Ktetaichinh’s Blog

May 19, 2010

Nghề làm nhà hàng ở Little Saigon

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:20 am
Tags:

Ngh làm nhà hàng  Little Saigon: (kỳ 2)
Saturday, May 15, 2010
Nhng câu chuyen bên trong nhà hàng
Ngc Lan/Ngưi Viet
WESTMINSTER (NV) – Ði làm viec, dù là nơi văn phòng, công s” hay nơi hàng
quán ch( búa, không ke là Viet hay My, dù là làm viec chân tay hay làm viec trí
óc, đâu đâu cũng có nh5ng câu chuyen c6nh tranh, xích mích gi5a đông nghiep và
đông nghiep, gi5a nhân viên và qu:n lý. Có điêu, tùy môi trư@ng mà sA c6nh
tranh the hien ra ” nh5ng kieu cách khác nhau. Bên c6nh nh5ng san sC gan bó
gi5a đông nghiep, gi5a nh5ng ngư@i làm chung, nhà hàng quán ăn cũng có nh5ng
kieu “đFng đo” rât riêng cJa nó.
Trong giLi phFc vF nhà hàng, dư@ng như có mot lan ranh vô hình: Gi5a nh5ng
ngư@i làm full-time, làm lâu năm, sông bang nghê phFc vF nhà hàng, thì có sA
gan bó thân thiêt vLi nhau, và cũng đư(c sA tin tư”ng cJa chJ. Nhưng vLi nh5ng
ngư@i làm part-time, nh5ng sinh viên nay làm mai nghU, thì có nh5ng vF đFng
ch6m không the ng@ đư(c.
Khi quán ăn đông khách, nhân viên tât bat, ch cũng không nê hà lăn x vào ph  mot tay d&n d’p.
Nh*ng chuyen tư-ng ch.ng nh/ như vay nhưng l0i t0o nên môi gan kêt gi*a m&i thành viên trong nhà hàng,
tiem ăn v5i nhau.
(Hình: Dương Ðông/Ngư>i Viet)
Thân cũng có, ‘chơi’ nhau cũng có
Do th@i gian làm ” nhà hàng, tiem ăn chiêm tW 10 đên 12 tiêng moi ngày, nên
nhân viên nhà hàng hieu vê nhau, chuyen trò, tâm sA vLi nhau còn hơn c: ngư@i
nhà. Chuyen vui chuyen buôn gì h\ cũng hay mang vô ke đe m\i ngư@i chia sC,
1
góp ý vLi nhau. Chính tình thân đó mà khi đã làm viec lâu dài thì hiêm khi nhân
viên nhà hàng đoi cho làm mLi.
Ch_ Kiêu, làm nhà hàng full-time đã 4-5 năm, ke nơi ch_ làm, vào ngày “off,” ai đi
ch( thây hàng gì “sale” thì cũng g\i nhau í Li xem có muôn mua thì h\ mua giùm,
hay ” nhà kho nôi th_t, đo cái bánh xèo, nâu nôi chè, cũng mang vô cho chia đông
nghiep nhâm nháp.
“Ði làm nhà hàng riêt nhìn cái gì cũng ngán, nên đôi lúc chU quay tô mam nêm,
luoc miêng th_t mà c: đám xúm l6i ăn rât ngon lành. Hay ai đi Viet Nam biêt mình
thích ăn cái gì cũng khe ne mua mang qua làm quà. Thây vui lam,” ch_ Kiêu nói.
Nhưng đó là sau khi đã làm lâu, đã biêt nhau. Còn khi mLi vô làm, có rât nhiêu
câu chuyen cJa ngưfng cga “ma cũ bat n6t.” Hình như không mot nhân viên mLi
nào bưLc chân vô nhà hàng quán ăn mà thoát khhi c:nh b_ “soi mói,” “dò xét,”
“dòm ngó,” và “đàm tiêu” cJa nh5ng nhân viên cũ.
Phú, mot sinh viên đi làm thêm nhà hàng, ke: “Khi mLi vô làm, có biêt gì đâu, chJ
kêu mot ngư@i làm lâu hơn chU viec cho tôi. Hình như ‘nó’ s( mình vô làm thì b_
chia tiên tip, hoac b_ mât viec, cat gi@ hay sao nên ‘nó’ chU lơ mơ. ‘Nó’ chU lơ mơ,
mình làm lơ mơ, thê là ‘nó’ đi méc chJ. ChJ đuoi tôi ngay trong th@i gian thg
viec.”
Phú rút kinh nghiem, “ÐWng làm gì khiên cho ngư@i chU viec cho mình ghét mình.
MLi vô làm ‘nó’ nhìn mình, thì mình nhìn cho khác đi. Cho ‘nó’ nhìn mình, kên vLi
mình, mình nhìn l6i ‘nó’ là thôi xong rôi, ‘nó’ se kiêm chuyen. Chưa ke lâu lâu ph:i
mua nưLc cho ‘nó’ uông n5a. Ð6i lo6i là cũng ph:i biêt lây lòng ‘nó’ thì mLi yên đe
qua th@i gian thg viec, đe chJ biêt là mình có làm đư(c viec hay không.”
ThBc ăn trông s0ch se, đ’p mat và se càng ngon hơn, hâp dan hơn nh> không khí vui vG, thân thien
ca nh*ng nhân viên ph c v  đôi v5i thHc khách. (Hình: Dương Ðông/Ngư>i Viet)
VLi Khoa Trân, mot du h\c sinh (yêu câu đoi tên), thì điêu de khiên ngư@i làm nhà
hàng met mhi và stress nhât chính là chuyen “nói xâu nhau vLi chJ.”
2
Khoa ke, “Khi mình bưng đô ăn nhiêu, đi qua bàn thAc khách, ngư@i này xin cái tô,
cho kia xin cái muong, nhiêu quá đôi khi mình quên. Khách kêu ngư@i khác hhi.
Nêu là ngư@i tôt thì ngư@i ta lây giùm, còn ngư@i xâu tính thì ngư@i ta ch6y đên
méc chJ nói mình không ch_u làm!”
Ngay c: ngư@i làm tôt cũng có khi b_ đông nghiep chê bai. “t đ@i l6 lam, làm cái gì
cũng b_ nói hêt á. MLi vô lơ ngơ lóng ngóng cũng b_ chê, mà lăng xăng lanh lu
cũng b_ nói!” Ch_ Thu, mot ngư@i đi làm nhà hàng lâu năm, nêu suy nghĩ.
Nêu nhiêu thAc khách nhan xét rang, “thái đo niêm n”, tươi cư@i vLi khách là yêu
câu ‘xa xU’ cJa nhân viên nhà hàng quanh Little Saigon đôi vLi khách Viet Nam,”
thì ch_ Thu l6i là mot trong sô ít hiêm hoi có nhiêu tho “xa xU” đó. Thái đo vui vC,
thân thien, biêt chào hhi khách cJa ch_ Thu đư(c lòng khách, đư(c lòng chJ bao
nhiêu, thì l6i là đê tài đàm tiêu cho nh5ng nhân viên khác bây nhiêu.
“H\ nói tôi ‘vui vC như vay đe kiêm chông,’ hay ‘Cư@i nói gi: l: như vay đe ngư@i
ta cho tiên,’” ch_ Thu ke l6i.
Có lân, ch_ Thu còn b_ đông nghiep phá. Ch_ ke chuyen ch_ đư(c giao viec nâu trà
Thái. Buoi tôi ch_ nâu và l\c trà, sáng ra làm cho khách. Khách kêu l6i hhi, “có bh
lon muôi không?” Ch_ Thu vào coi l6i, ai đó đã bh muôi vào nôi nưLc trà Thái cJa
ch_ tW lúc nào, man chát, “Ph:i đo hêt làm l6i.”
Không ph:i ngư@i chJ không biêt nh5ng chuyen này. “Ngư@i biêt chuyen se là
ngư@i thành công.” Huỳnh Gia B:o, chJ nhân he thông Ph”-licious, nhan xét cùng
Ngư@i Viet.
“Mot ngư@i chJ cân đJ thông minh đe hieu đư(c nhân viên nói xâu vê ngư@i khác
vLi chJ là vì vLi ý muôn tôt cho chJ hay chU vì muôn chJ đuoi ngư@i kia,” B:o nói
thêm.
Kinh nghiem cJa chJ nhân Ph”-licious là “nhà hàng cân có qui đ_nh chat che cJa
nhà hàng.” Nghĩa là ai ai cũng làm theo đúng mot kieu như vay, đe tránh chuyen
“ma cũ ăn hiêp ma mLi” bang cách bat n6t ngư@i mLi là t6i sao làm thê này mà
không làm thê kia.
Bên c6nh đó, theo B:o, chJ cũng ph:i “đe mat” đên nhân viên mLi nhiêu hơn,
chat che hơn, “đe vWa xem h\ làm viec như thê nào, cũng là đe tránh cho h\
chuyen b_ nhân viên cũ bat n6t mà chU biêt khóc, không dám nói. Sau khi thây đâu
vào đó rôi thì mLi ‘th: lhng.’”
Nhưng không ph:i ai làm trong nhà hàng cũng b_ đông nghiep ăn hiêp. Hưng, mot
du h\c sinh, cho rang: “Cho tôi làm viec thì chang có chuyen gì to tát gi5a nh5ng
ngư@i làm vLi nhau. Tôi thây tât c: đêu bình thư@ng, nói chung là tôt.”
Riêng ch_ Thu, ngư@i b_ đo muôi vô nôi trà Thái, thì chia sC rang, “có ngư@i hôi lúc
tôi mLi vô làm ghét tôi ra mat. Nhưng gi@ thì bà coi tôi như ngư@i nhà. Có gì cũng
mang vô cho, tW cái quân cái áo, đên c: miêng ăn.”
Tuy nhiên, hâu hêt nh5ng kieu “chơi nhau” hay “soi mói tW đâu đên chân” phân
lLn chU dành cho ngư@i mLi tLi. Sau khi đã vư(t qua “ngưfng” đó rôi thì đâu cũng
vô đó.
Nhân viên và ngưi ch” ‘cân có s% t& tê v(i nhau’
Hâu hêt nh5ng ngư@i gan bó lâu dài vLi nơi làm đêu là do chJ tôt hoac “biêt điêu.”
“Nêu nói chJ và mình như b6n bè thì không có chuyen đó rôi, nhưng chJ cJa tui
rât ‘nice’ và ‘friendly.’ Ði làm gân 3 năm, chưa bao gi@ nghe chJ lLn tiêng vLi bât
kỳ nhân viên nào. Khi chJ noi gian, ngư@i chJ la là ông qu:n lý,” Ch_ Kiêu cư@i
3
nhan xét vê chJ tiem cJa mình.
ChJ nhà hàng nơi Phú và Hưng làm cũng vay. “ChJ đư(c lam. Toc là khi mình có
làm sai điêu gì thì cũng nhac nh”. Nhac nh” cho không ph:i là quát n6t, hay m”
mieng ra là đòi đuoi viec.”
VLi Khoa thì khác. Khoa cho rang “chJ hình như hơi có vân đê.”
Khoa ke, nơi Khoa làm có le là mot trong sô hiêm hoi nhà hàng có nh5ng qui đ_nh
rât “ngat nghèo” như: nhân viên đi làm không đư(c cho ăn thoc ăn cJa nhà hàng.
Ai muôn ăn ph:i mua, vLi các món bình thư@ng thì tính nga giá, vLi nh5ng món
đac biet thì tính như khách.
“Ðiêu đó chJ có nói ngay lúc mLi vô làm không?”
“Có, nói ngay tW đâu. Nhưng lúc đó mình thây cũng đâu có sao, không ăn ” quán
thì vê nhà ăn. Tuy nhiên, khi đi làm, lúc đói, thoc ăn trưLc mat không đư(c ăn thì
mLi c:m thây ‘điên’ lên đư(c. Nên đói quá, ch_u không noi thì cũng có đoa ph:i bh
tiên ra mua ăn, hoac tiêt kiem thì mua o bánh mì không châm nưLc tương ăn cho
đf đói.” Khoa nhL l6i.
Qui đ_nh n5a cJa tiem Khoa là nêu lây “order” sai thì ph:i đên tiên. “Nh5ng đoa
lanh lu thì năn nU khách, nêu khách ch_u ăn thì thôi, còn không nh5ng ngư@i làm
chung ém vLi nhau, có nh5ng đoa không lanh thì ph:i bh tiên ra đên.”
Trong khi đó, ch_ Kiêu ke, “t tiem mình, khi khách nói mình lây ‘order’ sai thì tôi
chU viec xin loi khách, rôi mang xuông nhà bêp ‘năn nU’ bêp làm l6i món khác
nhanh nhanh giùm, còn tô kia đe đó ai thích thì ăn.”
Ch_ Thu nhan xét, “ChJ và th( nên có sA tg tê vLi nhau. ChJ mà ‘căng’ quá thì chU
có thiet. Tui tWng chong kiên nhà bêp co vot đô tho:i mái vì ghét chJ. Nguyên cFc
th_t bò xat mây lát rôi lieng vô thùng rác, hay nôi nưLc ph” hâm đêm trưLc, sáng
hôm sau vô nêm l6i thây man san, ph:i đo bh. H\ ghét chJ, h\ làm vay đó.”
Anh B:o, trong vai trò chJ nhân nhà hàng, phân tích, “Ðe tránh cho nhân viên
đWng ‘long hành,’ chJ cân ph:i thư@ng xuyên có mat, hay tuy không có mat van
bang cách này cách khác nam đư(c tình hình nhà hàng. Khi phát hien ra nhân
viên ăn cap tiên tip hoac đo bh đô là ph:i đuoi liên, nêu không se thành chuyen
lLn.”
Biêt là cân có sA tôn tr\ng, tg tê vLi nhau, nhưng mot sô chJ nhà hàng tiem ăn
van quen gi5 tap quán “chJ nhân” thích “chgi” ngư@i khác như khi còn ” Viet Nam.
“Ðôi khi mình không là n6n nhân nhưng nghe cách chJ chgi ngư@i khác mà thây
xúc ph6m vô cùng,” Khoa ke.
Nh5ng điêu mà Khoa cho rang xúc ph6m là khi chJ b:o nhân viên là “đô óc bò,”
hay “mày ăn gì mà ngu vay.” Nhiêu ngư@i không ch_u đư(c thì nghU viec, nhưng có
nh5ng sinh viên ph:i tA xoay s” vLi cuoc sông, hoac nh5ng ngư@i s( không kiêm
đư(c viec làm co can răng mà ch_u đAng.
“B:n chât ngư@i Viet mình là ‘dĩ hòa vi quí.’ Nhiêu khi b_ chJ ‘chgi’ té tát hoac nói
nh5ng điêu miet th_ xúc ph6m thì ngư@i làm cũng nín nh_n, hoac bât quá thì chgi
l6i rôi nghU viec. Cho không có kieu kéo nhau thưa kien vì nh5ng l@i le m6t sát,
miet th_ cJa chJ.” Mot ngư@i làm nhà hàng không nêu tên, nhan xét.
Ngư@i này ke l6i câu chuyen mà ông tWng chong kiên: mot anh ngư@i Mexico làm
viec cho mot nhà hàng Viet Nam. Anh ta đi làm tre, ngư@i chJ nhìn anh ta vLi ánh
nhìn “khó ch_u” và lây tay chU vào đông hô vLi ý “anh đi tre.” ChU vay, anh chàng
Mexico đi thưa vLi lý do: nêu tôi có đi làm tre, ông có quyên đuoi, nhưng hành
4
đong cJa ông làm tôi c:m thây b_ xúc ph6m, :nh hư”ng đên tâm lý khiên tôi
không the làm viec đư(c n5a. Cuôi cùng, sau khi đan đo cân nhac nhà hàng ph:i
“nói chuyen ph:i quây” và chi cho anh ta vài ngàn đe khhi ph:i tôn thêm tiên luat
sư ra tòa, rôi l6i biêt đâu kéo theo hàng dây nào là chuyen làm quá tám tiêng mot
ngày không có tr: “over time,” nào là không có nh5ng kho:n b:o hiem bat buoc
cho nhân viên…
Bên c6nh đó, nhiêu chJ rât thông c:m và biêt làm nhân viên c:m thây hài lòng
như khi thây nhân viên cAc quá, chJ san sàng đi mua nh5ng món ăn gì đó khác l6
vLi khau v_ cJa tiem mang vê cho nhân viên thư”ng thoc. Hay chJ th ra biêt đat
niêm tin vào nhân viên mình khi không có mat chJ thì m\i viec trong nhà hàng
van co ch6y mot cách nh_p nhàng. Ai cũng c:m thây rât tho:i mái.
“ThAc ra, đa phân chJ đêu khá tg tê vLi nhân viên, nhât là nhân viên làm fulltime,
b”i kiêm đư(c ngư@i làm gan bó và hêt lòng vLi mình không ph:i là de.” Ch_
Thu nói.
Theo ch_ Thu, nêu như sinh viên hay nh5ng ngư@i làm bán th@i gian chU coi viec
làm nhà hàng như công viec t6m b(, “làm cho có,” trong lúc ch@ đ(i nh5ng công
viec phù h(p thì nh5ng ngư@i làm full-time l6i xem nhà hàng như mot nơi gân gũi
và gan bó.
Copyright © 2002 – 2008 by Nguoi Viet, Inc.
Nguoi-viet Online
http://www.nguoi-viet.com/
5
Nghề làm nhà hàng ở Little Saigon (bài 3)
Sunday, May 16, 2010
Khi khách không là thượng đế và người chạy bàn không được tôn trọng
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) – Ông bà Việt Nam xưa nay vẫn thường nói “nghề bán hàng
là nghề làm dâu trăm họ.” Những người làm nghề “chạy bàn” ở Little Saigon như
thể những “nàng dâu” phục vụ cho “gia đình chồng” với muôn ngàn cung cách
khác nhau. Ðôi khi thật ân cần, dịu ngọt vẫn không chiếm được cảm tình của bà
mẹ chồng khó chịu, đôi lúc mặt ủ mày ê vẫn chẳng hề gì với những cô em chồng
lành tính.
Nếu người làm nhà hàng có nhiều nỗi niềm chông gai với những “thượng đế” của
mình, thì ngược lại, thực khách cũng lắm phen “nghẹn họng” bởi thái độ những
người phục vụ.
Khách “đòi hỏi nhiều, không tôn trọng” nhân viên
Ða số nhà hàng quanh vùng Little Saigon đều là nhà hàng Việt Nam, và trên 90
phần trăm khách cũng là người Việt Nam.
Ðặt một đĩa thức ăn xuống bàn tưởng chừng rất đơn giản nhưng qua đó lại thể hiện
một thái độ tôn trọng hay không tôn trọng đối với thực khách. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Chị Kiều, một người làm nhà hàng full-time, chia sẻ, “Khách thì trăm ngàn loại
khách. Có điều nói thiệt, không phải mình chê bai chỉ trích nhưng đôi khi 10 người
Trang 1/5
khách Mỹ phục vụ vẫn sướng hơn vài thực khách Việt Nam. Khi cần thêm thứ gì,
họ nói một lần, nêu ra cả một danh sách, rồi mình mang ra một lần một. Còn
khách Việt Nam mình nhiều người đòi hỏi khủng khiếp luôn, đem thêm chén đòi
thêm muỗng, đem muỗng đòi napkin,… mà hiếm khi nghe thấy một câu ‘cám
ơn’.”
Khoa Trần, một sinh viên làm thêm “chân chạy bàn” kể, “Những ngày đông, chạy
bàn 12 tiếng thì ‘phê’ lắm. Khi khách đòi thêm cái này cái kia, mình vẫn vui vẻ
mang đến cho khách, nhưng có khi đến lần thứ ba, tôi mang đến và nói nhỏ, ‘Mấy
anh chị xem cần thêm gì nữa thì nói em đem ra một lượt luôn.’ Thế là họ nói,
‘Thích làm vậy đó được không?’”
“Rồi sao?” tôi hỏi.
“Thì mình nhịn đi chứ sao.” Khoa cười trả lời. “Khách là thượng đế mà. Mình không
cảm thấy tủi nhục gì chuyện đi bưng bê làm ở nhà hàng, mình chỉ mong sao có
một sự tôn trọng, đối đãi lịch sự với nhau là được.”
Chị Kiều kể thêm có trường hợp khách đến ăn, rồi thay tã cho con ngay bàn ăn,
xong vứt luôn cái tã lên bàn. Hoặc làm rớt bể chén, đổ nước ra nhà cũng không có
lấy một lời xin lỗi. Chị Kiều ngao ngán nói, “Có gia đình ăn xong bày cái bàn như
rải mạ vậy.”
Một trong những điều thực khách cho rằng một số nhà hàng ở Little Saigon kém vệ sinh là việc sử dụng
những chiếc xe thu dọn chén đĩa
trong lúc thực khách chung quanh đang thưởng thức món ăn. (Hình: Dương Ðông/Người Việt)
Chị Kiều đồng ý là khách có quyền đòi hỏi và nhân viên phải vui vẻ làm, không
được nhăn mặt, bởi “đó là nghề của mình.” Tuy nhiên, “giá như họ hiểu giùm một
chút, đừng sai như kiểu chạy vặt thì đỡ hơn cho những người chạy bàn rất nhiều,”
chị Kiều tâm sự.
Chị Thu, một người làm nhà hàng full-time đã 4 năm, cũng cho rằng phải nhìn
thấy đó là công việc của mình, khách có đòi hỏi đến mức nào mình cũng phải chịu.
Kinh nghiệm của chị Thu là “phải học sở thích của khách thì sẽ thấy mọi việc dễ
dàng.”
Khách đến ăn quen, biết khách đó hay đòi thứ gì, thì chị Thu cứ vậy mà chu toàn
ngay từ đầu. “Ông này ăn phở là phải có thêm chén nước béo, hành giấm, 3
miếng chanh. Mình cứ vậy mang ra sẵn. Ổng khỏi phải hỏi, mình khỏi phải đi. Bà
thím kia ăn mì xào giòn lúc nào cũng cần thêm cái chén để gắp ăn từ từ thì mình
cứ mang ra sẵn.”
Có điều, “không hiểu sao nhiều thực khách Việt Nam có thái độ rất xem thường
người phục vụ.” Nhiều nhân viên nhà hàng nêu cùng nhận xét.
Trang 2/5
Giả sử khi thức ăn được mang ra, bao giờ những khách ngoại quốc cũng nói
“thank you.” Nhưng chữ “cám ơn” đó ít khi thấy khách Việt Nam nói.
“Không hiếm những khách đến ăn xong, ra quầy tính tiền, miệng ngậm tăm, hay
xỉa răng loẹt xoẹt xong rồi vứt cây tăm luôn trên quầy tính tiền sau khi vứt những
đồng bạc cắc ra bàn, như một kiểu bố thí.” Chị Thu chia sẻ những kinh nghiệm mà
mình từng gặp.
Một người làm nhà hàng không nêu tên thì lại sợ nhất cảnh những vị khách sau
khi ăn, uống ngụm nước, súc miệng phun vô ngay cái tô vừa ăn. “Thật là kinh
khủng,” chị kêu lên. “Cũng may là những chuyện đó không nhiều.”
Ðương nhiên, bên cạnh nhiều khách “hành” thì cũng có nhiều thực khách “rất dễ
thương, dễ chịu.”
Theo những người làm nhà hàng thì khách dễ chịu tức là khi tiệm quá đông, thời
gian chờ lâu, họ vẫn vui vẻ, chứ không “quạu quọ,” “la làng,” hay khi mang thức
ăn “to-go” ra thì họ bảo “Lâu quá, không lấy nữa, và bỏ về.”
“Thực tình thì ai cũng muốn làm cho khách hài lòng, vui vẻ khi đến ăn để còn
quay lại. Ðâu ai muốn chuốc lấy sự bực bội, nhưng đôi lúc có những chuyện không
như ý muốn thì cũng cần có sự cảm thông. Nghề làm dâu trăm họ mà, khó mà
được lòng hết thảy,” một nhân viên nhà hàng giải thích.
“Có những người khách đến ăn và mang theo cả những thứ họ trồng ở nhà như ổi,
cam, hồng đến cho mình nữa. Họ xem mình như người nhà. Có ông bác mỗi khi
đến tiệm lại mua báo đến cho đọc ‘để mở mang kiến thức.’” cô Thu kể.
“Có những khách ăn lâu đã quen tính quen nết, khi rảnh rỗi mình cũng chuyện trò
với họ, hỏi thăm gia đình. Ðôi khi mình nghỉ vài ngày, họ đến không thấy cũng hỏi
thăm. Rất thân tình,” một người làm nhà hàng lâu năm chia sẻ.
Hay có những khách cũng rất “nice” khi những câu chào, lời cám ơn người “chạy
bàn” dường như đã nằm sẵn trên miệng họ. “Mình cảm giác như họ biết tôn trọng
công việc của mình, nên mình thấy rất thoải mái để phục vụ cho họ.” Chị Kiều nói.
Nhân viên nhà hàng “thiếu nụ cười, thiếu tôn trọng khách, thiếu tính
chuyên nghiệp”
Khi thực hiện loạt bài viết về “Nghề làm nhà hàng ở Little Saigon,” 761 độc giả
nhật báo Người Việt đã tham gia cuộc khảo sát nhỏ trên website Người Việt Online
với một câu hỏi duy nhất “Tôi thấy nhà hàng, quán ăn Việt Nam ở Little Saigon
(Quận Cam) tiếp đãi khách:” Kết quả như sau:
Xuất sắc: 17 (2.23%)
Tốt: 87 (11.43%)
Vừa: 284 (37.32%)
Kém: 373 (49.02%)
Ðồng thời, có khoảng 70 nhận xét đã được độc giả nêu ra. Mặc dù có khoảng
13.7% độc giả bình chọn thái độ của nhân viên nhà hàng là “xuất sắc” và “tốt,”
nhưng trong số các ý kiến đóng góp, chỉ có duy nhất một ý kiến ghi “very good,”
còn lại là những lời góp ý về những điều “chưa được, chưa tốt” ở nhà hàng Việt
Nam.
Do cuộc khảo sát không yêu cầu để lại tên hoặc phương cách liên lạc, nên chúng
tôi không có điều kiện trao đổi thêm với độc giả về những ý kiến được ghi lại trên
website Người Việt. Chúng tôi chỉ xin trích đăng một số nhận xét sau đây với mục
Trang 3/5
đích tham khảo.
Ða phần các ý kiến đều cho rằng nhân viên nhà hàng “thiếu nụ cười,” “thiếu lịch
sự với khách,” “thiếu quan tâm đến khách,” “thiếu tôn trọng khách,” “thiếu quan
tâm đến nhà vệ sinh,”… nhìn chung là “thiếu tính chuyên nghiệp.”
Nhiều độc giả đã có những đóng góp ý kiến không nhằm chê bai chỉ trích mà chỉ
muốn nhà hàng ngày càng phục vụ tốt hơn.
“Tiếp viên nên cho khách 5 phút để chọn món ăn rồi hãy đến lấy order. Khi khách
hàng ăn thì nên bước đến hỏi xem có cần thêm gì.”
“Nhiều nhà hàng còn kém vệ sinh, nhất là khi nhân viên phục vụ đẩy xe dọn bàn
sau khi ăn.”
“Không có khách thì nồng hậu, khi có khách rồi thì không cần khách, coi khách
như đi ăn xin.”
“Hàng năm tôi qua Cali chơi có vào mấy tiệm ăn, họ tiếp đãi khách phương xa
không chu đáo cho lắm.”
“Phần lớn họ không ân cần với khách. Họ đối đãi với khách như không cần khách
quay lại. Cứ thử nghĩ, nếu nhà hàng muốn có một thực khách thường xuyên như
tôi, bởi vợ tôi không có nấu ăn, thì chỉ cần làm 3 việc: lau bàn ăn và nhà vệ sinh
sạch sẽ, ân cần với khách và thức ăn vừa ngon. Chỉ vậy là nhà hàng có thể tồn tại
và làm hài lòng khách. Chúc may mắn.”
“Buôn bán kiếm tiền mà nhiều chỗ tỏ ra bất cần khách. Lúc nào cũng giữ vẻ mặt
khinh khỉnh để nói chuyện với khách. Nếu không cần khách thì mở ra mua bán để
làm gì?”
“Hình như người Việt Nam, nói một cách tổng quát, chưa có đủ trình độ làm những
ngành về ‘service.’ Có lẽ vì đa số cơ sở thương mại của họ chỉ nhắm vô cộng đồng
Việt Nam thôi, mà người Việt Nam mình thì rất dễ tánh, ‘sao cũng được, miễn là
ngon, hay rẻ là được rồi.’ Nếu làm ăn được, khách vô tấp nập thì tội gì mà phải lo
chi đến ba cái vụ gọi là ‘good service’ làm khỉ mốc gì? Bởi vậy mà người ngoại
quốc họ không chịu được khi họ muốn thử vô một tiệm Việt Nam cho biết một lần
để rồi bye-bye. Muốn cho họ khá hơn thì chỉ có một cách là không bao giờ trở lại
những quán dơ và tiếp đãi cà chớn.”
Bên cạnh đó, nhiều độc giả cho rằng sở dĩ nhân viên nhà hàng phục vụ không tốt
là vì “tiền lương thấp” và cảm thấy không hài lòng ở khoảng tiền “tip” được nhận.
“Khó nói là trách ‘bồi bàn’ vì đồng lương trả rẻ, chỉ có khách là nạn nhân của ‘bồi’
vì lương bổng chủ trả và tiền tip bị chia cho nhiều khâu.”
“Không có trọng khách mà muốn tip nhiều, nhìn chán lắm.”
“Vì bị chủ lấy hết tiền tip nên việc phục vụ không như ý khách hàng.”
“Chủ không làm gương cho nhân viên mà còn lấy tiền tip để trả lương.”
“Ðừng có ‘expect’ đi ăn nhà hàng Việt Nam mà được bồi bàn đối xử lịch sự. Có
một vài lý do: lương của ‘bồi bàn’ rất rẻ; họ không có bảo hiểm; và làm ở nhà
hàng Việt Nam cực hơn làm nhà hàng Mỹ tại vì thức ăn Việt Nam đa dạng, phức
tạp hơn thức ăn Mỹ thiệt là nhiều. Cứ nghĩ đến món thịt bò bảy món: một cái bàn
ăn mà có tới 7 món nước uống, nước mắm, mắm nêm, rau sống, thật là phức tạp.
Mà món này là chỉ có một món, chưa kể đến kêu món cá nước da giòn rồi tôm
nướng vỉ. ‘Compare’ với thức ăn Mỹ thì chỉ có một cái dĩa thôi, thức ăn trình bày
đẹp mà ăn dở ẹt hà. Mà nếu mình đi ăn mình phải trả giá mắc hơn nhà hàng Việt
Trang 4/5
Nam, mà lại không đúng khẩu vị của người Việt mình. Do đó khách hàng nên ‘tip’
họ khá hơn hoặc đúng với ‘rule’ bên Mỹ này: ban ngày 10%, tối 15% để ủng hộ
‘bồi bàn.’ Lương của họ rẻ lắm mà lại cực nữa.”
Tuy rằng vẫn còn khá nhiều điều ‘bằng mặt mà không bằng lòng” giữa người phục
vụ nhà hàng và thực khách, nhưng nhà hàng quán ăn cửa tiệm quanh Little
Saigon vẫn mở, người làm nhà hàng Little Saigon vẫn miệt mài với công việc của
mình, và thực khách đến Little Saigon vẫn không thể cưỡng lại bước chân đưa
mình đến bất kỳ một nhà hàng Việt Nam nào đó quanh đây.
(Kỳ tới: Tiền tip ở nhà hàng: “Thật khó nói!”)
Copyright © 2002 – 2008 by Nguoi Viet, Inc.
Nguoi-viet Online
http://www.nguoi-viet.com/
Trang 5/5

http://www.viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm

Trong khi đó, ch: L.P cũng cho rang ch: đe tip trong khong 10%: “Hai v> chông đi
ăn phU thưng đe l[i 2 hay 3 đông, bUi vì cái ‘bill’ đó ít mà, có khi tong cong chưa
đên $20 mà. Còn đi đông thì tui nham khong 10%, vOi nhng nơi ph,c v, tôt, có
the đe 15%.”
Có điêu, c ch: L. lan ch: X. đêu thVa nhan rang thưng khi đi ăn chung vOi các
con c.a h? thì tiên tip bao gi cũng đe l[i nhiêu hơn là khi “ch_ hai v> chông đi ăn
vOi nhau.” Lý do rât đơn gin là vì con h? là nhng ngưi trt sinh ra, lOn lên U
đây, “T,i nó cS tính 15% tiên ‘tip’ trên cái ‘bill’ và yêu câu bô ms phi đe như vay
trU lên chS không ch:u cho bô ms đe ít hơn. Mà bô ms thì luôn nghe li con!”
Ðiêu này cùng nhan xét c.a ch: Thu, ch: Kiêu và nhng nhân viên làm nhà hàng
khác, “Nhng khách trt thưng ‘tip’ nhiêu hơn là nhng ngưi trung niên.”
Hưng Lê cũng cho rang, “Các cô các bác lOn tuoi thưng chat che hơn vê tiên b[c
so vOi nhng ngưi trt. Có le h? đã tri qua thi khôn khó và cũng chưa hoàn toàn
quen vOi văn hóa ‘tip’.”
Nh’ng lý do khác vê chuyen “tip“
Bên c[nh đó, mot sô thhc khách Viet Nam l[i có mot quan niem khác vê vân đê đe
tiên “tip.”
Theo h?, “tip” là tiên “cho thêm” nên muôn cho bao nhiêu là quyên c.a h?, không
cho cũng chang sao. Thành ra có nhiêu ngưi “cho lây có.”
Lap luan c.a nhng ngưi này là “h? đã tính tiên hêt rôi, mà có đe ch. cũng lây,”
hoac “hôi đó tui cũng đe ‘tip’ đàng hoàng nhưng có lân mây ngưi d?n bàn nói
‘đVng có đe, bUi U đây tip ch. lây.’ Thê là tV đó tui ch_ đe lây le thôi.”
Mang điêu này h<i mot nhân viên làm nhà hàng lâu năm, ngưi này nhan xét: “Tôi
không đông ý vOi cách suy nghĩ hay cách cư x| như vay c.a ngưi làm nhà hàng.
VOi nhng nhà hàng mà ch. lây ‘tip,’ thì ch. nói ngay tV đâu, ch. ch_ tr lương, và
lương đó thưng cao hơn nhng nơi đư>c chia ‘tip.’ Thhc ra, ngưi ch. đã ph<ng
đoán tiên ‘tip,’ và h? đã tính luôn sô tiên đó vào lương c.a nhân viên. Cho nên,
khi nhân viên nói vOi khách là ‘không nên đe ‘tip’ vì ch. lây hêt’ thì là không công
bang, không đúng.”
Ngưi viêt bài cũng đã tVng cm thây “áy náy” khi đư>c mi đi ăn trưa cùng mot
nhóm sáu ngưi t[i mot nhà hàng khá tươm tât U Little Saigon. Sau khi tính tiên,
ngưi mi đe l[i trên bàn $2 cùng vài đông coin. Vì là khách mi, nên ngưi viêt
không the mU mieng nói b[n đe thêm tiên, hoac mU ví đe thêm tiên “tip.” Ch_ còn
biêt cách, sau này b[n có mi thì cS nói trưOc: “Ðe tui tr tip nha.”
Mot thhc khách tên H. l[i nêu suy nghĩ: “Mình U đây cái gì cũng đây đ. hêt rôi.
Thay vì đe tip $4, $5 đông, thì bây gi mình đe $2 thôi, sô còn l[i cho ngưi
nghèo U Viet Nam thì có ý nghĩa hơn.”
Ch: M.L, mot thhc khách khác cũng có suy nghĩ đó. Ch: cho biêt ch: cũng bOt tiên
“tip” đe dành cho “ngưi nghèo.”
“Vay ngưi nghèo đó là ai? Và cho như thê nào?” Tôi h<i.
“ Viet Nam. Tôi đóng góp cho cách hoi tV thien U nhà th hoac U chùa.” ch: M.L
tr li.
Nhiêu thhc khách l[i cho rang, sU dĩ tiên “tip” h? đe l[i nhà hàng quán ăn Viet
Nam thưng “có vt” ít hơn khi h? đi ăn U nhà hàng My bUi vì, “phi thVa nhan
rang chuyen ‘service’ c.a các nhà hàng, quán ăn quanh Little Saigon không the
nào so sánh đư>c vOi các nhà hàng My. Thái đo niêm nU, ân cân, l:ch sh c.a ngưi
4

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: