Ktetaichinh’s Blog

April 18, 2010

Hiện tượng ba sa

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:27 pm
Tags:

– Kỳ 1: Từ cá trôi sông đến làng bè

TT – Tháng 12-2003, tại công viên ngã ba sông ở thị xã Châu Đốc, An Giang, tượng đài cá ba sa cao 14m được khánh thành. Một nhân vật từng là quan chức tỉnh An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị, nói tượng đài cá ba sa là để  tôn vinh loài cá và cũng để ghi nhớ việc con người đã thuần dưỡng một giống cá giúp tạo nên thương hiệu mới không chỉ của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nhân sự kiện Festival thủy sản VN tại Cần Thơ (tháng 4-2010), Tuổi Trẻ trở lại với câu chuyện cá ba sa như một dấu nhấn mang tính “hiện tượng” với ĐBSCL.

Vớt cá giống trên dòng sông Hậu – Ảnh: Q.Vinh

Theo những bậc cao niên cả đời sống bằng nghề lưới cá ở Biển Hồ Campuchia, nguồn gốc cá tra, cá ba sa có từ vùng Thượng Lào và trú ngụ sinh sản nhiều nhất ở Biển Hồ. Từ lúc mới nở, cá như bột gạo nhỏ li ti trôi theo dòng Mekong chảy vào đất Việt.

Con cá phương xa

Ông Tư Niên, 75 tuổi, một trong những ngư dân chuyên đánh bắt cá ở Biển Hồ, kể về lai lịch loài cá da trơn đã gắn liền với cuộc đời ông: “Cá tra ở Biển Hồ có hàng chục loài, có con nặng hàng chục ký, bụng đầy trứng. Thế nhưng tụi tôi không biết cách chúng giao phối sinh sản ra sao và ăn thứ gì mà đẻ được hàng triệu con bột ra sông biển. Chỉ biết vào tháng 5 âm lịch, cá tra ở Thượng Lào và vùng Biển Hồ bắt đầu bắt cặp và sinh sản.

Cá mẹ đẻ trứng bắn vào bọt nước hoặc vào dề lục bình rồi theo dòng nước trôi về hạ nguồn sinh sôi. Thuận con nước cá trôi về sông Tiền, sông Hậu và chảy tràn ra ruộng đồng miền hạ. Khoảng một năm sau cá con lớn gần 2kg, lưng đen bụng trắng, da trơn mình bự như đòn bánh tét… Ngư dân Biển Hồ còn vớt bắt cá con rọng dưới nước bán cho thương lái từ VN lên Biển Hồ mua đem về bán buôn”.

Ông cho hay ở VN việc đánh bắt ương nuôi cá bột hình thành cách nay cả 100 năm. Ngư cụ khai thác cá bột cũng được cải tiến dần từ lưới mùng đến lưới cước, từ việc dùng vợt vớt cá đến việc đóng dàn đáy lưới cá dài hàng trăm mét để chặn bắt cả luồng cá thiên nhiên.

Ông Ba Hoàng, ngư dân cố cựu trong nghề đáy cá ở xã Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, kể vào tháng 5 âm lịch trở đi ngư dân nhìn dòng nước chảy, nơi nào có bọt quần tụ, có lục bình dạt về nhiều thì nơi đó có nhiều cá tra bột. Ai có vốn, làm ăn uy tín đều trở nên khá giả.

Ông Ba Hoàng nói: “Nếu trúng con nước có ngày thu được cả lượng vàng”. Đến thập niên 1980, hằng năm ở vùng cửa sông Tiền thuộc hai tỉnh An Giang, Đồng Tháp đã hình thành hàng trăm miệng đáy bắt cá tra bột, cá ba sa giống… sôi động nhất khu vực.

Từ vùng khai thác cá bột trôi sông đến nơi ương nuôi và bán buôn con giống đã tạo nên nghề nuôi cá tra, cá ba sa từ những năm 1960 đến nay. Ông Trần Văn Que, người có trên 40 năm ương nuôi cá tra bột ở xã cù lao Phú Thuận (Đồng Tháp), cho biết nhờ có con cá bột mà vùng cù lao Long Thuận, Phú Thuận phía dưới hạ nguồn sông Tiền có nghề ương nuôi sản xuất cá tra giống truyền thống. Từ đó người nuôi cá tra hầm cũng ngày một nhiều hơn.

Chợ xã, chợ chồm hổm đầu các vàm sông, đâu đâu cũng có người bán cá tra. Cá tra từ lâu đã trở thành loài cá ngon, rẻ, thường trực trên mâm cơm canh chua cá kho tộ của nhiều gia đình xứ lục tỉnh miền Tây.

Chiếc bè đầu tiên…

Ông Nguyễn Văn Đậm là một trong những gia đình đầu tiên đưa cá ba sa vào bè nuôi và đưa cả bè cá từ Biển Hồ về vùng sông Hậu kể: “Lúc đầu cha tôi vớt cá ba sa con và thả nuôi thử trong mùng lưới dưới nước bằng các loại thức ăn tự chế từ thiên nhiên.

Khi cá lớn chật quá, cha tôi mở rộng vùng nuôi bằng lưới tre bao tròn dưới nước. Cá nuôi vụ đầu bán có giá và cho lợi nhuận, cha tôi đã nghĩ ra cách làm nhiều chiếc bè tre nuôi cá dưới nước. Đáy của bè sâu 2,5m có thể thả nuôi được vài ba tấn cá tùy kích cỡ. Ông chính là người mang chiếc bè tre rộng như ngôi nhà thả trôi theo dòng Mekong từ Biển Hồ vượt 200km dòng nước chảy xiết, lắm thác ghềnh về đến tận miền sông Hậu…”.

Về quê nhà, cha ông đã chọn được vị trí đất bãi bồi dọc bờ sông Hậu, thuộc xã Đa Phước, cách ngã ba sông Châu Đốc chừng 5km để neo bè và khởi nghiệp. Lúc đó vùng đất này còn hoang vu không có người ở. Cũng trong năm 1970, tại vùng đất hoang vu này có thêm nhiều nhà bè từ nơi khác đến. Ngày ngày họ đào ao nuôi cá, phát đất hoang trồng lúa. Nguồn cá ba sa giống được khai thác ngoài thiên nhiên, dần dà cuộc sống khấm khá hơn.

Ở làng bè xã Đa Phước lúc đó có các ông Văn Quyện, Văn Chất, Sáu Cậy… còn nghĩ ra cách chế biến thức ăn dùng cám tấm và cua ốc, chuối, rau cho cá ăn theo từng giai đoạn tăng trưởng. Biết dùng các vị thuốc có lá giác, muối hột, vôi bột và cả đất sét đặt trong bè để giải nhiệt và trị bệnh cho cá. “Nói chung người sao cá vậy nhưng tuyệt nhiên không sử dụng thuốc kháng sinh, kháng khuẩn phổ biến như bây giờ” – ông Đậm nói.

Nhà bè nuôi cá cũng được cải tiến theo xu thế phát triển. Ông Trần Bá Kế, 83 tuổi, ở ấp Hà Bao, xã Đa Phước, kể từ năm 1975 khi biết xã Đa Phước có nghề nuôi cá bè hiệu quả, ông đã mượn 17 lượng vàng đóng mới bè gỗ thay cho bè tre nuôi được 10 tấn cá ba sa hằng năm và chỉ một năm đã hoàn vốn. Bè ông đóng bằng gỗ căm xe, kích cỡ 6x12x3,5m, rộng và sâu gấp 2,5 lần so với bè tre truyền thống.

Những năm sau khi cá ba sa hút hàng, có ông Hai Nhàn còn đóng bè kích cỡ vô địch 10x28x7m, nuôi hàng trăm tấn cá. Bè cá như một ngôi nhà khang trang trên mặt nước, bên trong nội thất ti vi, máy lạnh sang trọng. Nhà bè là biểu trượng của sự giàu có trong thập niên 1990-2003.

Từ chòm bè vài chiếc quần tụ nuôi cá ba sa, sau hơn hai thập kỷ làng bè xã Đa Phước đã có trên 500 nhà bè lớn nhỏ, mỗi bè nuôi 50 đến trên 100 tấn cá ba sa. Từ năm 1990 trở đi khi cá ba sa được xuất khẩu thì làng bè Đa Phước không còn chỗ neo đậu bè nữa. Nhiều người giàu có đến học tập kinh nghiệm làm ăn rồi đóng bè thả nuôi phía dưới hạ nguồn ngã ba sông Châu Đốc.

Ông Nguyễn Văn Phát, trưởng Phòng kinh tế thị xã Châu Đốc, cho biết làng bè ở khu vực ngã ba sông Châu Đốc lúc hưng thịnh có trên 5.000 nhà bè phủ khắp sông Hậu. Không chỉ có ở sông Hậu, làng bè cá ba sa còn phát triển mạnh trên khu vực sông Tiền ở huyện Hồng Ngự và các nơi khác thuộc lưu vực sông Cửu Long.

QUANG VINH – PHƯƠNG NGUYÊN

—————————-

Từ cá trôi sông đến làng bè rồi một ngày tạo nên “hiện tượng” thay đổi hẳn cuộc đời của những nông dân ngụp lặn trong đói nghèo bên dòng sông ngầu đục phù sa. Con cá từ bè tre “lội” đến trời Âu Mỹ và mang về những đổi thay…

Kỳ 2: Rời chiếc bè tre

TT – “Không phải đơn thuần là một hiện tượng nữa mà đó là một kỳ tích”, tiến sĩ Võ Hùng Dũng, giám đốc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, nhận xét.

Cây lúa, hạt gạo và con tôm từng tạo nên hiện tượng kinh tế, làm thay đổi diện mạo vùng ĐBSCL nhưng con cá ba sa, cá tra lại có sức phát triển thật lạ kỳ, đã tạo nên một kỳ tích với mức tăng trưởng chưa ngành nào đạt được trong thời gian vừa qua.

Thu hoạch cá ba sa – Ảnh: P.Nguyên

>> Kỳ 1: Từ cá trôi sông đến làng bè

Sự tăng trưởng lạ kỳ

Cuối những năm 1980, con cá ba sa bắt đầu rời những làng bè của vùng đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu để mở màn cho chuyến ngao du trời Tây. Anh Võ Đông Đức, tổng giám đốc Công ty Caseamex (Cần Thơ), kể lại: lúc đó tại ĐBSCL chỉ có hai đơn vị đi đầu trong việc chế biến, đưa mặt hàng cá ba sa phi lê ra nước ngoài là Công ty Agifish và Angitexim của tỉnh An Giang.

Khi mặt hàng này được ưa chuộng ở thị trường nước ngoài, giá cả tương đối hấp dẫn thì các công ty bắt đầu mở rộng mạng lưới thu mua, chế biến. Vùng đầu nguồn Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã sớm mở rộng làng bè, có lúc lên đến hàng ngàn chiếc mỗi nơi. Từ đây, con cá ba sa vẫy vùng thoát khỏi những bè cá của vùng châu thổ đục phù sa để vươn mình ra thế giới.

“Cá ba sa lúc đó chủ yếu nuôi trong lồng bè, sản lượng rất ít và thấp. Khi thị trường nước ngoài bắt đầu chuộng và yêu cầu cung cấp ngày một nhiều hơn thì con cá ba sa ngày càng thể hiện sự đuối sức. Một công ty của Úc đã yêu cầu công ty của chúng tôi tìm con cá gì đó thay thế sản lượng cho con cá ba sa và họ đã cử hẳn chuyên gia tới ĐBSCL để cùng chúng tôi nghiên cứu. Trong nhiều loài cá họ thống nhất chọn con cá tra, vì có đặc điểm sinh trưởng, thịt phi lê tương tự ba sa. Thế là container cá tra phi lê đầu tiên của Việt Nam được xuất qua Úc, thị trường này sau đó chấp nhận mặt hàng này. Đó là tín hiệu đáng mừng ở buổi đầu sơ khai”, anh Võ Đông Đức hồ hởi kể lại.

Vài tháng sau, Công ty Cataco (tiền thân của Caseamex) tiếp tục xuất hàng qua châu Âu và rồi như một phép mầu, thị trường châu Âu cũng say mê con cá tra, ba sa của Việt Nam. Đến năm 1995, anh Đông Đức mở ra trang chính cho con cá tra khi lần đầu tiên đưa con cá này thâm nhập thị trường nước Mỹ. Ngay sau đó, một số công ty khác cũng bắt tay vào xây dựng nhà máy, đào tạo đội ngũ công nhân chế biến, tìm thị trường cho con cá tra.

Tiến sĩ Võ Hùng Dũng khi nhắc đến chuyện này phải thừa nhận: “Chỉ trong mười năm mà kim ngạch xuất khẩu từ mức vài chục triệu USD đã tăng vọt lên 1,4 tỉ USD. Ở Việt Nam chưa có ngành kinh tế nào có khả năng xuất khẩu tăng cao như vậy. Trong vòng mười năm qua thì bình quân tăng 30%/năm”.

Tiến sĩ Dũng nói thêm trước đây cây lúa cũng tạo nên một hiện tượng giúp Việt Nam từ một nước nghèo đói, thiếu ăn thành một quốc gia xuất khẩu lương thực thuộc hàng đầu thế giới, góp phần quan trọng vào việc ổn định an ninh lương thực cho thế giới. Con tôm cũng vậy, từ mặt hàng không có lợi thế cạnh tranh nhưng các doanh nghiệp đã biến mặt hàng này thành chiến lược. Nhưng con cá tra, ba sa lại khác, từ nguồn giống tự nhiên ban đầu, kỹ thuật nuôi cây nhà lá vườn… vậy mà đã vươn xa qua trời Tây, tạo cho ĐBSCL và Việt Nam có một thương hiệu lớn: cá da trơn Việt Nam.

Làm đổi thay diện mạo đồng bằng

Trước khi con cá tra, ba sa rời khỏi cái lồng tre tìm đường bơi ra nước ngoài, bộ mặt nông thôn, một bộ phận khu vực có nuôi cá, còn nghèo. Nhưng rồi con cá tra đã làm thay đổi toàn bộ, người nông dân bắt đầu đào ao, lập trang trại, doanh nghiệp được thành lập nhiều hơn, nhà máy chế biến cá tra cũng mọc lên như nấm.

Nhiều tỉnh thành trong khu vực đã nghĩ tới và bắt tay vào xây dựng các khu, cụm công nghiệp chạy dọc sông Tiền và sông Hậu. Những khu vực ruộng đồng kém hiệu quả được chuyển dịch sang sản xuất công nghiệp, mà trong đó công nghiệp chế biến thủy sản chiếm phần lớn diện tích. Đường sá nông thôn cũng mở rộng hơn để phục vụ ngành chế biến, nuôi trồng con cá tra này.

Tiến sĩ Dũng nhớ lại trước đây khi con cá tra, ba sa còn chưa ai biết thì công nghiệp vùng ĐBSCL cũng chỉ quanh quẩn với các nhà máy chế biến lúa gạo nằm rải rác khắp nơi. Khi con tôm bước vào thị trường thế giới thì ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản cũng chỉ tập trung ở các tỉnh ven biển. Nhưng khi con cá tra tạo nên hiện tượng đột biến thì bộ mặt, cơ cấu ngành công nghiệp chế biến đã được điều chỉnh lại.

Mười tỉnh thành có nuôi cá tra đều xây dựng nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, xây dựng nhà máy chế biến thức ăn, hệ thống hậu cần phục vụ nghề nuôi cá tra và cả mạng lưới dịch vụ hỗ trợ. Hiện tại ĐBSCL có trên 150 nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu, riêng tại Cần Thơ có 31 nhà máy. Ngoài ra còn hàng chục, hàng trăm nhà máy chế biến thức ăn, chế biến phụ phẩm từ cá.

Lợi thế cây lúa là lợi thế toàn vùng, lợi thế con tôm là lợi thế các tỉnh ven biển, còn lợi thế có cá tra là lợi thế của các tỉnh chạy dọc hai bờ sông Tiền và sông Hậu. Chính điều này đã phần nào làm đồng bằng có thể phát triển mạnh và đồng bộ. Con cá tra hiện chiếm 1/3 doanh số các tỉnh có nuôi cá tra trong khu vực.

Người nuôi, nhà chế biến, hệ thống cung cấp dịch vụ, người buôn bán, hệ thống dịch vụ thủy sản… cũng phát triển theo con cá tra, tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu người. Trong 15 năm qua đã tạo ra một ngành công nghiệp về cá, hình thành một chuỗi giá trị về cá rất lý thú, có mối quan hệ từ người cung cấp giống, người nuôi, người chế biến, xuất khẩu, sự phát triển hạ tầng phục vụ nghề cá, hệ thống kỹ thuật…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, quyền giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, cho biết sản lượng cá tra, ba sa của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước.

Nếu tính trong mười năm qua (1997-2007) thì diện tích nuôi tăng khoảng tám lần, sản lượng nuôi tăng 45 lần, sản lượng philê xuất khẩu tăng 55 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng 50 lần. Tuy chỉ 6.000ha nuôi ở 10 tỉnh nhưng giá trị xuất khẩu cá tra từ năm 2000-2008 đã gần đuổi kịp tôm nuôi nước lợ.

Năm 2008 sản lượng cá tra, ba sa đạt 1,2 triệu tấn; sản phẩm xuất khẩu đạt 640.829 tấn, tăng 65,6% so với năm 2007; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,453 tỉ USD, chiếm 32,2% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, tăng 48,4% so với năm 2007, đóng góp 2,0% GDP của cả nước. Đến nay đã có 130 nước trên thế giới tiêu thụ cá tra, ba sa của Việt Nam.

Kỳ 3: Từ “mụ tây” tới “mụ vườn”

TT – Năm 1993 Philippe Caco tốt nghiệp Ðại học Nông nghiệp Paris (khoa thủy sản), đã quyết định đến VN nghiên cứu cách cho cá ba sa sinh sản. Đến làng bè Châu Đốc (An Giang), anh bất ngờ với những làng bè sung túc trên sông Hậu.

Một con cá tra mẹ được nhóm “mụ vườn” ở xã Vĩnh Hòa thăm trứng định kỳ – Ảnh: Q.Vinh

Công nghệ “tây”

Philippe đến ngay lúc làng bè đang có tin Công ty Agifish An Giang đã thay sản phẩm xuất khẩu con tôm biển khan hiếm bằng con cá ba sa giàu tiềm năng hơn.

Nhiều người đã đón đầu cơ hội làm ăn lớn, đầu tư mới nhiều nhà bè cá bề thế trị giá hàng tỉ đồng. Cá giống ba sa trong thiên nhiên không đủ cung ứng cho nhu cầu làng bè và trở nên đắt đỏ. Một con cá bụng – cá ba sa con – bằng ngón tay có lúc vọt lên 5.000 – 7.000 đồng.

Thông tin Philippe đến làng bè tìm cá bố mẹ đã được người dân các nơi mừng rỡ. Bà con ở vùng hạ nguồn sông Mekong đã đem đến tặng Philippe những con cá bụng to 5-7 kg có dáng đẹp để tuyển chọn và thử nghiệm. Hai tháng ở làng bè, Philippe và kỹ sư cộng sự đã tuyển chọn ngẫu nhiên được 200 con cá ba sa bố mẹ đem về ao Trường đại học Cần Thơ nuôi vỗ.

“Trên cơm dưới cá”

Ông Nguyễn Hữu Khánh – nguyên bí thư Tỉnh ủy An Giang, nguyên chủ tịch Hội Nghề cá VN – lý giải về “hiện tượng ba sa”: “Vào cuối những năm 1980 khi cây lúa đã phát triển mạnh, chúng tôi nghĩ đến câu nói của cha ông “trên cơm dưới cá” để mở hướng phát triển mới. Trên đã có lúa rồi, tại sao không phát triển con cá đang có lợi thế vùng nuôi? Lợi thế từ tay nghề nuôi cá ba sa, cá tra đến nhờ vả sự “mai mối” của bà con Việt kiều để đưa thị trường này ra thế giới”.

Cuối thập niên 1990, An Giang gặp khó khăn về nguồn cung ứng cá giống. Sau đó tỉnh đã chủ động phối hợp với các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu để đến năm 2001 sinh sản nhân tạo cá.

Năm 1995, tỉnh An Giang sản xuất chỉ được khoảng 50.000 tấn cá nhưng đến nay sản lượng này là 180.000 tấn. Khó có ngành kinh tế nào có được sự phát triển mạnh mẽ như vậy!

Đến tháng 6-1995, Philippe và nhóm cộng sự của anh đón nhận thêm một người bạn mới – Marc Campet – vừa tốt nghiệp Ðại học Thủy sản Pháp.

Đến làng bè và làm việc thuận lợi tại một phòng thí nghiệm ngay trên nhà bè của Công ty Agifish An Giang, Philippe và Marc đã áp dụng phương pháp cấy chip điện tử với mã số vào thân cá để kiểm tra, phân biệt, thay cho cách dùng phẩm mực trước đó.

Hàng tháng trời cứ cách 10 ngày một lần nhóm “bà đỡ” lại vớt cá lên thăm trứng chích hormon kích dục tố, tìm mọi cách nhưng vẫn không thấy cá mẹ rụng trứng. Thế rồi trong một lần kiểm tra, Philippe bất ngờ thấy bụng một con cá phình to. Tìm dò mã số thì biết đây chính là con cá của cư dân làng bè tặng anh.

Cá mẹ được đưa lên khay và kích đẻ, bụng nó bắt đầu căng phồng lên. “Bà đỡ” Philippe nhẹ tay vuốt dạ dưới con cá mẹ, từ bụng dưới con cá phụt ra tia trứng vàng. Đến lần tiếp theo trứng cứ phun vào chậu chứa 75 gam trứng. Sau đó nhóm “bà đỡ” Pháp – Việt cho trứng thụ tinh nhân tạo. Khoảng 24 giờ sau cá con lúc nhúc xé màng và đàn cá li ti mới bắt đầu chuyển mình.

“Trứng thành cá rồi” – cả nhóm “bà đỡ” cùng Philippe và Marc đã vui mừng ôm nhau chúc mừng thành công mà người dân làng bè mong đợi.

Philippe và Marc đã áp dụng kỹ thuật cho cá ba sa và cá tra sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá bột cho đơn vị hợp tác là trại giống Mỹ Châu (Công ty Agifish An Giang).

Qua tay nông dân Việt

Những nông dân cố cựu ở vùng sản xuất cá giống Hồng Ngự (Đồng Tháp) cho biết trại cá giống Mỹ Châu thời gian đầu là đơn vị độc quyền tiếp nhận công nghệ sinh sản cá tra giống và bán cho dân.

Lợi nhuận từ việc sinh sản cá giống nhân tạo là rất lớn. Nhiều nông dân thức thời đã nhanh chóng tìm đến trại cá giống để học cách cho cá đẻ nhưng bất thành. Phải đến một năm sau đó công nghệ cho cá sinh sản nhân tạo mới được “rò rỉ” ra bên ngoài khi các kỹ sư nơi đây trở thành những người thầy giúp nông dân.

Ông Út Que, chủ cơ sở sản xuất cá tra giống, nhà ở ngay bến đò xã Phú Thuận (Đồng Tháp), đưa chúng tôi đi thăm cơ ngơi sản xuất cá giống gồm ao nuôi hàng ngàn con cá bố mẹ thuần thục, và khu vực sinh sản cho cá.

Cơ sở được đầu tư khá bài bản, từ hệ thống ống dẫn nước, bồn ấp trứng đến khay đẻ cho cá đều được làm theo quy trình khá hiện đại. “Nhưng để học được nghề cho cá đẻ, nói tắt là “đẻ” cá thì nông dân như tụi tui phải mời kỹ sư về tầm sư học nghề. Học theo kiểu cầm tay chỉ việc, thầy chỉ một mình ráng học lóm tới mười, phải ráng moi cho hết các ngón nghề từ nuôi vỗ cá bố mẹ đến sử dụng thuốc kích dục, thao tác thăm trứng và vuốt tay ép bụng cá cho trứng phun ra… Các nhà khoa học đã có công nghiên cứu thì mình ráng học để mang lại cái lợi cho mình”.

Út Que còn nói để học được nghề này ông phải chia lợi nhuận 6:4 cho người dạy. Đó là nguồn tiền thu được sau khi cho cá đẻ thành công và bán được cá giống trong suốt thời gian học nghề 3-4 tháng.

Còn ông Đào Thanh Khiết, 54 tuổi, ấp Phú Hòa, xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, An Giang, cho biết ông đã phải trả cho kỹ sư thủy sản 5 lượng vàng để học nghề “đẻ” cá tra.

Học nghề “đẻ” cá lắm công phu. Đó là học cách chọn cá bố mẹ thuần thục cho đẻ trứng được trên 3 năm tuổi, phải đi săn tìm cá bố mẹ có ngoại hình hoàn chỉnh, da bụng mỏng. Học cách chọc que thăm trứng xem cá đẻ được hay chưa. Nếu được thì tách đàn để chuẩn bị chích thuốc kích thích với liều lượng hợp lý cho cá đẻ. Sau đó ba ngày nếu thăm thấy trứng chín thì bắt đầu đưa cá lên khay, dùng tay vuốt bụng cá cho trứng phun ra và tiến hành cho trứng thụ tinh. Sau đó đem trứng thụ tinh vào bể ấp trong thời gian 24 giờ, trứng nở thành cá bột. Thêm 24 giờ nữa đưa cá bột vào bọc oxy đem đến ao ương nuôi.

“Vui nhất là khi chính tay mình thao tác cho cá tự đẻ. Thành công khi đạt tỉ lệ 10% trứng cho trọng lượng một con cá mẹ; ba con cá mẹ cho 1 kg trứng, tương đương khoảng 1,2 triệu con cá bột”- ông Khiết nói.

Lúc đó trại cá giống của Hai Nấm, Bảy Biết, Bảy Xùm, Hai Diễm lớn nhất trong vùng sông Tiền, mỗi lần sản xuất cho ra lò 20-30 triệu con cá bột thu vào chừng nửa tỉ đồng, tương đương 100 lượng vàng. Cá nhân tạo đem nuôi sông đạt tỉ lệ cao trên 40%, do cá bố mẹ được tuyển chọn từ thiên nhiên hoang dã.

Chỉ trong một năm đã có khoảng 100 trại cá giống mọc lên, cung vượt cầu đã kéo giá cá giống từ 60 đồng xuống còn 1 đồng/con. Hiện có khoảng 10 cơ sở sản xuất cá giống ở đồng bằng đang áp dụng tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (Globle GAP) trong sản xuất con giống cá.

Cái nhạy của người nông dân miền sông nước chính là tác nhân chính thúc đẩy sự phát triển nghề cá ở đồng bằng.

Kỳ cuối: Phía sau tấm da trơn của cá

TT – Con cá tra từ bè lên ao cho sản lượng bất ngờ tăng vọt đã giúp các hộ dân, doanh nghiệp nguồn lãi lớn. Và cũng từ đây, phía sau tấm cá da trơn của cá đã nảy sinh những “cuộc chiến” căng thẳng trong săn lùng đất, giá thu mua, thức ăn, thuốc thú y thủy sản…

Hàng trăm, hàng ngàn hecta vườn cây ăn trái bị đào xới thành ao, những cù lao trên sông Hậu bị dân săn đất rảo bước ngày đêm tìm những mẫu đất lý tưởng. Có lúc mỗi hecta đất đào ao được bán với giá vài tỉ đồng!

Làng bè nuôi cá ba sa trên sông Sở Thượng (Đồng Tháp) – Ảnh: P.Nguyên

“Cuộc chiến” trong nhà

Nhưng rồi bài toán khủng hoảng thừa diễn ra năm này qua năm khác mà không lời giải. Giá bán giảm liên tục trong khi chi phí, giá thành ngày càng đội lên khiến người nuôi lỗ lã nặng nề. Nông dân treo ao, bán ao, bán cả xe hơi… để trang trải nợ nần. “Đó là bài học của việc nuôi cá theo phong trào và sự thiếu quy hoạch, chính sách chưa chặt chẽ của chính quyền từ việc quản lý vùng nuôi, kế hoạch phát triển, thị trường tiêu thụ, quản lý doanh nghiệp…” – ông Nguyễn Văn Kịch, tổng giám đốc Công ty Cafatex (Hậu Giang), nhận xét.

Anh Trần Thanh Phương, một người nuôi cá ở Đồng Tháp, ưu tư: “Người nông dân phải vay tiền đào ao, thả cá, mua thức ăn… Mọi chi phí đều trả bằng tiền mặt hoặc gối đầu, nợ ngắn hạn. Trong khi đó bán được cá lại bị doanh nghiệp trả tiền lắt nhắt hoặc chậm trả khiến tụi tôi gặp khó khi xoay đồng vốn, vừa thiệt hại tài chính mà mất cả cơ hội”. Năm rồi, anh Phương bán cá được 7 tỉ đồng nhưng nhà máy lại trả làm nhiều lần, mỗi lần vài trăm triệu đồng, phần vốn còn lại đã bị doanh nghiệp chiếm dụng.

Thiệt nhưng anh phải chấp nhận vì lệ thuộc đầu ra. Ông Lê Quang Tâm, giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Gentraco (Gentraco Feed), nói nếu các doanh nghiệp làm ăn sòng phẳng với nông dân, ký kết được những hợp đồng cung cấp nguyên liệu, không chạy đua bán hạ giá ở nước ngoài… thì cả hệ thống không bị khó khăn như vừa qua.

Từ khi rào cản thương mại từ Mỹ được giăng ra, nhiều doanh nghiệp lao đao và tìm mọi cách đẩy hàng của mình đi để sống bằng bất cứ giá nào, kể cả tự hạ giá bán để cạnh tranh không bình đẳng. “Hiện có 10 công ty tại ĐBSCL đang xuất qua Mỹ, nhưng chỉ 10 công ty thôi cũng đã đấu đá với nhau. Cá tra còn nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển tốt. Chỉ có điều là làm sao đảm bảo chất lượng của cá nguyên liệu, cá phi lê; doanh nghiệp nên liên kết với nhau để đừng bán rẻ con cá của mình, làm thất thu cho người nuôi, ảnh hưởng ngành chế biến xuất khẩu của VN” – ông Võ Đông Đức, tổng giám đốc Công ty Caseamex (Cần Thơ), bộc bạch.

Ngoài chuyện xuất khẩu, đằng sau con cá tra còn là cuộc chiến về con giống. Từ khi ông Hai Nắm ở huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp cho ương cá giống thành công thì hàng trăm, hàng ngàn cơ sở sản xuất, ương giống cá tra mọc lên khắp đồng bằng đã tạo nên cuộc khủng hoảng thừa cá giống. Một phần cá giống bệnh do con giống bố mẹ không khỏe mạnh, ương ép không bài bản, nhưng nguyên nhân lớn nhất – theo ông Hai Nắm – là do nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Chất thải từ việc nuôi cá hằng năm rất lớn nhưng không được xử lý mà đổ thẳng ra môi trường tự nhiên, nhiều dòng sông hiện nay không còn nuôi được cá…

Thách thức trên con đường dài

Mặc dù con cá tra đang là hiện tượng lạ mang lại những giá trị vật chất lớn cho vùng ĐBSCL, nhưng đằng sau nó vẫn tiềm ẩn những thách thức. Nói như ông Huỳnh Thế Năng – phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang, người vừa được Thủ tướng chỉ định làm trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội Cá tra, ba sa ĐBSCL – việc quản lý nhà nước đối với con cá tra của vùng ĐBSCL còn nhiều bất cập, như: thiếu quy hoạch, kế hoạch và thông tin cụ thể cho cả vùng từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy như lúc thừa lúc thiếu, chất lượng, môi trường, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Sánh, quyền giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL, thường trực ban chỉ đạo triển khai chương trình liên kết vùng ĐBSCL, đã “gạch đầu dòng” vài thách thức mà cá da trơn phải đương đầu: đó là vấn đề quy hoạch vùng nuôi để đảm bảo sự bền vững trong phát triển, việc cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ để đảm bảo lợi nhuận giữa thành phần sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu.

Việc thiếu hoặc chưa áp dụng hợp lý quy hoạch vùng nuôi, chưa dự báo sản lượng và kiểm soát sự gia tăng diện tích… đã tạo nên nhiều khó khăn. Từ đó thừa và thiếu nguyên liệu luôn xảy ra, thiếu tính ổn định, khó dự báo hiệu quả sản xuất…

Tiến sĩ Sánh cũng cho biết vấn đề ô nhiễm môi trường đang đặt ra nhiều thách thức, hiện tại một số vùng nuôi tập trung nhiều trang trại có dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước do chất thải. Mất cân bằng sinh thái đang thể hiện rõ nét ở tình trạng phát sinh dịch bệnh trên diện rộng do ô nhiễm môi trường ở các vùng thâm canh cá tra, cá ba sa… Môi trường nước trên sông Tiền, sông Hậu và kênh rạch vùng ngọt hóa đã có dấu hiệu nhiễm bẩn hữu cơ. Với các mô hình nuôi thâm canh càng cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải càng lớn và mức độ nguy hại càng nhiều.

Giải quyết được những thách thức trên, cộng với việc cần thiết áp dụng giá sàn cho con cá tra xuất khẩu để tránh việc cạnh tranh không lành mạnh làm nông dân thiệt hại, chính sách tài chính ngân hàng thông thoáng, thông tin thị trường minh bạch, kịp thời, kỹ thuật nuôi được cải tiến… thì tương lai con cá tra sẽ sáng sủa hơn. Và như thế kế hoạch đạt 1,5 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu năm 2010 và 2,3 tỉ USD vào năm 2020 sẽ gần hiện thực hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa kế hoạch nâng vùng nguyên liệu lên 13.000ha vào năm 2020 cũng sẽ làm được.

PHƯƠNG NGUYÊN – QUANG VINH

Ông Huỳnh Thế Năng, phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang: “Chúng ta không phủ quyết vai trò của doanh nghiệp trong việc khai phá thị trường và sự lớn mạnh của doanh nghiệp chế biến cá tra ĐBSCL hôm nay. Nhưng nếu có sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong phân khúc thị trường xuất khẩu, liên kết giữa doanh nghiệp với ngư dân bằng trách nhiệm chia sẻ lợi nhuận cũng như rủi ro được ràng buộc bằng quy định pháp lý rõ ràng thì tất cả sẽ cùng chiến thắng!”.

Ông Nguyễn Hữu Khánh, nguyên chủ tịch Hội Nghề cá VN: “Để có “hiện tượng ba sa” như ngày nay còn có vai trò của bộ phận bà con người Việt ở nước ngoài trong việc quảng bá sản phẩm. Lúc đầu chúng tôi đưa cá tra, ba sa sang thị trường Mỹ, Pháp, Úc, nhiều kiều bào từ chối ăn vì còn ám ảnh hình ảnh nuôi cá trong hầm ô nhiễm. Chúng tôi đã về nước vận động người dân nuôi cá bằng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp. Kiều bào nhìn hình ảnh, video tin tưởng, chấp nhận tiêu thụ cá và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước bán cá cho các nhà phân phối lớn trên thế giới”.

Advertisements

Hai chàng trai Pháp ở làng bè

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:26 pm
Tags:

trứngTT – Philippe Caco và Marc Campet, hai chàng trai người Pháp đã có một quê hương thứ hai: làng bè Châu Đốc. Họ đã đến đây từ lúc làng bè còn thưa thớt. Ở đó hai anh em đã cùng ăn, cùng trải qua cuộc sống thăng trầm với người dân làng bè.

Món quà đầu tay

Năm 1993, tốt nghiệp Ðại học Nông nghiệp Paris khoa thủy sản, Philippe quyết định đến Việt Nam vì “ở đó nuôi trồng thủy sản đang phát triển”.

Đến làng bè Châu Đốc, vừa xuống xe Philippe đã nghe tiếng lũ trẻ phía bờ Châu Giang vẫy tay “Hey, hello!”. Ngược lên hướng Cồn Tiên lại thấy thiếu nữ chèo đò áo bà ba tay cầm dầm í ới cười nhạo “cái anh Tây trắng da, cao chân không dám ngồi mạn xuồng mà cứ chồm hổm lúp xúp dưới đò”. Con gái làng bè lí lắc đi như chạy, nói như cười, mặt không mang khẩu trang. Oh no, sao mà… dễ thương!

Vào nhà bè của ông Bươi, nghe tiếng điện thoại reo, tiếng vô tuyến truyền hình vọng ra từ phòng khách sang trọng, Philippe càng thêm bất ngờ vì thấy nhiều nhà bè sung túc, có hàng trăm tấn cá nối đuôi dính chùm lại với nhau.

Những ngày ở làng bè Philippe quen với Út Lành, con gái của một chủ bè nức tiếng Châu Đốc. Út Lành duyên dáng, miệng nói tay chèo đưa anh đi quanh vùng ngã ba sông tìm hiểu nghề cá bè. Lúc này làng bè đang có tin Công ty Agifish đã thay sản phẩm xuất khẩu con tôm biển bằng con cá ba sa. Nhiều người đã đón đầu cơ hội làm ăn lớn, đầu tư mới nhiều nhà bè cá bề thế hàng tỉ đồng.
Cơn khủng hoảng con giống ngày càng trầm trọng, cung không đủ cầu. Thời đó con giống đắt đỏ, một con cá bụng – cá ba sa con – bằng ngón tay có lúc vọt lên 5.000 – 7.000 đồng.

Marc Campet với con cá saba mẹ nặng 7 kg

Ông Nhàn, ông Thọ và nhiều ngư dân nghe loáng thoáng có chuyên gia nước ngoài về tìm cách cho cá đẻ mừng như cởi lòng. Út Lành tỏ ra thạo tin nói với cha và bà con: “Ai có cá ba sa to khỏe hãy tặng Philippe để anh ta tuyển làm cá bố mẹ“. Công ty Agifish cũng vào cuộc bằng việc cho thành lập trại nghiên cứu sinh sản cá giống và mời Philippe hợp tác.

Hôm xuống bè vừa gặp Philippe, ông Nhàn đã bế xốc con ba sa phệ mỡ nặng đến 5kg trao cho anh. “Tui đã nuôi và đặt cho nó cái tên Lucky may mắn làm kiểng trong bè từ lâu! Líp xem thử được hông?”. Bà Hai vợ ông vừa đánh về một xuồng cá linh tạp dùng làm thức ăn cho cá, thấy Philippe liền tất tả đi um lại vò rượu mời khách. Cầm ly đế âm ấm mùi gạo xứ lũ, Philippe cảm ơn món quà đầu tay của dân làng bè. Có ngọn gió nam từ sông ùa vào ruột bè làm lũ cá nhao lên tròn miệng đón mồi.

Hai tháng ở làng bè, Philippe và anh em cộng sự đã tuyển chọn ngẫu nhiên được 200 con cá ba sa đưa về nuôi. Ao cá Trường đại học Cần Thơ đón đàn cá mới, đón con Lucky mắn đẻ.

Duyên nợ làng bè

Ép trứng cá thụ tinh nhân tạo

Đến tháng 6-1995, Philippe và nhóm cộng sự của anh đón nhận thêm một người bạn mới – Marc Campet – vừa tốt nghiệp Ðại học Thủy sản Pháp. Đến làng bè, anh đã có ngôi nhà mới, một phòng thí nghiệm ngay trên nhà bè của Công ty Agifish An Giang.

Philippe và Marc đã áp dụng phương pháp cấy chip điện tử có ghi mã số vào thân cá để dễ kiểm tra, phân biệt, thay cho cách dùng phẩm mực mờ nhạt không chính xác như trước đây. Hàng tháng trời cứ cách 10 ngày một lần nhóm “bà đỡ”  hết vớt cá lên lại thả cá xuống, chích hormone kích dục tố, tìm mọi cách vẫn không thấy lũ cá mẹ rụng trứng. Thế rồi trong một lần kiểm tra, Philippe bất ngờ thấy bụng một con cá phình to. “Nó trở dạ thật rồi”. Dò mã số rõ là con Lucky của Hai Nhàn, quả thật hữu duyên tương ngộ!

Philippe và Marc đã áp dụng kỹ thuật cho cá tra sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá bột và chuyển giao ra dân. Đến nay dân làng bè đã tự cho cá tra đẻ trứng, thụ tinh, với tỉ lệ nở và sống khá cao 60-70%. Lượng con giống cho bà con nuôi cá tra bè xuất khẩu hằng năm đã lên đến 500 triệu con, sản lượng cá nguyên liệu cũng trên 200.000 tấn, gấp 10 lần năm 1995.
Philippe cũng đã thành công cho cá vồ đém và cá bông lau sinh sản nhân tạo. Còn Marc sẽ nghiên cứu tìm ra loại thức ăn làm tăng chất lượng cá da trơn xuất khẩu.

Lucky được đưa lên khay kích đẻ, người nó bắt đầu cương cứng, bụng mo lên căng phồng. “Bà đỡ” Philippe kỹ tay vuốt nhẹ dạ dưới “phụ sản” Lucky. Ngay lần đầu oằn bụng rặn, từ cửa mình con cá phụt ra tia trứng vàng; lần thứ hai rồi thứ ba trứng cứ chảy tràn vào khay chứa. 70 gam trứng cho lần đầu cá đẻ đã là thành công. Đến sáng hôm sau từng mụn trứng được xé màng, đàn cá li ti mới bắt đầu nhúc nhích chuyển mình. “Cá nở, cá nở rồi!”, Philippe và Marc như muốn hét toáng lên!

Tin cá đẻ dội về làng bè. Nhà bè ông Hai vui như cưới được rể quí, túm tụm khề khà bàn chuyện “Líp đẻ ra cá!”. Hôm sau, nhiều đại gia chủ bè đánh ngay chiếc Toyota mang theo phẩm vật cây nhà lá vườn vọt xuống Trường Cần Thơ chia vui.

Trở lại làng bè, hôm gặp lại Út Lành, Philippe đã tự tay thả con Lucky bụng đang ngậm đầy trứng về với sông Hậu. Út nói dân làng bè cũng mong có một ngày nào đó sẽ trả lại những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho bà con.

Giờ đây, Philippe Caco đã lấy bằng tiến sĩ, anh vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu kỹ thuật cho họ cá da trơn sinh sản. Còn Marc Campet sau lần về nước nhập ngũ làm nghĩa vụ công dân, lại khăn gói quay về làng bè tiếp tục hoàn thiện luận án tiến sĩ của mình. Ngồi trên bè, Marc nhắc lại cái lần anh suýt chết khi lặn xuống đáy sông sâu đến 7m để chặt dây dời bè đưa ra vùng nước thoáng.

Cũng may có anh Năm “móm” lặn cứu được anh đưa lên bờ. Sau lần thập tử nhất sinh ấy, Marc và Năm “móm” luôn có nhau, chiều nào cũng quần thảo đá bóng, bơi lội với thanh niên làng bè. Những lúc phải xa làng bè, Marc thèm được nghe tiếng cá đập nước, tiếng rao bán sớm khuya của dân thương hồ mộc mạc đến nao lòng. “Ở Việt Nam tôi đã nói được tiếng Việt, học được ở bà con cách nuôi cá truyền thống hiệu quả”, Marc nói.

Phá rừng “săn” sâm đất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:23 pm
Tags: ,

TTO – Vài tháng nay, mỗi ngày hàng trăm người vào rừng phòng hộ ven biển Sóc Trăng, Bạc Liêu để…”săn” sâm đất. 1kg sâm đất đổi được khoảng 1kg gạo nhưng những ngư dân nghèo sống ven rừng cũng biết rằng mỗi ký sâm đất mình săn được phải đào bới tứ tung hàng trăm gốc cây mắm.

Con sâm đất – Ảnh: Duy Khang

Tôi vào rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu vào một ngày giữa tháng tư. Mùa này sâm đất rất ít nhưng mới tờ mờ sáng trên con đê quốc phòng chạy dài từ biển Nhà Mát (thị xã Bạc Liêu) đến huyện Đông Hải đã xuất hiện nhiều tốp bà con quần áo lam lũ mang theo dao, dá, cuốc, thùng… đang lội thật nhanh vào rừng.

Đó là những lao động nghèo ở ven rừng phòng hộ thuộc thị xã Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và Đông Hải. Vì miếng cơm manh áo nên ngày nào những con người nghèo khó này cũng vào rừng phòng hộ và khu vực bãi bồi ven biển để bắt ốc, mò cua và hiện nay là đào sâm đất đổi gạo.

Sau khi bị lực lượng kiểm lâm cơ động cùng chính quyền địa phương tìm mọi cách ngăn chặn, mỗi khi đi “săn” mọi người đều mang theo bên mình một ít cơm và nước uống để có thể trốn biệt trong rừng cho đến tối mịt mới về nếu lỡ bị phát hiện.

Bắt được con sâm bật gốc một cây rừng

Những năm trước chỉ có vài chục người đến từ các tỉnh lân cận như: Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau… vào rừng phòng hộ Bạc Liêu bắt sâm. Thấy sản lượng sâm khai thác khá nhiều và bán được giá cao nên hiện nay hàng trăm người ở các xã: Long Điền Đông, Long Điền Tây (huyện Đông Hải), Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hậu A (Hòa Bình) và phường Nhà Mát, xã Hiệp Thành – thị xã Bạc Liêu đã nhanh chóng vào rừng.

Môi trường sống chủ yếu của sâm đất nằm dưới những gốc cây mắm tái sinh thuộc nơi gò cao, ẩm nên muốn bắt sâm “thợ săn” phải dùng dá, cuốc, xẻng… xắn mạnh vào gốc cây để đào lên một lớp đất sâu từ 1-2 tấc dính đầy rễ mắm.

Nơi nào rừng rậm rạp, “thợ săn” dùng dao… phát quang. Có những cây rừng nhiều năm tuổi cũng bị đào bật gốc để bắt sâm đất.  Mỗi gốc mắm chỉ tìm được một vài con sâm đất nhưng một “thợ săn” giỏi có thể bắt được 10-12kg/ngày; đào chậm 7-8kg/ngày.

Một người dân đang bới rừng tìm sâm đất ở dãy rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu – Ảnh: Duy Khang

Tương tự, bên phía rừng phòng hộ của tỉnh Sóc Trăng cũng có rất nhiều “thợ“săn” sâm đất.  Trong đó có hai anh em Thạch Hữu Cường và Thạch Hữu Tâm ở xã Vĩnh Hải của huyện Vĩnh Châu; khoảng 14-15 tuổi và đều  không biết chữ.

Trước đây, hai anh em mò cua bắt ốc ngoài bãi bồi ven biển cùng với gia đình. Mấy tháng nay trước “cơn lốc sâm đất”, Cường và Tâm cũng đã mua dá, cuốc, xẻng…ra rừng tìm sâm.

Cường cho biết: “Một ngày hai anh em tui vào rừng đào dưới gốc mấy cây mắm bắt được trên 15kg đồm độp (người dân ở đây gọi sâm đất (tên khoa học Sipunculus) là con đồm độp hay con chặt khoai – PV) bán với giá 9.000 – 10.000 đồng/kg. Nhờ có đồm độp mà tụi tui mỗi người kiếm được gần 100.000 đồng/ngày, sướng hơn trầm mình ngoài biển mò nghêu bắt ốc”.

Hàng chục hecta rừng bị đào bới mỗi ngày

Nhìn từ bên ngoài thấy những vạt rừng phòng hộ xung yếu ven biển Sóc Trăng và Bạc Liêu đang căng đầy sức sống với một màu xanh bạt ngàn. Tuy nhiên, khi lội sâu vào bên trong, trước mắt tôi là những cây mắm tái sinh đang xanh tốt trong phút chốc chỉ còn lại một tấc gốc to bằng cổ chân nằm sát mặt đất.

Một số nơi, rừng mắm đang thưa dần. Nếu bình quân 200m2 đất rừng đào được 1kg sâm đất (khoảng 200 con) thì với nửa tấn sâm mỗi ngày, khoảng hơn 10ha đất rừng bị đào bới tứ tung. Nhiều khoảnh rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu, Sóc Trăng bị cày xới mỗi ngày nhìn như những… thửa ruộng vừa bị xới tơi lớp đất mặt để chuẩn bị gieo mạ.

Một gia đình “thợ săn” sâm đất ở rừng phòng hộ Vĩnh Châu (Sóc Trăng) trên mảnh rừng vừa đào bới – Ảnh: Duy Khang

Ông Lê Ngọc Bội – hạt phó Hạt Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ biển Đông – cho biết: “Chúng tôi cùng các trạm kiểm lâm phối hợp với bộ đội biên phòng và công an xã tuần tra ngày đêm và nổ lực tuyên truyền cho bà con biết được tác hại của việc bới rừng tìm sâm nhưng do lực lượng quá mỏng nên làm không xuể. Rễ cây mắm nhú trên mặt đất, nếu bị xắn đứt sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của rừng phòng hộ xung yếu ven biển”.

Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng), tình trạng vào rừng phòng hộ “săn” sâm đất đã xuất hiện nhiều tháng nay.

Ông Phạm Hoàng Bê – phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu – đã ký công văn gửi Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UBND các huyện, thị xã đề nghị lực lượng kiểm lâm cơ động tăng cường công tác kiểm tra phòng chống phá rừng đồng thời tổ chức nghiên cứu, bảo tồn và phát triển con sâm đất ở vùng rừng ngập mặn ven biển để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên lâu bền…

Tuy nhiên, nhiều người vẫn tỏ ra băn khoăn với những “biện pháp mạnh” vì nếu không tạo được công ăn việc làm cho những cư dân nghèo ở ven rừng thì khó có thể ngăn chặn được việc bới rừng tìm sâm vì hiện nay con sâm đất chính là “cần câu cơm” của nhiều bà con mình.

Một cán bộ kiểm lâm ở Sóc Trăng thở dài: “Những bà con khai thác sâm đất trái phép đều quá nghèo, nếu bắt được để thu giữ tang vật, ra quyết định xử phạt hành chính họ cũng không có tiền nộp phạt. Giao cho địa phương tuyên truyền, giáo dục nhưng khó khăn quá thì bà con lại vào rừng tìm sâm”.

Trung Quốc thẳng tay chống đầu cơ địa ốc

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:29 pm
Tags: ,

Theo quy định mới do Hội đồng Nhà nước Trung Quốc công bố hôm 15/4, số tiền trả trước đối với những người mua căn nhà thứ hai sẽ tương đương với ít nhất 50% giá trị căn nhà, tăng so với mức quy định 40% hiện nay. Bên cạnh đó, lãi suất cho vay mua nhà sẽ không thấp hơn 110% so với lãi suất cơ bản.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng được yêu cầu tăng mạnh tỷ lệ tiền trả trước và lãi suất cho vay đối với các khách hàng mua ngôi nhà thứ ba.

Một nghị định vô hiệu hóa một định chế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:13 pm
Tags: , ,

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4/1/2010 và định chế kia là công ty cổ phần.

Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Về đăng ký

Công ty cổ phần thuộc loại trên muốn chào bán cổ phần riêng lẻ thì phải:

– Có hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ gửi tới – nói cho gọn – sở kế hoạch và đầu tư, chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán. Công ty cổ phần được phép thực hiện việc chào bán theo phương án đã đăng ký kể từ ngày có thông báo của sở kế hoạch và đầu tư về việc đã nhận được hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ mà sở kế hoạch và đầu tư không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung và cũng không có thông báo gì khác về hồ sơ đã nộp.

– Nếu công ty cổ phần là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài việc phải đáp ứng các quy định của Nghị định này còn phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan.

– Người đầu tư không được bán cổ phiếu trong vòng một năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán.

– Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi kết thúc đợt chào bán, công ty phải gửi Báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư đồng thời công bố kết quả chào bán trên website của tổ chức chào bán (nếu có).

Nhận xét

Về mặt thực tế

Hiện nay, với các bản phụ lục chi tiết và phức tạp ban hành kèm theo nghị định, một số sở kế hoạch và đầu tư các tỉnh, thành phố chưa dám nhận hồ sơ đăng ký hoặc nếu có nhận thì không biết hướng dẫn thực hiện việc đăng ký ra sao và cũng khó mà kiểm tra và đánh giá mức độ “đầy đủ và hợp lệ” của các nội dung bắt buộc (đặc biệt là các nội dung thuần túy về tài chính và kinh doanh) nêu tại các bản phụ lục đó.

Ai muốn làm – tức là công ty đang hoạt động hay định thành lập – đều kẹt hết!

Về mặt lý thuyết

Công ty cổ phần là một cách giúp những người sáng lập huy động được nhiều vốn. Luật Doanh nghiệp quy định, muốn lập thì phải có ít nhất ba người, góp đủ tối thiểu 20% vốn điều lệ; trong vòng ba năm kể từ ngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải góp đủ; không thì phải giảm vốn đã đăng ký.

Với ba người đầu tiên kia, trong vòng ba năm họ phải gọi và bán cổ phần cho vài mươi người nữa; số người không giới hạn, tuy nhiên họ không thể bán cho hơn 100 người để thành công ty đại chúng; vì phải đủ điều kiện về vốn tối thiểu.

Vậy các công ty cổ phần trong vòng ba năm đầu khó lòng lên công ty đại chúng. Ở đây ta thí dụ là công ty cổ phần đã có ba cổ đông sáng lập; họ muốn bán cho bốn năm người nữa, và với số cổ phần sẽ bán mà khi được góp đủ tiền thì công ty sẽ có đủ vốn điều lệ. Vậy là công ty cổ phần kia bị điều chỉnh bởi Nghị định này.

Khi ấy, ba người sáng lập kia – cũng là đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị – phải:

– Lập phương án chào bán, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt bán, theo nội dung ấn định; trong đó, xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán, và nếu bán cho đối tác chiến lược hoặc người lao động thì phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược hoặc người lao động.

– Đại hội đồng thông qua phương án chào bán và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; thông qua tiêu chuẩn và danh sách đối tác chiến lược, người lao động.

– Đăng ký với sở kế hoạch và đầu tư, 20 ngày trước ngày dự kiến chào bán và chờ quyết định của Sở trong 15 ngày, nếu không bị trả lại trong vòng 10 ngày trước đó.

– Trong vòng 10 ngày, kể từ khi bán xong, công ty gửi báo cáo kết quả đợt chào bán và danh sách cổ đông (theo mẫu quy định) cho sở kế hoạch và đầu tư.

– Mặc dù không được nói rõ trong nghị định, nhưng theo Luật Doanh nghiệp và các văn kiện hướng dẫn hoặc quy định các loại, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh liên quan đến vốn điều lệ, danh sách cổ đông sáng lập và tỷ lệ góp vốn (nếu còn trong thời hạn ba năm kể từ ngày thành lập) và các nội dung khác, nếu có, do có sự thay đổi nói trên theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Ngoài ra, nếu việc tăng vốn là để thực hiện dự án đầu tư mới hoặc có nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, công ty còn phải thực hiện việc đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư hoặc hoàn tất các thủ tục bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài và sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18-6-2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.

– Muốn bán đợt nữa phải chờ ít nhất sáu tháng.

Nếu rơi vào trường hợp trên, liệu có ai muốn lập công ty cổ phần hay tăng vốn cho nó nữa hay không?

Nghị định dẫn tới đâu?

Theo chúng tôi, những điều khoản trong nghị định trên bộc lộ các tính chất sau:

– Vô hiệu hóa cách thức gọi vốn và góp vốn của công ty cổ phần mà Luật Doanh nghiệp đã quy định. Như thế là vô tình phá hủy định chế công ty cổ phần. Nghị định này không phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.

– Sai chức năng. Xét theo chức năng truyền thống thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ kiểm soát các công ty niêm yết vì chúng nắm tiền của số đông người; những người ấy cần phải được bảo vệ thoát khỏi những hành vi sai luật hay lợi dụng của các công ty niêm yết. Mục đích cuối cùng của sự bảo vệ ấy là khuyến khích ngày càng có nhiều người tham gia thị trường chứng khoán để các công ty cần tiền có nơi cung cấp.

Như thế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không cần tự đặt cho mình bổn phận hay quyền hạn phải bảo vệ một số ít người vì họ tự lo được, do tiền đi liền khúc ruột, và không cần đến sự bảo vệ kia. Mặt khác, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng chẳng phải bảo vệ từ một người trở lên cho đến hàng chục ngàn người để rồi đặt ra quy định kia rồi giao cho các sở kế hoạch và đầu tư làm hộ và báo cáo cho mình.

Thực ra, việc theo dõi hay kiểm soát các nhà đầu tư mua chứng khoán (không cần biết chuyên nghiệp hay không) chỉ có thể thực hiện trên diện rộng thông qua trung tâm lưu ký chứng khoán của các sở hay sàn giao dịch chứng khoán, và trên diện hẹp là các công ty chứng khoán; chứ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay các sở kế hoạch và đầu tư cũng chẳng làm trực tiếp được.

Thế thì tại sao công ty bị buộc phải nộp danh sách cổ đông đã mua cổ phiếu riêng lẻ cho sở kế hoạch và đầu tư? Luật Doanh nghiệp đâu có đòi! Chưa nói đến chuyện trái luật, phải chăng đòi hỏi của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đi ngược lại cố gắng cải tổ thủ tục hành chính?

– Không rõ ràng. Khi quy định “nhà đầu tư không chuyên nghiệp” tức là họ không mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Vậy làm sao để công ty biết một người đầu tư nào đó là chuyên nghiệp hay không? Hơn nữa, nếu vậy, một người đã có chứng khoán trong tay thì không được mua cổ phần riêng lẻ nữa ư?

Chưa hết, nếu công ty cổ phần chỉ bán cổ phần cho chính các cổ đông sáng lập (hoặc hiện hữu) hoặc vừa bán cho các cổ đông này vừa bán cho các nhà đầu tư bên ngoài thì các cổ đông nói trên có bị tính trong giới hạn 1-99 nhà đầu tư hay không và khi đó công ty có bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ” hay không?

Thực ra, sự phân biệt nhà đầu tư chuyên nghiệp hay không cũng không chính xác. Người mua chứng khoán trên thị trường chứng khoán chỉ có hai loại là cẩn thận và liều lĩnh; người sau ta hay gọi là “người đầu cơ”, bây giờ gọi là “lướt sóng”. Trong hai loại người này ai là chuyên nghiệp? Người cẩn thận nắm chứng khoán hai ba năm, người lướt sóng nắm vài tháng rồi thôi vì lỗ?

– Ngoài ra, các khái niệm mang tính quyết định đến các nghĩa vụ của công ty lại không được giải thích hoặc định nghĩa rõ ràng hoặc không thể đáp ứng trên thực tế; ví dụ như thời điểm “dự kiến thực hiện việc chào bán”, “kết thúc đợt chào bán”, “đối tác chiến lược”, “tài liệu chứng minh đáp ứng tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài và tuân thủ quy định về hình thức đầu tư”, “việc công bố thông tin không được chứa đựng nội dung có tính chất quảng cáo và mời chào về việc bán cổ phần riêng lẻ”.

Như vậy, có nhiều khả năng là sẽ có nhiều công ty cổ phần bị bắt giò vi phạm quy định về trình tự và thủ tục đăng ký hoặc không đảm bảo được tính “đầy đủ và hợp lệ” của hồ sơ đăng ký. Hậu quả là hồ sơ sẽ phải sửa đổi, bổ sung, trả lại và tồi tệ hơn là có thể bị hủy kết quả chào bán do vi phạm. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể bảo “tôi cũng đòi các công ty niêm yết các điều tương tự họ có kêu ca đâu”. Ấy là vì chào bán trên thị trường (IPO) thì khác với chào bán riêng lẻ, cái trước lại còn có bảo lãnh phát hành, rồi thị trường sơ cấp.

– Sai bản chất. Do mục đích huy động vốn, nên cổ phiếu của công ty cổ phần được mua vào và bán đi tự do (trừ những cổ đông sáng lập). Đối với người mua cổ phần, khi mua bán thì chỉ cần hợp đồng chuyển nhượng của họ được hội đồng quản trị công ty phê duyệt để cho ghi vào sổ đăng ký cổ đông là xong.

Riêng yêu cầu báo cáo sau khi bán xong mỗi đợt cho sở kế hoạch và đầu tư, trong đó có tên các người đã mua, tạo ra một số câu hỏi: (i) Các ông A, B, C mua đợt này, có tên trong báo cáo như yêu cầu; nhưng sau đó – dù là một năm – họ bán đi thì danh sách đã nộp có giá trị gì? (ii) Sở kế hoạch và đầu tư giữ danh sách đó làm gì? Mỗi khi họp đại hội đồng cổ đông thì chính công ty chốt danh sách cổ đông, chứ đâu có phải sở kế hoạch và đầu tư; (iii) Các cổ đông muốn xem ai khác cũng là cổ đông như mình, hay bao nhiêu người được chia cổ tức thì họ xem sổ đăng ký cổ đông, chứ ai lên sở kế hoạch và đầu tư?

– Không bao quát. Một công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên có thể có đến 50 người; khi mua bán phần góp vốn thì công ty chỉ đăng ký tên họ với sở kế hoạch và đầu tư. Khi làm công ty không phải lập phương án gọi vốn, sử dụng vốn. Tại sao công ty cổ phần bán cổ phần cho hai ba người – chưa đến 50 – thì lại phải có các phương án kia? Áp dụng các đòi hỏi của loại công ty niêm yết có hàng ngàn người cho loại công ty cổ phần có mươi người là thiếu một cái nhìn bao quát về nhiều lãnh vực khác nhau.

– Gây thiệt hại cho việc kinh doanh và đầu tư. Nghị định bắt mỗi đợt chào bán công ty phải chờ sáu tháng? Công ty cần gọi vốn trên số 20% ban đầu của các cổ đông sáng lập tại sao phải chờ? Nếu công ty cần tiền và có người mua tại sao cũng phải chờ? Nhà đầu tư mua xong bỗng cần tiền dù phải bán lỗ, tại sao họ phải chờ một năm?

Mặt khác, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán cho phép cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ trường hợp cổ phần của cổ đông sáng lập trong ba năm kể từ khi thành lập công ty, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, và cổ đông giữ một số chức vụ quản lý trong công ty bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần từ sáu tháng đến một năm kể từ ngày công ty niêm yết.

Nghị định sáng tạo thêm một trường hợp hạn chế chuyển nhượng là khi công ty kết thúc đợt chào bán thì người mua bị hạn chế chuyển nhượng một năm. Hạn chế như vậy là không cần thiết vì phần lớn cổ phần được chào bán là cổ phần phổ thông và việc phát hành là để huy động vốn phục vụ hoạt động của công ty, việc có thay đổi cổ đông sau đó do việc chuyển nhượng không ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty.

Trừ trường hợp đối tác chiến lược và người lao động nếu có nhu cầu cam kết gắn bó lâu dài thì có thể thỏa thuận riêng về việc hạn chế chuyển nhượng với công ty. Quy định như vậy là trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, đồng thời tạo ra nhiều rối rắm như việc chồng lấn các thời hạn hạn chế theo nhiều văn bản khác nhau.

– Không khả thi. Theo nghị định, đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của các công ty cổ phần phải thông qua một loạt các văn kiện trước và sau khi kết thúc đợt chào bán. Đối với các công ty cổ phần đang hoạt động, muốn tăng vốn, mà phải làm nào là phương án chào bán cổ phần, phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán, tiêu chuẩn đối tác chiến lược và người lao động, danh sách đối tác chiến lược và người lao động, thay đổi mục đích sử dụng vốn thu được từ việc chào bán thì biết bao là việc nhiêu khê mà chẳng giúp ích cho các công ty đó.

Bản thân đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị cũng đã phải phê duyệt việc sửa đổi điều lệ, các nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do kết quả của việc chào bán, giờ phải gánh thêm phê duyệt nhiều thứ khác mà thời điểm thì khác nhau.

Liệu rằng với công ty mà số lượng cổ đông và thành viên hội đồng quản trị lớn, ở rải rác trên cả nước hoặc công tác ở nước ngoài thì việc triệu tập các cuộc họp hoặc lấy ý kiến liên tục, nhiều lần có khả thi và thuận lợi cho công ty hay không?

Chưa bàn đến việc tốn kém nhiều chi phí cho việc tổ chức cuộc họp. Những quy định ấy phục vụ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hay công ty cổ phần? Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần các thứ đó từ các công ty cổ phần làm gì?

Với các tính chất nêu ở trên thiết tưởng công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng nên được loại bỏ ra khỏi phạm vi điều chỉnh của nghị định nêu trên. Nghị định ấy chỉ nên áp dụng cho công ty đại chúng và niêm yết chứng khoán đã được điều chỉnh trong Luật Chứng khoán.

Nguyễn Ngọc Bích – Ngô Duy Minh (TBKTSG)

Xung quanh đề xuất “gạt” vàng khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu

Nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ.

Một lần nữa, nhập khẩu vàng lại được cho là nguyên nhân chính dẫn tới nhập siêu trong quý 1/2010.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm đã giảm 1,6%, nhưng với việc nhập khẩu hơn 10 tấn vàng trong cùng thời kỳ, kim ngạch nhập khẩu tăng tới 37,6%.

Kết quả là nhập siêu 3 tháng đầu năm 2010 ước đạt 3,5 tỷ USD, tương đương trên 25% kim ngạch xuất khẩu, một tỷ lệ vượt chỉ tiêu Quốc hội đặt ra, khống chế dưới 20%.

Và sự việc càng được xới xáo lên, sau khi Hiệp hội Kinh doanh vàng dự kiến đề nghị Ngân hàng Nhà nước “gạt” vàng ra khỏi danh sách hàng xuất nhập khẩu. Vậy đâu là mục tiêu các bên liên quan đặt ra trong sự việc này?

Lý do “gạt” vàng

Tại báo cáo trình lên Chính phủ trong kỳ họp cuối tháng 3, đầu tháng 4 vừa rồi, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán, nếu loại trừ “yếu tố” vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng 11,9%.

Với báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mà thực chất người “chắp bút” thường lệ là Tổng cục Thống kê, những tác động của vàng trong hoạt động thương mại quốc tế, cũng như cân đối xuất nhập khẩu thường được đưa ra công khai để người xem hiểu đúng vấn đề.

Nhưng đã vậy, Bộ Công Thương dường như còn “rộng tính” hơn. Theo ý kiến một thứ trưởng của bộ này, cách tính toán của Bộ Công Thương cho thấy, nếu không tính vàng, xuất khẩu của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm nay vẫn tăng xấp xỉ 18%; và thậm chí có thể tăng đến 24% nếu dầu thô không phải “để dành” khoảng 2 triệu tấn cho sử dụng trong nước.

“Rõ ràng, việc chúng ta đưa vàng vào cân đối xuất nhập khẩu và cân đối nhập siêu hoàn toàn không phản ánh đúng tương quan thực tế. Bởi vì, vàng thực ra không phải hàng hóa đơn thuần mà đây là một thứ ngoại tệ, cho nên nhập vàng làm tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia lên, nói chung”, vị thứ trưởng trên cho biết.

Không lâu sau khi những thông tin trên được báo chí đưa tin, xuất hiện ý kiến “ủng hộ” từ phía Hiệp hội Kinh doanh vàng. Theo hiệp hội này, Ngân hàng Nhà nước nên đưa vàng ra khỏi danh sách mặt hàng xuất nhập khẩu, và xem vàng như một ngoại tệ mạnh.

Không tạo được đồng thuận

Tuy nhiên, những quan điểm nghiêng về kiến nghị gạt vàng ra khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu dường như khá đơn độc với đề xuất của mình. Theo tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 7/4, Ngân hàng Nhà nước chưa tính đến việc này.

Là người có lẽ sẽ phúc đáp đề xuất của Hiệp hội Kinh doanh vàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu giải thích rằng, việc nhập vàng phải dùng đến ngoại tệ, như vậy vẫn có ảnh hưởng đến cán cân thanh toán.

Chịu trách nhiệm chính trước con số nhập siêu lớn trong quý 1, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, trong một cuộc trả lời trực tiếp VnEconomy bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN 16, khẳng định: “Vàng vẫn phải tính vào thống kê xuất nhập khẩu, vì nó nằm trong các hoạt động trao đổi thương mại”.

Giải thích cho việc bộ này đưa ra con số tăng trưởng xuất khẩu khi loại vàng khỏi danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu, Bộ trưởng Hoàng cho rằng, khi so sánh tăng trưởng và xu hướng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào.

Bởi nếu không, sẽ làm sai lệch cách nhìn nhận về xuất, nhập khẩu và nhập siêu, do cân đối này sẽ lệ thuộc nhiều vào thời điểm xuất hay nhập khẩu vàng, và việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, đặc biệt là tỷ giá, Bộ trưởng Hoàng cho biết.

Ông khẳng định: “Chúng tôi chỉ đề nghị, khi xem xét so sánh tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu thì không nên tính vàng vào, chỉ riêng cái đó thôi. Chứ còn thống kê vẫn phải tính”.

Về phía cơ quan lập và công bố báo cáo tình hình xuất nhập khẩu hàng tháng, Tổng cục Thống kê cho rằng việc đưa vàng vào danh sách hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay là đúng thông lệ quốc tế.

Theo một số tài liệu được bà Lê Thị Minh Thủy, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (Tổng cục Thống kê) gửi cho VnEconomy trước đó, từ năm 1998, phương pháp thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa đã tuân theo các chuẩn mực của thống kê Liên hợp quốc (khuyến nghị IMTS.Rev.2), và Qũy tiền tệ quốc tế (liên quan đến thống kê Cán cân thanh toán – BPM5).

Theo bà Thủy, việc thống kê vàng trong danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu như hiện nay thể hiện đúng luồng hàng hóa vào/ra khỏi phạm vi quốc gia và phản ánh trong cán cân xuất, nhập khẩu.

Làm rõ thêm quan điểm trên, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) Bùi Bá Cường khẳng định, chỉ có Ngân hàng Nhà nước xuất, nhập khẩu vàng mới coi là vàng tiền tệ, còn các doanh nghiệp ngân hàng hoặc phi ngân hàng khác khi nhập hay xuất vàng đều coi là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa bình thường.

“Khi quan niệm vàng là xuất hay nhập khẩu hàng hóa thì nó sẽ tác động đến tính toán vĩ mô. Nếu loại bỏ vàng ra khỏi thống kê xuất, nhập khẩu thì sẽ tác động ngay đến việc nhìn nhận về cán cân thương mại”, ông nói.

* Theo thông lệ quốc tế hiện nay, vàng với ba chức năng là hàng hóa (sử dụng cho sản xuất, chế tác, kinh doanh), phương tiện lưu giữ giá trị và phương tiện thanh toán, được phân làm hai loại: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, hay còn gọi là vàng hàng hóa.

Vàng tiền tệ là vàng do các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ quốc gia. Nếu cơ quan này mua, bán vàng với cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của nước khác hoặc một tổ chức tiền tệ quốc tế thì giao dịch này không được thống kê vào xuất nhập khẩu hàng hóa.

Vàng phi tiền tệ là vàng ở các dạng đã hoặc chưa gia công (thanh, thỏi, bột, vảy…) được xuất nhập khẩu bởi các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho mục đích sản xuất, kinh doanh, lưu giữ giá trị, được tính vào thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa.

Create a free website or blog at WordPress.com.