Ktetaichinh’s Blog

May 2, 2009

BÁO CÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2008- 050109

Báo cáo “Kinh tế Việt Nam 2008” do báo Sài Gòn Tiếp Thị và trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (CEPR) thuộc đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện. Báo cáo nhận định suy giảm và bất ổn của kinh tế của Việt Nam trong năm 2008 là do những bất cập của chính sách quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế, khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới đóng vai trò đẩy sâu thêm quá trình này. Nội công, ngoại kích, thách thức đổi mới lớn hơn bao giờ hết. Trong lúc bị động chờ khủng hoảng thế giới đi qua, cần chủ động điều trị “nội thương” để giảm tổn thất và chuẩn bị cho sự phục hồi

Kinh tế 2008 suy giảm: vì sao?

Những nhà nghiên cứu trẻ, khảo sát tình hình kinh tế năm 2008 của Việt Nam, nhìn thấy quá trình suy giảm từ trong những bất cập về quản lý vĩ mô và những yếu kém về mặt cơ cấu của nền kinh tế. Diễn biến khủng hoảng kinh tế của thế giới chỉ đẩy sâu quá trình suy giảm ấy

Với vai trò chủ biên báo cáo này, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành nhận xét: “Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”. Ông dẫn chứng: Vào đầu quý 4/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới tràn tới chúng ta thông qua sự thoái vốn đầu tư nước ngoài và sụt giảm cầu xuất khẩu. Nhưng từ trước đó, chúng ta đã gặp phải những khó khăn cơ bản như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai cao, tỷ giá dao động khó lường và doanh nghiệp điêu đứng vì thắt chặt tiền tệ.

Những bất ổn vĩ mô

Những khó khăn ấy, theo TS. Phạm Thế Anh là do những nguyên nhân trong nước. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền quá cao sau nhiều năm đã khiến cho tổng phương tiện thanh toán M2 vượt giá trị GDP danh nghĩa từ sau năm 2006, còn M1 xấp xỉ giá trị GDP danh nghĩa trong năm 2007. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ vượt xa tốc độ tăng GDP thực tế trong một thời gian dài khiến lạm phát bùng nổ là điều không thể tránh khỏi.

Chính sách tiền tệ trong năm 2008 được TS Thế Anh nhận định là chậm trễ, thiếu linh hoạt, và thiếu nhất quán trong phản ứng. Những lúng túng đầu năm trong việc lựa chọn giữa mục tiêu bình ổn giá cả với thúc đẩy tăng trưởng và ổn định tỷ giá khiến cho các hành động chính sách trở nên bất nhất. Điều này một mặt làm cho việc kiềm chế lạm phát không đạt hiệu quả, mặt khác gây khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại. Vào cuối năm, các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ lại quá cứng và thắt chặt quá mức, cùng với sự cộng hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, đã khiến cho nền kinh tế càng thêm khó khăn. Các công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ xa rời và không có vai trò dẫn dắt thị trường.

Đến lượt mình, những bất ổn vĩ mô tích tụ trong nội tại nền kinh tế bùng phát từ quý 4/2007 đã tác động tiêu cực lên thị trường chứng khóan, cuốn đi nhiều thành tựu trước đó của thị trường này trước đó. Sự giảm nhiệt của nền kinh tế nói chung đã làm thị trường suy giảm theo một khuynh hướng khó lòng đảo ngược. TS Nguyễn Đức Thành cũng chỉ ra rằng kỳ vọng của nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong diễn biến của thị trường và vì vậy, sự đi xuống của thị trường từ giữa năm 2008 đến nay là có thể hiểu được. Theo ông, những điều kiện thực tiễn và chính sách vĩ mô có khả năng thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư sẽ là tác nhân tiên quyết cho sự phục hồi của thị trường trong thời gian tới. Kết quả tính toán cho phép xác định giá trị của VN–index tương ứng cho từng kịch bản bi quan, lạc quan. Thật đáng lo khi kết quả ước lượng mức dao động của VN–index trong năm 2009 (tương đương từ quý 2/2009 đến hết quý 1/2010) nằm trong khoảng 260 điểm tới 540 điểm.

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008 nói trên, dưới góc nhìn “tiết kiệm và đầu tư”, TS Phạm Văn Hà phát hiện rằng nếu như năm 1997 chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,77% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%), chúng ta phải đầu tư tới 43,13% GDP. “Chúng ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi phải chăng vốn đầu tư tăng liên tục trong mười năm qua đã có đủ hiệu quả như năm 1997”, ông Hà nói. Và, quan trọng hơn, là phải tìm ra được câu trả lời vì sao.

Và cơ cấu nền kinh tế

Câu trả lời dường như nằm ở năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp với những phân tích. Tiến sĩ Tô Trung Thành chỉ ra rằng trong khi các quốc gia khác như Trung Quốc và ASEAN đã có những nỗ lực rất mạnh mẽ để nâng tầm cạnh tranh công nghiệp thông qua tăng cường giá trị gia tăng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang những ngành hàng sử dụng công nghệ cao, tăng cường tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ trung – cao, Việt Nam trong suốt gần một thập niên đầy những biến động về xu thế cạnh tranh toàn cầu, dường như không có bất kỳ một sự thay đổi nào về năng lực cạnh tranh công nghệ. Nước ta vẫn dựa vào lợi thế cạnh tranh so sánh truyền thống trong những ngành công nghiệp hàm chứa ít công nghệ, có giá trị gia tăng thấp nên dễ bị tổn thương, đã được bộc lộ rõ nét trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008. Đồng thời, tỷ trọng sản xuất cũng như xuất khẩu những ngành hàm lượng công nghệ trung và cao rất thấp, thậm chí kém xa các nước khác trong khu vực ở thời điểm cách đây từ 10 đến 20 năm, với cùng trình độ phát triển và nguồn lực tương đương.

“Có một thực tế dường như bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay dần dần che khuất, là những bất ổn vĩ mô của chúng ta đã xuất hiện từ đầu quý 4 năm 2007”

Bức tranh u tối này thể hiện ngay cả trong khu vực FDI – nơi được kỳ vọng sẽ thu hút được công nghệ tiên tiến của các nước. Theo thạc sĩ Jago Penrose, Michael Kalecki (1954) từ lâu đã chỉ ra rằng là sự ưu tiên và chiến lược của các doanh nghiệp nước ngoài có thể khác với chính phủ nội địa. Những nghiên cứu gần đây hơn đã xác nhận xu hướng này. Các doanh nghiệp FDI chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình so cho phù hợp với nền kinh tế địa phương, có cân nhắc đến nguồn tài nguyên nội địa, trình độ lao động, quy mô và thị hiếu thị trường nội địa… Thực tế tại nước ta, các doanh nghiệp FDI có xu hướng đầu tư vào các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu và lao động không có kỹ năng. Một báo cáo của UNDP cho thấy rằng để ứng phó trước áp lực phải tăng tiền lương danh nghĩa, hầu hết các công ty may mặc với công nghệ chẳng có gì là hiện đại đã hạ thấp tiêu chuẩn tuyển dụng của họ, lựa chọn ngày càng nhiều các công nhân không có kỹ năng.

Chính sách thương mại quốc tế cũng là một minh chứng cho sự yếu kém của nền kinh tế. Theo TS Từ Thuý Anh, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu 2008 còn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản. Các mặt hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính chất gia công, với biểu hiện thương mại nội ngành là chủ yếu (doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu, linh kiện, thực hiện gia công, lắp ráp rồi xuất khẩu).

Đã có những chuyển dịch rõ nét theo hướng tích cực là đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhưng thị trường nhập khẩu vẫn tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á, đặc biệt là tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng cao. Điều này, theo TS Thuý Anh “dường như minh chứng rằng Việt Nam đang chịu nhiều tác động chuyển hướng thương mại hơn là tạo lập thương mại từ các thoả thuận tự do hoá thương mại khu vực như AFTA và ACFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc). Việt Nam bị thiệt nhiều hơn là được lợi từ các liên kết kinh tế vùng”.

Khó chồng khó

Lùi về trước những bất ổn vĩ mô trong năm 2008, dưới góc nhìn “tăng trưởng và chu kỳ kinh tế”, TS Phạm Văn Hà, cho rằng năm 2008 là năm đánh dấu nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn thu hẹp của chu kỳ kinh tế. Sử dụng các công cụ định lượng cơ bản lượng nhằm loại bớt các yếu tố mùa vụ và phân tích khuynh hướng dài hạn của nền kinh tế, ông vạch ra rằng tốc độ tăng trưởng đã có dấu hiệu nóng và lên đến đỉnh vào quý 4/2007. Giai đoạn thu hẹp chính thức bắt đầu từ quý 1/2008 và trở nên rõ rệt vào quý 2/2008. Dưới tác động của khủng hoảng thế giới vào quý 3/2008, nền kinh tế của ta đã không có được một cuộc hạ cánh “mềm” như kỳ vọng mà tiếp tục bị đẩy sâu vào giai đoạn đi xuống. Theo ông, trong cả ba quý cuối của năm 2008, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng dưới mức tiềm năng, mặc dù chính mức tiềm năng này cũng đang giảm dần. Cho đến cuối năm, những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang chìm sâu vào giai đoạn thu hẹp thể hiện tương đối rõ: tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu suy giảm; thị trường chứng khoán xì hơi; giảm giá và ảm đạm trên thị trường bất động sản. “Hiện chưa có dấu hiệu gì nền kinh tế đã chạm đáy của thời kỳ thu hẹp”, TS Hà nhận định.

Trong bối cảnh này, các tác giả chỉ ra rằng, chính sách vĩ mô – các nhóm chính sách tài khoá, tiền tệ và cán cân thanh toán bị ràng buộc chặt chẽ với nhau và dư địa cho việc thực hiện không còn nhiều vì nền kinh tế đang trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụt ngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao và tình trạng đô la hoá cao.

Các tác giả dự báo rằng tăng trưởng kinh tế của nước ta chỉ vào khoảng 4,7% với mức lạm phát được cho là khó dự báo hơn vì phụ thuộc tình hình kinh tế thế giới (thông qua đó ảnh hưởng đến giá nguyên liệu thô) và mức độ, cách thức can thiệp vĩ mô của chính phủ nhưng có nguy cơ bùng phát vào cuối năm. Tỷ giá sẽ diễn biến phức tạp do ảnh hưởng đa chiều của các nhóm chính sách vĩ mô. Nhìn chung có khuynh hướng tăng vì khả năng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể là lớn.

Nhóm tác giả

Tiến sĩ Phạm Thế Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giảng viên đại học Kinh tế quốc dân, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia về kinh tế vĩ mô và dự báo.

Tiến sĩ Từ Thuý Anh: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, giảng viên đại học Ngoại thương Hà Nội, kiêm nghiên cứu viên cao cấp của CEPR, chuyên gia kinh tế quốc tế.

Tiến sĩ Phạm Văn Hà: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Úc, hiện đang làm việc trong một dự án của UNDP, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và mô hình hoá (CGE).

Tiến sĩ Lê Hồng Giang: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Úc, nguyên giảng viên Chương trình kinh tế Fulbright tại TP. HCM, giám đốc quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Australia, chuyên gia kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế và mô hình hoá.

thạc sĩ Jago Penrose: tốt nghiệp ở Anh, nguyên là chuyên gia kinh tế của UNDP Việt Nam, chuyên gia về tổ chức doanh nghiệp và các ngành công nghiệp.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (chủ biên): tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Nhật, từng tham gia Nhóm tư vấn chính sách của bộ Tài chính, giám đốc CEPR, giảng viên đại học Kinh tế – đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên gia về kinh tế vĩ mô.

Tiến sĩ Tô Trung Thành: tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế ở Anh, giảng viên khoa kinh tế học – đại học Kinh tế Quốc dân, cộng tác viên của CEPR, chuyên gia kinh tế vĩ mô và kinh tế lượng, các mô hình dự báo

Advertisements

March 21, 2009

PCI 2007: đằng sau những con số

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:50 pm
Tags: , ,

Như thông lệ hai năm gần đây, năm nay TBKTSG tiếp tục phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) để công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). PCI 2007 tiếp tục đo lường và đánh giá thực tiễn điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tại các tỉnh, thành trên cả nước.

Mặt bằng chung được nâng cao
So sánh kết quả PCI của năm nay với năm trước, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực trạng điều hành kinh tế của các tỉnh ở Việt Nam, nhìn chung, đang được cải thiện theo thời gian.

Cụ thể chỉ số PCI 2007 của tỉnh ở vị trí trung bình đã tăng 3,2 điểm so với PCI 2006 (từ 52,4 lên 55,6 điểm). Năm nay, Bình Định và Vĩnh Long cũng đã vượt qua mốc điểm 69 – là ranh giới giữa nhóm được xếp hạng tốt và rất tốt. Tương tự, có tới tám tỉnh vượt qua mức 60 điểm để đứng vào nhóm các tỉnh được xếp hạng tốt.

Mặc dù điểm số PCI tăng lên nhưng thứ hạng của các tỉnh dẫn đầu và các tỉnh “cầm đèn đỏ” trong cuộc đua này lại có rất ít sự thay đổi (xem bảng xếp hạng). Bình Dương, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Bình Định tiếp tục là những tỉnh dẫn đầu trong bảng xếp hạng PCI 2007. Kế đó là 13 tỉnh, thành được xếp vào nhóm tốt, trong đó có một số trung tâm kinh tế lớn như TPHCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Các tỉnh đứng cuối bảng xếp hạng dường như cũng ít thay đổi, vẫn là Đak Nông, Lai Châu, Cao Bằng và Điện Biên. Các tỉnh nằm ở tốp giữa tuy có thay đổi về thứ hạng song không có những thay đổi lớn, ngoại trừ hai trường hợp là Hà Tây và Hà Nội. Hà Tây đã có những nỗ lực vượt bậc để cải thiện môi trường đầu tư trong thời gian qua. Kết quả là Hà Tây từ vị trí thứ 62 của bảng xếp hạng năm ngoái đã vươn lên vị trí thứ 41 trong năm nay, cải thiện được 21 bậc. Riêng với Hà Nội, năm ngoái thành phố này tụt xuống vị trí thứ 40 và là một trong những điều bất ngờ của PCI 2006, nhưng năm nay đã được xếp vào nhóm khá, ở vị trí thứ 27.

Vì sao cùng điều kiện ban đầu nhưng trình độ phát triển khác nhau?
Bằng cách loại trừ sự ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu (như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô GDP, nguồn nhân lực) tới sự tăng trưởng kinh tế, kết quả xếp hạng PCI đã góp phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trong đó nguyên nhân quan trọng là do thực tiễn điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh.

Một ví dụ: Năm 1990, tỉnh Nghĩa Bình lúc đó được tách ra thành hai tỉnh là Quảng Ngãi và Bình Định. Từ đó mỗi tỉnh có hướng phát triển riêng. Dù cả hai tỉnh này có nhiều điểm tương đồng về các điều kiện truyền thống ban đầu nhưng hiện nay Bình Định liên tục nằm trong nhóm năm tỉnh có thứ hạng PCI cao nhất nước. Trong khi đó, Quảng Ngãi chỉ được xếp hạng 45/64 trong PCI 2007, kể cả khi tỉnh đã có quyết định xây dựng nhà máy lọc dầu và khu kinh tế Dung Quất.

Các chuyên gia kinh tế khi nghiên cứu thực hiện PCI 2007 đã dùng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để đưa đến kết quả sau đây : trong điều kiện ban đầu không thay đổi, nếu Quảng Ngãi có thể tăng được điểm số hiện tại ở chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin (một trong 10 chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số PCI) lên bằng với điểm số của Bình Định, tức từ 5,75 lên 7,72, thì Quảng Ngãi có thể tăng thêm 11 doanh nghiệp dân doanh; đầu tư mới trên đầu người tăng thêm 6,4%; lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp của tỉnh sẽ tăng thêm 8,7 triệu đồng. Hoặc nếu Quảng Ngãi có thể cải thiện mức điều hành kinh tế để tăng điểm cho chỉ số PCI (chưa tính trọng số) từ 54,75 lên 70,2 (điểm hiện tại của Bình Định), thì kết quả tác động còn ấn tượng hơn rất nhiều. Đó là, sẽ thêm được 80 doanh nghiệp mới; đầu tư tư nhân trên đầu người tăng 50%; và lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp tăng thêm 68 triệu đồng.

Điều này cho thấy dù ở bất kỳ điều kiện truyền thống nào, các địa phương có khả năng điều hành kinh tế tốt hơn, sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn thì sẽ phát triển cao hơn.

Đằng sau chỉ số PCI 2007
Đi sâu vào phân tích sự thay đổi các chỉ số thành phần cấu tạo nên chỉ số PCI, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng hai lĩnh vực có sự cải thiện lớn nhất là các thủ tục đăng ký kinh doanh (chỉ số thành phần thứ nhất) và việc giảm chi phí thời gian để thực hiện các quy định thủ tục hành chính và thanh tra, kiểm tra (chỉ số thành phần thứ tư). Như vậy, đối với các chỉ số thành phần còn lại, yêu cầu cải thiện hơn nữa vẫn được xem là cần thiết.

Trước hết, về chỉ số gia nhập thị trường. Theo kết quả nghiên cứu, thời gian đăng ký kinh doanh được rút ngắn, trung bình từ 20 ngày xuống còn 15 ngày, đăng ký bổ sung từ 10 ngày xuống 7 ngày. Số giấy phép cần thiết để khởi nghiệp cũng giảm từ 4 giấy phép trong năm 2006 xuống còn 2,5 giấy phép vào năm 2007.

Bên cạnh đó, thời gian để doanh nghiệp có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kể cả thời gian thương lượng với chủ đất cũ) đã giảm từ mức trung bình là 231 ngày trong PCI 2006 xuống còn 90 ngày trong năm nay. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nghiên cứu, đây vẫn là khoảng thời gian dài và chính quyền các tỉnh cần có sự hỗ trợ nhiều hơn cho nhà đầu tư.

Thứ hai, liên quan đến chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, hầu hết các tỉnh đạt điểm số thấp ở chỉ số này vào năm trước thì năm nay đều vượt lên, trong khi các tỉnh đã đạt điểm số cao thì tiếp tục duy trì sự thành công này. Tuy nhiên, cũng trong chỉ số này, số doanh nghiệp phải bỏ ra trên 10% thời gian hoạt động để thực hiện các thủ tục hành chính vẫn đứng ở mức 21%, số lần kiểm tra của tỉnh trung bình là một lần trong năm và thời gian trung bình cho hoạt động kiểm tra thường xuyên nhất (kiểm tra về thuế) là 8 tiếng.

Thứ ba, sự thay đổi lớn nhất trong chỉ số tính minh bạch là số doanh nghiệp thừa nhận phải thương lượng với cán bộ thuế giảm dần, từ 61% của năm ngoái xuống còn 45% của năm nay (số doanh nghiệp phản hồi trong hai cuộc điều tra chênh lệch không lớn, 6.379/6.700). Tuy nhiên bên cạnh những thành quả trên, các doanh nghiệp cũng cho rằng việc tiếp cận các văn bản chính sách cần thiết cho hoạt động kinh doanh không dễ dàng. Ngoại trừ một số tỉnh đã công khai các văn bản này, ở các tỉnh được xếp hạng trung bình có tới 25% số doanh nghiệp tin rằng không thể tiếp cận được các văn bản nói trên, trong khi 37% số doanh nghiệp khác cho rằng có thể tiếp cận được nhưng sẽ rất khó khăn.

Thứ tư, dù chỉ số thành phần về thiết chế pháp lý tăng lên 0,7 điểm nhưng vẫn tiếp tục là chỉ số thành phần có điểm số thấp nhất so với các chỉ số còn lại. Số doanh nghiệp tin tưởng vào cơ chế giải quyết tranh chấp của tòa án còn rất thấp, chỉ khoảng hơn 10%, cao nhất cũng chỉ đạt 29%. Điều này cho thấy việc cải cách hệ thống pháp lý vẫn là mục tiêu ưu tiên trong quá trình phát triển của Việt Nam.

Cuối cùng, hai chỉ số thành phần bị giảm điểm trong PCI 2007 chính là chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân và đào tạo lao động, tuy nhiên sự giảm sút này cũng không đáng kể. Vấn đề đáng lo ngại khác là chi phí không chính thức dường như vẫn khó kiểm soát. 70% số doanh nghiệp của tỉnh thuộc nhóm trung bình tin rằng các doanh nghiệp trong cùng ngành phải trả các khoản hối lộ, 12% doanh nghiệp thừa nhận phải trả trên 10% doanh thu hàng năm của họ cho các khoản chi phí không chính thức, và 39% số doanh nghiệp tin rằng các cán bộ nhà nước sử dụng các quy định của địa phương để thu lợi riêng. Các tỷ lệ trên đây vẫn “ổn định” trong vòng hai năm qua.

Những vấn đề đặt ra cho các nhà làm chính sách
Một trong những thách thức trước mắt về mặt chính sách, theo nhóm nghiên cứu xây dựng chỉ số PCI 2007, là sự xuất hiện tình trạng phát triển không đồng đều giữa các tỉnh. Chỉ số PCI năm nay cho thấy hiện tượng tụt hậu của một số tỉnh có điều kiện truyền thống kém và năng lực điều hành kinh tế còn hạn chế. Nếu xu hướng này tiếp diễn sẽ nảy sinh những vấn đề đáng lo ngại về các chính sách phân bổ nguồn lực của Chính phủ và ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế.
Qua phân tích các dữ liệu PCI, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng tỉnh nào có thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẽ thúc đẩy việc hàng triệu hộ kinh doanh cá thể “chính thức hóa” hoạt động kinh doanh của mình, tức là chuyển qua hoạt động theo hình thức  doanh nghiệp – một quyết định có những ảnh hưởng quan trọng về mặt tài chính và kinh tế.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng xem xét kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước mới được cổ phần hóa gần đây trong mối liên hệ với sự điều hành kinh tế được PCI đo lường. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp cổ phần hóa hoạt động hiệu quả hơn ở các tỉnh có điểm số PCI cao hơn.

Quỳnh Như

Chi tiết bản báo cáo download tại đây

Sự khác biệt giữa các vùng miền qua PCI 2007

Điều tra PCI 2007 cho thấy có sự khác biệt về điều hành kinh tế giữa khu vực thành phố và nông thôn, giữa các tỉnh phía Nam và phía Bắc và giữa các vùng kinh tế của Việt Nam.

Năm thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) có bình quân điểm số PCI cao hơn khoảng 6,8 điểm so với 59 tỉnh còn lại (61,89 so với 55,06). Những lĩnh vực lợi thế của các thành phố so với các tỉnh là chỉ số đào tạo lao động và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Khác biệt này có thể giải thích được vì các thành phố lớn của Việt Nam thường có nhiều nguồn lực hơn để thúc đẩy các hoạt động hỗ trợ kinh doanh, có nhiều trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp, các trường dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm hay tổ chức được nhiều hội chợ, các sự kiện xúc tiến thương mại và đầu tư hơn… Ngoài ra, các hiệp hội doanh nghiệp ở các thành phố lớn cũng nhiều hơn, thường năng động và có ảnh hưởng lớn hơn so với tại các tỉnh.

Nếu lấy tỉnh Quảng Trị trở ra là mốc thì nhìn chung các tỉnh phía Nam trong xếp hạng PCI 2007 có điểm số cao hơn 5,68 điểm so với các tỉnh phía Bắc (58,26 so với 52,58). Các tỉnh phía Nam có 7 trên 10 chỉ số thành phần của PCI 2007 có điểm cao hơn đáng kể so với bình quân các tỉnh phía Bắc, đó là chỉ số tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, tính năng động, chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý. Các chỉ số còn lại như chi phí gia nhập thị trường, chi phí không chính thức và ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước gần như đồng nhất trên cả hai miền.

Tình trạng phát triển kinh tế và thu hút đầu tư không đều giữa các tỉnh những năm qua đã thành xu hướng rõ rệt, đặc biệt khoảng cách chênh lệch này ngày càng lớn. Thống kê năm 2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy chỉ riêng 10 tỉnh, thành phố đã chiếm tới 70% số lượng doanh nghiệp dân doanh đăng ký và 65% số vốn đăng ký của cả 64 tỉnh, thành. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì cũng 10 tỉnh, thành phố đó chiếm tới 42% GDP và 60% các doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động. Như đã được chứng minh qua nghiên cứu PCI từ năm 2005 đến nay, yếu tố rất quan trọng góp phần tạo ra sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh là chất lượng điều hành kinh tế. Nhóm nghiên cứu PCI nhận thấy rằng các điều kiện truyền thống như vị trí địa lý, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng ban đầu chỉ giải thích 46% sự khác nhau trong GDP bình quân đầu người, 52% sự khác nhau trong GDP, 84% sự khác nhau trong số các doanh nghiệp đang hoạt động và 55% sự khác nhau trong đầu tư giữa các tỉnh. Tuy vậy, thay đổi trong điều hành kinh tế của các tỉnh (thể hiện qua mức độ tăng điểm của chỉ số PCI giữa các năm 2005, 2006 đến 2007) những năm qua là không giống nhau. Điển hình như sáu nhóm tỉnh được xếp hạng từ thấp cho đến rất tốt trong bảng xếp hạng PCI năm 2006 có tốc độ cải cách điều hành kinh tế không đều nhau. Các tỉnh trong nhóm tốt của năm 2006 thay đổi nhanh hơn các tỉnh trong nhóm khá. Các tỉnh nằm trong nhóm thấp của năm 2006 lại cải thiện chậm nhất trong sáu nhóm. Nếu xu hướng này còn tiếp tục trong những năm tới thì có thể dự đoán được một số tỉnh sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với các tỉnh khác về chất lượng điều hành kinh tế và phát triển kinh tế.

Đậu Anh Tuấn (*)

(*) Tác giả là thành viên nhóm nghiên cứu PCI 2007, đang làm việc tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Có cần con dấu? (ý kiến cuả TS. Nguyễn Quang A) 111107

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:49 pm
Tags: , ,

Ngày 9-11-2007 Ngân hàng Nhà nước VN, Ngân hàng Thế giới và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam đã tổ chức hội thảo về báo cáo này. VN đứng thứ 91/178, cải thiện ba bậc so với năm ngoái. Từ sự so sánh về môi trường kinh doanh của các nước, tôi đề nghị nên bỏ qui định về con dấu (điều 36 Luật doanh nghiệp). Ai đã kinh doanh với các hãng nước ngoài đều thấy họ không dùng con dấu. Nước ta là một trong bảy nước còn dùng con dấu, 171 nước khác không dùng!

on dấu có ý nghĩa gì? Nghị định 58/2001 về quản lý và sử dụng con dấu cho rằng: “Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước”. Đấy có phải là chức năng của con dấu? Nếu đúng thế liệu con dấu có thực hiện được chức năng ấy không?

Con dấu là một công cụ để in, ấn, đóng lên tài liệu để nhận thực, xác thực nó cùng với chữ ký. Như vậy chức năng của con dấu là xác thực. Và có thể dùng bất cứ dấu hiệu đặc trưng rất hiếm nào của một đối tượng để làm cái xác thực nó. Thí dụ, với cá nhân có thể là mã ADN, hình mẫu con ngươi, dấu vân tay, chữ ký (theo thứ tự kém dần của độ xác thực). Chức năng xác thực của con dấu là vô cùng kém (tuy đã được dùng từ thời thượng cổ). Chữ ký cũng có thể bị giả mạo, song giả mạo con dấu dễ hơn rất nhiều (nhất là với các phương tiện in, khắc ngày nay) và việc có quá nhiều con dấu giả (kể cả dấu có hình quốc huy) là một minh chứng cho điều đó.

Một dụng cụ dễ làm giả thì chức năng xác thực của nó bằng không. Nhưng người ta vẫn thích dùng con dấu, đó là vấn đề thuần túy tâm lý. Ngày nay có nhiều kỹ thuật xác thực hữu hiệu hơn con dấu rất nhiều. Có thể thấy chúng ta đã hiểu sai về chức năng của con dấu, và cái con dấu như đang thịnh hành không làm được chức năng xác thực. Chính vì thế việc bỏ dùng con dấu đối với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội là rất nên làm (đối với cơ quan nhà nước có thể dùng chỉ như biểu tượng của quyền uy, nhưng để “xác thực”, để “khẳng định giá trị pháp lý” thì không).

Chính vì các lý do trên, tôi kiến nghị Quốc hội thông qua một luật (dưới 200 chữ) với nội dung: con dấu của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội không mang giá trị pháp lý (tức là tùy họ dùng hay không dùng, và nếu dùng mẫu mã do họ tự quyết định) và hủy bỏ tất cả các qui định bắt buộc liên quan đến con dấu trong tất cả các qui định pháp luật liên quan.

Đơn giản với vài trăm chữ như vậy, chúng ta có thể tiết kiệm cho đất nước hàng ngàn tỉ đồng mỗi năm và vô số thời gian của các doanh nghiệp và tổ chức, cải thiện đáng kể môi trường kinh doanh, để nước ta không còn trong số 4% nước còn thủ tục dùng con dấu rườm rà, tốn kém, mà không có ý nghĩa gì.

NGUYỄN QUANG A (Viện Nghiên cứu phát triển ID)

Ngân hàng Thế giới: Việt Nam nên đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp (báo cáo) 121107

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:47 pm
Tags: , ,

(Nguồn: Thanh Niên 11/12/07) Hôm qua 11.12, tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo phát triển thế giới 2008 trong đó nhận định rằng, đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp tại các nền kinh tế đang chuyển đổi (bao gồm cả Việt Nam) sẽ quyết định lợi ích của nông dân nghèo sống ở những nước này.

“Khi Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn, vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại nữa không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông thôn và các dân tộc thiểu số là cần thiết để không ai bị bỏ rơi”, ông Martin Rama, chuyên gia kinh tế trưởng WB – nhận định. Bản báo cáo cũng cho rằng một cách xóa đói nghèo là thông qua các cuộc cách mạng nông nghiệp giá trị cao. Theo ông Derek Byerlee, Chủ biên Báo cáo thì: “Các nền kinh tế đang chuyển đổi, bao gồm Việt Nam, phải chuyển từ cách mạng xanh sang một nền nông nghiệp mới có giá trị cao – vì thu nhập đô thị tăng cùng nhu cầu đối với các sản phẩm có giá trị cao ở thành phố đang là động cơ tăng trưởng nông nghiệp và giảm nghèo.

“Tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam cho đến nay đã đem lại lợi ích cho cả vùng đô thị và nông thôn. Năm 1993, có tới 2/3 số dân nông thôn được coi là nghèo. Ngày nay, con số này giảm xuống chỉ còn 1/5″ – ông Martin Rama phát biểu tại lễ công bố.

Như Nguyễn – Hữu Trà

Chi tiết thông cáo báo chí và download báo cáo tại đây.

Giá cả tại VN “dễ chịu” với du khách nước ngoài 120107

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:46 pm
Tags: ,

(Nguồn: Tuổi Trẻ 2/12/07) Kết quả nghiên cứu được công bố hôm 10-12 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho thấy chỉ số mức giá của VN ở vị trí 73, mức thấp thứ hai trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Trả lời Tuổi Trẻ từ Manila (Philippines), tiến sĩ Bishnu D.Pant, trợ lý chuyên gia kinh tế trưởng – bộ phận nghiên cứu chính sách và các chỉ số phát triển của ADB, nói chỉ số của VN có nghĩa là người dân ở hầu hết các nước châu Á sẽ được khuyến khích tới thăm VN vì chi phí tiêu dùng ở đây rẻ.

Theo tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh, chi phí rẻ là một lợi thế để VN thu hút khách du lịch và là một trong nhiều lý do mà nhiều người nước ngoài thích ở VN. “Nếu lĩnh lương ở Nhật Bản mà sống ở VN thì rất tốt” – ông nói. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ mang tính tạm thời vì chưa tính đủ bảo hiểm xã hội, chi phí môi trường. “Về lâu dài, phải có dịch vụ chất lượng cao thì mới thu hút du lịch thật sự. Khi chính sách an sinh xã hội đầy đủ thì mặt bằng giá sẽ cao lên chứ không thấp như vậy”.

Chương trình so sánh quốc tế là chương trình lớn nhất từ trước tới nay của ADB, so sánh 146 nền kinh tế về mặt thu nhập, chi phí tiêu dùng và hình thành vốn. Đây là một phần của sáng kiến toàn cầu cho phép so sánh giữa các nền kinh tế về sức mua dựa trên giá trị tiền và mức sống. Dựa trên tỉ số mức giá, quần đảo Fiji, Hong Kong là những nơi giá cả đắt đỏ nhất. Tiếp sau đó là Macau, Singapore, Đài Bắc và quần đảo Maldives.

KHỔNG LOAN

Chi tiết báo cáo có thể download tại đây.

Cơ hội bán lẻ lớn vì người Việt “giàu ngầm” -> số liệu đáng chú ý về ngành bán lẻ 090807

Filed under: Báo cáo,kinh tế,thị trường (market) — ktetaichinh @ 6:45 pm
Tags:

(VN Economy) Công ty tư vấn kiểm toán KPMG mới đây công bố báo cáo mang tựa đề “Việt Nam: Mở cửa đón đầu tư” phân tích môi trường đầu tư ở Việt Nam…

  1. Theo KPMG, GDP bình quân đầu người của Việt Nam hiện là 800 USD, nhưng nếu tính cả những thu nhập chưa được thống kê hết, con số này có thể đạt mức trên 1.000 USD. Tại các thành phố lớn như Hà Nội hay Tp.HCM, con số này thậm chí còn có thể cao gấp đôi (?)
  2. giá trị bán lẻ của Việt Nam ở mức 43,5% so với GDP, cao hơn so với của Trung Quốc (35%) và Thái Lan (33%), mặc dù Việt Nam mới chỉ có 27% dân số sống ở thành thị …
  3. … hiện mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người Việt Nam tham gia vào lực lượng lao động. Tỷ lệ người lệ thuộc đang giảm mạnh từ mức 4 người phụ thuộc mỗi 5 người lao động vào năm 1987 xuống mức 2,5 người phụ thuộc mỗi 5 người lao động vào năm 2007. Nhờ thế mà trong 10 năm qua, tỷ lệ thu nhập dành cho chi tiêu trong các gia đình Việt Nam đã tăng thêm được 83%.
  4. Từ năm 2000, doanh số các mặt hàng quần áo, giầy dép và mỹ phẩm tăng với tốc độ bình quân từ 11% đến 14%. Trong lĩnh vực hàng điện tử gia dụng, tốc độ tăng trưởng doanh số của các mặt hàng rất khác nhau, doanh số TV chỉ tăng có 6% mỗi năm, trong khi doanh số máy giặt lại tăng tới 11%/năm. Các sản phẩm dược phẩm cũng đạt tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm 13% kể từ năm 2000.
  5. Sau ngày 1/1/2009, các công ty nước ngoài có thể thành lập các công ty bán lẻ 100% vốn ngoại với rất ít hạn chế về sản phẩm.
  6. Parkson có dự định đạt con số 10 cửa hàng tại Việt Nam vào năm 2009 -> mục tiêu đầy tham vọng ???

Báo cáo có nhiều chi tiết khá thú vị, tôi đang tìm bản full, hy vọng là sẽ sớm có !

Tiền chảy qua hệ thống ngân hàng: Tăng trưởng kỷ lục! 120807

Filed under: Báo cáo,ngân hàng — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: ,

guồn: Vietnamnet 08/12/07) Năm 2007 sắp kết thúc, phân tích các dòng vốn chu chuyển qua hệ thống ngân hàng ước tính cho cả năm cho thấy, tốc độ tăng trưởng của các dòng vốn này đạt mức cao nhất từ trước tới nay và vượt xa dự báo từ đầu năm của các nhà quản lý và quản trị ngân hàng.Đây là những diễn biến tích cực và rất đáng mừng của nền kinh tế – dấu hiệu nền kinh tế tiếp tục trong xu hướng đi lên ở thời điểm hiện tại cũng như trung và dài hạn. Đồng thời, cũng cho thấy hiệu quả đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng trong cả nước sau hơn 1 năm gia nhập WTO.

Thị trường vốn: Tăng trưởng lớn nhất trong 20 năm trở lại đây

Tính chung trong cả nước, tính đến hết tháng 11/2007, tổng dư nợ cho vay và đầu tư đối với nền kinh tế của hệ thống NH tăng gần 34% và ước tính hết năm 2007 tăng tới 37-38% so với cuối năm 2006 và tăng gấp khoảng 2 lần so với mức dự kiến từ đầu năm là 17-21%.

Những lĩnh vực thu hút khối lượng lớn vốn tín dụng NH trong năm 2007 đó là đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng, đầu tư bất động sản mà đặc biệt là các dự án khu nhà ở mới và khu đô thị mới, đầu tư vốn trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ, nuôi trồng thuỷ hải sản… Bên cạnh đó, đối tượng đầu tư chứng khoán, vàng, tiêu dùng… cũng thu hút một khối lượng rất lớn vốn tín dụng.

Tuy nhiên, vốn huy động trong xã hội còn có tốc độ tăng trưởng lớn hơn. Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước tính đến hết 31/12/2007 ước tính tăng tới 36,5%, một số ước tính khác tăng 37-37,5%, gấp hơn 3,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đây là tốc độ tăng trưởng lớn nhất từ gần 20 năm đổi mới hoạt động ngân hàng cho đến nay.

Tốc độ tăng trưởng đó cũng cho thấy tiềm lực về vốn trong dân, trong xã hội rất lớn, hoạt động NH đổi mới mạnh mẽ tạo lòng tin cho khách hàng, cho người gửi tiền, dịch vụ phát triển đa dạng. Đồng thời cũng cho thấy, người dân ngày càng có thói quen gửi tiền vào NH vừa hưởng lãi, vừa an toàn.

TP.HCM: quy mô tài chính – tiền tệ lớn nhất

Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế, tài chính – tiền tệ lớn nhất và sôi động nhất cả nước, ước tính đến hết tháng 12/2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 442.530 tỷ đồng, tăng 55% so với cuối năm 2006. Đây cũng là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay.

Trong đó, vốn huy động bằng nội tệ đạt 327.792 tỷ đồng, vốn huy động ngoại tệ quy đổi đạt 114.738 tỷ đồng, chiếm gần 26,0%. Phân theo đối tượng khách hàng và hình thức huy động thì tiền gửi tiết kiệm của dân cư đạt 169.298 tỷ đồng, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân đạt 245.965 tỷ đồng, phát hành giấy tờ có giá đạt 27.267 tỷ đồng. Diễn biến đó cho thấy tiềm năng vốn trong dân, trong xã hội ở khu vực TP HCM có thể huy động được lớn tới mức độ nào!

Về sức hấp thụ vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế qua điển hình ở Hà Nội và TP HCM cũng cho những diễn biến ngoài dự đoán.

Cũng tính đến hết tháng 12/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn TP HCM ước tính đạt 346.918 tỷ đồng, tăng 51% so với cuối năm 2006. Phân theo tiền tệ thì dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 241.190 tỷ đồng, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 105.728 tỷ đồng. Phân theo kỳ hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 212.487 tỷ đồng, dư nợ trung và dài hạn đạt 134.431 tỷ đồng.

Tốc độ tăng dư nợ cho vay đó cũng cho thấy nhu cầu vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh của các DN, hộ dân cư trên địa bàn thành phố là rất lớn. Đồng thời dư nợ cho vay ngoại tệ lớn hơn số dư vốn huy động cho thấy nhu cầu vốn ngoại tệ cho nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc cho đổi mới công nghệ và mở rộng kinh doanh là rất lớn. Bên cạnh đó, do tỷ giá ổn định, lãi suất cho vay ngoại tệ chỉ bằng 50%-60% mức lãi suất cho vay nội tệ nên nhiều DN thích vay vốn ngoại tệ hơn, ngược lại người gửi tiền thì thích gửi bằng nội tệ hơn vì lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn của nội tệ cao gấp 2 lần tiền gửi ngoại tệ.

Hà Nội: tốc độ tăng trưởng lớn nhất

Tại Hà Nội, nơi tập trung hội sở và đầu mối của 4 NHTM Nhà nước, 8 NHTM cổ phần và có số đông các NH khác, quy mô vốn huy động và dư nợ cho vay cũng diễn ra tương tự.

Ước tính đến hết 31/12/2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng 36,12% so với cuối năm 2006. Còn số liệu thống kê cụ thể ở thời điểm sớm hơn cho hay, tính đến hết tháng 10/2007, đạt 326.624 tỷ đồng, tăng 34,54% so với cuối năm 2006, đây là mức tăng lớn nhất trong nhiều năm.

Dự báo đến hết năm 2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố sẽ đạt 350.000-355.000 tỷ đồng, tăng 42-44% so với cuối năm 2006.

Tính đến hết năm 2007, nhiều NHTM cổ phần có tốc độ tăng trưởng vốn huy động tới 70% đến hơn 100% so với cuối năm trước. Đây là mức độ tăng trưởng cao hết sức “ngoạn mục” ngoài dự kiến từ đầu năm của hầu hết các nhà quản trị NH và cổ đông của các NH.

Nếu phân tích theo đối tượng khách hàng gửi tiền tại các NH trên địa bàn Hà Nội, thì đến hết tháng 10/2007, tiền gửi dân cư đạt 140.310 tỷ đồng, tăng 31,01% và tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 186.314 tỷ đồng, tăng 37,33% so với cuối năm trước.

Nguyên nhân vốn huy động của các tổ chức kinh tế tăng nhanh do nhiều DN thực hiện IPO, số vốn thu về lớn nhưng chưa sử dụng đến, tạm thời gửi NH. Một số DN bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, phát hành cổ phần tăng vốn… quỹ thặng dư vốn và số vốn điều lệ tăng thêm chưa đầu tư được cũng tạm thời để trong tài khoản tiền gửi tại NHTM.

Nhiều DN trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản thu tiền sử dụng đất, tiền bán căn hộ, tiền bán nhà xây thô… của khách hàng, chưa sử dụng đến cũng tạm thời gửi NH. Quỹ đầu tư chứng khoán, vốn của các nhà kinh doanh chứng khoán, vốn chuẩn bị thành lập mới NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần, công ty chứng khoán… chưa đi vào hoạt động tạm thời để trên tài khoản tại NH được lựa chọn. Trong số đó có cả vốn phát hành trái phiếu chưa giải ngân được cũng để trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn!

Phân theo tiền tệ, vốn huy động nội tệ đạt 236.180 tỷ đồng, tăng 39,05% và vốn huy động ngoại tệ đạt 90.444 tỷ đồng, tăng 24,05% so với cuối năm trước. Nguyên nhân vốn huy động nội tệ tăng cao hơn vốn huy động ngoại tệ ở Hà Nội cũng giống như ở TP HCM.

Vốn huy động tăng nhanh một mặt phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang rất sôi động, hiệu quả kinh doanh của nền kinh tế ngày càng nâng cao một cách bền vững. Mặt khác cũng phản ánh thu nhập của người dân, của các DN cũng nâng cao. Trong số nguồn thu nhập đó có khối lượng đáng kể là kiều hối, tiền của người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về.

Tại Hà Nội, dư nợ cho vay cũng tăng với tốc độ rất lớn. Tính đến 31/12/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng tăng 38,5% so với cuối năm 2006. Còn số liệu thống kê cụ thể cho hay, tính đến hết tháng 10/2007, tổng dư nợ cho vay đạt 163.838 tỷ đồng, tăng 37,44% so với cuối năm 2006. Đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước đến nay và vượt xa nhiều so với dự báo từ đầu năm của các NH. Một số NHTM cổ phần sẽ có mức tăng trưởng dư nợ tới 55% đến 65%.

Về cơ cấu dư nợ phân theo thời hạn, cho vay ngắn hạn đạt 100.089 tỷ đồng, tăng 33,50% và dư nợ cho vay trung dài hạn đạt 63.749 tỷ đồng, tăng 44,1%. Tín dụng trung dài hạn tăng cao hơn ngắn hạn chứng tỏ nhu cầu vốn đầu tư chiều sâu, đầu tư cho mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt trang thiết bị mới và hiện đại tăng lên. Một nguyên nhân khác, vốn đầu tư cho các KCN, khu chế xuất, khu đô thị mới, dự án nhà ở, vốn cho vay mua nhà chung cư, mua ôtô, phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị thi công, xây dựng khách sạn, văn phòng cho thuê, trung tâm thương mại, siêu thị… cũng tăng cao.

Về cơ cấu dư nợ theo tiền tệ, dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 100.092 tỷ đồng, tăng 38,8% và dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 34,72%. Nguyên nhân dư nợ cho vay nội tệ cao hơn ngoại tệ cũng tương tự như ở TP.HCM.

Không chỉ riêng Hà Nội và TP.HCM, mà trong cả nước, nhất là những tỉnh, thành phố lớn, có tốc độ công nghiệp hoá nhanh… các luồng vốn huy động, thanh toán, cho vay… của hệ thống NH trong cả nước cũng có tốc độ tăng trưởng cao ngoài dự kiến.

Tính đến hết tháng 9/2007, tổng dư nợ cho vay của các NHTM và tổ chức tín dụng trong toàn quốc tăng 35% so với cuối năm 2006 và ước tính đến hết tháng 10/2007 tăng 38%, gấp gần 2 lần mức tăng cùng kỳ năm 2006. Riêng khối NHTM cổ phần có tốc độ tăng dư nợ tới 103% so với cùng kỳ năm 2006 và tăng 65% so với đầu năm, chiếm 24,7% thị phần tín dụng của toàn bộ các NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước, tăng mạnh so với tỷ lệ 19,7% cuối năm 2006.

Những tác động và nguyên nhân

Diễn biến về vốn nói trên qua hệ thống NH cho thấy những tác động và nguyên nhân sau:

Một là, số đông người dân, các DN, hộ kinh doanh ngày càng làm quen với dịch vụ NH tiện ích, tin tưởng NH, tăng khả năng tiết kiệm và sử dụng tiền nhàn rỗi gửi vào NH vừa an toàn, vừa có lãi, vừa được hưởng các tiện ích khác từ dịch vụ NH hiện đại.

Không chỉ mở tài khoản thanh toán, mở tài khoản sử dụng thẻ mà còn gửi tiết kiệm với các kỳ hạn khác nhau. Đây là xu hướng văn minh, tiến bộ của nền kinh tế, cho phép giảm tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán thẻ, thanh toán điện tử liên NH… ngày càng được sử dụng phổ biến hơn. Bởi vì một chỉ tiêu quan trọng đánh giá triển vọng phát triển của nền kinh tế đó là tốc độ người dân chấp nhận và khả năng tiếp cận với các dịch vụ NH, kể cả vay tiền. Đồng thời số đông người dân, DN mạnh dạn vay vốn ngân hàng không chỉ đầu tư cho sản xuất kinh doanh mà còn cho tiêu dùng: mua nhà ở, mua ôtô, mua phương tiện sinh hoạt, đi du học, du lịch và đi chữa bệnh nước ngoài…

Hai là, về nguyên lý cũng như thực tiễn, vốn đầu tư cho nền kinh tế của hệ thống NH thời kỳ này sẽ tạo ra tăng trưởng ở thời kỳ sau, ít nhất là 6 tháng. Như vậy trong các tháng cuối năm cũng như năm 2008 và các năm tới có thể khẳng định nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có tốc độ phát triển cao không chỉ dư vốn cho vay của hệ thống NH mà còn do tốc độ chu chuyển vốn trong thanh toán, khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các kênh đầu tư khác: đầu tư trên TTCK, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thành lập quỹ đầu tư và DN.

Ba là, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đổi mới mạnh mẽ và cạnh tranh rất sôi động sau 1 năm nền kinh tế nước ta gia nhập WTO. Mạng lưới của các NH được mở rộng với tốc độ rất nhanh đến gần dân, tiện lợi cho DN. Công nghệ NH đang sử dụng và chuẩn bị được lắp đặt ở vào trình độ hiện đại của thế giới. Quy mô vốn điều lệ và năng lực tài chính của các NH được nâng cao lên rõ rệt. Trình độ quản trị điều hành, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện. Các quan hệ liên doanh, liên kết, hợp tác… giữa các NHTM trong nước với các tập đoàn tài chính lớn của thế giới, với các DN khác của Việt Nam theo hướng hình thành tập đoàn kinh doanh đa năng… ngày càng chặt chẽ.

Tất nhiên còn rất nhiều việc phải làm cả về điều hành chính sách tiền tệ, quản lý Nhà nước về hoạt động NH, cấp giấy phép thành lập NH và công ty tài chính mới, thủ tục tăng vốn điều lệ… để hệ thống NH Việt Nam phát triển vững chắc và mạnh mẽ hơn nữa. Song những chuyển biến nói trên cho thấy năng lực cạnh tranh và hiệu quả đối với nền kinh tế của hệ thống NH Việt Nam sau 1 năm gia nhập WTO.

Nguyễn Hà

Qua rồi, thời cạnh tranh bằng lao động giá rẻ (bài của Vũ Quốc Tuấn) 110907

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:22 pm
Tags: ,

Nguồn: VNEconomy 09/11/07) Chúng ta vẫn thường nói “Con người là vốn quý nhất của doanh nghiệp”, song trên thực tế, còn nhiều vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người lao động cần được giải quyết cho đúng với vị trí, vai trò của họ. Bài này xin nêu lên một số ý kiến nhằm trao đổi xung quanh vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách này.

Nền kinh tế nước ta bước vào thời kỳ mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt. Điều đáng quan tâm là thời kỳ cạnh tranh bằng lao động giá rẻ đã qua, ngày nay, phải cạnh tranh bằng chất lượng lao động, song năng suất lao động quá thấp đang là một thế yếu của chúng ta.

Năng suất lao động thấp, đời sống có nhiều khó khăn

Số liệu thống kê năm 2006 cho biết: cả nước hiện đang có 43,3 triệu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó các ngành kinh tế ngoài Nhà nước chiếm 89,1%, kinh tế Nhà nước chiếm 9,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,6% (Niên giám thống kê 2006 (tóm tắt), NXB Thống kê, 2006, tr.22).

Thế nhưng, cũng theo công bố của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của nước ta (tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái năm 2006) chỉ đạt 1.407 USD/người, thấp xa so với mức năng suất lao động năm 2005 của nhiều nước trong khu vực: Indonesia 2.650 USD; Philippines 2.689 USD; Thái Lan 2.721 USD; Trung Quốc 2.869 USD, Malaysia 12.571 USD; Hàn Quốc 33.237 USD, Singapore 48.162 USD. Năng suất lao động nước ta còn quá thấp là do nhiều nguyên nhân về cơ cấu kinh tế, về tổ chức và quản lý lao động, nhưng nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu là chất lượng của đội ngũ lao động nước ta còn quá kém.

Về đời sống vật chất của người lao động, các cuộc khảo sát thời gian gần đây cho thấy: tại doanh nghiệp, đang còn những vấn đề về tiền lương và thu nhập, điều kiện sống của người lao động cần được giải quyết, nhiều hạn chế về an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm …. Mấy năm gần đây, giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng liên tục (năm 2004 tăng 9,5%; năm 2005 tăng 8,4%; năm 2006 tăng 6,6%; năm 2007 có thể tăng trên 8%), tiền lương thực tế giảm sút, tiền lương danh nghĩa được điều chỉnh quá chậm.

Mỗi lần gọi là tăng lương nhưng chẳng đáng là bao vì chênh lệch giữa các bậc lương chỉ có 5.000 đến 10.000 đồng. Có những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra định mức lao động quá cao, đơn giá sản phẩm thấp, khiến cho thu nhập của người lao động vẫn quá thấp. Sức khỏe người lao động đang có yêu cầu tăng cao để bảo đảm cường độ lao động trong doanh nghiệp, trực tiếp góp phần quan trọng nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hiện nay, Chính phủ đã có chủ trương điều chỉnh lương tối thiểu từ 1/1/2008 cho người lao động trong doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đó là mức thấp nhất mà doanh nghiệp phải trả cho một lao động làm việc giản đơn nhất trong điều kiện bình thường; là một căn cứ để tăng thu nhập cho người lao động phù hợp với tình hình kinh tế chung của đất nước.

Mỗi doanh nghiệp cần chủ động tính toán chi phí đầu vào, kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho năm tới, tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, song điều quan trọng là xây dựng thang bảng lương tại doanh nghiệp cho đúng đắn, không vì mức lương tối thiểu tăng lên mà tùy tiện cắt giảm các khoản tiền tăng ca, tiền thưởng của người lao động.

Quan trọng hơn nữa là thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát để bảo đảm tiền lương thực tế của người lao động. Doanh nghiệp cũng cần thực hiện đầy đủ các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động, khắc phục tình trạng trốn đóng hoặc nợ đọng bảo hiểm xã hội (trong 54 người tử vong trong vụ sập Cần Thơ vừa qua, chỉ có một người được mua bảo hiểm xã hội!).

Không chỉ có tăng lương, nhiều vấn đề khác cũng cần được quan tâm, như chăm lo chỗ ở cho lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất (nhiều nơi có đến 80% là lao động ngoại tỉnh cần có chỗ ở); bữa ăn giữa ca; dịch vụ y tế cho người lao động; chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, v.v…

Nâng cao kỹ năng lao động, yếu tố quyết định

Trong kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hóa, người lao động có đủ các quyền: quyền lựa chọn công việc lao động; quyền được bảo hộ lao động; quyền được bảo hiểm lao động; quyền được thù lao lao động; quyền tái sản xuất sức lao động; quyền được đào tạo và phát triển năng lực; quyền di chuyển (lưu động) sức lao động; v.v…

Các quyền ấy thể hiện quyền độc lập tự chủ của người lao động (cũng tức là chủ thể quyền lao động) và là cơ sở để xác lập các mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động. Tất nhiên, ngày nay, khi nước ta đã là thành viên của WTO, thì cùng với sự lưu chuyển hàng hóa, vốn đầu tư, sự di chuyển nguồn lao động cũng sẽ xảy ra mạnh mẽ; lao động nước ngoài sẽ vào nước ta làm việc và ngược lại; người lao động sẽ thực hiện quyền của họ ở nơi có điều kiện làm việc tốt nhất.

Mới đây, có tin các nước EU cho biết đang thiếu 20 triệu lao động trong lĩnh vực tin học, phải dùng hình thức “thẻ xanh” để thu hút những người đã có bằng cấp và ba năm kinh nghiệm; nhưng lại bị một số nước khác phản đối vì sẽ xảy ra khủng hoảng chất xám; tạo ra nguy cơ cho các nước nghèo.

Một tin khác: mới đây, một doanh nghiệp Nhật Bản đang kinh doanh tại Việt Nam đã quyết định đưa lao động Nhật Bản sang làm việc tại một số vị trí chủ chốt trên dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp với mức lương 5.000 USD/tháng và chỉ tuyển lao động Việt Nam vào làm việc với lương 100 USD/tháng! Người lao động Việt Nam sẽ mất cơ hội việc làm và thu nhập tương ứng chỉ vì tay nghề kém, điều này chắc chắn sẽ xảy ra nếu việc đào tạo nghề cho lao động nước ta không được đẩy mạnh.

Lao động nước ta có ưu điểm là thông minh, tiếp thu nhanh, song kỹ năng lao động hiện còn quá thấp. Quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, điều này tạo điều kiện tăng nhanh đội ngũ người lao động kỹ thuật đồng thời đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ của người lao động.

Đòi hỏi này lại càng cấp bách khi điều kiện di chuyển lao động ở các nước trong WTO trở nên dễ dàng hơn. Khó khăn của chúng ta chính là nguồn lao động chủ yếu là từ nông thôn, xuất thân từ con em nông dân, học vấn thấp, chỉ một số ít lớp 12, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp… đều kém.

Theo kết quả điểu tra lao động-việc làm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cuối năm 2005 thì tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở nước ta chưa chiếm đến 30%, trong đó, tỷ lệ người thực sự có tay nghề (lao động kỹ thuật) mới đạt khoảng 15% (không đạt chỉ tiêu do Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra là 30% lao động kỹ thuật vào năm 2005). Đang có sự mất cân đối lớn giữa tỷ lệ đại học, trung học và công nhân kỹ thuật: nếu như ở trên thế giới, trung bình là 1/1, 3 và 5, thì ở Việt Nam là 1, 1,13 và 0,92, cũng có nghĩa là công nhân kỹ thuật quá ít (đó mới là số lượng, chưa nói đến chất lượng).

Chúng ta đã có nhiều trường đào tạo công nhân kỹ thuật, nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và nhất là chất lượng đào tạo; vẫn chưa gắn chặt được việc đào tạo với yêu cầu của thị trường, nhiều doanh nghiệp vẫn phải tốn thời gian và công sức đào tạo lại sau khi nhận lao động từ các trường công lập.

Cần cả số lượng và chất lượng

Trước yêu cầu mới, chúng ta đang cần một đội ngũ lao động đủ về số lượng và chất lượng, có tay nghề cao, có kỷ luật và tác phong công nghiệp; điều này đòi hỏi đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo tại các trường, lớp đồng thời thực hiện các biện pháp bồi dưỡng ngay trong mỗi doanh nghiệp theo những yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp. Cần nâng cao trình độ người lao động trong việc nắm bắt công nghệ tiên tiến, khả năng sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại, là kỹ năng tăng năng suất lao động của bản thân và đồng đội tổ nhóm, là tác phong công nghiệp trong lao động, v.v…

Trình độ người lao động được nâng lên đồng thời, phù hợp với yêu cầu vận hành trang thiết bị tiên tiến của doanh nghiệp cùng với kỹ năng quản trị doanh nghiệp của doanh nhân được nâng cao… chính là những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Những việc nói trên đòi hỏi sự quan tâm của người quản lý doanh nghiệp, của các cơ quan nhà nước cũng như của bản thân mỗi người lao động.

Công tác nghiên cứu phát triển (R&D) là một hoạt động có thể đóng góp quan trọng trong việc nâng cao kỹ năng của người lao động. Đáng quan tâm là trong doanh nghiệp nước ta hiện nay, phần dành cho R&D chỉ chiếm 8% kinh phí đầu tư cho khoa học, công nghệ trong doanh nghiệp, còn 92% dùng vào mua sắm thiết bị. Đầu tư cho R&D của doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,01% – 0,02% doanh thu, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước công nghiệp là 5 – 6% (Ấn Độ là 5%) và ở các nước phát triển là 10% (Hàn Quốc là 10%).

Việc phát triển các hoạt động R&D cũng như nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, công nghệ cho người lao động có thể thực hiện tại doanh nghiệp bằng nhiều hình thức linh hoạt tùy theo khả năng của doanh nghiệp, như tổ chức các cuộc thi tay nghề, hiến kế, thi sáng kiến, v.v… mang lại hiệu quả thiết thực (không hình thức, phô trương), vừa bồi dưỡng, đào tạo tại doanh nghiệp vừa cử đi dự các trường lớp ngắn ngày, dài ngày. Mỗi doanh nghiệp, doanh nhân hãy coi đây là một loại “đầu tư cơ bản” có tác dụng rất lâu dài, không thể coi nhẹ.

Tóm lại, trong thời đại toàn cầu hóa về kinh tế hiện nay, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng như của một quốc gia thể hiện trước hết và chủ yếu là trong lĩnh vực nhân lực. Chính vì vậy, việc giải quyết những vấn đề về đời sống và nhất là về nâng cao kỹ năng lao động cho người lao động trong doanh nghiệp phải được coi là một nhiệm vụ cấp bách để xây dựng đội ngũ lao động nước ta xứng tầm trước yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế.

Vũ Quốc Tuấn

Kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng vững chắc 111507

Filed under: Báo cáo,kinh tế — ktetaichinh @ 6:16 pm
Tags:

(Nguồn: Thanh Niên 15/11/07) Đó là nhận định của Ngân hàng thế giới (WB) trong báo cáo cập nhật mới nhất về Đông Á & Thái Bình Dương với nhan đề “Liệu tự cường có giúp vượt qua được rủi ro?”.

Thông cáo của WB tại Việt Nam phát đi sáng nay (15/11), dựa trên báo cáo được WB công bố hôm qua (14/11) tại Washington DC (Mỹ), đưa ra con số GDP Việt Nam đã tăng 8,3% trong 9 tháng qua của năm 2007 và nhận định “Tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn vững chắc năm 2007 chủ yếu nhờ nguồn thu từ xuất khẩu phi dầu khí, đầu tư và tiêu dùng tư nhân”.

Để đạt mức tăng GDP 8,3% (ngành chế tạo và công nghiệp tăng tương ứng 12,5% và 10,2%; tăng trưởng nông nghiệp đạt mức 3% – trong đó ngành thủy sản tăng trưởng kỷ lục ở mức 9% bù đắp sự sụt giảm trong ngành chăn nuôi gia súc và gia cầm; ngành dịnh vụ đạt tỷ lệ tăng trưởng cao trong 9 tháng qua, ở mức 8,5%) nhờ sự phát triển mạnh của ngành bán lẻ, du lịch, giao thông và dịch vụ tài chính.

Đầu tư và tiêu dùng trong nước cũng tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng gần 23% (tính đến tháng 9/2007). Tỷ trọng khu vực nhà nước tiếp tục giảm và chỉ chiếm khoảng 11% tổng đầu tư. Tổng đầu tư tăng 16,3% trong 9 tháng qua của năm 2007. Theo thời giá hiện nay, đầu tư hiện chiếm 42,5% GDP. Đầu tư của khu vực tư nhân trong nước tăng gần 28% và hiện tại chiếm khoảng 17% GDP.

Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 9,6 tỷ USD trong 9 tháng qua của năm 2007, tăng 38% so với cùng kỳ năm ngoái (cả năm 2006 đạt 10,2 tỷ USD). Cam kết FDI đã tăng nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tỷ lệ giải ngân FDI tăng 20% đến tháng 9/2007, chiếm khoảng 6,8% GDP. Tuy nhiên, các chuyên gia WB cũng đánh giá: “Mặc dù đầu tư của các công ty nước ngoài và khu vực tư nhân trong nước tăng mạnh, nhưng tỷ lệ giải ngân từ ngân sách nhà nước vẫn còn thấp. Điều này cho thấy các dự án đầu tư công được triển khai chậm”.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng nhanh mặc dù xuất khẩu dầu thô giảm 10% do hạn chế về năng lực sản xuất. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy sản, may mặc và giày dép tăng mạnh, bất chấp những “hàng rào” về an toàn thực phẩm và các vấn đề môi trường trong nuôi trồng. Xuất khẩu hiện tại chiếm khoảng 72% GDP. Trong số các đối tác thương mại, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm gần 1/5 hàng xuất khẩu của Việt Nam; kế tiếp là EU, ASEAN và Nhật Bản.

Ngành dệt may, một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng xuất khẩu trong những năm gần đây, đã tăng mức doanh số tại thị trường nước ngoài gần 32% trong 9 tháng qua. Việt Nam hiện là một trong 10 nước xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới, trong đó Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm 60%.

Nhập khẩu tăng 30% tính đến tháng 9/2007 do nhu cầu đầu tư tăng và nhu cầu nhập khẩu đầu vào của quá trình mở rộng sản xuất công nghiệp. Sự tăng trưởng nhanh của nhập khẩu dẫn đến tỷ lệ thâm hụt thương mại cao. Tuy nhiên, tình hình cán cân thanh toán vẫn ổn định. Nguồn đầu tư gián tiếp cũng tăng nhanh trong năm 2006 và đầu năm 2007 do thị trường vốn phát triển nhanh chóng bao gồm cả một thị trường chứng khoán phát triển bùng nổ.

Thị trường chứng khoán Việt Nam vào cuối năm 2005 chỉ có 41 công ty niêm yết, với tỷ lệ vốn trên thị trường chứng khoán thấp hơn 1 tỷ USD, tương đương với 1,2% GDP. Đến cuối tháng 9/2007, số các công ty niêm yết đã tăng lên 206, tổng giá trị thị trường chứng khoán vượt mức 22 tỷ USD, tương đương với 32,4% GDP. Luật Chứng khoán năm 2006 là một cột mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của thị trường chứng khoán. “Liệu thị trường có được định giá quá cao hay không là một vấn đề gây tranh cãi sôi nổi, tuy nhiên những lo ngại về sự sụp đổ thị trường đã giảm đi. Sau một giai đoạn tăng nhanh, từ tháng 3/2007 đến nay, thị trường đã đi vào ổn định” – các chuyên gia WB nhận định, và khuyến cáo: “Yêu cầu về công khai chặt chẽ hơn, bảo vệ các nhà đầu tư tốt hơn và mức giới hạn cao hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài có thể là cần thiết để duy trì động lực phát triển thị trường chứng khoán”.

Báo cáo cập nhật của WB được tiến hành định kỳ 6 tháng một lần. Ngoài Việt Nam, báo cáo cũng đưa ra những con số tăng trưởng lạc quan của các nền kinh tế Đông Á và nhận định các nền kinh tế này chắc chắn sẽ tiếp tục tăng trưởng vững chắc trong năm 2008, bất chấp những lo ngại đang gia tăng về cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính thứ cấp tại Mỹ và giá dầu thô tăng trên quy mô toàn cầu. Lần đầu tiên, báo cáo cũng cho thấy số người nghèo sống dưới 2 USD/ngày tại Đông Á đã giảm xuống dưới 500 triệu so với con số 1 tỷ năm 1990.

Đức Trung

Bản full của báo cáo có thể đọc tại đây (Đông Á) và tại đây (Việt Nam

Blog at WordPress.com.