Japan Suspends Aid to Vietnam, Citing Corruption”; URL: http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=aTIhAZGLZ2Ko&refer=asia, xem ngày 11/07/2009

[4] Xem thêm Elgin, D. (1977), “Limits to the management of large complex systems”, Assessment Of Future National and International Problem Areas, Stanford Research International, Palo Alto, CA.

13/07/2009 06:21 (GMT + 7)

Advertisements

May 2, 2009

BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2008- 050109

Báo cáo “Kinh tế Việt Nam 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị và trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (CEPR) thuộc đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện. Báo cáo nhận định suy giảm và bất ổn của kinh tế của Việt Nam trong năm 2008 là do những bất cập của chính sách quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế, khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới đóng vai trò đẩy sâu thêm quá trình này. Nội công, ngoại kích, thách thức đổi mới lớn hơn bao giờ hết. Trong lúc bị động chờ khủng hoảng thế giới đi qua, cần chủ động điều trị “nội thương” để giảm tổn thất và chuẩn bị cho sự phục hồi

Kinh tế 2008 suy giảm: vì sao?

Những nhà nghiên cứu trẻ, khảo sát tình hình kinh tế năm 2008 của Việt Nam, nhìn thấy quá trình suy giảm từ trong những bất cập về quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế. Diễn biến khủng hoảng kinh tế của thế giới chỉ đẩy sâu quá trình suy giảm ấy

Với vai trò chủ biên báo cáo này, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nhận xét: “Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”. Ông dẫn chứng: Vào đầu quý 4/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới tràn tới chúng ta thông qua sự thoái vốn đầu tư nước ngoài và sụt giảm cầu xuất khẩu. Nhưng từ trước đó, chúng ta đã gặp phải những khó khăn cơ bản như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai cao, tỷ giá dao động khó lường và doanh nghiệp điêu đứng vì thắt chặt tiền tệ.

Những bất ổn vĩ mô

Những khó khăn ấy, theo TS. Phạm Thế Anh là do những nguyên nhân trong nước. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền quá cao sau nhiều năm đã khiến cho tổng phương tiện thanh toán M2 vượt giá trị GDP danh nghĩa từ sau năm 2006, còn M1 xấp xỉ giá trị GDP danh nghĩa trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ vượt xa tốc độ tăng GDP thực tế trong một thời gian dài khiến lạm phát bùng nổ là điều không thể tránh khỏi.

Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được TS Thế Anh nhận định là chậm trễ, thiếu linh hoạt, và thiếu nhất quán trong phản ứng. Những lúng túng đầu năm trong việc lựa chọn giữa mục tiêu bình ổn giá cả với thúc đẩy tăng trưởng và ổn định tỷ giá khiến cho các hành động chính sách trở nên bất nhất. Điều này một mặt làm cho việc kiềm chế lạm phát không đạt hiệu quả, mặt khác gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại. Vào cuối năm, các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ lại quá cứng và thắt chặt quá mức, cùng với sự cộng hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đã khiến cho nền kinh tế càng thêm khó khăn. Các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ xa rời và không có vai trò dẫn dắt thị trường.

Đến lượt mình, những bất ổn vĩ mô tích tụ trong nội tại nền kinh tế bùng phát từ quý 4/2007 đã tác động tiêu cực lên thị trường chứng khóan, cuốn đi nhiều thành tựu trước đó của thị trường này trước đó. Sự giảm nhiệt của nền kinh tế nói chung đã làm thị trường suy giảm theo một khuynh hướng khó lòng đảo ngược. TS Nguyễn Đức Thành cũng chỉ ra rằng kỳ vọng của nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong diễn biến của thị trường và vì vậy, sự đi xuống của thị trường từ giữa năm 2008 đến nay là có thể hiểu được. Theo ông, những điều kiện thực tiễn và chính sách vĩ mô có khả năng thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ là tác nhân tiên quyết cho sự phục hồi của thị trường trong thời gian tới. Kết quả tính toán cho phép xác định giá trị của VN–index tương ứng cho từng kịch bản bi quan, lạc quan. Thật đáng lo khi kết quả ước lượng mức dao động của VN–index trong năm 2009 (tương đương từ quý 2/2009 đến hết quý 1/2010) nằm trong khoảng 260 điểm tới 540 điểm.

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008 nói trên, dưới góc nhìn “tiết kiệm và đầu tư”, TS Phạm Văn Hà phát hiện rằng nếu như năm 1997 chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,77% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%), chúng ta phải đầu tư tới 43,13% GDP. “Chúng ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi phải chăng vốn đầu tư tăng liên tục trong mười năm qua đã có đủ hiệu quả như năm 1997”, ông Hà nói. Và, quan trọng hơn, là phải tìm ra được câu trả lời vì sao.

Và cơ cấu nền kinh tế

Câu trả lời dường như nằm ở năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp với những phân tích. Tiến sĩ Tô Trung Thành chỉ ra rằng trong khi các quốc gia khác như Trung Quốc và ASEAN đã có những nỗ lực rất mạnh mẽ để nâng tầm cạnh tranh công nghiệp thông qua tăng cường giá trị gia tăng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành hàng sử dụng công nghệ cao, tăng cường tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung – cao, Việt Nam trong suốt gần một thập niên đầy những biến động về xu thế cạnh tranh toàn cầu, dường như không có bất kỳ một sự thay đổi nào về năng lực cạnh tranh công nghệ. Nước ta vẫn dựa vào lợi thế cạnh tranh so sánh truyền thống trong những ngành công nghiệp hàm chứa ít công nghệ, có giá trị gia tăng thấp nên dễ bị tổn thương, đã được bộc lộ rõ nét trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008. Đồng thời, tỷ trọng sản xuất cũng như xuất khẩu những ngành hàm lượng công nghệ trung và cao rất thấp, thậm chí kém xa các nước khác trong khu vực ở thời điểm cách đây từ 10 đến 20 năm, với cùng trình độ phát triển và nguồn lực tương đương.

“Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”

Bức tranh u tối này thể hiện ngay cả trong khu vực FDI – nơi được kỳ vọng sẽ thu hút được công nghệ tiên tiến của các nước. Theo thạc sĩ Jago Penrose, Michael Kalecki (1954) từ lâu đã chỉ ra rằng là sự ưu tiên và chiến lược của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khác với chính phủ nội địa. Những nghiên cứu gần đây hơn đã xác nhận xu hướng này. Các doanh nghiệp FDI chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình so cho phù hợp với nền kinh tế địa phương, có cân nhắc đến nguồn tài nguyên nội địa, trình độ lao động, quy mô và thị hiếu thị trường nội địa… Thực tế tại nước ta, các doanh nghiệp FDI có xu hướng đầu tư vào các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu và lao động không có kỹ năng. Một báo cáo của UNDP cho thấy rằng để ứng phó trước áp lực phải tăng tiền lương danh nghĩa, hầu hết các công ty may mặc với công nghệ chẳng có gì là hiện đại đã hạ thấp tiêu chuẩn tuyển dụng của họ, lựa chọn ngày càng nhiều các công nhân không có kỹ năng.

Chính sách thương mại quốc tế cũng là một minh chứng cho sự yếu kém của nền kinh tế. Theo TS Từ Thuý Anh, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu 2008 còn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công, với biểu hiện thương mại nội ngành là chủ yếu (doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu, linh kiện, thực hiện gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu).

Đã có những chuyển dịch rõ nét theo hướng tích cực là đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhưng thị trường nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á, đặc biệt là tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng cao. Điều này, theo TS Thuý Anh “dường như minh chứng rằng Việt Nam đang chịu nhiều tác động chuyển hướng thương mại hơn là tạo lập thương mại từ các thoả thuận tự do hoá thương mại khu vực như AFTA và ACFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc). Việt Nam bị thiệt nhiều hơn là được lợi từ các liên kết kinh tế vùng”.

Khó chồng khó

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008, dưới góc nhìn “tăng trưởng và chu kỳ kinh tế”, TS Phạm Văn Hà, cho rằng năm 2008 là năm đánh dấu nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn thu hẹp của chu kỳ kinh tế. Sử dụng các công cụ định lượng cơ bản lượng nhằm loại bớt các yếu tố mùa vụ và phân tích khuynh hướng dài hạn của nền kinh tế, ông vạch ra rằng tốc độ tăng trưởng đã có dấu hiệu nóng và lên đến đỉnh vào quý 4/2007. Giai đoạn thu hẹp chính thức bắt đầu từ quý 1/2008 và trở nên rõ rệt vào quý 2/2008. Dưới tác động của khủng hoảng thế giới vào quý 3/2008, nền kinh tế của ta đã không có được một cuộc hạ cánh “mềm” như kỳ vọng mà tiếp tục bị đẩy sâu vào giai đoạn đi xuống. Theo ông, trong cả ba quý cuối của năm 2008, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng dưới mức tiềm năng, mặc dù chính mức tiềm năng này cũng đang giảm dần. Cho đến cuối năm, những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chìm sâu vào giai đoạn thu hẹp thể hiện tương đối rõ: tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu suy giảm; thị trường chứng khoán xì hơi; giảm giá và ảm đạm trên thị trường bất động sản. “Hiện chưa có dấu hiệu gì nền kinh tế đã chạm đáy của thời kỳ thu hẹp”, TS Hà nhận định.

Trong bối cảnh này, các tác giả chỉ ra rằng, chính sách vĩ mô – các nhóm chính sách tài khoá, tiền tệ và cán cân thanh toán bị ràng buộc chặt chẽ với nhau và dư địa cho việc thực hiện không còn nhiều vì nền kinh tế đang trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt ngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao và tình trạng đô la hoá cao.

Các tác giả dự báo rằng tăng trưởng kinh tế của nước ta chỉ vào khoảng 4,7% với mức lạm phát được cho là khó dự báo hơn vì phụ thuộc tình hình kinh tế thế giới (thông qua đó ảnh hưởng đến giá nguyên liệu thô) và mức độ, cách thức can thiệp vĩ mô của chính phủ nhưng có nguy cơ bùng phát vào cuối năm. Tỷ giá sẽ diễn biến phức tạp do ảnh hưởng đa chiều của các nhóm chính sách vĩ mô. Nhìn chung có khuynh hướng tăng vì khả năng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể là lớn.

Nhóm tác giả

Tiến sĩ Phạm Thế Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giảng viên đại học Kinh tế quốc dân, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo.

Tiến sĩ Từ Thuý Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, giảng viên đại học Ngoại thương Hà Nội, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia kinh tế quốc tế.

Tiến sĩ Phạm Văn Hà: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Úc, hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hoá (CGE).

Tiến sĩ Lê Hồng Giang: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Úc, nguyên giảng viên Chương trình kinh tế Fulbright tại TP. HCM, giám đốc quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hoá.

thạc sĩ Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (chủ biên): tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Nhật, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giám đốc CEPR, giảng viên đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia về kinh tế vĩ mô.

Tiến sĩ Tô Trung Thành: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, giảng viên khoa kinh tế học – đại học Kinh tế Quốc dân, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo

April 6, 2009

Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 11/2008: Chủ động, nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội

Filed under: chính sách,chính trị,kinh tế — ktetaichinh @ 8:48 pm
Tags: , ,
02/12/2008-05:45:00 PM) In bản tin, bài viết này
(Chinhphu.vn) – Chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục nhấn mạnh, trước tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp phải chủ động, tập trung mọi nỗ lực để ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: Chủ động, tập trung mọi nỗ lực ngăn chặn sự suy giảm của nền kinh tế – Ảnh: Chinhphu.vn

Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 diễn ra trong 2 ngày (từ 1-2/12) dưới sự chủ trì của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng Chính Phủ. Chính phủ đã nghe báo cáo, thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2008, đề ra các giải pháp kịp thời ngăn chặn sự đình trệ của sản xuất kinh doanh, đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế; thảo luận, cho ý kiến về một số vấn đề cụ thể: Cơ chế chỉ định thầu đối với các dự án xây dựng thuộc Đề án kiên cố hoá trường học, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012; Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh; Tờ trình về phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng, chống tham nhũng; Báo cáo về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính tháng 11 năm 2008.

Kế hoạch ứng phó suy thoái kinh tế toàn cầu bước đầu phát huy tác dụng

Thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các thành viên Chính phủ nhận định: Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thiên tai lũ lụt ở trong nước đã có tác động nhất định tới nền kinh tế của nước ta.

Giá trị sản xuất công nghiệp chỉ tăng 15% so với cùng kỳ năm 2007 (tháng 11/2007 so với cùng kỳ năm trước tăng 17,4%), tháng 11 là tháng thứ 5 liên tiếp (kể từ tháng 7) tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bị giảm sút. Giá trị gia tăng ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2009 giảm 0,33% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu, đầu tư, thu ngân sách, thị trường chứng khoán, du lịch, vận tải, dịch vụ và sức mua đều giảm sút so với những tháng gần đây. Thiên tai lũ lụt trong nước làm mất trắng hơn 200 nghìn ha vụ Đông, gây thiệt hại lớn ở miền Bắc và miền Trung.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và các Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 11 – Ảnh: Chinhphu.vn

Trước nhiều khó khăn thách thức, các thành viên Chính phủ có chung nhận định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự cố gắng của của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân và doanh nghiệp, nền kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng và phát triển ổn định; lạm phát được kiềm chế; đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục tăng (11 tháng đầu năm 2008 tăng 44,2% so với cùng kỳ năm 2007), chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 giảm 0,76% so với tháng 10, lãi suất tín dụng giảm nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn vay; chính sách an sinh xã hội được bảo đảm, riêng trợ cấp xã hội trong 11 tháng qua là gần 20 nghìn tỉ đồng (năm 2007 gần 5 ngàn tỉ đồng), ước tăng trưởng GDP năm 2008 đạt mức 6,7%.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, những khó khăn trên bắt nguồn từ các nguyên nhân cộng hưởng bởi sự suy thoái của nền kinh tế thế giới cùng với những khó khăn trong nước, nhưng cũng đã được dự báo và nằm trong kế hoạch ứng phó từ các tháng trước.

Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 11 – Ảnh: Chinhphu.vn

5 giải pháp trọng tâm ngăn chặn sự suy giảm kinh tế

Sau khi nghe báo cáo, thảo luận của các thành viên Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận, trong tháng 12 và thời gian tới, các cấp, các ngành cần tập trung mọi nỗ lực, chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp để đạt mục tiêu ngăn chặn sự suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội.

Trong đó, Thủ tướng lưu ý 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu, trong đó, có chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cho những người trực tiếp sản xuất, nhất là đối tượng nông dân, người nghèo, về chính sách thuế, vay vốn ngân hàng, hoãn nợ, giãn nợ ngân hàng, hỗ trợ về cây, con giống…  Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh, có khả năng tăng cao, kim ngạch lớn và nhiều cơ hội tiêu thụ ở cả trong và ngoài nước. “Làm tốt công tác phát triển sản xuất, kinh doanh cũng chính là làm tốt công tác an sinh xã hội”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.

Thứ hai: Đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, kích cầu đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước về xây dựng cơ bản tập trung hàng năm, nguồn trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn ODA. Trong  kích cầu đầu tư, cần khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp tham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, điện, xi măng… Đối với tiêu dùng, thực hiện các biện pháp phát triển mạng lưới phân phối, hệ thống bán lẻ đặc biệt là ở khu vực vùng sâu, vùng xa để cung cấp các mặt hàng vật tư tiêu dùng thiết yếu. Dự kiến, Chính phủ sẽ dành khoảng 1 tỷ USD để kích cầu đầu tư và tiêu dùng.

Thứ ba: Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt hiệu quả nhằm thúc đẩy sản xuất-kinh doanh, xuất khẩu, kích cầu đầu tư tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội. Ngân hàng nhà nước xác định tỉ giá, lãi suất phù hợp; thực hiện các biện pháp để tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; coi việc điều chỉnh linh hoạt về chính sách lãi suất, chia sẻ, hỗ trợ khó khăn đối với doanh nghiệp là nhiệm vụ chính trị của ngân hàng thương mại nhà nước. Bộ Tài chính nhanh chóng đề xuất các loại thuế có thể được miễn, giảm, giãn để tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.

Thứ tư: Tiếp tục thực hiện sâu rộng chính sách an sinh xã hội. Ngay từ đầu năm 2009 cần khẩn trương rà soát, xây dựng, và thực hiện các chính sách hỗ trợ, đầu tư cho 61 huyện nghèo nhất nước; triển khai bảo hiểm thất nghiệp; không để tình trạng thiếu đói ở những vùng bị ảnh hưởng của thiên tai. Thủ tướng cũng yêu cầu không để nhân dân thiếu đói và chỉ đạo Bộ Tài chính mua trên 150.000 tấn gạo, nhu yếu phẩm dự trữ, đề phòng trường hợp cấp bách.

Thứ năm: Quyết liệt, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả trong tổ chức chỉ đạo, điều hành cho phù hợp với tình hình mới. Trong đó, tập trung vào việc chủ động về công tác dự báo, phân tích; đặt nhiệm vụ dự báo là việc làm thường xuyên, liên tục của các ngành, các cấp, các tổ chức nghiên cứu khoa học… Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, xây dựng, giải phóng mặt bằng, nộp thuế, thủ tục hải quan… Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước nhất là các Tập đoàn kinh tế, các Tổng Công ty… kiên trì xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần song kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

“Quyết liệt hơn nữa việc cải cách các thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản để giải phóng nhanh nguồn vốn cho xây dựng”, Thủ tướng yêu cầu.

Tại Phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các thành viên Chính phủ đã nhất trí chủ trương tăng thẩm quyền quyết định đầu tư trong việc thực thi quyền chỉ định thầu, hoặc đấu thầu đối với từng loại công trình như ban hành cơ chế được chỉ định thầu đối với công trình (giáo dục, y tế) từ 5 tỷ đồng trở xuống.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu, các Bộ, ngành, địa phương làm tốt công tác chủ động thông tin tuyên truyền, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời; thông tin tuyên truyền để thấy được những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được, những thuận lợi và cả khó khăn về tình hình kinh tế-xã hội để các cấp, các ngành và toàn dân đồng sức đồng lòng vượt qua những khó khăn, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.

Thủ tướng cũng nhắc nhở các cơ quan chức năng tăng cường các biện pháp quản lý thị trường, giá cả, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, chống đầu cơ nâng giá; bảo đảm cung cấp đủ lượng hàng hoá trên thị trường, chống đốt pháo, đảm bảo an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán 2009 ./.

Nguyễn Hoàng

April 5, 2009

Tình trạng khiếu nại, tố cáo tại TPHCM – Bức xúc vẫn ở lĩnh vực nhà đất 040409

“Các vụ tranh chấp, khiếu nại tố cáo (KN-TC) trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư. Tình trạng KN-TC về nhà ở đang ngày càng bức xúc…” – Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 20/2006/CT – UBND, Quyết định 132/2006/QĐ-UBND và 1 năm thực hiện Quyết định 3141/QĐ-UBND của UBND TPHCM về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư KN-TC tổ chức ngày 3-4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân.

  • 9 đời chủ tịch vẫn… chưa xong!

Người dân đang phản ảnh thắc mắc, kiến nghị tại phòng tiếp công dân UBND quận 8. Ảnh: H.Hoa

Ông Hoàng Đức Long, Phó chánh Thanh tra Thường trực TPHCM cho biết: Trong 2 năm 2007-2008, trong tổng số trên 25.000 đơn thuộc thẩm quyền các cấp, các ngành phải giải quyết, đã có hơn 22.700 đơn được giải quyết (tỷ lệ 88,66%). Tuy nhiên, ông Long cũng nhìn nhận, thời hạn giải quyết khiếu nại vẫn còn kéo dài, tình trạng đơn thư tồn đọng quá hạn giải quyết vẫn chưa được khắc phục triệt để. “Các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bồi thường, giải tỏa và tái định cư vẫn là chủ yếu và gây bức xúc lớn trong dân”, ông Long nhấn mạnh.

Còn theo ông Phan Đức Nhạn, Phó giám đốc Sở Xây dựng thì KN-TC về nhà đất ngày càng gay cấn và bức xúc do giá trị về nhà đất rất lớn, trong khi đó nội dung những vụ việc này lại phức tạp, đa dạng.

Chủ tịch UBND TP Lê Hoàng Quân cũng tâm sự: “Tôi là chủ tịch đời thứ 9 rồi mà vẫn có những đơn thư kéo dài đến nay chưa giải quyết xong. Thậm chí, có rất nhiều người dân biết rất rõ địa chỉ nhà tôi ở Đồng Nai và đến tận nhà, chờ đợi để đưa tận tay đơn thư KN-TC. Tất cả điều đó chỉ giải thích được một điều là người dân bức xúc lắm, vì ảnh hưởng quá lớn đến đời sống của họ nên họ sẵn sàng bỏ cả công ăn việc làm để đi tìm cho được câu giải đáp. Một ngày bình quân tôi nhận khoảng 10 đơn các loại gửi đích danh chủ tịch UBND TP, trong đó có những câu chuyện đọc xong đêm không ngủ được vì thấy buồn và day dứt lắm”…

Lý giải về số lượng đơn thư thuộc thẩm quyền nhưng chưa giải quyết rốt ráo và kéo dài, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân cho rằng: Phần lớn đơn thư đó có nội dung phức tạp, liên quan đến chính sách đền bù, giải tỏa, thu hồi đất, tái định cư… đòi hỏi phải có thời gian thẩm tra, xác minh từ nhiều cơ quan chức năng khác nhau nên thường bị kéo dài về thời gian. Khối lượng đơn thư khá lớn trong khi cán bộ thiếu kinh nghiệm, trình độ nên gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, theo Sở Xây dựng, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực nhà đất còn thiếu, đôi khi nội dung mâu thuẫn nhau.

  • Luật thiếu, cán bộ yếu

Từ thực tế trên, đã có rất nhiều giải pháp tâm huyết được các đại biểu trình bày tại hội nghị. Chủ nhiệm Văn phòng tiếp công dân TP Phạm Văn Thành đề xuất: HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ TP cần nâng cao hiệu quả giám sát những trường hợp KN-TC phức tạp, đông người. Sau khi giám sát phải có văn bản kết luận đúng sai ngay đối với những vụ việc đã được các cơ quan chức năng giải quyết. Có vậy, KN-TC mới có điểm dừng, nếu không kịp thời giải quyết nhanh những KN-TC mới phát sinh dưới cơ sở thì chuyện vượt cấp là điều dễ hiểu!

Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng và củng cố các tổ chức hòa giải để hướng dẫn, thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau. Cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và cung cấp đầy đủ thông tin về quá trình giải quyết giữa các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến cơ sở. Với các dự án có khiếu nại đông người thì phải công khai từ việc quy hoạch, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, phương án bồi thường tái định cư và nhanh chóng cử cán bộ có kinh nghiệm giải quyết các khiếu nại của người dân có liên quan.

Ông Châu Văn La, Phó Chủ tịch UBND quận Tân Bình kiến nghị: sửa đổi Quyết định 132 của UBND TP về việc ủy quyền trong đối thoại cho phù hợp với Luật KN-TC. Vì thực tế, khi các cơ quan tham mưu đối thoại thường không phải là thủ trưởng cơ quan chủ trì mà giao cho cấp phó, có khi ở cấp chuyên viên tiếp xúc người khiếu nại. Nhiều trường hợp không trả lời dứt khoát được vụ việc cần giải quyết thế nào nên người dân bức xúc và tiếp tục KN-TC vượt cấp. Cần có văn bản quy định rõ trách nhiệm, hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức không hợp tác, chậm trễ khi phối hợp với cơ quan tham mưu giải quyết khiếu nại vì thường một vụ việc KN-TC có tính chất phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực.

Phó Chánh Thanh tra Thường trực TPHCM Hoàng Đức Long cho rằng: UBND TP tiếp tục đề xuất Trung ương thay đổi, bổ sung các quy định pháp luật để các văn bản quy phạm pháp luật không trái với Luật KN-TC; đồng thời chỉ đạo xây dựng “Hệ thống chương trình quản lý hồ sơ tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, khiếu nại” của từng cơ quan và liên thông giữa 5 cơ quan (Thanh tra TP, Sở TN-MT, Sở Xây dựng, Văn phòng tiếp công dân TP và Văn phòng HĐND- UBND TP) nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng thông tin báo cáo cũng như đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành của UBND TP trong công tác KN-TC trên địa bàn TP.

Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân: Thanh tra công vụ để ngăn ngừa tiêu cực

Các cơ quan thanh tra tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp dưới trong tiếp công dân, giải quyết KN-TC. Đặc biệt, các đơn vị phải tăng cường thanh tra công vụ để kịp thời hạn chế và ngăn ngừa phát sinh tiêu cực trong giải quyết tranh chấp KN-TC. Trong khi hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, các quy định và văn bản pháp luật về đất đai, xây dựng còn thay đổi, chồng chéo, bất cập thì yếu tố góp phần kéo giảm tình trạng KN-TC chính là nâng chất đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân.

April 4, 2009

Thâm hụt ngân sách và gánh nặng tăng trưởng 040309

Dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu

Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đang chuẩn bị phương án bội chi ngân sách tăng lên 8% GDP để trình ra kỳ họp quốc hội vào tháng 5 tới, thay vì mức gần 5% được chấp nhận trước đây.

“Việt Nam khó có lựa chọn khác với các quốc gia trên thế giới, khi các chính phủ buộc phải tăng bội chi ngân sách nhằm chống suy thoái,” giám đốc quốc gia ADB Ayumi Konishi bình luận.

Mức bội chi này, nếu được Quốc hội thông qua, sẽ lần đầu tiên vượt qua số chi cho đầu tư phát triển ở mức 112,8 ngàn tỉ đồng trong năm nay. Tuy vậy, mức bội chi lên đến 8% GDP đang mang lại những quan ngại sâu sắc về ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn. Mức bội chi này sẽ tương đương với 144,8 ngàn tỉ đồng (khoảng 8,5 tỉ USD, với tỷ giá là 17.000 VND/USD), căn cứ trên mức bội chi đã được Quốc hội thông qua là 87,3 ngàn tỉ đồng (khoảng 5,1 tỉ USD) tương ứng với 4,82% GDP.

Như vậy, mức thâm hụt này là trầm trọng nhất trong vòng nhiều năm qua, so với các mức thâm hụt 66,2 ngàn tỉ đồng (năm 2008), 56,5 ngàn tỉ đồng (năm 2007), 48,5 ngàn tỉ đồng (năm 2006) và 40,7 ngàn tỉ đồng (năm 2005), theo các bộ Tài chính và Kế hoạch và đầu tư (xem biểu đồ).

Những thống kê trên cho thấy, thâm hụt ngân sách của năm 2009 sẽ vượt quá mức thâm hụt trung bình 5% GDP hàng năm, từ đầu thời kỳ kế hoạch 5 năm đến nay. “Đây là một tỷ lệ quá cao, dẫn đến rủi ro lớn về khả năng trả nợ trong tương lai”, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư thừa nhận.

Câu hỏi đặt ra là, vì sao phải đưa mức bội chi lên đến 8% GDP cho năm nay, và liệu nó có quá đi so với khả năng chịu đựng của nền kinh tế? “Chúng tôi thấy rằng, nếu trường hợp ta giảm chi, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của Nhà nước, đặc biệt là chính sách an sinh xã hội”, thứ trưởng bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp nói trên Thời báo Kinh tế Việt Nam.

Giải thích này xuất phát từ quan ngại nguồn thu ngân sách sẽ co lại do suy giảm từ các nguồn dầu thô (vốn chiếm tới 25% thu ngân sách), giãn thu thuế thu nhập cá nhân, giãn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% thuế VAT… Mức suy giảm của các nguồn này, theo bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh tại phiên họp giao ban của Chính phủ, sẽ vào khoảng 12.000 tỉ đồng. Điều này có nghĩa là, tổng thu cân đối ngân sách năm nay dự kiến sẽ còn 377,9 ngàn tỉ đồng, thay vì 389,9 ngàn tỉ đồng như cam kết với Quốc hội trước đây; và sẽ thấp hơn nhiều so với dự toán chi 491,3 ngàn tỉ đồng cho năm 2009.

Lý giải việc thâm hụt ngân sách luôn tăng cao, một quan chức của bộ Kế hoạch và đầu tư nói, “dù tăng thu trong mấy năm gần đây, nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu chi cần thiết tối thiểu”.

Thông thường, thâm hụt ngân sách được tài trợ bởi các nguồn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ. Trong động thái ủng hộ đề xuất tăng bội chi ngân sách của Chính phủ, Quốc hội dự kiến cho phép phát hành trái phiếu Chính phủ năm nay lên đến 64 ngàn tỉ đồng trong kỳ họp tháng 5 tới, tăng gần gấp đôi so với kế hoạch 36 ngàn tỉ đồng thông qua cuối năm ngoái.

Những bước đi này khiến các nhà tài trợ chính của Việt Nam e ngại. “Bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn vốn trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền, hoặc hạn chế đầu tư tư nhân, hoặc cả hai điều này; và trong trung hạn, có thể làm tăng lạm phát và gây cản trở đối với tăng trưởng”, ông Konishi, giám đốc ADB tại Việt Nam nói.

ADB cho rằng, thâm hụt ngân sách của Việt Nam, thậm chí lên tới 9,8% GDP (gần 9,3 tỉ USD) trong năm 2009. Ông Konishi cảnh báo, chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng, và nợ công tăng thêm (dự kiến 45,8% GDP năm 2009),… có thể lại khiến tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn trở lại.

Trong khi đó, ngân hàng Thế giới tỏ ra hoài nghi về chính sách tài khoá, vốn sẽ vẫn là công cụ chính sách vĩ mô quan trọng của Việt Nam. “Chính sách tài khoá hiệu quả đòi hỏi phải có nguồn thông tin đáng tin cậy về thu và chi của Chính phủ và kiểm soát tốt các dự án đầu tư công. Việt Nam còn nhiều thiếu sót về cả ba mặt này. Tính toán cân đối ngân sách của Việt Nam còn khác xa so với các chuẩn mực quốc tế”, chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới Martin Rama nhận xét trong báo cáo phát triển Việt Nam năm 2009.

Ông viết tiếp: “Việc trả nợ, duy trì tài khoản ngoại bảng và xử lý các khoản thu kết chuyển làm sai lệch tình hình ngân sách của Chính phủ. Thông tin đặc biệt yếu về các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách… Chính phủ cần chấm dứt, hoặc tạm dừng một cách có hệ thống các dự án mục tiêu không rõ ràng, thiếu vốn, hay có kết quả hoạt động kém”.

Cho vay hỗ trợ lãi suất: Đã kém mặn mà 040109

Filed under: chính sách,ngân hàng — ktetaichinh @ 12:49 am
Tags: , , ,
(LĐ) – Đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu không nhiệt tình với vay/cho vay hỗ trợ lãi suất cả từ phía khách hàng và ngân hàng thương mại…

NHTM ngại thanh tra

Qua trao đổi, một số lãnh đạo NH và chi nhánh NH tỏ ra e ngại việc mở rộng cho vay hỗ trợ lãi suất (HTLS). Theo họ, các khoản vay HTLS ngoài việc vẫn phải thẩm định, làm đúng mọi thủ tục như một món vay bình thường lại phải luôn lo lắng vì phải chịu trách nhiệm các khoản vay được HTLS đảm bảo tuân thủ đúng đối tượng theo quy định. Nhất là khi bắt đầu đến thời gian thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang chuẩn bị đi thanh tra tình hình triển khai cho vay HTLS.

Một số NH lo ngại, nếu thanh tra NHNN kết luận món vay không đúng đối tượng sẽ không được hoàn trả số tiền lãi giảm trừ từ NHNN. Tâm lý lo ngại này nặng nề hơn ở các NHTM CP. Đây cũng là một lý do tại sao tỉ trọng dư nợ cho vay HTLS ở các NHTM CP thấp. Một số NHTM CP có ý chú trọng vào triển khai cho vay lãi suất (LS) thoả thuận hơn.

Có ý kiến từ một chuyên gia NH nhận xét các NHTMCP (mà Nhà nước không nắm giữ CP chi phối) và NH nước ngoài không “mặn mà” lắm với cho vay HTLS là một phản ánh sự nhìn nhận tình hình kinh tế của họ. Họ chưa tin kinh tế VN sớm thoát khỏi khó khăn và cho rằng chính sách kích cầu qua HTLS khó đạt hiệu quả như mong đợi. Vì vậy, họ chỉ tập trung cho vay các DN có nhu cầu thật sự.

Để đảm bảo tăng tín dụng với tốc độ cao, có nguồn thu nhập, và chống lại sự cạnh tranh của đối thủ, các NH này chuyển qua đáp ứng những nhu cầu tín dụng khác một cách thái quá (ví dụ: Cho vay tiêu dùng).

Một số DN không hào hứng

Mức HTLS là 4%/năm, nhưng với thời hạn được HTLS tối đa là 8 tháng thì thực ra mức LS khách hàng được hỗ trợ trong 8 tháng chỉ là 2,66%/lãi vay thực trả. Đối với các DN vay nhiều thì mức LS được hỗ trợ này là đáng kể nhưng với nhiều DN vay ít/hoặc chưa tiêu thụ được hàng hoá thì mức giảm này cũng không nhiều ý nghĩa so với sự giảm giá hàng tồn kho theo thời gian.

TGĐ một CTCP nói: “Nếu tiêu thụ được hàng thì LS cao, DN vẫn chịu được, thậm chí có những thương vụ có thể chấp nhận vay nóng đến 20-30%/năm, miễn là khi cần được vay ngay, còn không bán được hàng thì LS có thấp cũng chẳng giúp gì”. Điều này đã được thực tế minh chứng trong mặt hàng gạo XK trong đầu quý II/2008. Khi đó, lãi vay NH đang ở mức đỉnh nhưng các DN XK không ta thán về LS mà chỉ ta thán là không có vốn để thu mua gạo XK khi giá gạo trên thị trường thế giới bước qua ngưỡng 1.000USD/tấn.

Chủ tịch HĐQT một DN XNK nói: “Đối với những DN tính toán làm ăn thận trọng thì cũng không hào hứng vay HTLS. Nếu vay để mua nguyên vật liệu sản xuất thì ai đặt hàng mà sản xuất? “Nuốt” hàng còn tồn trong kho chưa hết thì mua thêm làm gì? Còn mở rộng sản xuất, tranh thủ mua máy móc thiết bị cũng chưa cần, vì hiện nay các đối tác nước ngoài chào mời bán rất rẻ và sẵn sàng cho trả chậm 1-2 năm chỉ cần cam kết thanh toán. Do vậy, nguyên tắc của chúng tôi là bất kể cái gì không có thị trường tiêu thụ thì không vay mượn, không làm”.

Đó là chưa kể các nhà nhập khẩu nước ngoài nắm được VN đang thực hiện HTLS nên trong việc thương thảo giá họ tìm mọi cách ép giá bán xuống, nên khoản lợi do giảm chi phí từ HTLS của Nhà nước cho DN, thực chất DN cũng không được hưởng.

Bên cạnh đó, do chính sách thuế chưa chặt chẽ, hiện tượng trốn thuế còn nhiều, nên còn không ít DN sản xuất/cung ứng hàng hoá bán thì nhiều nhưng kê hoá đơn lại ít. Nếu người mua đòi hoá đơn tài chính, người bán sẽ đòi thêm 10% thuế VAT. Khi so sánh với cái mất 10% và cái được 4% HTLS (phải xuất trình hoá đơn Bộ Tài chính) thì một số DN/hộ gia đình dù thuộc đối tượng HTLS vẫn xin vay thương mại thông thường.

Nên đánh giá thực chất hiệu quả HTLS

Mặc dù một vài ý kiến quản lý nhà nước vẫn tỏ ra có phần “dị ứng” với những dư luận về hiệu quả cho vay HTLS. Nhưng cũng nên hiểu rằng kích cầu thông qua HTLS chỉ là một phần trong giải pháp tổng thể của chương trình chống suy thoái kinh tế. Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ (CSTT) trong chống suy thoái kinh tế, nhưng vị trí của CSTT trong chống lạm phát và suy thoái là rất khác nhau.

Trong chống lạm phát, nếu CSTT được thực hiện trước chính sách thắt chặt chi tiêu công thì tác dụng như một cái phanh, phanh cỗ xe kinh tế đang chạy quá nhanh. Nhưng trong chống suy thoái kinh tế, nếu CSTT được thực hiện trước xem kết quả thế nào rồi bổ sung thêm các chính sách khác/hoặc các chính sách đi kèm với CSTT được thực hiện quá trễ thì CSTT lại không đạt hiệu quả ngay như trong chống lạm phát. Việc lầm tưởng CSTT sẽ phát huy ngay tác dụng chống suy giảm kinh tế như đã từng phát huy vai trò trong chống lạm phát là một sai lầm. Nếu không ban hành hay không thực thi các chính sách khác đi kèm, sẽ làm cho CSTT mở rộng kém phát huy tác dụng.

Một chuyên gia tài chính nói: “Cần gấp rút xem xét các biện pháp phối hợp đồng bộ khác như: Vừa tiến hành kích cầu tín dụng, đồng thời sử dụng một nguồn lực thưởng cho DN trong việc giải phóng hàng tồn kho. Đây là hai giải pháp đi kèm. Giải pháp này cũng giống như khuyến khích NĐT cắt lỗ để bán CK vậy. Có giải phóng hàng tồn kho thì dòng vốn tín dụng được HTLS mới thật sự tham gia vào chu kỳ sản xuất kinh doanh mới của DN. Tránh tâm lý không dám cắt lỗ, găm hàng để có báo cáo tài chính đẹp, để rồi đến khi muốn bán thì không bán được.

>> Doanh nghiệp ngoài nhà nước vay 60%
>> Gói kích cầu của Việt Nam cần được sử dụng thông minh
>> Đánh giá hiệu quả cho vay hỗ trợ lãi suất
>> Cho vay hỗ trợ lãi suất: Không có chuyện ngân hàng hưởng lợi
>> Cho vay hỗ trợ lãi suất: Nhanh, nhưng có đạt hiệu quả?

Redrawing the landscape 040109

The Banker

It is almost impossible to generalise about the Asian infrastructure story. In a sprawling region that includes 44 economies, from the central Asia republics to the Pacific islands, it is unfeasible to compare markets such as Vietnam or Indonesia with others such as India or China in terms of levels of infrastructure development, investment or private participation. Moreover, while Asia offers a wealth of opportunities – comprising as it does of most of the world’s fastest growing economies, many in desperate need of even basic infrastructure – investment in many countries is fraught with government restrictions or legal and regulatory risk.

However, one thing is certain: nobody disputes the need for huge infrastructure spending in the region. According to most development agencies, the quantum of anticipated infrastructure spending within the wider Asian market is estimated at between $250bn and $300bn a year for the foreseeable future. It is likely that a significant proportion of this expenditure will be witnessed in the four countries – China, India, Indonesia and Vietnam – that are among the most populous, with some of the fastest forecast economic growth rates in the region, but where significant current and future bottlenecks will be experienced in both economic and social infrastructure.

Running to keep up

Rising populations, economic growth and greater discretionary spending power in many Asian countries mean that demand for energy has increased. A rule of thumb is that for every 1% increase in gross domestic product, demand for power increases by 1.5%, so governments have to constantly run to keep up with demand. At the same time, although the high export focus of many Asian countries means that investment in roads, railways, ports and airports has been identified as central to improving efficiency and promoting foreign trade flows, few governments have kept pace with growth. In Vietnam, for example, double-digit growth is being achieved in spite of the dong’s devaluation, high levels of foreign currency debt, and virtually no transportation logistics infrastructure.

“A period of high economic growth across the region has led infrastructure development rather than followed infrastructure development; consequently there is an infrastructure deficit in whichever country you choose to look at,” says Nick van Gelder, head of Asia and Middle East infrastructure funds at Macquarie in Singapore.

Western banks pull back

But a crucial question now is: where will the money come from? Alongside investment by government and multilateral entities, and loans from major Asian banks, big Western project finance houses such as BNP Paribas, Dexia, Depfa and Royal Bank of Scotland have historically played a major role in Asian infrastructure, but there are signs that the bank universe is being drastically redrawn through a combination of capital constraints and political pressure. It has quickly become clear that banks that have received significant state support are under growing pressure to focus their core lending on domestic markets. For the other banks – particularly in Europe and America – that have overstretched their balance sheets, lending patterns will be reduced. Inevitably, they will shrink their operations faster in non-core markets than in core markets.

RBS – the biggest project finance lender globally in 2008, which inherited a sizeable Asian project finance business through its now controversial ABN AMRO acquisition – has already stated that as part of its restructuring in the wake of the UK government’s part nationalisation, it will be closing its project finance business. Dexia, a major force in Asian public-private partnerships (PPP) and private finance initiatives (PFI), is reported to be closing its Australian office and selling its loan book. Others such as Depfa and DZ Bank are rumoured to be at least pulling back, if not pulling out, from the region.

“We are already seeing a number of banks retrenching project finance specialists, not because of a lack of opportunities but because of the need to refocus their business model on their home market,” says Ian Mathews, executive director and head of project finance, Asia, for ANZ Bank. “As such, we expect to see either an exodus of non-Asia-Pacific banks from the region or a marked slowdown in their appetite for new projects,” he says.

While the long gestation period of many infrastructure projects means that the real impact of such withdrawal is unlikely to be felt immediately, anecdotal evidence suggests that available liquidity is already falling and that it is getting more difficult to raise funds; especially the long-term funding on which project finance usually relies. For example, the PPP funding for Singapore’s ITE College West was closed last August. The $300S ($195.31) deal secured a 26.5-year financing via a fully hedged bank loan. The same deal would not close on those terms now, as transactions are lucky to attract five or seven-year money.

Less long-term money

“Liquidity constraints have inevitably led to a reduction in tenors. Banks are less willing and able to commit funding for long-dated assets. This has particular implications for large-scale infrastructure projects where debt tenors of more than 15 years were not uncommon previously,” says Mr Mathews.

The contraction of liquidity and tenor will have a direct impact on the projects that get under way. With the ‘go-go days’ now over, the focus is back on risk, project quality, and relationships. The projects that do get out of the starting blocks will be those where there are long-term partnerships between stakeholders and strong bank-sponsor relationships. Against the backdrop of slowing economies, a number of projects that were in the pipeline have been delayed, postponed or cancelled.

“For example, there are about half a dozen coal-fired power projects currently in development in Vietnam. If these all go ahead, they would need about $6bn of long-term debt and $3bn of equity. Clearly, in the current market environment, the commercial bank market cannot support that quantum of debt financing in Vietnam. By necessity, therefore, the result will be a phasing of projects and preferential financing for those projects developed by proven sponsors with deep relationships with commercial banks, development agencies and other key stakeholders,” says Mr Mathews.

Capital will target deals of the best quality, with strong off-take agreements and solid concessions. More risky greenfield projects with no proven track record for traffic flows or usage patterns, but which represent the lion’s share of emerging Asia’s infrastructure needs, will likely struggle the most to secure funding.

“Where capital is available, there is now a lot more scrutiny of projects and a great deal more due diligence. Capital will flow to those projects where the quality of the project and the quality of the contract surrounding concessions are assured,” says Mark Rathbone, a specialist in PPP/PFI projects and a partner in PricewaterhouseCoopers’ Asia practice. “Projects such as the better structured power deals that have very good concession-based financings in place and other similarly well structured deals will stand a better chance of attracting investment.”

Need for multilaterals

In India and China, there is a better chance that local lenders are able to fill the funding gap. In China, which boasts the second and third largest project finance houses in Asia, direct lending by Chinese institutions jumped from $120bn in December 2008 to $237bn in January 2009 on the back of the government’s pump priming packages. State Bank of India is the second largest project finance house globally and the largest in Asia, but a recent McKinsey report says India still faces a $190bn shortfall as the global crisis chokes off investment.

However, other countries have less domestic capacity and many expect that there will have to be increased equity commitment in deals. Governments such as Indonesia and Vietnam are seeking to actively re-involve the private sector in areas that they have recently regarded as the preserve of the state. (In Vietnam, for example, despite growth in electricity demand running at more than 15% a year, no new private sector power projects have been financed since 2003). Others anticipate that there will need to be greater participation by development finance institutions and export credit agencies, particularly for larger transactions.

The latter could play a particularly important role for greenfield projects that fail to attract enough investment, or where government and multilateral involvement is needed to ‘credit wrap’ a project. “Multilaterals will play an enormous role in the next 18 months or so,” says Mr Rathbone. “The participation of institutions such as the World Bank, the Asian Development Bank and the Japan Bank for International Co-operation will be crucial in keeping Asian growth going, particularly in ‘real’ developing economies such as Vietnam, Laos, Indonesia, Cambodia and the Philippines. In these markets it is much more difficult to get comfortable with concession agreements and the specific territory’s regulatory framework; in order to attract foreign capital these elements will have to be robust. Many investors may even require multilateral participation as a means to reduce the regulatory and credit risk inherent in a transaction.”

Indonesia is one example of where multilateral involvement could go a long way towards reassuring equity investors and foreign lenders, who have historically lacked confidence in the legal and regulatory framework surrounding projects. This is particularly true with regard to issues surrounding the legitimacy of land acquisition and critical financing features such as tariff structures. The legal details relating to who owns the land and contractual issues about whether road toll rates will be allowed to rise when they are supposed to can be political hot potatoes. But lack of certainty about them ratchets up the risk and makes the environment much less attractive to private investors or bank lenders.

“The Indonesian government is putting in a lot of effort to address many of the issues surrounding projects, and the government is now looking to procure toll roads and other large-scale infrastructure projects. It is increasingly a better story but it remains predominantly a market for participants who are able to get comfortable with the risk exposure of bidding for and completing deals in the territory,” says Mr Rathbone. “It is in this kind of environment where multilaterals can be hugely important in working with other market participants to help build confidence in the project finance environment; by helping to establish sound procurement guidelines, for example, or ensuring that concessions agreements are watertight and that handback procedures are in place.”

Although some state-owned and policy banks within north Asia have redirected their attentions to domestic markets in line with proposed government stimulus packages, others have already increased investment abroad. “The quantum of lending of state-owned institutions such as JBIC [Japan Bank for International Co-operation] has actually stepped up markedly in support of their key clients investing overseas,” says Mr Mathews.

Other organisations are making plans to do so. In March, the Asian Development Bank (ADB) announced that it is setting up a regional infrastructure fund that can be accessed by its members, including Indonesia. The bank has managed to bring together funding pledges amounting to about $5bn, including from the Islamic Development Bank, with other possible funding sources still being explored, including those from China and South Korea. According to the ADB, the Islamic Development Bank has committed $1bn to the scheme.

Equity investors

With commercial bank lenders often reserving balance sheets for core clients, many projects are seeking greater participation from equity investors at the same time that investors are facing funding constraints – and their risk appetites have dropped and equity costs have risen accordingly.

Yet infrastructure funds are finding that investors – including institutional players – are still attracted to Asian infrastructure. Standard Chartered and the International Lease Finance Corporation’s joint SCI Asia Infrastructure Fund did a second close in January at more than $600m; the seven limited partners (LPs) include the founding partners, along with European and American institutional investors. Appetite is such that the fund is targeting a third close at about $800m or even $1bn before the end of the year, according to Andrew Yee, global head of infrastructure, principal finance at Standard Chartered.

“European and North America LP investors have shown themselves to be ahead of the curve in their understanding of infrastructure. They have gained a lot of experience in their own, more mature markets, which proved that infrastructure investments are less susceptible to downturns. They are consequently increasingly open to opportunities in less mature infrastructure markets such as Asia,” says Mr Yee.

Macquarie’s Mr van Gelder is also upbeat about the potential of infrastructure. He believes that the infrastructure industry will emerge from the crisis with its reputation enhanced relative to other asset classes – and that this is already being reflected in increasing allocations. “Many institutions who have had a challenging time across their entire investment spectrum are actually increasing allocations to unlisted infrastructure at this time, and to about 10% of their entire portfolio in some cases,” says Mr van Gelder. “There is a growing realisation around the world that long-dated infrastructure income streams have a meaningful role in pension fund portfolios, especially if these income streams are either explicitly or implicitly linked to inflation via toll rate rises, etc.”

Golden age?

In fact, the next three years could turn out to be a “golden age for private equity” in the infrastructure business, says Mr van Gelder. Government investment in new infrastructure will likely benefit existing projects simply because one infrastructure project often benefits another. And because raising equity capital via the initial public offering markets will be challenging and debt will be much tighter, it will leave a huge gap for private equity capital, either through funds or direct investment. A few years down the line, healthy exits are on the cards.

“The capital that many governments consume over the next 24 months in economic recovery packages will leave them short of funding for infrastructure development and they will have no choice but to increase levels of private participation over time. Privatisation of stimulus projects in five to 10 years may offer another level of opportunity for the industry,” says Mr van Gelder.

Mr Yee also believes that, with a few caveats, 2009 and 2010 will be “good vintage years” for infrastructure investment. “There are a lot more opportunities and much less competition. The next couple of years could be very good ones for investment. That said, when assets are getting cheaper, you have to invest very carefully. Projects where sponsors are being too aggressive or where not enough due diligence has been done will fall by the wayside.”

As Western banks tighten their purse strings or even withdraw from the market, there will clearly be a funding gap. It will also mean the loss of key project finance practitioners who have brought their experience of mature infrastructure markets to the region. But for local and regional banks, it is a golden opportunity to grab market share from some of the established Western players. As the global financial crisis and economic slowdown reshape the world’s capital flows, the effects could help to redraw the dynamics of infrastructure investment and the competitive landscape in the Asian region.

Ứng xử biển Đông: Nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc lợi ích 032809

Filed under: chính sách,chính trị,thông tin — ktetaichinh @ 12:22 am
Tags: , ,
Thời điểm đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục đang tới gần. Việc điều chỉnh của Việt Nam là cần, nhưng phải trên cơ sở nghiên cứu kĩ lưỡng, để điều chỉnh có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam, không chạy đua theo thời gian. – Nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ Trần Công Trục nói.

Tiến sĩ Trần Công Trục đã có thời gian dài là Trưởng ban Biên giới của Chính phủ. Ông từng tham gia nhiều phiên đàm phán giữa Việt Nam – Trung Quốc về phân định biên giới trên đất liền và trên biển. Ông cũng tham gia biên dịch sang tiếng Việt bản Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Đụng độ Trung – Mỹ: Việt Nam cần xem xét cẩn trọng

Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Trần Công Trục. Ảnh: Cao Nhật.

Gần đây, vấn đề Biển Đông thu hút sự quan tâm của dư luận trong nước và quốc tế, nhất là với căng thẳng Mỹ – Trung do sự xuất hiện của tàu Impeccable ở khu vực Trung Quốc tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình và Tổng thống Philippines thông qua dự luật về đường cơ sở mới. Bình luận của ông về những diễn tiến gần đây?

Biển Đông vốn là vấn đề phức tạp với tranh chấp chủ quyền trên các đảo, quần đảo, tranh chấp vùng biển và nhiều vùng chồng lấn, liên quan tới nhiều nước.

Bây giờ, cùng với nhu cầu khai thác lợi ích kinh tế như dầu khí, tài nguyên và đường hàng hải.., biển Đông càng thu hút được sự quan tâm cũng là dễ hiểu.

Về sự kiện tàu Impeccable, đây không phải là căng thẳng đầu tiên giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở vùng biển này. Việt Nam cần xem xét cẩn thận Luật Biển quốc tế, căn cứ vào vụ việc cụ thể để có tiếng nói.

Không tạo tiền lệ xấu

– Vậy theo ông, Việt Nam nên ứng xử như thế nào trước vụ việc này?

Theo Công ước Luật biển thì tàu thuyền nước ngoài có quyền tự do hàng hải, nghĩa là tàu thuyền các nước được phép tự do hoạt động nhưng trên cơ sở tôn trọng quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển. Điều đó có nghĩa là không được gây tổn hại đến các hoạt động kinh tế của quốc gia ven biển.

Việt Nam cũng từng nhiều lần thực hiện quyền tài phán của mình ở vùng đặc quyền kinh tế.

Ví dụ, Công ty Cable and Wireless Hồng Kông có nhu cầu đặt ống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ cho rằng họ được quyền thực hiện quyền này mà không cần phải xin phép và chịu sự giám sát của Việt Nam.

Quan điểm của Việt Nam cho rằng công ty này có quyền lắp đường ống cáp ngầm nhưng việc đặt hệ thống cáp ngầm qua vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đang có nhiều hoạt động thăm dò khai thác có thể gây tổn hại đến các hoạt động đó, vì thế họ phải xin phép Chính phủ Việt Nam theo đúng thủ tục và phải chịu sự giám sát của phía Việt Nam.

Sau đàm phán, công ty của Hồng Kông đã chấp nhận vô điều kiện. Không những thế, họ còn có nghĩa vụ ưu tiên cho VN trong việc tham gia khai thác hệ thống cáp ngầm này.

Các tuyến hàng hải quan trọng đều đi qua biển Đông. Ảnh: uscc.gov

Nói cách khác, quyền tài phán và quyền thuộc chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế là những quyền cần được tôn trọng và được bảo vệ hoàn toàn, đầy đủ. Và quyền tự do hàng hải của tàu thuyền nước ngoài ở khu vực này hoàn toàn khác với ở khu vực biển cả (high sea).

Quay trở lại với việc tàu Impeccable của Mỹ, theo các nguồn tin chính thức từ phía Hoa Kỳ thì đây là tàu nghiên cứu biển của hải quân Koa Kỳ, đang làm nhiệm vụ nghiên cứu biển để phục vụ cho hải quân. Tàu này xuất hiện trong khu vực biển cách bờ biển ven bờ lục địa Việt Nam và các bờ biển đảo Hải Nam – Trung Quốc dưới 200 hải lý. Như vậy, tàu Impeccable của hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành thăm dò nghiên cứu biển phục vụ cho mục đích quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc.

Theo Công ước Luật Biển LHQ, đây là hành vi sai trái, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển có liên quan ở vùng đặc quyền kinh tế.

Tại Mục 3, Điều 246 Công ước Luật biển 1982 đã quy đinh rất rõ nội dung này:  “Trong việc thi hành quyền tài phán của mình, các quốc gia ven biển có quyền qui định cho phép và tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của mình theo đúng các qui định tương ứng của Công ước.” Và, “trong những trường hợp bình thường, các quốc gia ven biển thoả thuận cho thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học biển mà các quốc gia khác hay các tổ chức quốc tế có thẩm quyền dự định tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế hay trên thềm lục địa của mình theo đúng Công ước nhằm vào mục đích hoàn toàn hòa bình và để tăng thêm kiến thức khoa học về môi trường biển, vì lợi ích của toàn thể loài người…”.

– Nhưng có một số ý kiến cho rằng, Việt Nam không có lợi gì trong việc ủng hộ quan điểm của Trung Quốc mà ủng hộ tiền lệ quốc tế về hoạt động của tàu quân sự và tàu phục vụ mục đích quân sự ở vùng đặc quyền? (Xem thêm bài: Vùng đặc quyền kinh tế hay vùng đặc quyền quân sự?)

Hoa Kỳ vẫn thường khẳng định quyền đi lại tự do trên biển, thực chất là muốn mở rộng phạm vi triển khai lực lượng quân sự của mình trên khắp các châu lục trên bộ lẫn trên biển mà không cần tuân thủ bất kỳ một luật lệ nào, dù đó là Luật Biển của LHQ.

Nhiều cuộc họp bàn về Luật Biển đã diễn ra ở Mỹ, Mỹ cũng đã kí Công ước Luật Biển 1982 nhưng chưa phê chuẩn là cách để Mỹ để ngỏ quyền hoạt động của mình trên các vùng biển.

Tuyên bố chủ quyền của các bên liên quan trong tranh chấp biển Đông.

Với vai trò siêu cường và sức mạnh Mỹ, Mỹ có thể cho mình cái thế để gây sức ép lên các nước nhỏ. Các quốc gia, nhất là nước nhỏ đang phát triển, ngược lại muốn chống lại quyền hoạt động hải quân của các cường quốc hải quân.

– Nhưng vấn đề ở chỗ, các ý kiến ủng hộ thông lệ hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế vì lo ngại rằng, với tham vọng về đường lưỡi bò trên biển Đông, một ngày nào đó, Trung Quốc cũng sẽ biến vùng đặc quyền kinh tế thành đặc quyền quân sự của mình. Và điều đó chỉ bất lợi cho Việt Nam?

Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán để phân định ranh giới khu vực đặc quyền kinh tế chồng lấn có liên quan.

Trong vụ tàu Impeccable, Trung Quốc đã phải đứng ở thế của người tự vệ khi xem xét vùng đặc quyền kinh tế trong vụ việc có liên quan tới cường quốc có quan hệ nhạy cảm.

Việt Nam có thể ghi nhớ và sử dụng những luận điểm tranh luận của Trung Quốc khi tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế. Nếu một cuộc đụng độ tương tự xảy ra trong tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam, Việt Nam có thể trích dẫn những lời của Trung Quốc cho chính Trung Quốc. – Gs. Brantly Womack.

Vì thế, khu vực này không phải đã là khu vực biển hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. Việc Trung Quốc đơn phương thực hiện quyền của mình với tư cách là nước hoàn toàn có quyền chủ quyền và quyền tài phán ở vùng biển này là không tôn trọng các quyền và lợi ích của Việt Nam, vi phạm các cam kết của hai bên khi đang tiến hành đàm phán phân định ranh giới biển. Việt Nam cần có ý kiến phản đối hành vi sai trái này của Trung Quốc theo đúng các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngoài ra, tàu quân sự và phục vụ mục đích quân sự ở vùng này không chỉ là tàu của Mỹ, vì không phải một mình Mỹ là cường quốc quân sự. Hiện nay, Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều cho việc nâng cấp lực lượng quân sự của mình.

Nếu các quốc gia ven biển làm ngơ, sẽ tạo tiền lệ xấu, các cường quốc hải quân có thể lợi dụng để hoạt động bất cứ khi nào, ở đâu nếu muốn.

Các nước ven biển nên thực hiện quyền tài phán của mình trên vùng đặc quyền kinh tế, chính là nhằm đảm bảo tôn trọng nội dung Công ước 1982, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, bảo vệ thành quả đấu tranh không mệt mỏi và kiên trì trong suốt gần một thế kỷ để có được một bộ luật về biển đồ sộ và công bằng cho mọi quốc gia, dân tộc có biển và không có biển.

Điều chỉnh đường cơ sở mới: Cân nhắc trên lợi ích

– Ông nghĩ sao về việc Philippines đưa ra đạo luật về đường cơ sở của mình?

Việc pháp điển hóa lợi ích và quyền của các nước trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia là rất cần thiết và chính đáng. Việt Nam cũng cần phải làm như vậy.

Tuy nhiên, đối với các qui định có ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình thì nhất thiết phải có ý kiến bảo lưu, nếu không thì coi như đã mặc nhiên thừa nhận, bất lợi về pháp lý, nhất là ở các khu vực có tranh chấp.

Về nguyên tắc, nếu Việt Nam không có tuyên bố chính thức, đồng nghĩa với việc Việt Nam mặc nhiên thừa nhận quyền của nước khác.

Tuy nhiên, việc phản ứng như thế nào của Việt Nam phải trên cơ sở nghiên cứu, phân tích khách quan, cả về nội dung, hình thức và thời điểm đưa ra ý kiến đó sao cho có lợi nhất, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế…

– Thời điểm hạn chót cho việc các nước đăng kí đường ranh giới ngoài của thềm lục địa ngày 13/5/2009 đang đến gần. Theo ông, Việt Nam cần làm gì?

Theo tôi biết, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam đang xem xét, nhưng để có sự thay đổi, điều chỉnh nào thì không dễ. Bởi thay đổi phải để có hiệu lực cao hơn, các nước tôn trọng nhiều hơn, dựa trên lợi ích chính đáng của Việt Nam. Đó phải là sản phẩm của sự nghiên cứu kĩ lưỡng.

Việt Nam không nhất định chạy đua với thời gian. Việt Nam phải đặt lợi ích, vị trí của mình trong khu vực và quốc tế để cân nhắc đã nên điều chỉnh hay chưa vào lúc này.

Giữ vững vùng  biên cương của Tổ quốc.
Ảnh: Blog Hồ Trung Nghĩa.

Theo tôi được biết còn có nhiều nước chưa thay đổi đường cơ sở dù vô lý. Mình thay đổi là cần, nhưng theo tôi, Việt Nam nên cân nhắc kỹ tất cả các yếu tố có liên quan, nhất là thời điểm.

Thiếu chỉ đạo thống nhất, nghiên cứu có thể sai lệch

Nghiên cứu biển đảo của Việt Nam vẫn đang còn là vấn đề lớn?

Việc nghiên cứu thiếu bài bản và vẫn còn khiếm khuyết. Gần đây, chúng ta đã khuấy động lên nhưng còn ở mức tập hợp lực lượng trong và ngoài nước nghiên cứu hơn là có một đề án cụ thể. Các nghiên cứu phần nhiều là tự phát, dù có nhiều người tâm huyết.

Ngay cả tư duy, bản lĩnh của người nghiên cứu cũng chưa chín, phần nhiều còn cảm tính và theo xu hướng chính trị chứ chưa dựa trên kiến thức vững vàng, khoa học và khách quan.

Hơn nữa, thiếu chỉ đạo, nghiên cứu có thể sai lệch đi.

– Theo ông, Việt Nam phải gỡ từ đâu?

Từ nhận thức của các cơ quan quản lý cấp cao, phải có quyết tâm tạo chuyển biến trong nhận thức và chỉ đạo thống nhất. Người lãnh đạo giỏi cần có cố vấn tin cậy, tâm huyết. Công tác thông tin, truyền thông phải đẩy mạnh với nhiều kênh thông tin.

Hiện nay, công tác biển đảo tập trung vào một đầu mối là Cục Quản lý Biển của Bộ Tài nguyên – Môi trường và Biển, liệu có làm nổi một chương trình mang tính tổng hợp?

Việt Nam cần có người có tầm chiến lược vĩ mô trong hình huống nhạy cảm, đặt vấn đề đúng tầm nhu cầu, có tiếng nói thống nhất, xử lý nhanh, nhạy. Muốn vậy phải có nghiên cứu tốt, sâu. Luật pháp không thể hiểu lơ mơ.

Vốn ODA của Nhật sẽ được kiểm soát như thế nào? 033109

Filed under: chính sách,kinh tế — ktetaichinh @ 12:21 am
Tags: ,
Ông Tsuno Motonori – Ảnh: M.Chung.
Nhật Bản sẽ phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam trong việc giám sát nguồn vốn ODA để tránh những vụ việc tiêu cực.

Thông tin này được ông Tsuno Motonori, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam đưa ra trong buổi gặp gỡ báo chí sáng 31/3 tại Hà Nội, thời điểm trước khi Nhật Bản chính thức nối lại các dự án vốn vay ODA cho Việt Nam vào chiều cùng ngày.

Ông Motonori nói:

– Chiều nay tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chính phủ hai nước sẽ thực hiện ký kết công hàm trao đổi ODA giữa hai bên và thực hiện ký kết cho các dự án vốn vay. Căn cứ trên công hàm trao đổi giữa hai chính phủ, JICA sẽ ký hiệp định vốn vay tại trụ sở chính tại Tokyo.

Việc cho vay vốn của Nhật Bản cho Việt Nam nửa cuối năm 2008 đã bị đình lại do việc sử dụng bất chính vốn vay ODA của Công ty PCI. Sau đó, nhờ hai nước thành lập ủy ban hỗn hợp Nhật-Việt trong phòng chống tham nhũng và thống nhất với nhau về cách phòng chống tham nhũng từ các dự án vốn vay của Nhật Bản, việc viện trợ ODA của Nhật Bản đã được bình thường hóa trở lại vào cuối tháng 2/2009.

Các dự án được ký kết vốn vay trong lần này gồm 4 dự án với tổng vốn vay là khoảng 82,3 tỷ Yên, tương đương 900 triệu USD. Đó là dự án tuyến đường sắt nội đô Hà Nội; hai dự án hỗ trợ cải thiện môi trường và các đối sách chống lũ lụt tại Hà Nội và Hải Phòng; và cuối cùng là dự án tín dụng chuyên ngành giao thông nhằm cải thiện mạng lưới đường quốc gia.

Việc triển khai các dự án vốn vay ODA sắp tới sẽ được quản lý như thế nào để thực sự có hiệu quả và không rơi vào “vết xe đổ PCI”, thưa ông?

Cuối năm 2008, hai nước đã áp dụng các biện pháp như thiết lập đường dây nóng, công khai thông tin đấu thầu, mời bên thứ ba cùng đánh giá thầu và tăng cường giám sát kiểm tra đối với quá trình đấu thầu.

Trong các biện pháp phòng chống tham nhũng đã được nêu ra từ báo cáo của ủy ban hỗn hợp Việt – Nhật có ghi kỳ hạn, đơn vị đứng ra giám sát, và JICA cũng sẽ cùng Chính phủ Nhật Bản thực hiện chức năng giám sát.

Các hợp đồng vay vốn lần này được ký kết xuất phát từ các biện pháp phòng chống tham nhũng mà hai nước đã cam kết và công bố rộng rãi. Chúng tôi hy vọng sẽ không bao giờ xảy ra tình trạng tiêu cực nữa.

Trong tương lai, chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ với Việt Nam để thực hiện triệt để những biện pháp này.

PCI hoặc các đơn vị có liên quan trong dự án đại lộ Đông-Tây có bị cấm tham gia các dự án lần này không?

Tại Nhật, PCI đã bị giải tán, còn với những doanh nghiệp có hành vi tham nhũng bị phát hiện từ trước đến nay, chúng tôi thực hiện các biện pháp kỷ luật bằng cách không cho những doanh nghiệp như thế này tham gia các dự án ODA trong một thời gian nhất định tùy mức độ tham nhũng nặng nhẹ.

Một số nhân viên tư vấn của PCI vẫn tham gia vào một số dự án ODA khác tại Việt Nam, vậy việc tham gia này có vi phạm các quy định về phòng chống tham nhũng không?

Việc các chuyên gia, kỹ thuật viên của PCI chuyển sang công ty khác để tham gia các dự án ODA không xung khắc với các quy định đã đặt ra.

Ủy ban hỗn hợp Việt – Nhật có lập ra đơn vị trung gian thứ ba để giám sát và xét thầu, nhưng lại thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam. Quan điểm của ông về việc này?

Trong các công trình xây dựng, các cơ quan thực hiện phía Việt Nam tổ chức đấu thầu, sẽ có bên thứ ba tham gia giám sát để tăng cường tính minh bạch trong quá trình đánh giá thầu.

Bên thứ ba này phải là đơn vị có chuyên môn cao trong các cơ chế, chế độ đấu thầu thực hiện các các hợp đồng đấu thầu quốc tế. Trung tâm hỗ trợ đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chính là bên thứ ba có ý nghĩa lớn để tham gia đánh giá thầu. JICA sẽ giám sát phương pháp thực hiện và hiệu quả thực hiện và đề xuất các giải pháp với phía Việt Nam nếu có.

JICA có trách nhiệm giám sát triển khai các dự án ODA của Nhật Bản tại Việt Nam, nhưng vẫn có một số sai sót mà JICA không phát hiện ra mà phải chờ tới khi có thanh tra. Vậy JICA nói gì về điều này?

Từ sự kiện tham nhũng vừa qua, chúng tôi cũng rút ra kinh nghiệm để xem xét kỹ lưỡng các thủ tục liên quan đến quá trình đấu thầu trong thời gian tới.

Một trong những hạn chế lớn là ciệc giải ngân vốn ODA vẫn diễn ra rất chậm chạp và có những trở ngại lớn. Vậy theo ông, những dự án vốn ODA lần này cần có những giải pháp gì để thúc đẩy giải ngân vốn ODA đúng như dự kiến?

Để tăng cường tiến độ giải ngân thì các công trình phải được thực hiện. Cho đến nay, chúng tôi nhận thấy, quá trình chuẩn bị bao gồm giải phóng mặt bằng, tái định cư, thủ tục chi trả sau xây dựng tốn nhiều thời gian hơn dự tính.

Trong 15 năm Việt Nam thực hiện các dự án ODA tại Việt Nam, nhiều công trình đã được hoàn thành, trong quá trình thực thi các bộ, ngành đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và đã có khả năng giải ngân nhanh hơn trước.

Tuy nhiên, với các công trình tại các đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội, Tp.HCM, thì nhìn chung, chúng tôi cảm nhận là gặp nhiều khó khăn hơn và tiến triển tương đối chậm. Do đó, JICA có đề xuất các bộ Xây dựng, Giao thông Vận tải, Kế hoạch và Đầu tư cần có hỗ trợ để thúc đẩy tiến độ giải ngân nhanh hơn.

Hôm nay (31/3) là ngày cuối cùng của năm tài khóa 2008  của Nhật Bản, kết quả giải ngân các dự án đến nay khoảng 67,4 tỷ Yên, con số này gần như đạt được mục tiêu ban đầu đề ra cho năm tài khóa năm nay.

Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu- Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam 032809

TT(Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc…

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng – chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN – khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất… “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”…

Vừa đi cùng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục – vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ – công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người”. Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh – chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng VN – cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy ximăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc làm.

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy ximăng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” – ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai – viện phó Viện Kinh tế xây dựng – góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc…

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

Ngành xây dựng cảnh báo về nhà thầu ngoại

Báo Tuổi Trẻ vừa có bài tường thuật tọa đàm hôm 27/03 của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, trong có đưa ra cảnh báo về thực trạng ‘lấn sân’ của nhà thầu Trung Quốc.

Báo này cho hay vấn đề lớn được bàn luận tại hội thảo của các chuyên gia và giới chức ngành xây dựng là việc “rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc”.

Báo Tuổi Trẻ vừa có tổng biên tập mới, ông Phạm Đức Hải, từ ngày 26/03.

Ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, được trích lời nói tại cuộc tọa đàm về kích cầu trong xây dựng rằng nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất… đều về tay nhà thầu Trung Quốc.

Hơn mười công trình xây dựng nhà máy xi măng, nhiều công trình xây dựng nhà máy điện lớn, đều đang do công ty Trung Quốc thực hiện.

Ông Hùng cho hay: “Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.”

Một quan chức có mặt tại tọa đàm đã xác nhận mỗi công trình, “công nhân TQ sang đến 2.000 người”.

Được biết doanh nghiệp TQ được hỗ trợ của nhà nước về nhiều mặt, như giảm thuế, nên giá bỏ thầu thường thấp hơn hẳn các công ty nước ngoài khác. Do vậy, khả năng trúng thầu của họ cao hơn.

Tuy nhiên, giới xây dựng VN cảnh báo tình trạng nhà thầu ngoại chỉ dùng công nhân và nguyên vật liệu của nước họ dẫn tới việc “triệt tiêu nội lực”.

Giải quyết thất nghiệp

Việc Trung Quốc đưa công nhân vào Việt Nam đã từng được đề cập tới trong bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi đầu năm.

Nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được.

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam Trần Ngọc Hùng

Trong bức thư yêu cầu dừng dự án bauxite Tây Nguyên, Tướng Giáp viết: “Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án)”.

Thực ra, chủ trương đưa người lao động ra các nước ngoài đã được Trung Quốc thực hiện một vài năm nay như một biện pháp giúp giải quyết công ăn việc làm và kích cầu kinh tế cho bản thân nước này.

Trong riêng năm 2007, có tới 750.000 công nhân Trung Quốc đã theo các dự án của Trung Quốc sang châu Phi, hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và khai khoáng, vốn cần nhân công.

Tình trạng thất nghiệp đang đe dọa xã hội Trung Quốc, với ước tính mười triệu người mất việc vì kinh tế khó khăn.

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Trần Đức Minh từng nói với BBC hồi tháng Hai 2009 rằng thất nghiệp là “thách thức lớn nhất mà Trung Quốc đang đối diện”.

“Kinh tế sụt giảm cũng là khi nguy cơ bất ổn xã hội gia tăng.”

Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối phó với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, dù chưa có cơ chế để thống kê con số thực tế. Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội trong một báo cáo ước tính có tới 400.000 người mất việc trong năm nay.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.