Ktetaichinh’s Blog

May 27, 2010

Vượt “bẫy thu nhập trung bình” bằng cách nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:46 pm
Tags:
Cập nhật lúc : 2:35 PM, 25/05/2010
Việt Nam rất có thể “dẫm lại vết xe đổ” của một số quốc gia Đông Nam Á?

(eFinance) –  (Tạp chí Tài chính Điện tử số 82 ngày 15/4/2010) – Nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng “bẫy” thu nhập trung bình (TNTB) đang “treo lơ lửng” ở phía trước, và Việt Nam rất có thể “dẫm lại vết xe đổ” của một số quốc gia Đông Nam Á, nghĩa là “suốt nhiều năm chỉ quanh quẩn dao động ở mức TNTB 1.500 – 5.000 USD/người/năm. Một trong những nguyên nhân của nguy cơ tiềm ẩn này chính là do Việt Nam còn thiếu những chính sách chủ động.

Cảnh báo!

Những năm 60 của thế kỷ trước, nhiều nước châu Á đã rơi vào “bẫy” TNTB. Sau đó, Đài Loan, Hàn Quốc đã vươn lên thành những “điểm sáng” của việc “vượt bẫy” thành công, đạt tăng trưởng nhanh và bền vững, dần bước vào nhóm các nước có thu nhập cao. Còn một số quốc gia lân cận Việt Nam như Thái Lan, Malaysia sau một thời gian dài vẫn “loay hoay” chưa thể thoát ra khỏi mức TNTB.

Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thành quốc gia có TNTB theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, tăng trưởng mà Việt Nam có được trong hơn 15 năm qua phần lớn là do tác động của tự do hoá đúng thời điểm, lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên phong phú, lao động dồi dào…

Với con mắt khách quan của “người ngoài cuộc”, ông Kenichi Ohno, Giám đốc Dự án Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) cho rằng Việt Nam cần tăng cường giá trị gia tăng chứ không phải dựa vào ADO hay nguồn tài nguyên hay lực lượng lao động đông đảo, cần cù. Việt Nam sẽ mất dần những lợi thế truyền thống đó. Vấn đề trước mắt không phải là nguồn vốn, trang thiết bị… mà là nguồn lực con người. Trên thực tế, vấn đề năng lực, khả năng của con người ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện. Bên cạnh đó, công tác tiếp thị thị trường, vươn ra quốc tế vẫn chưa được làm tốt (mới chú trọng tới khâu sản xuất chứ chưa quan tâm thích đáng tới khâu phân phối).

Đồng quan điểm trên, PGS.TS Phạm Quang Trung – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cảnh báo: Hiện nay, sự phát triển của Việt Nam đã và đang được xem là có rất nhiều vấn đề tương đồng với các quốc gia lân cận như Thái Lan, Malaysia. Nếu tiếp tục phát triển như những gì Việt Nam đã và đang làm, rất có thể, Việt Nam sẽ là một “quốc gia đang phát triển” trong thời gian dài.

Thiếu chính sách chủ động

Thu nhập trung bình được chia thành 3 mức: thu nhập trung bình thấp (1.000 – 4.000 USD/người/năm), trung bình trung bình (4.000 – 8.000 USD/người/năm) và trung bình cao (tức 8.000 – 9.600 – 9.800 USD/người/năm). Những nước có GDP đạt trên 10.000 USD/người/năm mới là nước có thu nhập cao và gia nhập nhóm OECD (các nước phát triển mới).

Theo lý thuyết kinh tế, để vượt qua được “bẫy” TNTB thì cần phải có 2 yếu tố đó là chính sách chủ động và khu vực tư nhân năng động. Thế nhưng ở Việt Nam, mảng chính sách hiện vẫn đang rất thiếu và chưa đủ mạnh.

Bàn về vấn đề này, ông Kenichi Ohno nhận xét: hoạt động hoạch định chính sách công nghiệp, nội dung và cấu trúc chính sách ở Việt Nam còn lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu của thị trường, không có tính tự chủ, đón đầu; quy trình và việc tổ chức hoạch định chính sách còn sơ khai; các cán bộ, công chức, chuyên viên Việt Nam còn trì trệ trong việc thực hiện cải cách hoạch định chính sách. Điểm yếu của Việt Nam trong việc hoạch định các chiến lược và kế hoạch phát triển hiệu quả chủ yếu là do “di sản” của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung không thể đối phó hiệu quả với những vấn đề mới của thời kỳ cạnh tranh toàn cầu.

Ở Việt Nam, có rất ít chính sách được thực hiện đúng quy định do chậm trễ trong việc chuẩn bị chương trình triển khai chi tiết, do thiếu ngân sách, thiếu nhân lực, trang thiết bị, thiếu sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp, và thiếu sự quan tâm của các bộ, ngành có trách nhiệm giải quyết.

Đặc biệt, cơ chế hiện hành vẫn không cho phép sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào quá trình hoạch định chính sách. Mặc dù việc lắng nghe ý kiến doanh nghiệp đã trở nên phổ biến trong mấy năm gần đây, song nội dung dự thảo chi tiết vẫn chưa được công bố trong các buổi lắng nghe này, vì thế, doanh nghiệp chỉ có thể đưa ra những yêu cầu chung, nếu sau đó phát hiện thấy trong dự thảo kế hoạch hành động có những chi tiết không tán thành (ví dụ như dự báo nhu cầu, thuế, thuế nhập khẩu, các mục tiêu về xuất khẩu…) thì cần tìm cách gặp gỡ các Bộ có trách nhiệm, sử dụng hội nghị chuyên đề hoặc phương tiện truyền thông để nêu quan điểm, thậm chí có thể viết thư cho Thủ tướng để yêu cầu sửa đổi một chính sách đã thông qua.

Một trong những minh chứng cụ thể cho sự thiếu chủ động trong hoạch định chính sách là đến giờ, Việt Nam vẫn chưa có một quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp. Quy hoạch phát triển ngành của các ngành như thép, ô tô, xe máy, điện tử, dệt may… vẫn đang trong quá trình dự thảo và thông qua mà không có nguyên tắc chung được chỉ đạo từ cấp cao.

Chính sách chủ động là chính sách có 3 đặc điểm sau: Thoả mãn cam kết hội nhập toàn cầu và khu vực; Cân đối giữa Nhà nước và thị trường một cách thích hợp, linh hoạt; Không ngừng học hỏi kinh nghiệm hoạch định chính sách và cách thức thu thập thông tin.

Cần lưu ý rằng một số nước có mức thu nhập thấp hơn Việt Nam rất nhiều nhưng cũng đã có tầm nhìn công nghiệp và kế hoạch hành động nhất quán, chi tiết hơn Việt Nam. Đơn cử như Ethiopia, một trong những nước nghèo nhất thế giới với TNTB đầu người 160USD năm 2007 cũng đã xây dựng Tầm nhìn công nghiệp hoá và phát triển nông nghiệp (ADLI) từ năm 1991. Chiến lược này nhấn mạnh vai trò quan trọng của khu vực tư nhân và phát triển nông nghiệp, hướng vào xuất khẩu, coi trọng các khu vực kinh tế có độ hàm chứa lao động cao.

Sự thiếu chính sách chủ động của Việt Nam đã dẫn tới hệ luỵ nhiều câu hỏi chính sách quan trọng chưa được trả lời, trong đó có câu hỏi về vai trò của các doanh nghiệp Nhà nước, công ty tư nhân và công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong tương lai; về sự lựa chọn giữa định hướng xuất khẩu thay thế nhập khẩu nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập ngày càng sâu sắc.

Đầu tư tư nhân và viện trợ chính thức “đổ vào” mà không biết chính xác Việt Nam sẽ ở đâu trong một vài thập kỷ tới (!) Đây là một trong những nguy cơ tiềm ẩn của việc Việt Nam sẽ rất khó “bứt phá” để vươn lên mức thu nhập cao. Ông Kenichi Ohno cho rằng, sau giai đoạn tăng trưởng vào những năm 1990 và đầu 2000, nhờ tự do hoá nền kinh tế và tiếp nhận nguồn vốn lớn từ bên ngoài “chảy” vào, Việt Nam đã đạt tới ngưỡng TNTB. Tuy nhiên, từ ngưỡng này tiến lên mức thu nhập cao hơn sẽ là một hành trình gặp rất nhiều khó khăn nếu không có những cải cách căn bản trong quy trình và tổ chức hoạch định chính sách.

Rất dễ nhận thấy trước mắt còn rất nhiều khó khăn, thách thức mà Việt Nam phải đối mặt như cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường thế giới, gắn kết được tăng trưởng với bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý Nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đa dạng hoá các thị trường vốn, tự do hoá thương mại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức… Ngay từ bây giờ, Việt Nam cần có những định hướng chiến lược, hành động cụ thể để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh một cách bền vững.

(Hà Mai)

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: