Ktetaichinh’s Blog

April 18, 2009

Bảo vệ nhà đầu tư: Góc nhìn từ Đạo luật Sarbanes-Oxley – CHỨNG KHOÁN

Filed under: chứng khóan,kinh tế,Ngành nghề — ktetaichinh @ 1:45 am
Tags: , ,

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những sacndal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán.

Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley có 6 điểm quan trọng

Một là, các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

Hai là, các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạt động kết toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó.

Ba là, các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra.

Bốn là, ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty.

Năm là, hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.

Sáu là, các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802).

Một điểm đáng chú ý khác, trong Mục 404 của đạo luật yêu cầu: “Các công ty được yêu cầu phải công bố thông tin trong báo cáo hàng năm của họ liên quan đến phạm vi và phù hợp với kiểm soát nội bộ. Các công ty phải đăng ký kế toán, trong cùng một báo cáo, chứng thực và báo cáo về việc đánh giá về hiệu quả của các cơ cấu kiểm soát nội bộ và các thủ tục cho các báo cáo tài chính…”.

Trong một diễn văn của mình tại Việt Nam năm 2008, ông Paul Sarbanes cho rằng, lúc đầu đạo luật này có nhiều điểm bị phản ứng mạnh từ phía các công ty đại chúng ở Mỹ, đặc biệt là các công ty đang niêm yết cổ phiếu trên sàn New York do những yêu cầu rất cao về tính minh bạch.

Tuy nhiên sau những thỏa thuận về một vài thay đổi đáp ứng những yêu cầu từ các nhà làm luật, đạo luật này mới chính thức được thông qua ở Hạ viện và Thượng viện trước khi được nguyên Tổng thống George W.Bush (năm 2002) ký thông qua thành luật.

Bảo vệ nhà đầu tư

Mới đây, Ủy ban Chứng khoán khoán Nhà nước đã có thông báo không cho Công ty Cổ phần Mai Linh được phát hành cổ phiếu thưởng vì kết quả hoạt động kinh doanh của công ty này từ năm 2005 đến năm 2007 bị lỗ và có nhiều khoản bị ngoại trừ, trong khi công ty lại công bố báo cáo tài chính “đã được kiểm toán” là có lãi.

Hoặc Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (mã BBT-HOSE) biến lỗ thành lãi cũng như nhiều sai phạm trong công tác công bố thông tin… đã dẫn đến hậu quả là cổ phiếu bị đưa vào kiểm soát và chỉ được giao dịch 15 phút cuối phiên giao dịch.

Nếu tìm thấy có điểm chung giữa trường hợp của Mai Linh và BBT thì có thể thấy người chịu trách nhiệm cao nhất là tổng giám đốc, kế toán trưởng vẫn “bình chân như vại”, để lại những hậu quả và những mất mát cho các cổ đông, đặc biệt là các cổ đông nhỏ.

Còn các công ty kiểm toán và kiểm toán viên cũng chịu mức kỷ luật chưa đủ để răn đe và chưa mang tính “phòng bệnh” cho những sai phạm sau này có thể xảy ra của các công ty khác.

Người viết cho rằng, nếu tạo ra một hành lang pháp lý chặt hơn đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát nội bộ,.. đồng thời gắn trách nhiệm cao đối với các giám đốc điều hành, kế toán trưởng (hay giám đốc tài chính) như các quy định có thể tham khảo trong Đạo luật Sarbanes-Oxley thì rất có thể sẽ tạo nên sự minh bạch cao hơn, qua đó tạo thêm niềm tin cho nhà đầu tư tại Việt Nam

Advertisements

April 10, 2009

Rủi ro dây chuyền- Ho Quoc Tuan

Filed under: chứng khóan,kinh tế — ktetaichinh @ 1:01 pm
Tags: , ,

Vì sao những khoản nợ dưới chuẩn chỉ vào khoảng 34 tỉ đô la trên thị trường địa ốc của Mỹ lại gây chao đảo cho thị trường tài chính toàn cầu với tổng trị giá gần 60.000 tỉ đô la.

Đổ vỡ thị trường do mô hình định lượng rủi ro của các ngân hàng có vấn đề

Sự đổ vỡ hiện nay trên thị trường tài chính của Mỹ đã mở ra một cuộc tranh luận rằng vì sao tại một thị trường mà việc phòng ngừa rủi ro của các ngân hàng ở một trình độ khá cao, thông qua nhiều loại sản phẩm phòng ngừa rủi ro lẫn dùng mô hình định lượng để dự báo và phòng ngừa rủi ro mà lại xảy ra những tổn thất hàng loạt ngoài dự kiến dẫn đến nhiều ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư thua lỗ và phá sản như vậy?

Câu trả lời được hé mở bởi ông Nassim Nicolas Taleb, chuyên gia hàng đầu thế giới hiện nay trong lĩnh vực định lượng rủi ro. Tại một hội thảo gần đây với các giám đốc quản trị rủi ro hàng đầu thế giới tổ chức tại văn phòng Morgan Stanley ở Manhattan, ông Taleb chỉ trích rằng các mô hình định lượng rủi ro của các ngân hàng đều không đúng. Nguyên nhân căn bản là vì các ngân hàng dự báo sai xác suất xảy ra việc giá của các chứng khoán liên quan đến cho vay thứ cấp giảm nhanh và mạnh như vừa qua.

Bỏ qua các vấn đề kỹ thuật, luận điểm chính của ông Taleb là người ta bị rơi vào một trạng thái “đánh giá sai rủi ro”, cho rằng những tổn thất lớn trong thị trường tài chính, kiểu như khủng hoảng, là không dễ diễn ra. Những trường hợp tệ hại nhất thường được gán cho những xác suất rất thấp và giá trị tổn thất trong trường hợp tệ hại nhất thường cũng được đánh giá thấp.

Điều không thể vẫn có thể xảy ra

Bằng chứng rõ nhất của việc đánh giá sai xác suất và giá trị tổn thất khi xảy ra tình huống tồi tệ nhất chính là tình trạng các ngân hàng của Mỹ hiện tại. Sau khi cho vay các khoản vay dưới chuẩn, các ngân hàng Mỹ đã tìm đến các tổ chức tài chính lớn để biến các khoản vay này thành chứng khoán và bán ra thị trường. Điều này đã tạo ra một dạng rủi ro phụ thuộc mà các mô hình rủi ro đã không tính toán chính xác được. Khi các khoản nợ dưới chuẩn bị đe dọa do sự xì hơi của bong bóng nhà ở của Mỹ, nó dẫn tới một cuộc đổ vỡ dây chuyền trên thị trường chứng khoán có liên quan đến các khoản nợ dưới chuẩn này.

Đấy chính là cơ chế quan trọng nhất truyền tác động từ việc một góc nhỏ của thị trường cho vay thứ cấp bị tổn thất 34 tỉ đô la nợ xấu thành một cơn chấn động lớn đến như vậy cho toàn thị trường tài chính có giá trị gần 60.000 tỉ đô la trong vài tháng (nghĩa là một tổn thất chỉ vào khoảng 0,06% giá trị của toàn thị trường lại gây ra khủng

hoảng dây chuyền trên toàn bộ thị trường), và đã “đánh gục” hoàn toàn các mô hình quản trị rủi ro của các tập đoàn lớn như Citigroup, Morgan Stanley và Bear Stearns.

Chính vì các ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư đã tiến hành đầu tư vào các loại chứng khoán phát sinh từ các khoản cho vay dưới chuẩn của ngân hàng thương mại, nên khi các chứng khoán trên thị trường nhỏ bé này giảm giá và các khoản vay dưới chuẩn bị đe dọa mất khả năng chi trả, thì lợi nhuận kinh doanh của các ngân hàng đầu tư và quỹ đầu tư (đầu cơ) này giảm rất mạnh, rồi kéo theo cả những khoản tài trợ của các ngân hàng lớn cho hoạt động của các quỹ này cũng lâm nguy. Thế là chính bản thân cổ phiếu của các công ty tài chính tăng trưởng cao này cũng rớt giá thê thảm vì nguy cơ thua lỗ của những công ty này.

Đến lúc này thì sự đổ vỡ ở một góc nhỏ trên thị trường các khoản đầu tư liên quan đến nợ dưới chuẩn đã lan sang các thị trường lớn như NASDAQ, AMEX và lan ra luôn châu Âu (vì nhiều ngân hàng lớn ở châu Âu cũng tham gia vào mảng thị trường sinh lợi cao của các khoản đầu tư liên quan đến nợ dưới chuẩn). Cổ phiếu của các công ty tài chính sụp đổ ào ào kéo theo toàn thị trường đi xuống, tạo ra vòng xoáy đánh vào các nhà đầu tư, khiến những người này phải cắt lỗ, bán các chứng khoán khác, thậm chí cả vàng để bù lỗ đầu tư. Một làn sóng khủng hoảng phụ thuộc bắt đầu, và xác suất khủng hoảng tăng lên nhanh chóng, do hiệu ứng dồn các xác suất phụ thuộc không nhìn thấy được trước đó lại với nhau.

Điều mà trước đây hầu như ai cũng cho rằng không thể xảy ra là chỉ một tổn thất “bé xíu” trị giá 34 tỉ đô la của các khoản nợ dưới chuẩn lại có thể tạo ra một cơn địa chấn trên một thị trường có giá trị đến 60.000 tỉ đô la (tức là con kiến cắn voi thì làm sao mà dẫn đến con voi phải đi bệnh viện được). Khả năng xảy ra hầu như bằng không vì khi các công ty tài chính thiết kế mô hình đánh giá rủi ro và tiến hành đầu tư, những suy nghĩ của họ bị tác động bởi tình hình kinh tế lúc đó (cho dù họ có tiến hành những dự báo, nhưng bản thân các dự báo cũng bị bóp méo bởi suy nghĩ của họ). Và họ đã sai, do họ bị đóng khung vào những khái niệm suy nghĩ thường ngày (framing) nên đã bóp méo bản chất về khả năng xảy ra rủi ro.

Nhìn lại Việt Nam

Quay về thị trường Việt Nam, tình hình cũng có nhiều điểm tương tự. Cách nay một năm, ít ai tin rằng chỉ số VN-Index sẽ giảm từ trên 1.100 điểm đến dưới 500 điểm, thế nên mọi người tự huyễn hoặc mình rằng làm gì có chuyện giảm giá mạnh. Rồi công ty nào cũng đầu tư tài chính, thích kiếm tiền nóng, thu lợi nhanh. Ngân hàng cũng nhảy vào cho vay tài trợ mua chứng khoán. Và rồi thị trường vì phát triển nóng quá nên bắt đầu điều chỉnh giảm (sau vài cú sốc từ bên ngoài và những biện pháp hạ nhiệt thị trường kiêm chống lạm phát của Nhà nước).

Chúng ta thấy một kịch bản không khác thị trường Mỹ: chứng khoán giảm giá thì các công ty niêm yết có đầu tư tài chính thua lỗ, kéo theo nhiều cổ phiếu của các công ty loại này bị nhà đầu tư “hắt hủi”, bán ra đến nỗi giảm giá xuống dưới giá trị sổ sách. Ngân hàng thấy chứng khoán giảm giá thì bắt nộp thêm tiền, không thì phải bán chứng khoán trả nợ, cứ thế lại tạo ra sức ép giảm giá chứng khoán. Một cái vòng lẩn quẩn, phụ thuộc lẫn nhau lại nảy sinh.

Chính hoạt động đầu tư tài chính thiếu kiểm soát và thiếu chuyên nghiệp của nhiều công ty niêm yết đã làm gia tăng độ rủi ro và tính dễ đổ vỡ của thị trường Việt Nam và điều này nằm ngoài tính toán về rủi ro sụt giảm thị trường của nhiều nhà đầu tư. Khi tồn tại hiện tượng rủi ro phụ thuộc lẫn nhau quá phức tạp thì người ta càng dễ đánh giá sai quy mô tổn thất của thị trường. Khi chỉ số VN-Index còn ở mức 600 điểm, một số quan chức bảo phải nên “mua vào” hoặc “có tiền cũng mua chứng khoán”. Có lẽ đó là nhận định dựa trên suy nghĩ về tình hình hiện tại của nền kinh tế, dựa vào các biện pháp hiện tại, chứ không tính đến xác suất rủi ro dây chuyền.

Hàm ý chính sách

Những biến động trên thị trường Mỹ, những tranh luận về những thiếu sót của mô hình quản trị rủi ro, và chứng cứ thực tiễn tại Việt Nam đang gợi ý cho chúng ta rằng chính việc các công ty chạy theo việc kiếm tiền nóng (hot money) bằng cách đầu tư vào các khu vực sinh lợi cao (chứng khoán, bất động sản) nhưng nhiều rủi ro tạo ra tính phụ thuộc chằng chịt giữa các định chế tài chính trong thị trường tài chính, và cả hệ thống ngân hàng. Tính dễ đổ vỡ của hệ thống từ đó tăng lên. Chỉ một mắt xích nhỏ trong hệ thống kinh tế gặp trục trặc là có thể khiến thị trường tài chính chao đảo. Điều này là một bài học không chỉ cho riêng thị trường chứng khoán mà cả hệ thống tài chính, lẫn người hoạch định chính sách.

HỒ QUỐC TUẤN – ThS. Tài chính Đại học Melbourne

Thị trường và con người

(TBKTSG) – Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn…) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo

Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ “đồ chơi” để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó.

Cụ thể, các giải pháp này giả định rằng tất cả rủi ro có thể được phòng ngừa và nếu xuất hiện một cơ hội kiếm tiền mà không có rủi ro, thì cơ hội đó sẽ nhanh chóng mất đi (người ta thường gọi đây là giả định no arbitrage trong một thị trường hiệu quả). Nói cách khác, nhiều người làm tài chính đang giả định thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó trong cách tác nghiệp của mình, cho dù họ không thực sự tin thị trường là hoàn hảo.

Điều này có ý nghĩa gì? Câu trả lời là nó làm trầm trọng tình hình khủng hoảng. Nói cách khác, thị trường không có khả năng tự sửa chữa sai lầm hay tự bảo vệ mình khi nó phát hiện ra đã có điều gì đó không ổn diễn ra.

Có những rủi ro không thể (hay đúng ra là chưa thể) phòng ngừa được một cách thích hợp nhưng được giả định đã được phòng ngừa tốt. Ví dụ, rủi ro đối tác nhận phòng ngừa rủi ro phá sản, rủi ro của những sản phẩm phái sinh từ các khoản nợ dưới chuẩn, và rủi ro thị trường mất thanh khoản đột ngột…

Bình thường, các rủi ro này xuất hiện thì mọi chuyện sóng yên, biển lặng, các chuyên gia về kỹ thuật tài chính (financial engineering) kiếm các khoản lương và thưởng 5, 6 con số; những chuyên gia về chứng khoán phát sinh từ nợ dưới chuẩn thì tha hồ kiếm hoa hồng từ việc bán các sản phẩm này. Đến khi xuất hiện một yếu tố gây sụp đổ một phần trong hệ thống tài chính, người ta mới giật mình nhận ra những cái gọi là phòng ngừa rủi ro hoàn toàn thất bại, và góp phần vào việc tạo ra khủng hoảng dây chuyền. Những ý tưởng này phần nào được Stiglitz, Taleb và nhiều học giả khác thừa nhận hay cảnh báo từ lâu. Nhưng ngành bảo hiểm và các sản phẩm phái sinh mới ra đời đã phớt lờ cảnh báo đó.

Thị trường không hoàn hảo và yếu tố con người: thị trường sẽ mắc sai lầm

Tuy nhiên, nếu các rủi ro thị trường không thể phòng ngừa được ở trên chỉ là yếu tố làm trầm trọng khủng hoảng, chứng tỏ là thị trường không thể tự sửa chữa sai lầm của mình, thì nó cũng không nhất định gây ra khủng hoảng. Nếu thị trường không mắc sai lầm thì sẽ không cần phải sửa chữa. Vấn đề là thị trường đã thực sự sai lầm. Khủng hoảng đến từ một yếu tố khác: yếu tố con người.

Có nhiều luận điểm khác nhau để chỉ ra vì sao thị trường là sai lầm, nói cách khác, giá sản phẩm tài chính (giá cổ phiếu, trái phiếu, giá bất động sản, giá sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn…) đều không đúng nữa vào thời điểm trước khủng hoảng. Những cơn sốt giá, và những đợt sụp đổ, là do những chủ thể tham gia thị trường đã đẩy thị trường đến những mức giá “không đúng”. Điều này phá vỡ luận điểm của trường phái tin rằng thị trường sẽ luôn tự điều chỉnh về mức giá cân bằng và mức giá này “đúng”.

Con người mắc sai lầm, và do đó thị trường mắc sai lầm. Và sau đó các định chế thị trường, các cơ chế phòng ngừa rủi ro, những thiết kế không hoàn hảo như người ta tưởng, đã không đủ sức sửa chữa một vài sai lầm ban đầu. Kết quả, chúng ta đối diện khủng hoảng tài chính.

Hành vi phi đạo đức gây khủng hoảng

Có nhiều trường phái mới nổi lên giải thích vì sao giá thị trường không đúng, vì sao thị trường vẫn có những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage opportunities) tồn tại lâu dài, vì sao tạo ra bong bóng và sụp đổ…  trong đó viện dẫn nhiều nguyên nhân về bất cân xứng thông tin, về nhà đầu tư không hợp lý (trường phái tài chính hành vi mới nổi gần đây), về việc có nhiều loại các nhà đầu tư khác nhau, về thị trường hợp lý tối thiểu… Tuy nhiên, tìm kiếm đâu đó trong các lý thuyết này, trực tiếp hay gián tiếp, người ta ngụ ý rằng, tồn tại sự lừa gạt lẫn nhau, che giấu thông tin trên thị trường. Đó là vấn đề đạo đức, và là mầm mống căn bản của khủng hoảng.

Giám đốc công ty phù phép số liệu lợi nhuận, thổi phồng giá cổ phiếu. Tổ chức tài chính bất chấp rủi ro, cứ bán sản phẩm phát sinh từ nợ dưới chuẩn vô tội vạ. Công ty xếp hạng tín nhiệm lại không biết vì động cơ gì, xếp hạng những loại chứng khoán từ nợ dưới chuẩn thuộc loại rất an toàn. Và giám đốc quỹ đầu tư không cần biết là giá của các loại chứng khoán này có bất hợp lý không, cứ thấy nó đang kiếm ra tiền là mua. Ngân hàng thương mại thoải mái chiêu dụ khách hàng không đủ điểm tín dụng đi vay mua nhà. Và còn nhiều nữa.

Một người bạn của người viết đã có một nhận định đáng chú ý: khủng hoảng nào gần đây mà chẳng phải do đạo đức. Khủng hoảng 1997, hệ thống ngân hàng góp phần bằng việc cho vay vô tội vạ, đặc biệt là cho những tập đoàn tầm cỡ “quá lớn để đổ vỡ” vay. Năm 2000, là vụ việc Enron và các công ty dotcom, và nay, là vấn đề sản phẩm phái sinh từ nợ dưới chuẩn, mà sâu xa hơn là việc người ta khuyến khích người khác vay tiền mua nhà; người người mua nhà, nhà tăng giá, lại đem nhà thế chấp vay tiền. Đó là những tình huống mà lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, vì lợi nhuận, bất chấp tất cả.

Tiêu biểu là trường hợp Peter Kraus của Merrill Lynch bị “ra đi” với khoản “lương hưu” trị giá 10 triệu đô la Mỹ, gần như cùng lúc với tin Bank of America sẽ sa thải 500 nhân viên của Merril Lynch sau khi sáp nhập. Thật là một bức tranh tương phản gây nhiều suy nghĩ.

Đối phó yếu tố phi đạo đức: pháp trị hay đức trị?

Ngày càng nhiều người nhận ra rằng vấn đề đạo đức trở thành quan trọng trong việc duy trì một nền kinh tế khỏe mạnh. Trong ngành tài chính, các chứng chỉ như CFA chẳng hạn đều yêu cầu học các điều khoản về đạo đức. Các khóa học MBA bắt đầu nói nhiều hơn về đạo đức kinh doanh. Người ta đang cho rằng dạy về đạo đức kinh doanh thì sẽ ngăn ngừa được những hành vi phi đạo đức và ngăn ngừa khủng hoảng (?).

Trong khi đó, một cách tiếp cận thực tế hơn (ít nhất là dưới mắt người viết), là việc siết chặt quản lý vốn đang bị bỏ lỏng quá nhiều đối với thị trường tài chính (nhất là thị trường Mỹ và những phương thức quản lý học theo kiểu của Mỹ). Đây có thể là cách nhìn pháp trị. Gần đây một số nước, bao gồm Mỹ, Pháp tỏ ra mạnh tay trong việc siết lại những “chiếc dù vàng” (tức các khoản bồi thường khi phải ra đi) của các nhà lãnh đạo các tập đoàn lớn đang tính “hạ cánh an toàn” trong khủng hoảng. Và nhiều người làm trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn cũng đã bị quốc hội Mỹ “hỏi thăm” và “để mắt” đến.

Vậy là sau một thời kỳ người ta tin rằng hãy để thị trường tự điều chỉnh, nay người ta lại quay về với pháp trị. Điều đáng lo ngại là sau khi nới lỏng quá mức thì những luật định mới có thể lại quá khắt khe mà chưa chắc hiệu quả.

Gợi ý cho Việt Nam

Những thảo luận trên đây có thể tỏ ra có ích cho tình hình nước ta hiện nay. Chuyện suy đồi đạo đức gây khủng hoảng cho thấy cần phải chống tham nhũng và lãng phí  mạnh hơn nữa.

Thứ hai, Việt Nam cũng nên có giải pháp ngăn chặn những trường hợp kiểu “hạ cánh an toàn”. Những “chiếc dù vàng” ở Việt Nam có thể có nhiều dạng thức khác, không chỉ ở các tổ chức kinh doanh mà có thể ở đâu đó trong các tổ chức quản lý nền kinh tế hay là các tập đoàn lớn. Nó cũng là mầm mống gây khủng hoảng. Việc triệt tiêu những mầm mống này không thể chỉ bằng đức trị mà phải kết hợp với cả pháp trị.

Thứ ba, như đã đề cập ở trên, thả lỏng quá rồi siết lại thì đúng nhưng siết theo kiểu dàn hàng ngang, không có mục tiêu cụ thể, thì không chừng siết chết động lực phát triển kinh tế. Vì vậy, khi điều chỉnh nới lỏng hay siết lại các hoạt động trong nền kinh tế, nên xem xét liều lượng cho phù hợp.

Cuối cùng, là gợi ý về chuyện chống suy thoái. Không phải cứ có tiền kích cầu là có thể chống suy thoái. Từ chính sách đúng mà truyền động đến nền kinh tế thì phải thông qua con người. Con người mà không có hành động đúng trong trường hợp này thì dù có tiền cũng không đưa nền kinh tế về cân bằng được mà khủng hoảng trầm trọng hơn. Do đó, tiền và chính sách đúng để chống khủng hoảng chỉ mới là một mặt. Con người chống khủng hoảng mới là quan trọng. Vì chính con người là yếu tố quan trọng tạo ra khủng hoảng.

HỒ QUỐC TUẤN (*)

(*) Nghiên cứu sinh tiến sĩ, Đại học Manchester, Anh

CÁC VẤN ĐỀ VỀ THUẾ CHỨNG KHOÁN

Cổ phiếu thưởng phải chịu thuế thu nhập (17/5/2007)
http://tintuconline.com.vn/vn/kinhte/142925/

Chơi chứng khoán phải chịu nhiều thuế thu nhập (23/5/2007) => cái gì phải đến cũng đến
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/05/3B9F657D/

Thuế thu nhập chứng khoán: Mức 25% là quá cao (5/7/2007)
http://tintuconline.com.vn/vn/kinhte/150866/

Nếu thu thuế chứng khoán cao, nhà đầu tư sẽ bỏ sàn (7/9/2007) => Hù nhau hoài
http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/chung_khoan/20070907/35A65A16/

Thu thuế chứng khoán: Bao nhiêu là vừa? (24/10/2007)
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=225905&ChannelID=86

Nhà đầu tư muốn thuế chứng khoán phải có lộ trình (22/11/2007) => vâng giờ có lộ trình rồi
http://www.vnexpress.net/vietnam/kinh-doanh/chung-khoan/2007/11/3b9fc8aa/

Chưa đánh thuế thu nhập từ chứng khoán (9/1/2008) => BTC cũng biết sợ??
http://tintuconline.com.vn/vn/kinhte/180265/

Thuế chứng khoán: vừa làm vừa hỏi? (7/8/2008) => Chuyện thường ngày ở huyện
http://tintuconline.com.vn/vn/kinhte/215893/

Chọn cách nào để đóng thuế chứng khoán? (17/10/2008) => Haìz, giờ cũng đóng chứ có bỏ sàn đâu
http://tintuconline.com.vn/vn/kinhte/228421/

Thuế chứng khoán: Khó cho nhà đầu tư (1/11/2008)
http://tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=15679

Ý tưởng mới về thu thuế chứng khoán (13/11/2008) => Thu thuế cũng có sáng tạo?
http://www4.sanotc.com/News/ViewItem.aspx?item=314156

UBCKNN đã làm hết sức mình để xin giãn thuế chứng khoán (15/11/2008) => đáng khen, hay quá, vỗ tay, vì các vị đã cố gắng hết sức và vẫn không đạt được gì!
http://tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=15983

Chia cổ tức chạy thuế (17/11/2008)
http://www4.sanotc.com/News/ViewItem.aspx?item=314672

Bên lề
http://www.onboom.com/Bai_viet/Noi_dung/1978/89/

March 30, 2009

Điều gì nhà đầu tư cần quan tâm ở đại hội cổ đông? 032509

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 9:17 pm
Tags: ,
Vào thời điểm này, đại bộ phận các công ty niêm yết đang chuẩn bị tiến hành đại hội cổ đông thường niên.

Đây là cơ hội để các nhà đầu tư tiếp xúc với ban lãnh đạo doanh nghiệp, trực tiếp chất vấn các vấn đề chưa rõ hoặc chưa thỏa đáng và tham gia vào quá trình ra quyết định kinh doanh, thay vì nghiên cứu các con số tĩnh trong báo cáo tài chính doanh nghiệp.

Nhiều nhà đầu tư đã thổ lộ, nhờ tham gia đại hội cổ đông, tiếp xúc trực tiếp với ban lãnh đạo mà họ có được thông tin chân thực hơn, tin cậy hơn về giá trị nội tại của doanh nghiệp để quyết định nên tiếp tục hay thoái vốn đầu tư. Và do vậy, rủi ro và lợi ích đi kèm từ sự tham gia đại hội cổ đông là không nhỏ.

Nhiều doanh nghiệp được nhà đầu tư nhìn nhận đã tổ chức tốt đại hội cổ đông trong những năm qua như Ngân hàng Á Châu (ACB), Đạm Phú Mỹ (DPM), Ngân hàng Cổ phần Thương mại Sài Gòn (SCB). Tuy nhiên đã có công ty phải hoãn tổ chức đại hội như SAM do cổ đông đăng ký tham dự không đủ 65% vốn điều lệ hoăc điển hình là Bông Bạch tuyết (BBT) đại hội cổ đông đã phải hủy bỏ nhiều lần.

Thiết nghĩ, nhà đầu tư nên tham gia đại hội để thực hiện quyền của người chủ công ty và chất vấn các vấn đề chưa rõ. Vậy, khi tham gia, nhà đầu tư nên quan tâm đến những vấn đề gì trong đại hội cổ đông?

Thua lỗ 2008 do đầu tư trái luồng

Nhớ lại năm 2007, thị trường chứng khoán tăng trưởng nóng. EPS trung bình toàn thị trường 3.689 VND; ROA và ROE tương ứng là 6,12% và 19,3%. Chính vì vậy, các kế hoạch kinh doanh năm 2008 đều phản ánh con số “tham vọng” lớn.

Ví dụ, Sacombank đặt ra kế hoạch lợi nhuận trước thuế 2008 đạt 2.000 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2007. Tổng CTCP Xây dựng Điện Việt Nam (VNE) đặt mục tiêu 91,46 tỷ lợi nhuận sau thuế, tăng 48% so với 2007. CTCP Bibica đưa ra kế hoạch hơn 46 tỷ lợi nhuận sau thuế trong năm 2008, tăng trưởng lợi nhuận tới 91%.

Nhưng điều không ngờ đã xảy ra. Trong 8 tháng đầu năm 2008, nền kinh tế trong nước đối đầu với lạm phát cao, thanh khoản bị thắt chặt và trong 4 tháng còn lại của năm, nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế thế giới. Kết thúc năm 2008, phần lớn các doanh nghiệp đều không hoàn thành kế hoạch kinh doanh đã đặt ra.

Ví dụ, lợi nhuận trước thuế 2008 của Sacombank đạt 1.090 tỷ, không đạt kế hoạch lợi nhuận trước thuế đã điều chỉnh là 1.500 tỷ. CTCP Xuất nhập khẩu Petrolimex (PIT) sau khi điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trước thuế từ 45 tỷ xuống 30 tỷ cũng không thể hoàn thành kế hoạch khi kết thúc năm lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 25 tỷ, giảm 41% so với năm 2007…

Có tới 43% số doanh nghiệp niêm yết có EPS 2008 giảm so với năm 2007. EPS trung bình thị trường chỉ đạt 2.262 VND, giảm 36,8% so với năm 2007. ROA và ROE cũng sụt giảm lần lượt chỉ còn 3,7% và 13,1%.

Trong tổng số 344 doanh nghiệp niêm yết đã công bố báo cáo tài chính quý 4 thì 24 công ty báo cáo thua lỗ trong năm 2008. Chỉ tính riêng trong quý 4/2008 đã có 72 doanh  nghiệp công bố lỗ.

Thậm chí, có những doanh nghiệp ba quý đầu năm vẫn làm ăn có lãi, đến quý 4 mới phát sinh lỗ khiến kết quả kinh doanh cả năm âm. TRI là một ví dụ điển hình trong số này. Kết quả kinh doanh 3 quý đầu, TRI còn lãi hơn 1 tỷ đồng, đến quý 4 lỗ tới hơn 146 tỷ đồng, khiến cả năm lỗ 144 tỷ đồng.

Nếu suy giảm lợi nhuận hoặc thậm chí thua lỗ từ sản xuất kinh doanh, các nguyên nhân kể trên dễ được nhà đầu tư chia sẻ và thông cảm. Tuy nhiên, nếu thua lỗ do đầu tư không thuộc ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp như đầu tư vào cổ phiếu, buôn bán ngoại tệ hoặc đầu tư dàn trải vào nhiều các công ty con, công ty liên kết khác khiến các chi phí dự phòng tăng vọt, đây là nội dung đáng để nhà đầu tư chất vấn.

Điểm lại 24 công ty thua lỗ nặng năm 2008, thì thấy nguyên nhân chủ yếu là chi phí tài chính quá cao do phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ do chênh lệch tỷ giá.

Chẳng hạn, REE thua lỗ tới trên 152 tỷ đồng do đầu tư tài chính trong năm 2008. SAM sau khi trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán khoảng 245 tỷ đồng thì lợi nhuận cả năm âm 67 tỷ đồng. Là doanh nghiệp trong ngành dệt may nhưng TCM lại đầu tư lớn vào bất động sản với cao ốc Thành Công – Tower 1. Chi phí lãi vay tăng cao khiến lợi nhuận doanh nghiệp giảm sút.

Với trường hợp của CTCP Nước giải khát Sài Gòn – TRIBECO (TRI) thì một trong những yếu tố gây ra thua lỗ là từ khoản lỗ của công ty thành viên. Năm 2008, TRIBECO Bình Dương lỗ 99,8 tỷ đồng dẫn đến lỗ do hoạt động liên doanh của TRI là 35,9 tỷ đồng (TRI sở hữu 36% cổ phần của TRIBECO Bình Dương).

Tiếc thay, mới chỉ có duy nhất ban lãnh đạo REE thừa nhận sai lầm trong đầu tư tài chính. Còn lại các doanh nghiệp khác không biết có thừa nhận hay không trong kỳ đại hội cổ đông tới.

Căn cứ xây dựng kế hoạch kinh doanh 2009

Dự báo kế hoạch kinh doanh 2009 sẽ được ban lãnh đạo trong hầu hết doanh nghiệp đặt ra ở mức khiêm tốn hơn nhiều so với năm 2008.

Có thể điểm qua một vài ví dụ trong số khoảng 30 đại hội cổ đông đã diễn ra. Đại hội cổ đông thường niên của Sacombank đã thống nhất con số lợi nhuận trước thuế năm 2009 ở mức 1.600 tỷ đồng. CTCP Cao su Hòa Bình (HRC) đưa ra mức lợi nhuận trước thuế 2009 là 40,623 tỷ đồng, chỉ bằng 46% thực hiện trong năm 2008. Kế hoạch lợi nhuận trước thuế của NSC cũng khiêm tốn ở mức tăng 4,7% so với năm trước. CTCP Container Việt Nam (VSC) thận trọng đưa ra mục tiêu 75 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm nay, chỉ bằng 64% đã thực hiện trong năm 2007…

Tuy nhiên, những con số lợi nhuận, doanh thu bằng bao nhiêu, tăng bao nhiêu phần trăm so với năm trước không quan trọng bằng việc ban lãnh đạo đưa ra phương hướng nào để đạt được những mục tiêu đó. Điều nhà đầu tư cần nhất lúc này là sự cụ thể, tính khả thi chứ không phải chung chung, không rõ ràng. Các cổ đông cũng nên chất vấn ban lãnh đạo về phương hướng xử lý với các khoản đầu tư trái luồng (nếu có).

Trong hầu hết các báo cáo về kế hoạch kinh doanh của những năm trước, các giải pháp đưa ra để thực hiện mục tiêu được trình bày khá sơ sài. Không biết điều này có phải là do ban điều hành không muốn tiết lộ thông tin chi tiết do bảo mật hay do cách làm còn mang tính đại khái. Tham dự đại hội cổ đông là cơ hội để nhà đầu tư làm rõ các giải pháp.

Kế hoạch cổ tức

Cổ tức bằng tiền là phần thu nhập rất quan trọng của cổ đông khi đầu tư vào công ty. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, thị trường chứng khoán suy giảm, cổ phiếu rớt giá, thu nhập cổ tức lại càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Từ trước đến nay các công ty thường chọn các chỉ tiêu cổ tức tính trên vốn điều lệ để làm căn cứ lập kế hoạch kinh doanh và chia thưởng. Điều này không giống thông lệ quốc tế. Vốn điều lệ chỉ có ý nghĩa lúc đầu khi công ty mới thành lập để làm căn cứ xác định số lượng cổ phần. Các chỉ tiêu kế hoạch cần phải được lập trên vốn chủ sở hữu.

Chính vì vậy, nhà đầu tư nên yêu cầu ban điều hành thay thế các chỉ tiêu khó lượng hóa và kiểm soát bằng các chỉ tiêu có tính hiện thực và dễ kiểm soát như: thu nhập tính trên cổ phiếu, tỷ lệ % lợi nhuận trích chia cổ tức và các quỹ, ROE tính trên vốn chủ sở hữu thay vì các chỉ tiêu này tính trên trên vốn điều lệ.

Một số công ty trong năm 2008 làm ra lợi nhuận cao như Than Hà Tu (THT), Than Núi Béo (NBC), nhưng dự kiến chia cổ tức lại rất thấp. THT sử dụng tỷ lệ 16% vốn điều lệ để trả cổ tức tương đương với mỗi cổ phiếu được nhận 1.600 VND; Than Núi Béo là 1.800 VND.

Thoạt nghe, tỷ lệ này có vẻ cao và nhà đầu tư dễ bị cảm giác đánh lừa chi phối. Nhưng với EPS 9.000 VND thì tỷ lệ chi trả cổ tức chỉ là 17,7% (1.600/9.000). So sánh với thị giá THT thì tỷ lệ cổ tức chỉ đạt 1.600/18.000 =  8.89%. Trong khi đó, từ hơn 82 tỷ lợi nhuận sau thuế, công ty này đã quyết định trích tới 32 tỷ cho quỹ đầu tư phát triển (chiếm 38,8%) và 13.6 tỷ cho quỹ khen thưởng phúc lợi (chiếm 16,6%).

Ở đây, có thể thấy ngay một sự bất cân đối trong việc phân bổ lợi nhuận vào các quỹ, bởi thông thường tỷ lệ trích chia cổ tức từ lợi nhuận thường ở mức 50-75%.

Việc phân phối này của THT trái ngược với các công ty khác như DAC, VTS.

CTCP Viglacera Đông Anh (DAC) đã công bố trả cổ tức đợt 2 năm 2008 bằng tiền mặt với tỉ lệ 30% tương đương với tỉ lệ chia cổ tức từ lợi nhuận (dividend payout)  ở mức 33,5% (cổ tức đợt 1, công ty đã trả bằng cổ phiếu với tỉ lệ 34%).

Công ty Cổ phần Viglacera Từ Sơn (VTS) cũng công bố trả cổ tức đợt 2 năm 2008 tỉ lệ 50% bằng tiền mặt sau khi đã tạm ứng cổ tức 6 tháng đầu năm tỉ lệ 23%. Tổng cổ tức cả hai đợt của VTS tương đương với tỉ lệ chia cổ tức từ lợi nhuận khoảng 53%.

Nhiều nhà đầu tư đặt câu hỏi Than Hà Tu đã giữ lại quá nhiều lợi nhuận? Các cổ đông nên chất vấn và cần nhận được câu trả lời xác đáng từ phía doanh nghiệp.

Từ những thực tế trên, các doanh nghiệp nên xây dựng cho mình kế hoạch kinh doanh với các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế. Tỷ lệ lợi nhuận chi trả cổ tức (payout ratio) nên tính trên lợi nhuận sau thuế chứ không dựa trên vốn điều lệ như hiện nay ở Việt Nam. Điều này sẽ giúp nhà đầu tư khỏi vô tình bị rơi vào những “cái bẫy”, với những con số tưởng chừng cao, nhưng thực ra lại quá nhỏ bé so với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.

Những vấn đề nêu trên chỉ là một trong số những quyền lợi chính đáng mà các cổ đông cần đòi hỏi cho mình.

Vì sao chứng khoán Mỹ bất ngờ tăng 7%? 032409

Filed under: chứng khóan,khủng hoảng — ktetaichinh @ 8:22 pm
Tags: ,
Ngày 23/3, điều gì giúp chứng khoán Mỹ bất ngờ có phiên giao dịch thành công nhất kể từ ngày 21/11/2008?

Phiên tăng điểm này đã giúp giá trị vốn hóa thị trường của 30 cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones tăng thêm 167,4 tỷ USD và chỉ số này đã lên 10% so với đầu tháng 3/2009

Hôm thứ Hai, Hiệp hội các nhà kinh doanh bất động sản Mỹ cho hay, doanh số nhà đã qua sử dụng chờ bán ở nước này trong tháng 2/2009 đã tăng 5,1% lên 4,72 triệu đơn vị (ngôi nhà, căn hộ), từ mức 4,49 triệu đơn vị trong tháng 1/2009.

Theo số liệu của Hiệp hội các nhà kinh doanh bất động sản, giá trung bình một ngôi nhà, căn hộ hiện đã giảm 15,5% so với cùng kỳ năm ngoái xuống 165.400 USD/ ngôi nhà, căn hộ.

Trong một diễn biến đáng chú ý nhất trong ngày, Bộ Tài chính Mỹ đã công bố bản kế hoạch chi tiết trị giá 1.000 tỷ USD về chương trình mua lại các tài sản xấu để làm sạch bảng cân đối kế toán của các định chế tài chính Mỹ.

Kế hoạch này sẽ có sự kết hợp giữa Chính phủ Mỹ và nhà đầu tư tư nhân cùng tham gia với mục đích tạo nên sự lành mạnh của hệ thống tài chính Mỹ.

Đối với các nhà đầu tư tư nhân dám mạo hiểm tham gia chương trình này sẽ được Chính phủ Mỹ cho vay vốn để thực hiện việc mua lại số tài sản xấu có tổng giá trị khoảng 2.000 tỷ USD.

Trước mắt, Bộ Tài chính Mỹ sẽ chi từ 75-100 tỷ USD trong nguồn quỹ 700 tỷ USD từ “Chương trình giải trừ các tài sản xấu – TARP” được Quốc hội Mỹ thông qua trước đó.

Điểm quan trọng trong chương trình này là Bộ Tài chính, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang sẽ cùng tham gia rót vốn hoặc bảo đảm, xác định giá trị và đấu giá số tài sản xấu.

Một kế hoạch quan trong khác cũng được chính quyền Tổng thống Obama công bố trong ngày, theo đó, Bộ Tài chính Mỹ và FED sẽ đóng vai trò trung tâm để ngăn chặn khủng hoảng tài chính trong tương lai giống như những gì đã, đang diễn ra tại Mỹ.

Đồng thời, hai cơ quan này sẽ phối hợp thực hiện các biện pháp để ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính và đưa kinh tế đất nước ra khỏi tình trạng suy thoái.

Đó cũng được xem là biện pháp tốt nhất đối với Chính phủ và Quốc hội Mỹ để cải tổ cấu trúc thị trường tài chính nhằm bảo vệ tốt hơn cho nước Mỹ trong tương lai.

Kế hoạch cụ thể được công bố bao gồm:

– Bộ Tài chính đồng ý thâu tóm hoặc thanh lý tài sản của AIG và Bear Stearns trong dài hạn.

– FED đồng ý sử dụng tất cả các công cụ trên thị trường để ứng phó với tình hình.

– FED sẽ ngăn ngừa rủi ro tín dụng và điều tiết tín dụng linh hoạt.

– FED và Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đưa ra các công cụ mới hỗ trợ FED để triệt tiêu những ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động cho vay.

– Bộ Tài chính và FED sẽ cùng bàn bạc với Quốc hội để các kế hoạch có thể được thực hiện tốt hơn và cũng tạo nên một hành lang pháp lý đầy đủ cho các kế hoạch.

Các chỉ số tăng vọt trước các kế hoạch lớn

Các kế hoạch mua tài sản xấu và ổn định thị trường tài chính của chính quyền Tổng thống Obama đã thúc đẩy thị trường chứng khoán Mỹ tăng vọt.

Giới đầu tư đã tăng mạnh mua cổ phiếu bởi kế hoạch mua tài sản xấu của các định chế tài chính đã được công bố một cách chi tiết và phần nào đáp ứng được sự kỳ vọng sau nhiều ngày chờ đợi.

Chứng khoán Mỹ đã mở cửa phiên giao với mức tăng cao hơn 2% so với phiên cuối tuần trước. Đà tăng của thị trường được hỗ trợ bởi thông tin về doanh số nhà chờ bán ở Mỹ tăng mạnh và kế hoạch mua tài sản xấu.

Chỉ số Dow Jones và S&P 500 đã nhanh chóng tăng 4,13%, rồi tăng lên 4,5% vào lúc 12 giờ trưa (giờ địa phương).

Tuy nhiên đến gần 15 giờ chiều, cả ba chỉ số đã tăng điểm mạnh mẽ, từ mức giá trị 4% lên 6%, rồi chỉ số S&P 500 tiến lên ngưỡng 7% trước sự lạc quan của giới đầu tư.

Các lệnh đặt mua được tăng mạnh vào cuối phiên giao dịch và cổ phiếu khối ngân hàng được đặt mua nhiều nhất. Lượng cổ phiếu bán ra quá ít so với mọi ngày trước sự áp đảo của lượng cầu nên toàn sàn giao dịch New York chỉ khớp lệnh được gần 2 tỷ cổ phiếu – thấp hơn so với mức trên 2,2 tỷ cổ phiếu được giao dịch thành công của nhiều phiên trước đó.

Đây là phiên giao dịch thành công nhất của thị trường chứng khoán Mỹ kể từ ngày 21/11/ 2008 khi biên độ tăng của các chỉ số đã lên đến 7%. Trong đó, chỉ số S&P 500 đã dễ dàng vượt qua ngưỡng 800 điểm, còn chỉ số Dow Jones nhanh chóng vượt qua ngưỡng 7.760 điểm.

Phiên tăng điểm này cũng giúp giá trị vốn hóa thị trường của 30 cổ phiếu trong chỉ số Dow Jones tăng thêm 167,4 tỷ USD và chỉ số này đã tăng 10% so với đầu tháng 3/2009 – dù vẫn giảm 12% giá trị so với đầu năm 2009.

Chỉ số KBW khối ngân hàng đã có ngày tăng điểm mạnh nhất kể từ năm 1993, trong đó cổ phiếu Bank of America tăng 26%, cổ phiếu JPMorgan Chase tiến thêm 25%, cổ phiếu Citigroup lên 20%,…

Giá dầu tăng mạnh đã giúp cổ phiếu Exxon Mobil tiến thêm 6,7% lên 70,53 USD/cổ phiếu, cổ phiếu Chevron tăng 6,9% lên 69,15 USD/cổ phiếu.

Biểu đồ diễn biến của ba chỉ số chứng khoán ở Mỹ ngày 23/3 Biểu đồ diễn biến của ba chỉ số chứng khoán ở Mỹ ngày 23/3

Điểm qua kết quả giao dịch ngày 23/3: chỉ số Dow Jones tăng 497,48 điểm, tương đương 6,84%, chốt ở mức 7.775,86.

Chỉ số Nasdaq phiên này lên 98,5 điểm, tương đương 6,76%, chốt ở mức 1.555,77.

Cuối cùng, chỉ số S&P 500 tiến thêm 54,38 điểm, tương đương 7,08%, đóng cửa ở mức 822,92.

Khối lượng giao dịch trên sàn New York đạt 1,91 tỷ cổ phiếu, thị trường có 2.863 cổ phiếu lên điểm và có 259 cổ phiếu giảm điểm. Khối lượng giao dịch thành công trên sàn Nasdaq đạt 2,24 tỷ cổ phiếu, thị trường có 2.262 cổ phiếu tăng điểm và có 429 cổ phiếu mất điểm.

Chứng khoán châu Âu lên mức cao nhất trong 1 tháng

Chứng khoán châu Âu đã tăng điểm phiên đầu tuần đưa các chỉ số lên mức cao nhất trong vòng 1 tháng qua.

Số liệu doanh số nhà chờ bán ở Mỹ tăng mạnh và kế hoạch chi tiết về việc mua tài sản xấu được Bộ Tài chính Mỹ công bố là nguyên nhân quan trọng giúp chứng khoán khu vực lên điểm.

Cổ phiếu khối ngân hàng dẫn đầu về biên độ tăng điểm, qua đó góp phần quan trọng giúp thị trường châu Âu khởi sắc. Cổ phiếu BNP Paribas, Banco Santander, Barclays, Deutsche Bank, HSBC và UniCredit đã tăng từ 4,6% đến 15,7%.

Giá hàng hóa cơ bản đều lên giá nên cổ phiếu khối này cũng có những bước tiến tích cực, cổ phiếu của các hãng năng lượng như BP, Royal Dutch Shell tăng lần lượt là 2,6% và 3,7%; cổ phiếu các hãng khai mỏ như Billiton, Anglo American, Rio Tinto và Xstrata tăng từ 4,2-13%.

Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số FTSE 100 của Anh tăng 109,96 điểm, tương đương 2,86%, chốt ở mức 3.952,81. Khối lượng giao dịch đạt 2,54 tỷ cổ phiếu.

Chỉ số DAX của Đức tăng 2,65%, khối lượng giao dịch đạt 32,4 triệu cổ phiếu. Chỉ số CAC 40 của Pháp tiến thêm 2,81%, khối lượng giao dịch đạt 190 triệu cổ phiếu.

Chứng khoán châu Á đồng loạt tăng điểm mạnh

Thông tin Chính phủ Mỹ sẽ công bố kế hoạch bơm 1.000 tỷ USD cho các nhà đầu tư tư nhân để mua lại các tài sản xấu của các định chế tài chính, đã thúc đẩy thị trường chứng khoán khu vực tăng điểm mạnh phiên đầu tuần.

Chỉ số MSCI châu Á – Thái Bình Dương đã tăng 4,1% lên 82,79 điểm – mức tăng mạnh nhất kế từ ngày 15/12/2008, đưa chỉ số này lên cao nhất trong vòng 2 tháng qua.

Chứng khoán Nhật đã tăng mạnh phiên đầu tuần, đưa chỉ số Nikkei 225 lên mức cao nhất trong vòng 7 tuần qua.

Cổ phiếu khối ngân hàng tăng vọt nhờ kế hoạch bơm vốn mua tài sản xấu của Mỹ và đồng Yên mất giá đẩy cổ phiếu khối các nhà xuất khẩu tăng với biên độ lớn, qua đó kéo thị trường đi lên.

Cổ phiếu Mitsubishi UFJ Financial Group tăng 4,7%, cổ phiếu Mizuho Financial Group lên 5,3%, cổ phiếu Sumitomo Mitsui Financial Group tiến thêm 7,3%…

Trên thị trường tiền tệ, đồng Yên đã giảm 96,15 Yên/1 USD, từ mức 93,55 Yên/1 USD của tuần trước đó. Điều này đã góp phần đẩy cổ phiếu Kyocera lên 3,8%, cổ phiếu Fanuc tăng 4,1%…

Kế thúc ngày giao dịch, chỉ số Nikkei 225 tăng 269,57 điểm, tương đương 3,39%, chốt ở mức 8.215,53. Khối lượng giao dịch đạt 2,4 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 12 cổ phiếu lên điểm thì có 1 cổ phiếu giảm điểm.

Chuyển qua thị trường khác, cơ quan thống kê Singapore vừa cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nước này trong tháng 2/2009 đã tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, sau khi tăng 2,9% trong tháng 1/2009.

Tỷ lệ tăng của CPI tháng 2 thấp hơn 0,7% so với dự báo của giới phân tích đưa ra trước đó. Mức tăng của CPI trong tháng 2 chủ yếu do giá lương thực – vốn chiếm 23% tỷ trọng trong giỏ CPI, lên 4,3% so với cùng kỳ năm trước.

Trên thị trường chứng khoán, chỉ số Straits Times tăng 63,6 điểm, tương đương 3,98%, chốt ở mức 1.660,52.

Điểm qua các thị trường khác: chỉ số Taiwan Weighted của Đài Loan tăng 3,28%. Chỉ số ASX của Australia lên 2,29%. Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 4,78%. Chỉ số BSE 30 của Ấn Độ nhích 4,14%. Chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc tiến thêm 1,95%. Chỉ số KOSPI của Hàn Quốc lên 2,44%.

Thị trường

Chỉ số

Phiên trước Đóng cửa Tăng / giảm (điểm) Tăng / giảm (%)
Mỹ Dow Jones 7.278,38 7.775,86 Up497,48 Up6,84
Nasdaq 1.457,27 1.555,77 Up 98,50 Up6,76
S&P 500 768,54 822,92 Up 54,38 Up7,08
Anh FTSE 100 3.842,85 3.952,81 Up109,96 Up2,86
Đức DAX 4.068,74 4.176,37 Up107,63 Up2,65
Pháp CAC 40 2.791,14 2.869,57 Up 78,43 Up2,81
Đài Loan Taiwan Weighted 4.961,62 5.124,18 Up162,56 Up3,28
Nhật Nikkei 225 7.945,96 8.215,53 Up269,57 Up3,39
Hồng Kông Hang Seng 12.833,51 13.447,42 Up613.91 Up4,78
Hàn Quốc KOSPI Composite 1.170,94 1.199,50 Up 28,56 Up2,44
Singapore Straits Times 1.596.92 1.660,52 Up 63,60 Up3,98
Trung Quốc Shanghai Composite 2.281,09 2.325,48 Up 44,39 Up1,95
Ấn Độ BSE 30 8.966,68 9.337,56 Up370,88 Up4,14
Australia ASX 3.405,00 3.483,10 Up 78,10 Up2,29
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

CK tiếp tục giảm trước sức ép bán ra 0322309

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 8:06 pm
Tags:
Tiếp tục với xu hướng điều chỉnh của thị trường sau khi có những phiên tăng điểm mạnh trong tuần trước, phiên giao dịch sáng nay chứng khoán tiếp tục giảm giá với mức độ giảm mạnh hơn.

VN-Index giảm mạnh 2,42% xuống còn 260,16 điểm

Tiếp tục với đà giảm điểm của phiên giao dịch cuối tuần trước, ngay đợt khớp lệnh đầu tiên, chỉ số VN-Index đã có xu hướng giảm. Cụ thể, kết thúc giao dịch đợt 1 ngày 23/3, chỉ số Vn-Index giảm 1,76 điểm (tương đương giảm 0,66% xuống còn 264,86 điểm.

Tổng khối lượng giao dịch sau đợt 1 này vẫn đang đứng ở mức khá cao với gần 2 triệu đơn vị được chuyển nhượng với giá trị tương đương 38 tỷ đồng.

Chiều hướng giảm mạnh trong phiên hôm nay càng rõ nét hơn khi sức cầu có phần giảm sút qua một số phiên gần đây trong khi tâm lý bán ra sau một số phiên tăng điểm ấn tượng trước đó đã đẩy thị trường đi xuống khá mạnh.

Sau đợt khớp lệnh liên tục, chỉ số VN-Index đã giảm 5,94 điểm (tương đương giảm 2,22%) xuống còn 260,68 điểm. Khối lượng sau đợt 2 này đạt trên 13 triệu đơn vị với giá trị là gầ 250 tỷ đồng.

Sức ép bán ra vẫn tiếp tục tăng cao vào những phút còn lại của phiên giao dịch, trong khi bên mua có phần chững lại trước xu hướng điều chỉnh của thị trường và chờ đợi giá cổ phiếu giảm thêm sau đợt điều chỉnh này.

Kết thúc đợt 3, chốt lại phiên giao dịch đầu tuần mới, chỉ số Vn-Index giảm khá mạnh khi để mất 6,46 điểm (tương đương giảm 2,42%) xuống còn 260,16 điểm.

Thanh khoản thị trường giảm nhẹ trong phiên hôm nay với tổng khối lượng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ được khớp lệnh thành công đạt hơn 15,4 triệu chứng khoán với giá trị là 291,84 tỷ đồng.

Phiên giao dịch hôm nay, sàn HOSE tiếp tục có thêm cổ phiếu mới niêm yết là PNJ của CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận với khối lượng niêm yết là 30 triệu cổ phiếu và giá tham chiếu hôm nay của PNJ là 38.000 đồng/cổ phiếu.

Như vậy với sự góp mặt của PNJ, sàn HOSE hiện tại đã có 180 mã chứng khoán niêm yết trong đó có 176 mã cổ phiếu và 4 chứng chỉ quỹ và phiên này đã có 121 mã giảm giá (trong đó 41 mã giảm sàn), 31 mã tăng giá (12 mã tăng trần), 24 mã đứng giá và 4 mã không có giao dịch là BHS của Đường Biên Hoà, SGC của XNK Sa Giang, SJ1 của Thuỷ sản Số 1 và ST8 của CTCP Siêu Thanh.

Về khối lượng khớp lệnh, STB vẫn đứng đầu như thường lệ (1,96 triệu cp), SSI sau đó (1,27 triệu cp), đứng thứ 3 là REE (gần 0,9 triệu cp). Tiếp đến là các mã khác như: SAM (0,68 triệu cp), PPC (0,62 triệu cp), HPG (0,56 triệu cp)…

Top Các cổ phiếu tăng giá mạnh nhất trong phiên hôm nay là SHC, DPR, TRC, IFC đều có mức tăng trên 4% so với phiên liền trước, trong đó mã DCL tăng giá nhiều nhất top này với tỉ lệ thay đổi là 4,99%) .

Cổ phiếu giảm giá mạnh nhất là TAC với mức giao động 13,22% giá trị SC5, SGT, BMI, VÀ DIC cũng nằm trong top các cp giao giảm giá mạnh nhất với mức giao động 5% giá trị

Hastc-Index giảm 2,43 điểm, đạt 93,14 điểm

Bên sàn Hà Nội, Hastc-Index kết thúc phiên giao dịch với 93,14 điểm giảm 2,43 điểm tương đương giảm 2,54% so với phiên trước). Tổng khối lượng giao dịch báo giá đạt 10,063,250 đơn vị. Tổng giá trị giao dịch đạt hơn 192,07 tỷ đồng

Trong tổng số 174 mã niêm yết trên sàn Hà Nội, trong phiên giao dịch hôm nay đã có 32 mã tăng giá, 112 mã giảm giá, 17 mã đứng giá và tới 13 mã không được giao dịch. Về cuối phiên, có 7 cổ phiếu đóng cửa ở giá trần và 33 cổ phiếu đóng cửa ở giá sàn.

YSC là mã cổ phiếu tăng giá mạnh nhất về tỷ lệ khi tăng 6,86% giá trị, VC6, CJC, LBE, VÀ SDC cũng nằm trong top tăng giá nhiều nhất với tỉ lệ thay đổi là TRÊN 6 % giá trị. Ngược lại SDS là cổ phiếu giảm giá mạnh nhất với mức giảm 6,99% giá trị và có 200 đơn vị cp được chuyển nhượng thành công, tiếp theo là các mã GHA, PTS, TBX, VÀ SAP giao động trên 6% giá trị

Khối lượng cp được khớp lệnh trong phiên hôm nay dẫn đầu là ACB, KLS, BCC, VÀ BVS vơi trên 1 triệu cổ phiếu, HPC cũng nằm trong top các Cp được khớp lệnh nhiều nhất với 349,400 cp

Nhà đầu tư… “chán” đại hội cổ đông 032309

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 7:58 pm
Tags: ,

(TBKTSG Online) – Hiện đang vào mùa đại hội cổ đông, mỗi tuần có hơn 5 đại hội của các công ty đại chúng diễn ra. Khác với những năm trước – khi nhà đầu tư đón chờ tin tốt từ kết quả một năm hoạt động của doanh nghiệp, chờ mức chia cổ tức bằng tiền hay cổ phiếu cao, năm nay, nhà đầu tư có nhiều tâm tư và buồn nhiều hơn vui.

Thờ ơ vì công ty lỗ

Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông (Sacom, mã cổ phiếu SAM), một công ty được đánh giá là lớn trên sàn TPHCM, từng được nhà đầu tư quan tâm vì tin tưởng ngành nghề kinh doanh này sẽ mang lại lợi nhuận cao. Theo báo cáo đã kiểm toán, lợi nhuận trước thuế của Sacom năm 2008 đạt hơn 185 tỉ đồng, thế nhưng do công ty phải trích lập dự phòng là 261 tỉ đồng nên tính ra đã lỗ gần 76 tỉ đồng.

Tuy lỗ của Sacom là do trích lập dự phòng nhưng việc này cũng dẫn đến việc doanh nghiệp chưa trả cổ tức cho cổ đông là 20% như nghị quyết đại hội năm 2008

Trước đại hội, ông Đỗ Văn Trắc, Tổng giám đốc Sacom, đã kêu gọi cổ đông “có trách nhiệm với doanh nghiệp”, khi số cổ đông đăng ký tham dự chưa đủ tỷ lệ đại diện 65% vốn cổ phần. Nhưng rồi, ngày diễn ra đại hội cũng chỉ có 51,2% cổ phần đại diện có mặt khiến đại hội không thể tiến hành.

Ông Lý Kiệt, Chủ tịch HĐQT của Sacom, nói rằng nhiều cổ đông không đến dự do không nhận được thư mời nhưng nhiều nhà đầu tư cho rằng, họ chán nản và buồn trước chuyện công ty mà họ tin tưởng đã không mang lại lợi nhuận như mong muốn, vì thế dù có giữ cổ phiếu Sacom, họ cũng không đi dự đại hội.

Nhiều nhà đầu tư là cổ đông của nhiều công ty một lúc, trước tình hình doanh nghiệp khó khăn, nhiều người nói rằng họ không trông chờ vào một mức trả cổ tức cao, hay một triển vọng lợi nhuận tốt trong năm 2009. Trong tình hình thực tế thị trường chứng khoán xuống sâu chưa có điểm dừng đã khiến nhà đầu tư phần nào thờ ơ với các đại hội đang diễn ra

Một nhà đầu tư tại Công ty chứng khoán Alpha cho biết năm nay anh không đi dự đại hội cổ đông của các mã anh nắm giữ như TPC, SAM, STB… Anh cho rằng để dành thời gian theo dõi thị trường lên xuống còn thú vị hơn là đi nghe ban lãnh đạo doanh nghiệp giải trình vì sao lỗ. Thông tin này trên các phương tiện truyền thông đã có nhan nhản rồi.

Giám đốc của một công ty chứng khoán sở hữu trong tay rất nhiều mã cổ phiếu cũng đã không buồn tham dự các đại hội cổ đông vừa diễn ra. Ông bảo các công ty lỗ do đâu thì ông biết rồi, trong 15 mã bị đưa vào diện kiểm soát thì hơn 10 mã đã lỗ do đầu tư tài chính. Còn các công ty khác  niêm yết trên sàn có đầu tư mảng này nhưng chưa công bố lỗ là do chưa trích lập dự phòng. “Số lỗ thực chắc chắn còn cao hơn”, ông nhận định.

Thất vọng vì doanh nghiệp chưa thẳng thắn

Những cổ phiếu blue-chip trên sàn như HAG của Hoàng Anh Gia Lai, hay REE của Công ty cổ phần Cơ Điện Lạnh (REE) đều lo lắng cho viễn cảnh năm nay và đặt ra kế hoạch lợi nhuận thấp. Bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Tổng giám đốc REE, cho biết công ty còn có kế hoạch sẽ trích lập thêm dự phòng vào cuối quí này nếu giá chứng khoán tiếp tục đi xuống, và bà sẽ tập trung vào mảng kinh doanh chính.

Một số nhà đầu tư cho rằng, việc dám trả lời thẳng thắn các câu hỏi của cổ đông, không ngần ngại nhận sai lầm trong mảng đầu tư tài chính năm 2008 và đưa ra con số khiêm tốn trong kế hoạch lợi nhuận năm 2009, REE được nhà đầu tư tin tưởng. Khó khăn đang hiện hữu trong hầu hết các doanh nghiệp, và cổ đông chắc chắn đã biết rõ điều này .

Nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục đưa cho cổ đông “những cái bánh vẽ”, anh Minh, đại diện phần vốn của một quỹ đầu tư lớn tại một doanh nghiệp tỏ ra rất bức xúc. Anh phân tích, trong khi năm 2008 khoản lỗ đã lên gấp đôi so với vốn chủ sở hữu, việc hòa vốn đã rất khó khăn vậy mà doanh nghiệp vẫn đưa kế hoạch lợi nhuận của năm 2009 cao ngất trời. “Tôi cảm thấy doanh nghiệp không thẳng thắn với cổ đông”, anh Minh nói.

Ông Lượng, một nhà đầu tư lâu năm trên sàn Sacombank, cho rằng năm nay ông không tham dự một đại hội cổ đông nào nữa, bởi ông cho rằng cái mất lớn nhất là niềm tin. Ông nói với trường hợp cổ phiếu Bông Bạch Tuyết, ông bảo “có báo cáo kiểm toán rồi mà cũng như không, lãi thành lỗ, cứ đưa nhà đầu tư lên trời rồi thả xuống. Giờ chúng tôi biết tin vào cái gì nữa”, ông Lượng than.

Trước mùa đại hội cổ đông, báo giới phản ánh lại là nhiều cổ đông mua vô cổ phiếu để được tham dự đại hội của một số mã trên sàn.  Họ cho đó là dịp để có thể  gặp gỡ và trực tiếp chất vấn những người đang điều hành công ty mà mình có ý định đầu tư nhiều vốn hơn vào đây. Nhưng có lẽ những cổ đông đã tham dự đại hội của một số doanh nghiệp hay của quỹ đầu tư đều thất vọng, họ nhận được các phiếu đặt câu hỏi, không nhiều cơ hội cho cổ đông trực tiếp chất vấn ban điều hành và ban quản trị.

Một cổ đông sau khi đi dự đại hội nhà đầu tư của VF1 đã nói rằng tính chất đối đáp của đại hội không còn. Trong khi trong năm vừa rồi, không quỹ đầu tư nào có lãi trên thị trường. Anh này cho biết, anh muốn hỏi thật sâu, thật rõ, nhưng không có cơ hội.

Anh Nam, một nhà đầu tư khác, khi tham dự một trong các đại hội trên cũng nói rằng đã nghiên cứu rất kỹ báo cáo tài chính năm của công ty và viết câu hỏi vào giấy để hỏi, nhưng câu hỏi của anh “không thấy chủ tọa đọc lên”. Anh nói rằng mình rất bực mình nhưng đành ra về.

Những công ty mà cổ đông muốn chất vấn là những công ty có kết quả kinh doanh 2008 không tốt, hoặc do cổ đông thấy chiến lược kinh doanh trong năm 2009 có điều gì đó chưa ổn. Nhiều doanh nghiệp vào năm ngoái đã lỗ do đầu tư  tài chính nhưng năm nay cũng không có kế hoạch rút vốn về để đầu tư vào mảng kinh doanh chính, điều này làm cổ đông khó tin vào kế hoạch lợi nhuận mà công ty đưa ra cho năm nay.

Cách đây không lâu, Công ty Bông Bạch Tuyết đã phải công bố lỗ, dù trước đó, trong báo cáo kiểm toán đều khẳng định công ty có lãi, nhiều nhà đầu tư đã đầu tư vào Bông Bạch Tuyết để rồi lại nhận lấy sự không minh bạch của doanh nghiệp.

Và cho đến giờ, ngay trong mùa đại hội cổ đông, mùa của sự gặp gỡ của người làm chủ doanh nghiệp với người đang đại diện để điều hành doanh nghiệp đó thì nhà đầu tư, cổ đông vẫn tỏ ra nghi ngại trước những thông tin công bố của các công ty.

Công ty chứng khoán chưa được mở sàn vàng 032309

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 7:56 pm
Tags: ,

(TBKTSG Online) – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) vừa có quy định các công ty chứng khoán chưa được mở sàn giao dịch vàng, phải chờ đến lúc có quy định, hướng dẫn cụ thể. Đối với các công ty chứng khoán đã mở sàn trước đó thì phải báo cáo với cơ quan này.

Yêu cầu nói trên xuất phát từ việc UBCKNN cần nắm được tình hình thực tế hoạt động của các sàn giao dịch vàng để tham gia xây dựng các quy định quản lý theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ.

Những nội dung công ty chứng khoán cần báo cáo:

– Thời gian (ngày, tháng, năm) mở sàn giao dịch vàng

– Hình thức pháp lý mở sàn giao dịch vàng (đại lý nhận lệnh, tham gia góp vốn thành lập pháp nhân kinh doanh vàng, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hình thức khác…)

– Đối tác hợp tác mở sàn giao dịch vàng

– Phạm vi hoạt động, vai trò của công ty chứng khoán trong việc tổ chức sàn giao dịch vàng

– Phương thức giao dịch vàng, quy trình, cách thức quản lý rủi ro

– Số lượng khách hàng (tính đến thời điểm lập báo cáo)

– Doanh số giao dịch bình quân tháng (tính đến thời điểm lập báo cáo)

Văn bản báo cáo cùng các tài liệu liên quan (hợp đồng về việc mở sàn giao dịch vàng, mẫu hợp đồng mở tài khoản giao dịch vàng, mẫu các phiếu lệnh, quy trình nghiệp vụ) gửi về UBCKNN trước ngày 27-3.

March 25, 2009

Mánh làm giá của đại gia và công ty chứng khoán

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 11:54 pm
Tags:

Thời gian gần đây trên TTCK, cứ mỗi khi thị trường khởi sắc, người ta lại nhận thấy có dấu hiệu làm giá trên một số mã chứng khoán, với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.
Dấu hiệu của sự làm giá dễ nhận thấy trong những phiên giao dịch khởi sắc đầu tháng 4/2008 là: Ở một số mã chứng khoán, lượng dư mua dư bán rất bất thường, dư mua rất cao và dư bán rất thấp. Các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ sẽ rất dễ bị hút theo diễn biến này của thị trường. Tuy nhiên, lệnh của các nhà đầu tư nhỏ rất ít khi được thực hiện do lượng dư mua vốn đã rất lớn trong khi lượng bán ra lại nhỏ giọt. Trong liên tiếp nhiều phiên, các mã chứng khoán đều tăng trần và càng trở nên hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư.
Điểm đáng chú ý trong tình trạng trên là việc lượng dư mua cao bất thường ở các mã chứng khoán nhỏ, ít cổ phiếu. Thậm chí giá trị mua lên tới gần trăm tỷ đồng, trong khi tổng giá trị giao dịch toàn thị trường của Vn-Index gần đây chỉ khoảng 500 tỷ và Hastc là khoảng 150 tỷ. Nhiều nhà đầu tư cho rằng có điều này các đại gia làm được điều này phải nhờ tới sự tiếp tay của công ty chứng khoán, bằng cách liên tục đưa vào hệ thống các lệnh mua “ma” với giá trần, ATO, và ATC.
Theo cán bộ kinh doanh của một công chứng khoán tại Hà Nội, phương thức làm giá như sau: Đầu tiên, trong những phiên ảm đạm của thị trường, các đại gia dùng nhiều tài khoản tại nhiều công ty chứng khoán để gom dần cổ phiếu của các công ty nhỏ, vốn ít, thanh khoản thấp. Trong những phiên hồi phục của thị trường, công ty chứng khoán tiếp tay bằng các lệnh mua “ma” được đưa vào hệ thống. Các cổ phiếu trên trở nên cực kỳ “hot” khi lượng dư mua giá trần luôn cao bất ngờ so với ngày thường, và dư bán bằng không. Ngay khi thị trường có dấu hiệu đảo chiều, các cổ phiếu này lập tức được bán ồ ạt. Người mua sau cùng sẽ “lãnh đủ” hậu quả của việc mua hớ.
Vị cán bộ kinh doanh trên cho biết, khác với phương pháp tiếp tay “cổ điển” là đặt và hủy lệnh trong cùng một phiên, hoặc rao mua và bán trong cùng một phiên vốn rất “thô” và dễ bị phát hiện, phương pháp này khó kiểm soát hơn rất nhiều. Thông thường UBCK sẽ rà soát lại các lệnh đã được khớp từ các công ty chứng khoán để kiểm tra xem có dấu hiệu vi phạm quy định về giao dịch hay không. Nhưng trên nguyên tắc Ủy ban sẽ không kiểm tra những lệnh không được khớp. Như vậy tất cả các lệnh “ảo” được đặt vào hệ thống cũng sẽ rất khó bị phát hiện.
Bằng việc gom hàng từ trước với giá thấp, và bán ra với giá cao, các đại gia sẽ luôn là người hưởng lợi đầu tiên từ chênh lệch giá.
Tiếp đến các công ty chứng khoán sẽ thu lợi từ phí giao dịch khoảng 0,25% đến 0,35% giá trị mỗi lần giao dịch. Ngoài ra họ có thể được đại gia “lại quả” khoảng 0,3% đến 0,4%. Như vậy với mỗi “vụ”, các CTCK sẽ thu được khoảng 0,5% đến 0,8% giá trị giao dịch. Một đại gia có thể giao dịch lên đến hàng chục tỉ, vì vậy nguồn lợi mà các công ty chứng khoán thu được cũng không nhỏ.
“Các nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn thị trường nhưng lượng giao dịch của họ lại chiếm tới 80% giá trị giao dịch trong một phiên”, bà Thu Hiền, giám đốc Công ty Đầu tư, phát triển và xây dựng Ba Đình nhận xét. Nếu thị trường mất tính minh bạch khiến nhóm các nhà đầu tư cá nhân rời bỏ chứng khoán, thì hậu quả rất tai hại. Người chịu thiệt khi đó không chỉ là các tổ chức phát hành, mà còn là chính các công ty chứng khoán.

March 21, 2009

Rẻ và đắt 011709

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 8:13 pm
Tags:

(TBKTSG) – Trên thị trường, có rất nhiều cổ phiếu đang rẻ đi. Thế mà nhà đầu tư vẫn chưa trở lại thị trường, vẫn làm ngơ, đứng bên lề.

Nhiều người nói chứng khoán đang rẻ, quá rẻ

Trên sàn giá cổ phiếu SSI đang giao dịch quanh mức 30.000 đồng/cổ phiếu, đúng bằng giá trị sổ sách. SSI, sau khi trích dự phòng giảm giá cho danh mục đầu tư, tổng tài sản còn hơn 4.000 tỉ đồng. Là công ty chứng khoán tư nhân đầu tiên, sau tám năm trời “vật lộn” trên thị trường, nay với giá cổ phiếu như vậy, SSI đang quay trở về vạch xuất phát.

Nhà đầu tư mua cổ phiếu SSI bây giờ, đồng nghĩa với việc góp vốn gầy dựng công ty bằng mệnh giá từ đầu, trong khi SSI đã có thương hiệu, có thị phần môi giới lớn nhất.

Hay cổ phiếu SAM, đang được mua bán với giá 15.000 đồng/cổ phiếu, tính ra giá trị vốn hóa của doanh nghiệp chỉ nhỉnh hơn chút ít lượng tiền mặt 700 tỉ đồng mà công ty đang có. Trong khi đó, SAM có không ít nhà máy, cơ sở sản xuất, trụ sở ở TPHCM và Đồng Nai, trị giá hàng trăm tỉ đồng. Cứ tính theo giá cổ phiếu, giá trị tài sản nhà xưởng của SAM có lẽ bằng… zero

Hoặc cổ phiếu Ngân hàng SaigonBank (Sài Gòn Công thương) đang giao dịch trên thị trường OTC quanh mệnh giá 10.000 đồng. Giá trị sổ sách của SaigonBank là 25.000 đồng/cổ phiếu. Ngân hàng này có tài sản là bất động sản nhiều nhất nhì trong khối ngân hàng ở TPHCM, trong đó có khách sạn Riverside nằm trên đường Tôn Đức Thắng cổ nhất Sài Gòn (cổ hơn cả khách sạn Continental). Khách sạn này được mua nhiều năm trước với giá 36 tỉ đồng, giờ chắc khấu hao gần hết. Nhìn vào khối tài sản, thì cổ phiếu SaigonBank thuộc loại chứng khoán rẻ nhất thị trường.

Trên thị trường, còn nhiều, rất nhiều những cổ phiếu rẻ khác…

Thế mà nhà đầu tư vẫn chưa trở lại thị trường, vẫn làm ngơ, đứng bên lề. Nhiều người đến sàn chứng khoán chỉ quan sát và quan sát. Các tổ chức vẫn chờ đợi.

Một số tổ chức nước ngoài phân tích cổ phiếu đã rẻ, nhưng chưa quá rẻ để mua vào. Một nhà đầu tư người Nga quyết định bán hết cổ phiếu ở Việt Nam mang tiền về nước, bảo “ở thị trường chúng tôi hiện nay, P/E các công ty niêm yết khổng lồ ngành năng lượng, khai khoáng chỉ còn 1-2 lần. Không đầu tư vào đó thì vào đâu?”.

Những nhà đầu tư bên lề có lý của họ. Mua cổ phiếu phải tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhìn thấy mức sinh lời của chứng khoán trong tương lai. Tiền mặt nhiều, giá trị tài sản lớn, nhưng chiến lược kinh doanh của công ty không tốt, thì tài sản không phát huy tác dụng, tiền mặt không sinh lời, thậm chí có thể mất đi. Lúc đó giá cổ phiếu liệu có tăng? Và nếu tăng, tốc độ tăng có ngang bằng những cổ phiếu khác? Tăng trong bao lâu? Sự tăng đó, tốc độ tăng đó mới là thước đo để cân nhắc mua cổ phiếu hay không.

Thế mới có chuyện cổ phiếu giá rẻ vẫn ế! Nhưng không có nghĩa cổ phiếu đắt được tìm mua! Câu chuyện mua hay bán cổ phiếu bây giờ là thời điểm. Trong thị trường ảm đạm luôn có cơ hội. Cơ hội thể hiện ở chỗ khả năng xuống thêm nữa của VN-Index thấp hơn khả năng tăng lên.

Tuy nhiên, không ai đo được chính xác cái khả năng xuống thêm nữa ấy dài rộng thế nào và khi không đo được, họ đâm ra e ngại. Điều này làm cho “khẩu vị” thị trường thay đổi và khác đi. Nhiều người tìm mua cổ phiếu “phòng vệ” như dược, thủy điện, đồ ăn thức uống… thay vì cổ phiếu bất động sản, dịch vụ tài chính – ngân hàng. “Khẩu vị” thị trường cũng làm thay đổi vị trí các chủ thể tham gia thị trường.

Bây giờ là thời của nhà đầu tư, những người có tiền mặt, họ là người ra điều kiện, chọn lựa điều kiện. Cổ phiếu phải thế nào họ mới mua, họ không mua lấy được như trước. Cái thời tổ chức phát hành ra điều kiện đã qua rồi. Ấn định giá phát hành không phù hợp, cách thức phát hành không đúng là cổ phiếu bị nhà đầu tư “tẩy chay” liền. Có công ty không phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, lại chào bán cho 100 cổ đông bên ngoài với giá bằng 60% giá bình quân 5 phiên giao dịch gần nhất. Nhà đầu tư phản đối bằng cách bán ra liên tục, giá cổ phiếu tụt dốc không phanh. Cuối cùng công ty phải hủy kế hoạch phát hành.

Cho nên sự đắt – rẻ của cổ phiếu trở thành áng chừng, mông lung. Trong bối cảnh đó nhà đầu tư đang cần những sản phẩm tài chính an toàn. Điều này chưa thấy công ty tài chính, chứng khoán nào để ý và tung ra thị trường. Sự non trẻ của thị trường tài chính Việt Nam có lẽ nằm ở đây chăng?

Thời điểm để mua dần cổ phiếu 032109

Filed under: chứng khóan — ktetaichinh @ 6:59 pm
Tags:
Tiến hành mua dần cổ phiếu với chi phí trung bình thấp trong vòng mấy tháng tới rất có thể là chiến lược mang lại lợi nhuận hấp dẫn đối với những nhà đầu tư có kinh nghiệm, vốn biết được một điều chắc chắn là thị trường rồi cũng sẽ hồi phục. Đó là lời khuyên của ông Christopher Blank, Giám đốc Phân tích chiến lược định lượng tại Công ty Chứng khoán HSC.

Ông Christopher Blank.

Thời gian vừa qua, nhiều chuyên gia đã đưa ra các ngưỡng hỗ trợ để xác định điểm đáy của VN-Index. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào? Theo dự đoán của ông, đáy của thị trường sẽ là bao nhiêu?

Nhiều chuyên gia phân tích đã đưa ra dự đoán về mức đáy của VN-Index từ khi chỉ số này còn ở ngưỡng 900 điểm và họ liên tục điều chỉnh giảm mức dự đoán của mình cùng với xu hướng đi xuống của thị trường. Tuy nhiên, phân tích kỹ thuật là một công cụ năng động, nên khi thị trường biến động, các phân tích kỹ thuật cũng phải điều chỉnh linh hoạt tương ứng và đó là lý do chúng ta chứng kiến nhiều sự thay đổi trong dự báo của họ. Thêm vào đó, ngưỡng hỗ trợ không phải là con số thần kỳ, khiến chúng ta dựa vào đó để thực hiện toàn bộ khoản đầu tư vào thị trường. Chúng ta cần nhiều cơ sở hơn để nghiên cứu xu hướng của thị trường và không nên để tâm lý cũng như quyết định đầu tư của mình chỉ dựa trên ngưỡng hỗ trợ.

Là người sử dụng phân tích kỹ thuật để xem xét các tín hiệu thị trường nhằm xác định ngưỡng hỗ trợ thị trường có đảm bảo được hay không, tôi gợi ý bạn có thể sử dụng các tín hiệu như stochastic (chỉ số động lực so sánh giá hiện thời với giá lịch sử trong một khoảng thời gian cho trước) hoặc chỉ số RSI (chỉ số sức mạnh tương đối). Mức chuyển động trung bình trong thời kỳ ngắn vượt lên trên mức trung bình động trong thời kỳ dài là một dấu hiệu hữu ích để đánh giá sức mạnh xu hướng bình quân 8 – 21 ngày, tuy nhiên, không phải mọi dự báo đều hoàn toàn đúng.

Khi điểm đáy của VN-Index khó xác định, nhà đầu tư nên dựa vào yếu tố kỹ thuật nào để mua – bán cổ phiếu trong thời điểm hiện nay?

Tôi muốn nhắc nhở NĐT rằng, các bạn muốn dựa vào các tín hiệu trong phân tích kỹ thuật để mua vào thì cần phải biết cách sử dụng các tín hiệu này và điều quan trọng hơn là phải biết sử dụng chúng để cắt lỗ. Không có ích cho NĐT tìm kiếm cơ hội lướt sóng ngắn hạn vì bạn chỉ có thể mất tiền mà thôi.

Nếu xác định đầu tư theo giá trị doanh nghiệp thì phải dựa trên cơ sở nào? Ông có thể nói sâu hơn về các mức độ rủi ro trong việc đầu tư cổ phiếu?

Có vẻ như là khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày một xấu hơn khiến công chúng gần như quên hẳn việc đầu tư theo giá trị, mà chuyển hướng sang “ăn theo NĐT lớn”. Tôi nghĩ rằng, việc mua cổ phiếu “giá trị” khiến chúng ta cảm thấy yên tâm với danh mục của mình, tuy nhiên, ngay cả với những công ty có các chỉ tiêu cơ bản tốt thì cũng bị chịu rủi ro như là các cổ phiếu khác và khi thị trường hồi phục trở lại thì các cổ phiếu này cũng có thể mang lại mức lợi nhuận tương tự, miễn là yếu tố cơ bản của nó không quá khác biệt với số đông. Bỏ qua yếu tố rủi ro, nếu bạn muốn tìm kiếm sự yên tâm trong đầu tư thì việc kiên trì lựa chọn các cổ phiếu của DN có yếu tố cơ bản tốt và tính thanh khoản cao là rất quan trọng.

Theo ông, cổ phiếu nào, thuộc lĩnh vực nào có thể đầu tư ngắn hạn và dài hạn trên thị trường hiện nay?

Tôi nghĩ rằng, nhà đầu buộc phải lướt sóng luôn tìm kiếm một thứ: đó là lợi nhuận trong ngắn hạn. Do đó, để tăng khả năng đạt được lợi nhuận kỳ hạn, NĐT nên mua cổ phiếu có hệ số beta cao như: SSI, FPT, PVD… Tuy nhiên, những cổ phiếu này tự bản chất nó có rủi ro và thực tế là xác suất bị lỗ là cao hơn nhiều nếu việc ra vào thị trường không được thực hiện một cách hợp lý. Gần đây, cổ phiếu PPC rơi vào tầm ngắm để mua vào khi mà tỷ giá VND/JPY đã tăng trở lại. Công ty này đang dần thể hiện khả năng có thể ghi nhận mức lãi lớn trong quý I và II nếu tỷ giá trên tiếp tục duy trì xu hướng này, liên quan đến khoản vay bằng đồng yên mà PPC đã vay từ năm 2006.

Với nhà đầu tư dài hạn, có ý định tìm kiếm lợi nhuận từ các khoản đầu tư giá trị hiện có trên thị trường thì nên bắt đầu với những công ty được quản trị tốt và có tiềm năng tăng trưởng mạnh. ACB, VNM, DPM đều là các cổ phiếu tốt với mức P/E rất hợp lý. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đối với TTCK Việt Nam, tôi khuyến nghị nên mua dần một cách cẩn trọng các cổ phiếu có hệ số bê ta <= 1 trong khoảng thời gian từ nay đến quý II/2009 và sau đó đến gần cuối quý II thì có thể bổ sung danh mục đầu tư với các cổ phiếu có hệ số bê ta lớn hơn. Cuối cùng, tôi muốn giải thích thêm một chút lý do tại sao tôi cho rằng, đây là thời điểm thích hợp để bắt đầu mua dần cổ phiếu, đơn giản đó là vì khi thị trường đảo chiều và tính thanh khoản tăng trở lại, các nhà đầu tư lướt sóng sẽ tiến hành mua ồ ạt và điều đó sẽ khiến bạn gặp khó khăn nếu muốn mua vào. Do đó, tiến hành mua dần cổ phiếu với chi phí trung bình thấp trong vòng mấy tháng tới sẽ rất có thể là chiến lược mang lại lợi nhuận hấp dẫn đối với những nhà đầu tư có kinh nghiệm, vốn biết được một điều chắc chắn là thị trường rồi cũng sẽ hồi phục.

Next Page »

Blog at WordPress.com.