Ktetaichinh’s Blog

May 14, 2010

Thủ tướng Võ Văn Kiệt với các chuyên gia tư vấn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:36 pm
Tags:

Yếu tố quan trọng hàng đầu, có thể coi là điều kiện tiên quyết cho việc tập hợp và phát huy trí tuệ của chuyên gia tư vấn; đó là sự tôn trọng và chân thành lắng nghe của người lãnh đạo đối với các chuyên gia. Thái độ đó bắt nguồn từ tâm nguyện một lòng vì nước, vì dân cùng với ý thức gắn bó máu thịt với dân, tin vào dân, học hỏi dân mà anh Sáu Dân đã tôi luyện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, trở thành một tính cách mang đậm tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

  • LTS: “Có những con người đáng quý mà sau mỗi lần gặp gỡ vì công việc, hay đơn giản chỉ là thăm hỏi xã giao, đều để lại trong lòng ta một ấn tượng đẹp đẽ và đằm thắm: Ta cảm thấy tin yêu cuộc đời hơn vì quanh ta còn có những trí tuệ khát khao chân lý và những tấm lòng chứa chan tình nhân ái”- một trí thức đã viết những dòng như vậy về nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Sắp tròn hai năm ngày cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt về chốn vĩnh hằng. Để có thể trả lời phần nào câu hỏi: Vì sao con người đó luôn được trí thức thương và kính, Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết hai kỳ của ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban nghiên cứu Thủ tướng.

Đồng chí Võ Văn Kiệt, người mà chúng tôi thường gọi tên thân thương là anh Sáu Dân, được Quốc hội khóa VIII tại kỳ họp tháng 8 năm 1991 bầu vào cương vị Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng*sau khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng với Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 được Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) thông qua thành nghị quyết (dưới đây gọi tắt là Cương lĩnh 1991Chiến lược 1991).

Đại hội VII đánh dấu một bước phát triển về đường lối, quan điểm đổi mới, đặc biệt là về kinh tế-xã hội, song chưa phải mọi vấn đề về nền kinh tế thị trường đều được giải đáp rõ ràng, đi kịp yêu cầu của cuộc sống. Cương lĩnhChiến lược 1991 thống nhất với nhau về đường lối chung nhưng cũng có quan điểm không giống nhau.

Một ví dụ : Về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh đề ra ” xã hội do nhân dân lao động làm chủ,… con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công“; còn Chiến lược nêu “Xã hội do nhân dân làm chủ,… xóa bỏ áp bức, bất công[1]. Sự khác nhau chỉ ở vài chữ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách, đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế tư nhân cùng với tầng lớp doanh nhân mà quan điểm cũ coi là có bóc lột nên không trong hàng ngũ nhân dân lao động. Về vấn đề này, đến Đại hội X năm 2006 nghĩa là sau 15 năm, mới đi tới quan điểm thống nhất như đã nêu trong Chiến lược 1991.

“Yêu nước, đoàn kết, hoà hợp dân tộc là chung lòng, chung sức phấn đấu theo mục tiêu đó, vượt lên trên những sự khác biệt, kể cả sự khác nhau về chính kiến”- ông Sáu Dân.

Tuy không trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng Chiến lược, nhưng anh Sáu Dân đã góp tiếng nói cùng anh Đỗ Mười (khi đó là Chủ tịch Hội Đồng bộ trưởng, Trưởng Tiểu ban chỉ đạo xây dựng Chiến lược) tích cực bảo vệ trước Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương những quan điểm và chính sách lớn đề ra trong Chiến lược, kể cả một số quan điểm không giống với Cương lĩnh. Khi trong Bộ Chính trị có ý kiến cho rằng đã có Cương lĩnh thì không cần đưa thêm Chiến lược ra Đại hội vì thập kỷ 90 chỉ là một thời đoạn trong quá trình thực hiện Cương lĩnh, các anh đã bảo vệ được việc trình Chiến lược ra Đại hội VII thông qua thành một nghị quyết riêng.

Người viết bài này tham gia xây dựng Chiến lược với cương vị Tổ phó Tổ biên tập[1], trực tiếp soạn thảo văn kiện. Sau Đại hội VII, tôi làm trợ lý cho anh Phan Văn Khải (khi ấy là ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng), đồng thời thực hiện từng công việc như một chuyên gia tư vấn theo yêu cầu của anh Sáu Dân.

Ấn tượng ghi sâu trong tâm trí tôi là về tư duy và cách sử dụng chuyên gia của anh Sáu Dân qua một việc được anh giao. Đó là vào dịp Tết Quý Dậu (đầu năm 1993), lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ tổ chức gặp mặt bà con Việt Kiều về quê ăn Tết; anh giao cho tôi chuẩn bị bài phát biểu của Thủ tướng tại cuộc họp. Tôi liền hỏi: Bà con yêu nước nhưng không thích chủ nghĩa xã hội, ta có đoàn kết không? Anh Sáu Dân nói ngay: đoàn kết chớ sao không, mà phải đoàn kết thật lòng. Anh dẫn giải thêm: Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đề ra mới ở dạng thiết kế, chưa được xây dựng trong thực tế. Còn chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu thì đã sụp đổ vì có nhiều khuyết tật. Nếu đòi hỏi mọi người, nhất là kiều bào phải yêu chủ nghĩa xã hội thì rất ít người đồng tình với ta.

Câu trả lời tức thời của anh Sáu thể hiện một cách nhìn không né tránh sự thật và cho thấy rõ đây là điều anh đã suy nghĩ từ lâu, mặc dù khi đó không ít người, kể cả một số cán bộ lãnh đạo, vẫn cho rằng yêu nước thì phải yêu chủ nghĩa xã hội. Vào thời điểm ấy, có dịp được anh Tô (tên gọi thân mật anh Phạm Văn Đồng) gặp riêng, tôi cũng nêu câu hỏi này và được anh trả lời giống như anh Sáu Dân. Tôi rất đồng tình và phấn khởi thể hiện ý này trong bài phát biểu của anh Sáu Dân nhưng cần phải diễn đạt tinh tế hơn. Anh rất cân nhắc và tán thành nói như sau:

Ý thức dân tộc và lòng yêu nước đoàn kết, tập hợp mọi người Việt Nam hướng vào mục tiêu đáp ứng nguyện vọng thiết tha của toàn thể nhân dân, là” thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội do nhân dân làm chủ, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”. Mục tiêu đó kết hợp hài hoà lợi ích của mỗi người với lợi ích chung của cả dân tộc. Yêu nước, đoàn kết, hoà hợp dân tộc là chung lòng, chung sức phấn đấu theo mục tiêu đó, vượt lên trên những sự khác biệt, kể cả sự khác nhau về chính kiến.

Từ kinh nghiệm làm việc với môt số chuyên gia trước đây, Thủ tướng đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính trực tiếp giúp Thủ tướng trong việc hoạch định chương trình tiến hành cải cách từng thời gian, kiến nghị các chủ trương, chính sách theo tinh thần đổi mới, tham gia soạn thảo hoặc giám định và hoàn chỉnh các văn bản thể chế mang nội dung đổi mới chính sách.

Trong cuộc họp mặt đông đảo bà con kiều bào tại dinh Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh, bài phát biểu của Thủ tướng được cử toạ vỗ tay hoan nghênh nhiều đoạn, nhiệt liệt nhất là đoạn nêu trên và câu kết luận: “Nhiều người ví tình hình Việt Nam hiện nay như quang cảnh tranh tối, tranh sáng. Điều đó không sai, nhưng phải bổ sung thêm: đây là tranh tối, tranh sáng lúc rạng đông. Con gà Quý Dậu cất tiếng gáy báo hiệu rạng đông, báo hiệu vận hội mới của đất nước, tương lai phát triển rạng rỡ của nước Việt Nam ta, thúc giục tất cả chúng ta tranh thủ mọi khả năng và cơ hội mới đưa đất nước tiến nhanh[1].

Để biến mong muốn đó thành hiện thực, với cương vị người đứng đầu Chính phủ, anh Sáu Dân hết sức quan tâm đưa các quan điểm đổi mới trong nghị quyết Đại hội VII vào cuộc sống. Một mặt phải cụ thể hoá các quan điểm đó thành thể chế, chính sách và tổ chức thực hiện nghiêm.

Mặt khác, qua cuộc sống và thực tiễn hoạt động, đường lối, quan điểm đổi mới phải không ngừng được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Những điều đó đặt ra yêu cầu cao về trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý phù hợp với kinh tế thị trường, trong khi kiến thức và kinh nghiệm của bộ máy công quyền còn bất cập. Đáng quan tâm hơn nữa là bộ máy lại có nhiều khuyết tật, đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng, bệnh dối trá, chạy theo thành tích tiếp diễn nghiêm trọng.

Trong tình hình đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thấy cần có hình thức tập hợp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, đặc biệt là những người không ở trong bộ máy công quyền, có tiếng nói độc lập, để đóng góp ý kiến với Thủ tướng và Chính phủ. Từ kinh nghiệm làm việc với môt số chuyên gia trước đây (như với “nhóm Thứ sáu”[2]), Thủ tướng đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và cải cách hành chính (gọi tắt là Tổ tư vấn cải cách)[3] trực tiếp giúp Thủ tướng trong việc hoạch định chương trình tiến hành cải cách từng thời gian, kiến nghị các chủ trương, chính sách theo tinh thần đổi mới, tham gia soạn thảo hoặc giám định và hoàn chỉnh các văn bản thể chế mang nội dung đổi mới chính sách.

Nhằm tạo vị thế và điều kiện hoạt động thuận lợi cho Tổ tư vấn cải cách trong buổi đầu thành lập, Thủ tướng quyết định anh Lê Xuân Trinh, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ kiêm nhiệm Tổ trưởng. Tôi được cử làm Tổ phó, cùng với 8 chuyên gia về kinh tế, pháp luật hình thành NHÓM THƯỜNG TRỰC chuyên lo công việc nghiên cứu, tư vấn của Tổ. Đó là các anh: Lê Đăng Doanh, Trần Việt Phương, Đào Xuân Sâm, Nguyễn Văn Thảo, Lê Đức Thúy, Đào Công Tiến, Nguyễn Trung, Vũ Quốc Tuấn. Anh Sáu chủ trương mời một số cán bộ trong các Ban, trường của Trung ương Đảng và trợ lý về kinh tế của Tổng bí thư tham gia để phối hợp và đảm bảo sự liên thông trong nghiên cứu giữa Đảng và Chính phủ.

NHÓM KHÔNG THƯỜNG TRỰC LÀ CÁC CHUYÊN GIA TƯ VẤN do Thủ tướng trực tiếp gửi thư mời từng nguời:  ở phía Bắc có mấy cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu là các anh: Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Văn Trân, Hoàng Quy và một số chuyên gia ở các ban của Đảng, các viện, trường đại học về kinh tế, pháp luật là các anh: Vũ Cao Đàm, Đặng Đức Đạm, Nguyễn Văn Đặng, Ngô Đình Giao, Nguyễn Gia Hảo, Phan Thế Hùng, Ngô Tuấn Kiệp, Tương Lai, Phạm Quang Lê, Võ Đại Lược, Nguyễn Văn Nam, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Thái Nguyên, Bùi Xuân Nhật, Lê Du Phong, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Minh Tâm, Lê Sĩ Thiệp, Lê Đình Thu, Đào Thế Tuấn, Vũ Quang Tuyến, Đặng Thọ Xương, Lương Trọng Yêm.

Ở phía Nam, những người được mời là một số trí thức ở trường, viện hoặc hành nghề tự do; trong đó, một số đã làm việc trong bộ máy của chế độ trước, có người từng giũ chức vụ cao, một số đã tham gia “Nhóm Thứ sáu” : chị Nguyễn Phước Đại, chị Trương Thị Hòa, các anh Trịnh Đình Ban, Trần Đình Bút, Nguyễn Đức Chính, Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Nguyễn Tấn Lập, Trần Du Lịch,  Đặng Hữu Ngọc,  Nguyễn Xuân Oánh, Chu Phạm Ngọc Sơn, Huỳnh Bửu Sơn, Lê Văn Tư, Trần Anh Tuấn, Trần Bá Tước… Có 3 chuyên gia kinh tế đang sống và làm việc ở nước ngoài là anh Vũ Quang Việt ở Mỹ, anh Trần Văn Thọ ở Nhật, anh Trần Quốc Hùng ở Đức. Các thành viên trong nước của Tổ tư vấn cải cách đều tham gia vào các nhóm nghiên cứu chuyên đề.

Rất đông CỘNG TÁC VIÊN CỦA TỔ là chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở trong nước và những người trong giới kinh doanh, giới báo chí và trong trí thức người Việt ở nước ngoài. Tổ cũng thiết lập được quan hệ quốc tế rộng rãi, nghiêm túc, có hiệu qủa tốt, góp phần làm cho các tổ chức quốc tế và nhiều nước thêm hiểu biết và tán thành đường lối, chủ trương đổi mới của nước ta, tranh thủ được những ý kiến có giá trị của nhiều chuyên gia quốc tế, tạo được sự tín nhiệm và quan hệ hợp tác tin cậy với các tổ chức quốc tế và đại diện của một số nước tại Việt Nam.

Còn tiếp….


* Đến Hiến pháp năm 1992 gọi là Thủ tướng Chính phủ

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật Hà Nội 1991. Văn bản Cương lĩnh trang 8-9, văn bản Chiến lược trang 8

[2] Tổ trưởng là anh Phan Văn Khải, khi đó là ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, Phó Trưởng Tiểu ban chỉ đạo xây dựng Chiến lược

[3] Hai đoạn in nghiêng trích từ bài phát biểu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại cuộc gặp kiều bào từ nước ngoài về VN trong dịp Tết Quý Dậu 1993, đăng trong Kỷ yếu của Ủy ban về người VN ở nước ngoài. Mục tiêu nêu trong đoạn trên viết theo Chiến lược 1991

[4] Quyết định số 494/TTg ngày 5-10-1993

Ai cũng biết anh Sáu Dân là người quyết đoán, song khi làm việc với tập thể hoặc cá nhân các chuyên gia tư vấn, anh không áp đặt ý kiến trước, không cắt ngang hoặc bỏ ngoài tai các ý kiến phản biện; ngay cả khi không đồng tình một nhận xét hoặc kiến nghị nào đó, anh không bao giờ cao giọng mà nhẹ nhàng phân tích và chấp nhận việc bảo lưu ý kiến của người đối thoại.

>> Phần 1

Sau 3 năm hoạt động, năm 1996 Tổ tư vấn cải cách được điều chỉnh về tổ chức thành Tổ nghiên cứu đổi mới kinh tế, xã hội và hành chính (dưới đây gọi tắt là Tổ nghiên cứu đổi mới).

Ý nghĩa chính của sự thay đổi là thu gọn tổ chức cho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Số chuyên gia tư vấn được Thủ tướng quyết định tham gia nhóm thường trực và mời làm thành viên của Tổ giảm nhiều (tổng số còn 21 người) trong đó có người mới được bổ sung, lúc đầu là chị Phạm Chi Lan, anh Nguyễn Thiệu, sau ít lâu là các anh Nguyễn Ký, Nguyễn Văn Thanh.

Những chuyên gia trước đây trong Tổ Tư vấn cải cách nhưng không có điều kiện tham gia đều đặn hoạt động nghiên cứu – tư vấn thì Tổ mời làm cộng tác viên theo từng chuyên đề nghiên cứu. Tổ phó Tổ tư vấn cải cách Trần Đức Nguyên được Thủ tướng cử làm Tổ trưởng Tổ nghiên cứu đổi mới.

Tuy số thành viên ít hơn, nhưng nhiệm vụ của Tổ không giảm bớt mà còn được giao thêm việc biên tập các văn kiện theo yêu cầu của Thủ tướng, chủ yếu là các báo cáo, đề án do Thủ tướng trình bày trước Quốc hội, Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị.

Suốt thời gian này chúng tôi được làm việc đều đặn với anh Sáu đến cuối năm 1997. Sang năm 1998, tổ chức này được Thủ tướng Phan Văn Khải nâng cấp thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng[1]. Tổ trưởng Tổ nghiên cứu đổi mới Trần Đức Nguyên được cử làm Trưởng Ban từ đầu cho đến khi nghỉ hưu (đầu năm 2003) nhưng vẫn được Thủ tướng mời tiếp tục làm chuyên gia tư vấn; người được Thủ tướng cử làm Trưởng ban kế tiếp là nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Trần Xuân Giá. Cuối tháng 7-2006, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ mới, Ban Nghiên cứu nhận được quyết định giải thể do Thủ tướng ký.

Ai cũng biết anh Sáu Dân là người quyết đoán, song khi làm việc với tập thể hoặc cá nhân các chuyên gia tư vấn, anh không áp đặt ý kiến trước, không cắt ngang hoặc bỏ ngoài tai các ý kiến phản biện; ngay cả khi không đồng tình một nhận xét hoặc kiến nghị nào đó, anh không bao giờ cao giọng mà nhẹ nhàng phân tích và chấp nhận việc bảo lưu ý kiến của người đối thoại.. Ảnh VNN.

14 năm tồn tại và phát triển, trong đó mấy năm đầu được Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt nền móng và tạo nếp làm việc, những năm sau được Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp tục phát huy và nâng cấp,  có thể rút ra mấy điều về tổ chức và hoạt động của các chuyên gia tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ:

Với việc thành lập Tổ tư vấn cải cách, các chuyên gia tư vấn giúp Thủ tướng được tập hợp thành tổ chức, có nơi làm việc và quy chế hoạt động rõ ràng. Qua mấy lần thay đổi hình thức tổ chức, cơ quan tư vấn của Thủ tướng vẫn giữ cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và linh hoạt; có nhóm chuyên gia thường trực[2]; có các chuyên gia tư vấn là thành viên các nhóm nghiên cứu chuyên đề; có các cộng tác viên thường xuyên từ các cơ quan, viện nghiên cứu khác và nhiều cộng tác viên được mời theo chủ đề nghiên cứu trong từng thời gian. Tất cả được hỏi ý kiến bằng nhiều cách về từng vấn đề thuộc phạm vi hiểu biết, thông thạo chuyên nghiệp của từng nhóm người hoặc từng người

Các thành viên được Thủ tướng lựa chọn từ những người đã có đóng góp ít nhiều vào quá trình hình thành quan điểm, chính sách đổi mới như góp phần xây dựng những quan điểm mở đầu đường lối đổi mới chuẩn bị cho Đại hội VI của Đảng, tham gia biên tập văn kiện Đại hội VI và nhiều nghị quyết mang tinh thần đổi mới của các kỳ hội nghị Trung ương khoá VI, tham gia xây dựng phương án cải cách giá-lương-tiền trong những năm 1986-1990, hoặc trực tiếp soạn thảo Chiến lược 1991 v.v… Chuyên gia tư vấn hoặc cộng tác viên của tổ thể hiện rõ tư duy đổi mới trong công tác nghiên cứu và qua các cuộc hội thảo, luôn đi tìm cái mới trong cuộc sống, nung nấu những ý tưởng cải cách sâu rộng hơn, hết lòng vì công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

Hầu hết các thành viên của tổ chức tư vấn đều chuyên làm công tác nghiên cứu, không giữ chức quyền trong bộ máy hành chính nhà nước, một số đã về hưu. Anh em thường nói vui là thực hiện chế độ “5 không”: không biên chế, không lương, không chức vụ, không có cấp trên cấp dưới và quan trọng nhất là không bị ràng buộc, hạn chế gì khi góp ý kiến với Thủ tướng.

Do không nắm quyền lực, không vướng bận về địa vị, quyền lợi, không lo “giữ ghế” nên các thành viên trong tổ chức tư vấn làm việc với tinh thần khách quan, thực sự cầu thị, đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau, cởi mở, thẳng thắn khi thảo luận với nhau cũng như khi báo cáo, kiến nghị với Thủ tướng; đồng thời luôn đề cao tính thiết thực, khiêm tốn, không phô trương hoạt động và đóng góp của mình.

Theo quy chế hoạt động ngay từ ngày đầu thành lập, tổ chức tư vấn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng, không qua trung gian:

Thủ tướng thường xuyên làm việc với các thành viên  thường trực của Tổ, trực tiếp nghe, đọc các báo cáo, kiến nghị, đề ra yêu cầu nghiên cứu;

Hàng năm, Thủ tướng cùng các Phó Thủ tướng có cuộc họp với toàn Tổ, trực tiếp nghe các thành viên nhận xét và kiến nghị về tình hình kinh tế-xã hội và việc tiến hành cải cách kinh tế, cải cách hành chính.

Thủ tướng thường mời thành viên Tổ Tư vấn tham dự các kỳ họp thường kỳ của Hội đồng Chính phủ, các cuộc họp Thường trực Chính phủ mở rộng bàn định một số vấn đề quan trọng về đổi mới chính sách, thể chế.

Với đúng ý nghĩa chuyên gia, các thành viên có thể báo cáo và kiến nghị với Thủ tướng ý kiến riêng của mình, kể cả ý kiến khác với đường lối, chính sách hiện hành, và không nề hà khi có ý kiến trái với Tổ trưởng hoặc Trưởng ban và các thành viên khác.

Tổ rất chú trọng nắm tình hình thực tế qua các báo cáo của các bộ, các địa phương gửi Chính phủ, qua quan hệ tiếp xúc hàng ngày của các thành viên với những người hoạt động ở các giới và qua các cuộc khảo sát ở các địa phương; đồng thời cố gắng tiếp cận với lý luận và kinh nghiệm của thế giới, tiến hành có hiệu quả các cuộc khảo sát ở nước ngoài và xây dựng một trung tâm thông tin tư liệu đáp ứng tốt yêu cầu nghiên cứu.

Các yếu tố nêu trên giúp cho tổ chức tư vấn phát huy được nhiệt tình và trí tuệ của các thành viên, thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu và tư vấn theo ” đặt hàng của Thủ tướng, và một phần rất quan trọng là theo sự chủ động của tổ. Từng thời gian định kỳ hoặc khi cần thiết bất thường tổ có thể nêu lên với Thủ tướng và Chính phủ kiến nghị về những công việc trọng tâm, những khâu đột phá, những chính sách và biện pháp mới mà thực tế cuộc sống đòi hỏi.

Tổ chức tư vấn được giao chủ trì phối hợp với Văn phòng Chính phủ và một số bộ nghiên cứu, biên tập các báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng thường trực trình bày mỗi năm hai lần tại kỳ họp Quốc hội, thể hiện tập trung những nhận định lớn về tình hình kinh tế-xã hội, đề ra những nhiệm vụ, giải pháp, chính sách theo tinh thần đổi mới.

Các báo cáo này cụ thể hoá các quan điểm, chính sách đổi mới trong các nghị quyết của Đảng, các ý tưởng đổi mới của Thủ tướng, đồng thời là một kênh đưa các suy nghĩ, kiến nghị trong quá trình nghiên cứu đổi mới của tổ chức tư vấn để trình Thủ tướng duyệt và chuyển thành chủ trương của Chính phủ. Sau khi Thủ tướng trình bày trước Quốc hội, các chính sách và công việc nêu trong báo cáo được Văn phòng Chính phủ đưa vào chương trình hành động của Chính phủ để tổ chức thực hiện.

Tác dụng tương tự cũng được phát huy qua một số báo cáo, đề án do Thủ tướng trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Quốc hội mà tổ chức tư vấn được giao chủ trì hoặc tham gia việc nghiên cứu, biên tập, như Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 và các kế hoạch 5 năm, văn kiện các kỳ hội nghị Trung ương khoá VII, VIII, IX bàn về kinh tế và về cải cách hành chính, về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở v.v…

Ông Võ Văn Kiệt luôn là điểm tựa cho trí thức phát huy chủ kiến.

Trong việc thể chế hoá các quan điểm, chính sách đổi mới, tổ chức tư vấn có sự đóng góp tích cực bằng việc phản biện, tu chỉnh nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan chức năng soạn thảo, chủ động đề xuất chính sách và trực tiếp tham gia soạn thảo một số văn bản pháp luật quan trọng như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư…

Những khi được Thủ tướng giao giám định đề án của Bộ nào, tỉnh, thành nào trình Chính phủ, thường Tổ cử thành viên đến Bộ, đến tỉnh, thành làm việc hoặc mời những người soạn thảo đề án đến thảo luận tại trụ sở của Tổ, nhiều khi đạt đến thống nhất ý kiến, tạo quan hệ tin cậy lẫn nhau và thân tình giữa tổ với các Bộ, các tỉnh, thành.

Ngoài ra tổ chức tư vấn và các thành viên còn kiến nghị bằng văn bản một số vấn đề cụ thể về chủ trương, chính sách cần được sự quan tâm chỉ đạo của Thủ tướng.

Phần lớn các kiến nghị của tổ chức tư vấn được Thủ tướng chấp thuận, chuyển thành các quyết định hành chính để đi vào cuộc sống; do đó càng nâng cao trách nhiệm của các thành viên trong công tác nghiên cứu, tư vấn.

Cũng có một số việc tổ chức tư vấn làm chưa tốt, như có thời gian dồn tâm sức cho việc phục vụ sự chỉ đạo điều hành cụ thể, trước mắt của Thủ tướng, chưa coi trọng đúng mức việc nghiên cứu, đề xuất những vấn đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài; nặng về hoạch định chính sách mà chưa đi sâu tư vấn về tổ chức thực hiện; việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghiên cứu, biên tập cho những cán bộ trẻ có được đặt ra nhưng thiếu biện pháp hữu hiệu nên kết qủa không đi kịp yêu cầu; chưa khai thác tốt tiềm năng mở rộng quan hệ hợp tác với giới nghiên cứu ở trong và ngoài nước vv…

Nhìn chung lại, với những đóng góp có ý nghĩa trong 14 năm hoạt động, tổ chức tư vấn được Thủ tướng tin cậy và giới nghiên cứu thừa nhận là có vai trò của một nhân tố tích cực trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, vừa góp phần đưa vào cuộc sống các quan điểm, chính sách đổi mới đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng, vừa đề xuất các yêu cầu và chủ trương tiếp tục đẩy mạnh tiến trình đổi mới.

Cách tổ chức gọn nhẹ cùng với quy chế hoạt động có hiệu quả của tổ chức tư vấn cung cấp một số kinh nghiệm tốt cho việc tập hợp và phát huy chất xám trực tiếp giúp cho sự lãnh đạo ở tầm cao. Nhiều lần, một số người đại diện các tổ chức quốc tế (UNDP, WB, IMF), đại diện một số sứ quán nước ngoài tại nước ta, một số chuyên gia quốc tế đã phát biểu ý kiến rằng tổ chức và hoạt động của tổ chuyên gia tư vấn của Thủ tướng Chinh phủ là một sáng kiến rất hay, rất có giá trị của Việt Nam

Yếu tố quan trọng hàng đầu, có thể coi là điều kiện tiên quyết cho việc tập hợp và phát huy trí tuệ của chuyên gia tư vấn; đó là sự tôn trọng và chân thành lắng nghe của người lãnh đạo đối với các chuyên gia. Thái độ đó bắt nguồn từ tâm nguyện một lòng vì nước, vì dân cùng với ý thức gắn bó máu thịt với dân, tin vào dân, học hỏi dân mà anh Sáu Dân đã tôi luyện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, trở thành một tính cách mang đậm tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Ai cũng biết anh Sáu Dân là người quyết đoán, song khi làm việc với tập thể hoặc cá nhân các chuyên gia tư vấn, anh không áp đặt ý kiến trước, không cắt ngang hoặc bỏ ngoài tai các ý kiến phản biện; ngay cả khi không đồng tình một nhận xét hoặc kiến nghị nào đó, anh không bao giờ cao giọng mà nhẹ nhàng phân tích và chấp nhận việc bảo lưu ý kiến của người đối thoại.

Điều quan trọng hơn nữa là anh luôn thẳng thắn khi trao đổi ý kiến, không bao giờ nghĩ một đằng nói một nẻo và không thành kiến đối với người có ý kiến trái với mình. Không phải mọi đề xuất của chuyên gia tư vấn đều được anh Sáu Dân chấp thuận, song các chuyên gia tư vấn đã làm việc với Anh đều ghi sâu ấn tượng về một nhà lãnh đạo có tâm và có tài, gắn bó với trí thức bằng cả trí tuệ và tấm lòng.

Ngoài những khi làm việc chính thức, anh Sáu Dân còn có nhiều lúc trò chuyện tâm sự thân tình, cởi mở như một người anh, chân thành giãi bày những điều ưu tư, trăn trở của mình về công việc chung của đất nước.

Từ khi thôi cương vị Thủ tướng cho đến những ngày cuối đời, anh vẫn không ngừng suy nghĩ, hết lòng đóng góp cho công việc chung và giữ quan hệ trao đổi thẳng thắn, thân tình với một số chuyên gia trong Tổ tư vấn trước đây.

Anh chị em tư vấn thật lòng yêu mến, qúy trọng Anh, cảm thấy bình đẳng, tự do, thoải mái, có thể nói thẳng mọi ý nghĩ, mọi tình cảm khi làm việc với Anh.

Sự tin cậy lẫn nhau như thế tạo không khí và mội trường rất thuận lợi, rất văn hoá, tính nguyên tắc quyện với tình người, nâng cao rõ rệt hiệu quả công tác nghiên cứu, tư vấn, đáp ứng yêu cầu đổỉ mới và phát triển đất nước.


[1] Quyết định số 473/QĐ-TTg ngày 30-5-1998;

[2] Số người làm việc thường xuyên ở trụ sở của cơ quan tư vấn, gồm các chuyên gia thường trực và bộ phận giúp việc, khi đông nhất không quá 15 người.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: