Ktetaichinh’s Blog

April 21, 2010

Thăng trầm câu chuyện Giá – Lương – Tiền

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:36 pm
Tags: , ,
Huỳnh Bửu Sơn

LTS: Nhiều người còn nhớ, khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá – lương – tiền khiến đời sống kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, đây đó quay lại phương thức hàng đổi hàng. Để tự cứu các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ nhằm giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá lâm vào cảnh bế tắc.Nhóm Thứ Sáu” không những khẳng định những biện pháp cải cách tiền lương thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả. Họ kiến nghị chấm dứt tức khắc tình trạng ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các truyến giao thông. Tuần Việt Nam xin giới thiệu câu chuyện 3 kỳ của chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nhằm kể lại những kỷ niệm này.

I.  Chuyến đi Duyên Hải và ý tưởng ban đầu về hội nhập

Đã từng có một thời, ngăn sông cấm chợ rất phổ biến nước ta. Đó là thời kỳ nhiều người châm biếm: ta hiện có 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận, huyện khác nhau). Bởi vậy, sau chuyến đi thực tế xuống Duyên Hải, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn có ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió. Cũng từ chuyến đi đó, đã hình thành trong ông ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Kỷ niệm đầu tiên đánh dấu việc tôi tham gia Nhóm chuyên viên Cholimex là chuyến đi công tác tại Duyên Hải cùng anh Trần Bá Tước và anh Võ Hùng.

Chúng tôi đi Duyên Hải lần đó với mục đích là làm một “survey” về tiềm năng xuất khẩu. Thời đó đường đi từ thành phố đến Duyên Hải rất khó khăn, phải vừa đi xe lẫn đi phà. Chúng tôi đến trụ sở huyện thì trời đã sụp tối. Một anh cán bộ trực tiếp chúng tôi, xem giấy giới thiệu và chỉ hướng về dãy nhà mà huyện bố trí cho chúng tôi ở. Lúc đó khoảng 7 giờ tối, toàn khu đều không có điện, trời lại mưa lâm râm. Chúng tôi người mang túi, người xách ba lô (anh Võ Hùng có một cái ba lô rất xịn) băng qua con đường đất mà mưa dầm đã làm lầy lội để đến dãy nhà chìm khuất trong bóng tối và cơn mưa.

Trời tối, đường ngập nước nên chúng tôi không phân biệt được con đường và đầm lầy, phải lội bì bõm trong bùn. Một lần tôi bước hụt chân vào một vũng bùn sâu, đến khi rút chân lên thì chiếc dép vẫn còn nằm bên dưới. Tôi phải nhờ anh Tước cầm hộ túi xách rồi dùng tay mò tận dưới bùn để lôi chiếc dép lên. Khi đến dãy nhà, chúng tôi ướt lóp ngóp, căn nhà thì tối thui. May nhờ anh Võ Hùng có mang theo quẹt lửa (tôi và anh Tước không hút thuốc) nên chúng tôi gom một mớ giấy vứt bừa bãi trong phòng làm đuốc.

Phòng này hình như là phòng học nên không có giường, chỉ có mấy cái bàn học kê lỏng chỏng. Muỗi rất nhiều. Chúng tôi mắc mùng vào các chân bàn kê ngược lên trên và trải giấy báo nằm ngủ dưới đất. Một giấc ngủ ngon ơi là ngon. Sáng ra, nhìn chung quanh mới thấy khu đất rất rộng rãi quang đãng. Phía sau dãy nhà chúng tôi ở đêm qua là khu vực hồ chứa nước của trụ sở huyện, có đến năm sáu cái hồ to xây lộ thiên. Còn dọc bờ tường của dãy nhà trụ sở là hàng chục cái mái đầm lớn tướng. Chúng tôi đánh răng, rửa mặt trong tinh thần hết sức tiết kiệm vì biết rằng nước uống, nước sinh hoạt ở đây quí giá vô ngần. Vào mùa nắng, phải chờ nước từ thành phố xuống.

Vào cái thời mà mỗi quận, huyện là một địa bàn công nông nghiệp hoàn chỉnh, Duyên Hải cũng phải gắng sức hoàn thành tốt vai trò của nó để thành phố Hồ Chí Minh có được cái gọi là tiềm năng hải sản xuất khẩu. Những ấn tượng về chuyến đi khiến tôi, trong khi trao đổi với các bạn về tiềm năng của Duyên Hải, cứ nói đi nói lại mãi về những vấn đề căn bản mà nó phải được giải quyết trước khi nói chuyện phát huy tiềm năng, đó là điện, nước, đường giao thông mà đường giao thông là quan trọng nhất. Không nối được mạch máu với quả tim là thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận nhựa sống từ đó, Duyên Hải sẽ mãi mãi chỉ là tiềm năng.

Chuyến đi Duyên Hải, ngoài ấn tượng khó quên về cuộc sống chật vật, thiếu thốn tiện nghi của người dân nơi đầu sóng ngọn gió, đã hình thành trong tôi ý nghĩ ban đầu về hội nhập kinh tế như một động lực cho phát triển.

Trong những buổi mạn đàm, có lẽ tôi là người nặng lời nhất về tình trạng cấm chợ ngăn sông rất phổ biến vào thời kỳ đó, thời kỳ mà nhiều người châm biếm rằng ta hiện có đến 400 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa (ý nói các quận huyện khác nhau).

Khoảng đầu năm 1986, tôi bắt đầu sinh hoạt thường xuyên với các anh em chuyên viên Cholimex vào thứ Sáu hàng tuần. Chọn chiều thứ Sáu vì đây là ngày anh em ít bận nhất, đó cũng là ngẫu nhiên lúc ban đầu. Sau này, khi sinh hoạt đã đều đặn rồi, anh em chủ động sắp xếp để không kẹt công việc vào chiều thứ Sáu, có nhiều anh phải dời ngày dạy tại các trường đại học để tránh trùng ngày. Ban đầu, các đề tài xoay quanh những dự án sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của công ty Cholimex. Anh Ba Hoà, Giám đốc công ty có dự họp một vài lần, sau đó uỷ nhiệm cho anh Phan Chánh Dưỡng là Phó giám đốc công ty chủ trì luôn.

Thật ra, sáng kiến mời các chuyên viên cộng tác là của anh Dưỡng và anh Tước, nhưng cũng cần phải thông qua anh Ba Hoà để hợp thức hoá vì anh là Giám đốc công ty. Lần đầu tiên gặp anh Dưỡng, tôi đã có ấn tượng ngay. Anh nói năng gãy gọn khúc chiết tuy là giọng Bạc Liêu – Cà Mau có pha chút giọng Hoa nhưng nghe rất rõ ràng. Anh có những lập luận đầy thuyết phục và có cách so sánh minh hoạ rất hình tượng và dễ hiểu để chứng minh cho lập luận của mình. Về điểm này, anh Dưỡng và anh Lâm Võ Hoàng rất giống nhau, tuy cách so sánh minh hoạ của anh Hoàng có phần chua chát và châm biếm hơn.

Anh Dưỡng là người rất thông minh. Anh học toán, không phải là dân kinh tế “nòi” nhưng những vấn đề kinh tế hóc búa nào đã qua một lần trao đổi là anh đều nắm vững và khi thảo luận lại anh trình bày quan điểm của mình về vấn đề đó một cách sâu sắc và đúng đắn. Anh còn hơn chúng tôi ở chỗ phối hợp được những lý luận toán học, quy luật vật lý để chứng minh những vấn đề kinh tế xã hội bằng những lập luận mang tính thuyết phục.

Tôi rất thích trao đổi với anh Dưỡng tuy rằng chúng tôi có rất ít thời gian để nói chuyện riêng. Chúng tôi tận dụng thời gian cùng ngồi trên xe đi về nhà để mỗi lần nói một chuyện. Thôi thì đủ thứ đề tài từ vũ trụ đến triết học, tôn giáo, binh pháp… quan hệ đối nhân xử thế xưa nay.

Anh Dưỡng là người siêng đọc, chịu khó nghiên cứu. Anh có một tập nghiên cứu về vũ trụ không thời gian với những ý tưởng rất mới lạ và không phải là không có cơ sở khoa học. Anh là một người đa tài, có năng lực nhưng tôi có cảm giác là anh không gặp thời… Đáng lẽ anh có thể có những đóng góp nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn cho đất nước nếu anh được sử dụng đúng tài năng của mình.

Có thể anh không chia xẻ với tôi cảm giác đó và cũng như tất cả anh em, chúng tôi hài lòng về cái mình đã được và đã đóng góp được, không phải ở kết quả của chúng mà là ở chỗ chúng đã được diễn đạt. Có khi ở một vị trí nào đó nghĩ là thuận lợi hơn nhưng lại không nói được hết ý mình thì sao!

Khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá, lương, tiền đã được cảm nhận ở khắp nơi trên cả nước. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, ở các tỉnh, nhất là ở nông thôn người ta quay lại phương thức hàng đổi hàng.

Một người quen của tôi ở Vĩnh Long nói rằng để mua mấy mét vải cho con, anh phải mang mấy giạ lúa ra đổi. Tiền lẻ thiếu trầm trọng khiến cho mặt bằng giá bị nâng lên một cách bất đắc dĩ, càng làm cho hoạt động trao đổi hàng hoá trở nên đình trệ.

Trong bối cảnh đó, để tự cứu, các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ với mục tiêu là giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nước lâm vào cảnh bế tắc. Việc cải cách tiền lương không cải thiện được thu nhập thực tế của cán bộ công nhân viên vì mặt bằng giá sau cải cách đã thay đổi.

Nền kinh tế đứng trước một nghịch lý: giá hàng tăng, sản xuất đình trệ, đồng tiền khan hiếm, đông đảo người dân ở nông thôn không có tiền, nhưng đồng thời lại phổ biến tâm lý e ngại giữ tiền đồng, ai có thừa một ít tiền đồng đều vội vã mua vàng hoặc đô la cất giữ. Những người thực hiện cuộc cải cách giá – lương – tiền nghĩ rằng đó là một giải pháp cho nền kinh tế nhưng không ngờ chính cái gọi là giải pháp đã tạo ra một bài toán khó, đòi hỏi một liệu pháp mới.

Vào thời điểm đó, không thiếu những nhận định đại loại như: “tiền mặt vừa thừa vừa thiếu, thừa trong dân cư và thiếu trong hệ thống ngân hàng và trong khu vực Nhà nước” hoặc “nền kinh tế đang lâm vào tình trạng lạm phát phi mã”. Từ những nhận định như vậy, nhiều giải pháp đã được đề xuất như “phải tăng cường giám sát chặt chẽ tiền mặt”, “hạn chế phát hành tiền ra lưu thông”, “kiểm soát chặt chẽ lưu thông hàng hoá, chống đầu cơ tích trữ, tăng cường quản lý thị trường”… Khỏi phải nói, những biện pháp như thế chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm.

Vào khoảng tháng 10 năm 1986 – tôi không nhớ rõ lắm – anh Hai Chí và anh Năm Nghị có đến trao đổi với anh em, chắc là do anh Hai Chí gợi ý và anh Dưỡng nhận lời. Nội dung cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề giá – lương – tiền.

Anh Hai Chí nói qua về tình hình của thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị anh em góp ý về một giải pháp nhằm giúp thành phố khắc phục hậu quả khó khăn này. Cuộc thảo luận rất sôi nổi vì không những nó đặt ra một số vấn đề về thực tiễn mà còn liên quan đến các vấn đề về lý thuyết kinh tế. Tôi còn nhớ mình đã nói với anh Hai Chí rằng vấn đề này không thể chỉ giải quyết trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và hơn nữa bản thân thành phố không thể tự giải quyết nổi. Cuối buổi họp, anh Dưỡng thay mặt anh em nhận lời thực hiện đề tài theo yêu cầu của anh Hai Chí.

Đây có thể nói là một đề tài đầu tiên có tính chất vĩ mô mà Nhóm nhận thực hiện và tất cả anh em đều mang một tinh thần hăng hái nhập cuộc. Tôi vinh dự được anh em tín nhiệm giao làm chủ đề tài và cùng thống nhất là đề tài không hạn chế trong phạm vi thành phố vì nó đụng chạm đến những biện pháp kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, vì không có điều kiện tiếp cận số liệu thống kê kinh tế cả nước nên tôi phải sử dụng số liệu có được tại thành phố trước năm 1975 để minh hoạ và chứng minh. Phải nói rằng việc thu thập số liệu thống kê vào thời kỳ đó là muôn vàn khó khăn vì số liệu nào cũng được xem là mật cả. Tuy thế, với một tinh thần hăng say, các anh em tham gia đề tài thích cực thảo luận trao đổi, góp nhặt số liệu, phân tích, đánh giá và đi đến thống nhất về nhận định tình hình và giải pháp đề xuất.

Phải nói rằng, quá trình đi đến thống nhất nhận định là một quá trình hết sức gay go và thú vị. Mỗi người đều nói hết những suy nghĩ, những đánh giá của riêng mình, vận dụng hết những kiến thức ở trường lớp, trong sách vở và cả những kinh nghiệm thực tế ngoài đời. Và không phải chỉ có những người tham gia đề tài mới thảo luận mà mọi anh em có mặt trong buổi họp đều được mời tham gia ý kiến.

Các cuộc thảo luận hăng say đến nỗi trước đây anh em chỉ họp mỗi tuần một lần, thời gian đó nâng lên mỗi tuần họp đến 3 lần vào các ngày thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu. Vậy mà buổi họp nào cũng đầy đủ anh em đến dự. Có hôm trời mưa như trút nước, anh Phan Tường Vân vẫn đạp chiếc xe đạp lọc cọc đến. Có lúc anh em cãi nhau căng thẳng, anh Tước và tôi phải dàn hoà. Vậy mà dần dần các vấn đề được mổ xẻ bộc lộ ra, sáng tỏ dần và điều đáng quí nhất là qua các cuộc tranh luận anh em ngày càng thống nhất với nhau hơn trong cách nhận thức vấn đề.

II.  Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá

Trước hơn hai mươi quan chức, Nhóm Thứ Sáu quả quyết: “Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế; Việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể đã thành công nếu Nhà nước không đổi tiền”.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Khi cả đoàn đã đến Hà Nội (tôi ra trước bằng máy bay, còn đoàn anh Dưỡng và anh Tước đi đường bộ), anh Dưỡng liên lạc với văn phòng ông Sáu Dân báo cho họ biết đoàn đã ra và hẹn ngày làm việc. Bên văn phòng nói là họ đã biết việc này và bảo cứ chờ, chừng nào thu xếp lịch xong sẽ thông báo cho biết.

Lần đầu diện kiến ông Sáu Dân

Chiều hôm đó, mọi người kéo nhau đi ăn tối, riêng tôi với vợ tôi vì có hẹn đến thăm nhà chị bạn mới quen nên không cùng đi. Khi chúng tôi quay về khách sạn, lúc đó khoảng 6 giờ 15 thì gặp anh Dưỡng, hối hả bảo tôi phải chuẩn bị tài liệu ngay vì ông Sáu hẹn làm việc lúc 7 giờ. Lúc đó, tôi và vợ tôi đều chưa ăn tối, nhưng không kịp nữa vì khoảng 6 giờ rưỡi là khởi hành.

Tôi chỉ kịp xem sơ lại tài liệu, nghĩ rằng buổi làm việc tối nay cũng chỉ là làm sơ bộ với các chuyên viên văn phòng của ông Sáu thôi. Cả anh Dưỡng và anh Tước cũng đều nghĩ như thế nên giục tôi đi sớm, không cần phải chuẩn bị nhiều. Thế là tôi ôm cái bụng đói cùng một mớ tài liệu lên đường. Còn nhớ ngoài ba anh em còn có cả anh Hai Đoàn và một anh Trần Ngọc, Phó giám đốc công ty Cholimex .

Chúng tôi đến khu Quảng Bá, nơi làm việc của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng lúc đó, trước 7 giờ một chút. Khi bước vào hội trường, tôi cảm thấy hơi choáng váng, không biết anh Dưỡng và anh Tước có cùng cảm giác ấy không. Tôi tưởng làm việc chỉ với năm ba người chuyên viên cùng với ông Sáu, hoá ra đêm đó ở hội trường có đến hơn hai mươi người, trongđó chỉ có một người mà tôi biết vì đã từng làm việc trước đây là anh Ba Châu, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một chức vụ tương đương với Bộ trưởng.

Chúng tôi được giới thiệu với ông Sáu Dân, đó là lần đầu tiên tôi diện kiến ông Sáu và ngay từ lần đầu trong tôi đã có một tình cảm mến mộ và kính trọng đối với ông.

Khi chủ khách an toạ, anh Vũ Quốc Tuấn – trợ lý của ông Sáu – đứng lên giới thiệu thành phần tham dự, tôi mới biết những người có mặt hôm đó gồm toàn Bộ trưởng, Thứ trưởng các Bộ có liên quan đến tài chính, kinh tế, các vị trong Ban Kinh tế Trung ương, Ban Công nghiệp Trung ương, Viện Nghiên cứu Kinh tế và các chuyên viên có tầm cỡ của Bắc Hà.

Sau đó, ông Sáu có nói vài lời ngắn gọn về nội dung buổi làm việc là nghe và trao đổi ý kiến về bản đề cương do các anh em chuyên viên ở thành phố soạn thảo như một ý kiến đề xuất về các giải pháp nhằm tháo gỡ tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay. Ông đề nghị các anh em cứ mạnh dạn nói thẳng, nói hết ý đừng ngần ngại vì đây là một buổi trao đổi có tính chất khoa học.

Anh Dưỡng phát biểu trước, giới thiệu về đề cương và quá trình soạn thảo đề cương, nêu lên nỗi bức xúc của các anh em chuyên viên kinh tế ở thành phố về tình hình hiện nay và những khó khăn mà anh em gặp phải trong quá trình làm việc như vấn đề tư liệu, số liệu… Anh phát biểu khoảng 10 phút, giọng nói khá xúc động. Sau đó anh giới thiệu tôi trình bày đề cương.

Dùng thực tế đời sống để chứng minh thực tế Khi đứng lên để thuyết trình, tôi cảm thấy thật sự xúc động, nếu không nói là run. Nhưng sau khi nói vài câu thì tôi bình tĩnh lại, thấy đầu óc rất sáng suốt (có lẽ nhờ bụng đói chăng), trình bày vấn đề một cách rõ ràng, mạch lạc và càng nói càng hăng, giống như được trút ra những nỗi niềm tâm sự bị dồn nén bấy lâu nay.

Về giá, tôi muốn chứng minh rằng tình trạng tăng giá hàng mà chúng ta đang chứng kiến chỉ là một sự tăng giá ảo, nó không mang lại sự kích thích sản xuất hay giải quyết công ăn việc làm như tác động thường thấy của lạm phát trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Mỗi người nhìn hiện tượng giá cả từ góc độ của mình và đều thấy nó khác nhau, người tiêu dùng thấy giá hàng tăng nhưng nhà sản xuất lại thấy giá không bù đắp nổi chi phí, đặc biệt người nước ngoài xài đô la tại Việt Nam sẽ thấy giá cả hàng hoá tại đây ngày càng rẻ hơn. Hầu như giá cả mọi loại hàng hoá đều giảm so với vàng và đôla.

Mặc khác, bằng những con số thực tế, tôi chứng minh rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ mà chúng ta tạo ra đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế như thế nào: trong khi giá 1 kg khoai mì lát tại thành phố Hồ Chí Minh là 2 đồng thì tại Ban Mê Thuật chỉ là 50 xu. Giá các mặt hàng khác cũng tương tự. Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng mục tiêu không thay đổi của chính sách tiền tệ tại các nước kế hoạch hoá tập trung trong đó có Việt Nam là chống lạm phát bằng cách hạn chế lượng tiền đưa ra lưu thông nên nó không thể tạo ra lạm phát đúng nghĩa mà chỉ có thể tạo ra suy thoái và sự kiệt quệ sức sản xuất.

Và chính vì lượng hàng hoá cung ứng cho nền kinh tế luôn luôn thấp so với nhu cầu, tình trạng tăng giá suy thoái xảy ra triền miên và chúng ta không thể khắc phục tình trạng này bằng việc tiếp tục hạn chế khối tiền tệ. Nếu để tình trạng này tiếp tục diễn ra sẽ dẫn đến hiện tượng phi tiền tệ hoá nền kinh tế, người dân hoặc sẽ dùng vàng và đôla làm phương tiện thanh toá, cất giữ hoặc sẽ trở lại thời kỳ hàng đổi hàng.

Về lương, việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Tôi có nói, cuộc cải cách giá – lương – tiền có thể không gây ra những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế nếu Nhà nước không đổi tiền.

Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh của người dân vào đồng tiền Việt Nam và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá của đồng bạc.

Trong phần kiến nghị, tôi có đề nghị mấy điểm chính như chấm dứt tức khắc tình trạng cấm chợ ngăn sông bằng cách trước tiên bãi bỏ các trạm kiểm soát hàng hoá trên các trục lộ giao thông, áp dụng một chính sách tiền tệ tích cực nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát triển, cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự tín nhiệm cho người gửi tiền, chuẩn bị những  loại tiền có mệnh giá lớn như 100 ngàn đồng chẳng hạn và đặc biệt phải công bố cho người dân biết là Chính phủ sẽ không bao giờ đổi tiền nữa.

Khi tôi kết thúc phần trình bày, đã gần 8giờ30. Ông Sáu đề nghị nghỉ giải lao 10 phút, trong thời gian đó chúng tôi được chiêu đãi một chén chè đậu xanh hay hạt sen gì đó. Thôi thì cũng tạm đỡ đói. Sau đó trong phần thảo luận, có khá nhiều chuyên viên Bắc Hà tỏ ra đồng tình với đề cương của chúng tôi. Cũng có một vài câu hỏi, nhưng chủ yếu là để làm sáng tỏ vấn đề, không phải để cật vấn. Chính chúng tôi cũng không ngờ đạt được một sự nhất trí cao như vậy.

Sau này, anh Dưỡng kể lại có một vài người gặp anh và nói: “Các anh nói đúng những điều chúng tôi nghĩ mà không dám nói ra”. Ông Sáu Dân có vẻ rất thích thú, cuối buổi họp ông đến hỏi thăm từng anh em chúng tôi, khi được biết trong đoàn, anh Dưỡng và tôi có đưa bà xã ra thăm Hà Nội, ông liền dặn trước khi về Sài Gòn mời đoàn đến gặp ông và mời luôn cả hai phu nhân đi theo đoàn không chính thức. Lần đầu gặp ông Sáu, tôi gọi ông bằng bác. Thật ra lúc đó trông ông trẻ trung và khoẻ mạnh lắm. Ông bảo cứ gọi bằng anh cho thân mật nhưng tôi nói vì tôi là đồng nghiệp của con gái ông nên theo lễ phải gọi ông bằng bác. Sau này, không hiểu vì sao tôi lại đổi cách xưng hô và gọi ông là chú Sáu.

Trước khi ra về, anh Ba Châu có đến gặp và đề nghị chúng tôi đến Ngân hàng Nhà nước để trình bày thêm cho anh và các vị lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nghe về đề tài này. Chúng tôi vui vẻ nhận lời. Ông Nguyễn Văn Trân, lúc đó là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cũng đến gặp chúng tôi và ngỏ lời mời tương tự. Chúng tôi cũng nhận lời và đề nghị ông bố trí ngày giờ thuận tiện.

Khoảng 10 giờ chúng tôi mới trở về khách sạn. Trong đoàn ai nấy đều vui vì đánh giá buổi trình bày là thành công. Về đến khách sạn, bà xã đưa cho ăn cái bánh gì đó, hình như là bánh giò với chả lụa, nhưng lúc đó bụng thấy hết đói rồi.

Những ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục làm việc cũng về đề tài nói trên tại Ngân hàng Nhà nước và Viện Kinh tế. Tôi không nhớ rõ về buổi làm việc tại Viện Kinh tế, chỉ còn giữ ấn tượng về ông Nguyễn Văn Trân là một người tầm thước, rất tinh tế và lịch sự.

Riêng buổi làm việc tại Ngân hàng Nhà nước, tôi có cảm tưởng các vị bên ngân hàng không đồng tình cho lắm về cách đánh giá và nhận định của đề tài. Họ không nêu ý kiến cụ thể nhưng có vẻ không hưởng ứng, một vài người tỏ vẻ nghi ngờ các số liệu trong đề cương, có anh cho rằng những con số lấy tại thành phố Hồ Chí Minh không đủ để chứng minh cho cả nền kinh tế. Riêng anh Ba Châu tỏ ra rất quan tâm, anh xin một bản copy của đề cương, cám ơn chúng tôi và hẹn khi vào thành phố sẽ đến gặp anh em và đặt hàng về một đề tài khác.

Cũng trong thời gian đó, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho người mời chúng tôi đến trao đổi với ông một buổi tại Bộ Ngoại giao. Buổi sáng hôm ấy, ông Thạch cho xe đón ba người chúng tôi đến Bộ làm việc trực tiếp với ông và ông Vũ Khoan, lúc đó là Vụ trưởng. Ông Vũ Khoan không nói gì, chỉ ngồi ghi chép. Ông Thạch hỏi rất nhiều, chúng tôi thay phiên nhau trả lời và giải thích về cơ sở các nhận định của mình trong đề cương.

Tôi nhớ ông có hỏi một câu về phân phối lương thực: Nhà nước có nên tiếp tục quản lý chặt không? Tôi trả lời nếu Nhà nước cứ tiếp tục ép nông dân phải bán gạo cho Nhà nước với giá thấp thì sản xuất lương thực sẽ không tăng được và nước ta tiếp tục thiếu gạo. Cần phải cho phép người nông dân bán nông phẩm thặng dư cho bất cứ ai và đến bất cứ nơi nào. Trước nay ta vẫn có ác cảm với tư thương, nhưng tư thương là ai? Họ chính là nông dân hay gia đình của nông dân, hoặc ít ra cũng là người giúp đỡ nông dân tiêu thụ sản phẩm.

Ông Thạch có vẻ đồng tình với nhiều ý kiến của anh em chúng tôi, đặc biệt được chúng tôi thuyết phục là tình hình tiền mặt lưu thông lúc đó đang thiếu chứ không phải thừa. Ông tâm sự rất thích đọc quyển Kinh tế học của Samuelson và cũng nhận định là cần phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về kinh tế.

Những ngày tiếp theo thực sự là những ngày thảnh thơi. Tôi có cảm giác làm tròn được một công việc  có ý nghĩa. Những ngày sau đó, vợ chồng tôi la cà thăm viếng 36 phố phường của Hà Nội và được anh Hai Đoàn đưa đến gặp ông Vũ Kỳ, người giúp việc cho Bác Hồ trước đây, nay đã là một cụ già tráng kiện, quắc thước với mái tóc bạc phơ. Ông kể cho chúng tôi nghe những giai thoại thú vị về cuộc đời Bác, đưa chúng tôi đi xem căn nhà sàn nơi Bác làm việc với cách bài trí hết sức đơn giản, mộc mạc….

Buổi chiều hôm trước ngày về, đoàn có ghé thăm ông Sáu Dân. Ông tiếp chúng tôi vui vẻ, thân mật và cho biết đề nghị của chúng tôi về việc giải toả các trạm kiểm soát hàng hoá đã được thực hiện. Quả nhiên, khi chúng tôi xuôi về Nam bằng đường bộ, suốt dọc đường gần hai ngàn cây số không còn một trạm kiểm soát nào.

III.  Trí thức chế độ cũ góp sức cải tổ ngành Ngân hàng

Kết quả tốt đẹp của chuyến đi đã tạo nên một nguồn cảm hứng khiến chúng tôi làm việc hăng say hơn. Anh Ba Châu vào gặp anh em và đề nghị xây dựng đề cương về cải cách hệ thống Ngân hàng với mục tiêu là biến hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp. Chúng tôi vui vẻ nhận lời.

Sau đề tài về ngân hàng, chúng tôi tập trung nghiên cứu về việc đổi mới ngân hàng ngoại thương và vấn đề hội nhập kinh tế từ bên trong (kinh tế vùng).

Vào tháng 10/1987, theo đề nghị của Ban Kinh tế Thành uỷ, tôi rời công ty Imexco để tham gia vào Sài Gòn Công thương Ngân hàng, ngân hàng cổ phần đầu tiên của Việt Nam. Đây là lần thứ hai tôi trở về ngành ngân hàng sau 5 năm công tác trong ngành ngoại thương.

Háo hức tham gia đề án cải tổ ngành ngân hàng

Đến năm 1989, vào khoảng tháng 8, tôi nhận được một giấy mời ra Hà Nội. Tôi đến Hà Nội vào buổi chiều, ngay tối hôm đó đã có buổi làm việc sơ bộ với nhóm chuyên viên được Văn phòng Chính phủ mời, trưởng nhóm là anh Phan Văn Tiệm, lúc đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước. Phiên họp hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu tham dự. Đề tài là cải tổ ngành ngân hàng, vấn đề này được chính phủ giao cho hai nhóm chuyên viên phụ trách, một nhóm chuyên viên của Văn phòng Chính phủ và một nhóm chuyên viên do Ngân hàng Nhà nước chủ trì (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm vừa thay thế anh Ba Châu làm Tổng giám đốc).

Tôi được biết lý do phải tổ chức hai nhóm là để công trình nghiên cứu mang tính khách quan và bao quát, phía Ngân hàng Nhà nước thì có chuyên môn trong lĩnh vực ngân hàng, phía nhóm chuyên viên Văn phòng Chính phủ (lúc đó gọi là Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng) thì có tầm nhìn kinh tế vĩ mô rộng hơn.

Sau buổi trao đổi đêm đó, anh Tiệm và chúng tôi thống nhất mỗi thành viên sẽ trình bày một đề cương và hẹn gặp nhau lại để thống nhất đề cương, trình ông Sáu Dân duyệt rồi sẽ phân công triển khai.

Hôm sau, tôi còn đang ở nhà khách thì có một cán bộ Ngân hàng Nhà nước đến gặp và gửi cho tôi giấy mời của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị tôi đến làm việc.

Tôi được ông Nguyễn Văn Đạm, Phó Tổng giám đốc thứ nhất của Ngân hàng Nhà nước tiếp (lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm đang công tác ở nước ngoài). Ông Đạm cho biết Ngân hàng Nhà nước có thành lập một tổ chuyên viên cải tổ ngân hàng và đề nghị tôi tham gia. Tôi trình bày với ông là tôi đã được bố trí tham gia nhóm anh Tiệm, nhưng ông Đạm nhấn mạnh rằng tôi vốn là người của ngành ngân hàng, vả lại hiện nay đang công tác trong ngành, không lý gì khi ngành đang cần tôi lại không tham gia.

Cuối cùng, tôi đành phải nhận lời tham gia cả hai tổ, trong thâm tâm tôi nghĩ rằng có khi điều này cũng có lợi vì tôi có thể làm gạch nối cho hai tổ và làm cho những khác biệt giữa hai nhóm có thể giảm đi.

Hôm trước khi về, tôi đến chào ông Sáu Dân và báo cáo về các buổi làm việc với anh Tiệm và anh Đạm. Ông đồng tình việc tôi tham gia vào hai tổ và  hỏi tôi có giới thiệu thêm ai có thể tham gia vào chương trình này không? Tôi nghĩ ngay đến anh Lâm Võ Hoàng hiện đang cộng tác với Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố và giới thiệu đôi nét về anh Hoàng với ông Sáu. Ông lập tức dặn anh Thiệu chuẩn bị giấy mời anh Hoàng tham gia tổ do anh Tiệm chủ trì. Thế là trong chuyến đi Hà Nội tiếp theo sau đó để thông qua đề cương, tôi đi cùng với anh Hoàng và hình như đó cũng là lần đầu tiên anh Hoàng ra Hà Nội. Khi diện kiến ông Sáu Dân lần đầu tiên, tôi thấy anh rất phấn khích.

Sau đó, cả anh Hoàng cũng được mời tham gia hai tổ công tác, một do anh Kiêm chủ trì, một do anh Tiệm. Đó cũng là một điều may vì bản dự thảo đề cương cải tổ do tôi soạn, cùng với bản dự thảo của anh Lê Xuân Nghĩa đều được cả hai tổ thảo luận và đi đến thống nhất. Kết quả là các sự khác nhau ban đầu giữa quan điểm cải tổ của hai nhóm đã thu hẹp đáng kể và cuối cùng đi đến nhất trí trình Hội đồng Bộ trưởng trong một đề cương chung vào cuối năm 1989, sau chưa đầy hai tháng làm việc với những cuộc tranh luận sôi nổi hào hứng, đôi khi rất kịch liệt và căng thẳng trong mỗi tổ và giữa hai tổ. Sau này, chúng tôi và các anh em chuyên viên Bắc Hà đều trở thành những người bạn thân thiết.

Đó là các anh Phan Văn Tiệm, Phan Quang Tuệ, Lê Xuân Nghĩa ở Tổ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng,các anh Cao Sỹ Kiêm, Nguyễn Văn Chuẩn, Nguyễn Quang Liên, Ngô Tuấn Kiệt, Lê Văn Tư, Lê Trọng Khánh, Cao Cự Bội, Lê Hoàng, Trịnh Bá Tửu, Trang Sĩ Liêm… Ở Tổ chuyên viên Ngân hàng Nhà nước và đặc biệt là anh Nguyễn Thiệu (tổ VPHĐBT) sau này trở thành người bạn tâm giao của tôi dù anh lớn hơn tôi đến một con giáp .

Sau khi đề cương đã được hai tổ hoàn thành và trình trước cho ông Sáu, một hôm ông Sáu cho gọi anh Lâm Võ Hoàng và tôi đến làm việc với ông tại nhà, hôm đó có cả anh Nguyễn Thiệu, để hỏi thêm về một số vấn đề chưa rõ trong cả hai đề cương. Trong buổi gặp mặt đó, anh Hoàng và tôi báo cáo với ông những nhược điểm hiện có của hệ thống ngân hàng một cấp trong đó nổi cộm nhất là sự nhập nhằng giữa chức năng ngân hàng và ngân sách (cho vay và cấp phát), cũng như giữa vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước và vai trò kinh doanh của các ngân hàng thương mại (điều mà anh em chúng tôi hay gọi là vừa đá bóng vừa thổi còi).

Chúng tôi cũng đề nghị xác lập vị trí độc lập của Ngân hàng Nhà nước với chức năng của một Ngân hàng Trung ương đối với việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Nhưng ông Sáu cho rằng bước đi như thế là quá nhanh và chưa thích hợp với tình hình và điều kiện hiện nay. Riêng đối với đề xuất về việc thiết lập cơ chế Hội đồng Quản trị Ngân hàng Nhà nước thì ông ủng hộ. Việc thay đổi danh xưng của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng được ông nhất trí, thay vì gọi là Tổng giám đốc như trước đây (dễ gây lầm lẫn) thì gọi là Thống đốc cho thống nhất với cách gọi phổ biến của nhiều nước.

Sau này, khi trình bày đề án trước Hội đồng Bộ trưởng, phải nói là nếu không được sự đồng tình của ông Sáu Dân, cả hai tổ nghiên cứu khó mà thuyết phục được một số vị lãnh đạo trong Hội đồng Bộ trưởng vẫn quan niệm rằng cơ chế Hội đồng Quản trị chẳng khác nào một Chính phủ trong một Chính phủ, còn danh xưng Thống đốc sao mà nghe “sặc mùi đế quốc”.

Hôm đó, chúng tôi làm việc với ông Sáu từ 10 giờ sáng đến tận 2 giờ trưa, và dùng cơm trưa “dã chiến ” cùng ông, đây có thể là buổi làm việc lâu nhất với ông Sáu và ông đã chỉ đạo một việc mà tôi cho là rất quyết định đối với công cuộc cải cách hệ thống Ngân hàng Việt Nam: yêu cầu chúng tôi tập trung dự thảo Luật Ngân hàng.

Dấu ấn: Pháp lệnh Ngân hàng 1990

Trong suốt hai tuần lễ giữa tháng 10/1989 tôi đã tham khảo chủ yếu 2 Luật Ngân hàng trước năm 1975, đối chiếu với các quy định hiện hành về ngân hàng và điều kiện kinh tế vào lúc đó, có tham khảo thêm các luật của Pháp, Đức, Anh, Mỹ và đã hoàn tất sơ bộ hai dự thảo pháp lệnh, một cho Ngân hàng Thương mại, một cho Ngân hàng Trung ương, đồng thời nhờ dịch cả hai sang tiếng Anh và tiếng Pháp.

Vào tháng 3/1990, anh Nguyễn Thiệu, anh Lê Văn Tư và tôi, ba người được ông Sáu cử đi Pháp và Thái Lan với sự tài trợ của hai ngân hàng BFCE và IndoSuez để tham khảo ý kiến của các giới ngân hàng ở Pháp và Thái Lan về hai pháp lệnh (đặc biệt với Banque de France và Ngân hàng Trung ương Thái Lan). Cũng nhân chuyến đi đó, tôi đã gặp ông Berth, đại diện IMF tại Pháp và nhờ IMF cho ý kiến về dự thảo pháp lệnh ngân hàng. IMF đã đánh giá cao dự thảo hai pháp lệnh ngân hàng và đã có bản góp ý rất quan trọng. Chính trên cơ sở đó mà sau này khi đề cương cải tổ hệ thống ngân hàng được cả hai tổ thống nhất việc thảo luận dự thảo luật đã có thể tiến hành ngay và mặc dù có nhiều thay đổi, dự thảo cuối cùng đã được Chánh phủ thông qua vào tháng 5/1990 và trình Chủ tịch nước ban hành dưới hình thức Pháp lệnh Ngân hàng (tháng 10/1990). Phải thừa nhận rằng Pháp lệnh Ngân hàng đã được thông qua trong một thời gian ngắn có thể nói là kỷ lục vào lúc đó.

Thời gian làm việc cho đề án cải tổ ngân hàng và soạn thảo pháp lệnh dưới sự chỉ đạo của ông Sáu Dân là một thời gian có ý nghĩa nhất trong đời làm việc của tôi và cũng là thời gian mà Nhóm Thứ Sáu làm việc cật lực. Hầu như mọi vấn đề gút mắc đều được mang ra thảo luận trong các buổi sinh hoạt và những góp ý của các anh em trong Nhóm đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề, cung cấp cho chúng tôi những lý luận mang tính thuyết phục để có thể nhanh chóng đi đến việc hoàn chỉnh đề án cải tổ.

Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy sẽ có những trở ngại chủ quan làm chậm tiến trình cải tổ và sẽ không dễ gì vượt qua những trở ngại ấy với các điều kiện về nhận thức vào thời điểm đó. Nhưng trong tinh thần thực tế và không cầu toàn, tôi đã cùng với các anh em chuyên viên Bắc Hà vượt qua được những cuộc tranh luận chuyên môn tưởng chừng như bế tắc (nhiều lúc phải đạp chân nhắc anh Hoàng không nên đi quá xa) và cuối cùng đã cùng nhau đạt đến một sự hoàn chỉnh nhất định cho cả đề án lẫn pháp lệnh.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: