Ktetaichinh’s Blog

April 9, 2010

Khi doanh nghiệp nước ngoài “qua mặt” cơ quan thuế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:18 pm
Tags: ,
(VOV) – Trong khi hầu hết doanh nghiệp may mặc Việt Nam dù phải nhập khẩu nguyên phụ liệu của nước ngoài, đều làm ăn có lãi, nhưng hơn 80% doanh nghiệp may mặc có vốn đầu tư nước ngoài lại báo lỗ

Vậy thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kêu thua lỗ đã dùng “thủ thuật” “biến lãi thành lỗ” như thế nào? Phương pháp của họ là “chuyển” giá. Tức là nhiều doanh nghiệp FDI cố tình thua lỗ ở Việt Nam để chuyển lãi về công ty mẹ. Họ chấp nhận nhập khẩu nguyên liệu máy móc đầu vào từ công ty mẹ với giá thật cao, rồi bán lại hàng hóa sản xuất ở Việt Nam cho công ty mẹ với giá thật thấp để không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà thậm chí lại còn được hoàn thuế giá trị gia tăng. Một khi họ báo lỗ họ sẽ không phải đóng thuế thu nhập và các khoản thuế khác nữa.

Tác hại của thủ thuật này không chỉ là ngân sách nhà nước bị mất đi một khoản thuế lớn, mà hàng năm chúng ta còn phải dành một lượng ngoại tệ không nhỏ cho việc nhập về những nguyên liệu, máy móc cao hơn giá trị thực của nó. Nhưng nguy hiểm hơn nữa đó là khi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, đại diện phần vốn của Việt Nam trong liên doanh có thể không chịu nổi và nhanh chóng rút vốn, nhường sân cho đối tác. Thực tế cho thấy, không ít các doanh nghiệp liên doanh đã bị các công ty mẹ ở nước ngoài “thôn tính” theo kiểu này.

Đáng nói nữa là dù biết khá rõ thủ thuật lách thuế của các doanh nghiệp FDI, nhưng việc chứng minh điều này không phải dễ đối với ngành thuế. Cho đến giờ việc kiểm soát giá nội bộ để chống gian lận qua chuyển giá là một thách thức lớn đối với các cơ quan quản lý ở Việt Nam. Lý do một phần vì ở ta chưa có luật chống chuyển giá…, một phần vì Luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp chưa đủ chặt chẽ để quản lý và chế tài hành vi này. Ngành thuế vẫn phải áp dụng các biện pháp cũ là phân loại doanh nghiệp, yêu cầu doanh nghiệp giải trình và giám sát chặt chi phí mức tiêu hao vật tư và hợp đồng mua bán của các doanh nghiệp này. Và tất nhiên, hiệu quả của các biện pháp vừa nêu không hiệu quả, thậm chí là “bó tay” đối với các thủ thuật trốn thuế của các doanh nghiệp FDI.

Advertisements

Xuất khẩu thủy sản: Khát nguyên liệu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:11 pm
Tags: , ,

Ông Huỳnh Minh Tường cho biết, trước tình hình khan hiếm nguyên liệu, Cty Baseafood đã chuyển hướng chiến lược trong sản xuất kinh doanh và đồng thời thực hiện một số giải giáp cơ bản như: đầu tư và làm những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tức làm hàng tinh chế, để giảm lượng nguyên liệu nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận; xây dựng hệ thống kho lạnh để trữ nguyên liệu thu mua trong những lúc dồi dào; tăng cường nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài; chuyển dịch cơ cấu từ sử dụng nguyên liệu đánh bắt (biển) sang nguyên liệu nuôi trồng. http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=191116&ChannelID=3

Vũ khí “mềm” có sức công phá “khủng”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:42 pm
Tags: ,

Vượt ra khỏi lĩnh vực giải trí, sức lôi cuốn khó cưỡng của Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola” hay “sự thống trị của McDonald’s” còn được nâng tầm và được tiếp cận ở địa hạt của ngoại giao quốc tế và địa chính trị.

LTS: Cha đẻ của sức mạnh mềm, GS Nye từng viết: “Trước khi bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, nó đã bị  xuyên thủng bởi truyền hình và phim ảnh.

”Các thành tố của hệ thống truyền thông Mỹ từ phim Hollywood, nhạc pop cho tới các các thương hiệu như McDonald, Cocacola, Harvard… là một sức mạnh mềm mà chính quyền Mỹ không phải lúc nào cũng kiểm soát và có ý thức kiểm soát trọn vẹn, cho dù ảnh hưởng của nó là to lớn.

Tuần Việt Nam và Trung tâm sức mạnh mềm Joseph Nye trân trọng giới thiệu các nghiên cứu của hai tác giả Watanabe Yasushi và David McConnell về lĩnh vực này.

“Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola”

Văn hóa đại chúng là toàn bộ các ý tưởng, nhận thức, thái độ, các tác phẩm, hình ảnh và các hiện tượng khác được yêu mến và tương thích với nền văn hóa chủ đạo trước đó, đặc biệt là văn hóa Tây Âu

Tập hợp các ý niệm này được truyền đi mỗi ngày trong xã hội do ảnh hưởng chủ yếu của truyền thông đại chúng.

“Văn hóa đại chúng và truyền thông đại chúng có một mối quan hệ cộng sinh: phụ thuộc lẫn nhau và cộng tác mật thiết”. – K. Turner (1984)

Dù chưa thể cân đo đong đếm được hết các ảnh hưởng của nền văn hóa đại chúng Mỹ (Popular Culture) nhưng sự xâm thực của nó trên thế giới là có thực.

Giờ đây, sức lôi cuốn của nền văn hóa này đã được tiếp cận ở bên ngoài địa hạt của giải trí, truyền thông và trở thành một loại công cụ vô cùng hữu hiệu trong việc phát tán sức mạnh mềm của Mỹ.

Sức hấp dẫn đó được truyền đi khắp nơi trên toàn cầu nhờ sự nổi tiếng của các biểu tượng trong ngành công nghiệp giải trí của Mỹ – từ Madona cho tới McDonald’s và chú chuột Mickey.

Sức lôi cuốn của văn hóa đại chúng mạnh mẽ tới mức đã có lúc người ta coi sự lan truyền của nó như một dạng “xâm lăng” hoặc “bành trướng” tại những bối cảnh khu vực nhất định.

Chẳng hạn, người ta gọi “Chủ nghĩa thực dân Coca-Cola” hay “sự thống trị của McDonald’s”. Vượt ra khỏi lĩnh vực giải trí, sức lôi cuốn khó cưỡng của họ còn được nâng tầm và được tiếp cận ở địa hạt của ngoại giao quốc tế và địa chính trị.

“Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin” (Ảnh nguồn: floridaholidays4unow.co.uk)

Tuy nhiên, vai trò của văn hóa đại chúng trong địa hạt này lại rất gây tranh cãi. Nhiều người cho rằng nếu chỉ tập trung vào văn hóa đại chúng thì sẽ làm tầm thường hóa các phân tích về tổ hợp phức tạp bao gồm rất nhiều dạng tác động quan trọng khác của sức mạnh mềm, chẳng hạn như ngoại giao nhà nước và các chương trình giáo dục.

Rõ ràng, sức mạnh mềm không đơn thuần chỉ là Chuột Mickey, Madonna, McDonald’s hay là MTV. Văn hóa đại chúng có thể làm cho việc thảo luận về chính sách đối ngoại của Mỹ nghe có vẻ rất tầm thường, nhưng sức công phá của nó cho thấy đây là một lực tác động có thật và không thể cưỡng nổi.

“Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin”

Quan trọng hơn, rất khó – nếu như không nói là không thể nào – lượng hóa được tầm ảnh hưởng của văn hóa đại chúng. Cho dù sức hấp dẫn của nó là gì, văn hóa đại chúng không hề tạo ra các tác động có thể đo lường được, và cũng không đem lại kết quả đơn lẻ như mong muốn ở những nơi mà nó được tiếp nhận.

Đặc biệt là, không có gì chứng minh được rằng sự phổ biến của văn hóa đại chúng – từ việc xuất cảng những bộ phim của Hollywood hay là các ca khúc nhạc pop bằng tiếng Anh nổi tiếng trên toàn cầu – đã thôi thúc cho việc hình thành nên các điều kiện của chủ nghĩa đa nguyên, tự do ngôn luận hay là dân chủ.

Sức hấp dẫn của văn hóa đại chúng không trực tiếp tạo nên các cuộc cách tân tại những nước còn thiếu thiện cảm với  “tự do” và “dân chủ”.

Ảnh nguồn: joystiq.com

Nhưng các thông điệp của nó một khi đã được tiếp nhận thì thường được coi như là các biểu tượng của các giá trị đi cùng với chủ nghĩa cá nhân và tự do ngôn luận.

Theo cách đó, có thể dẫn tới thay đổi về mặt xã hội và chính trị khi những khát vọng được tiếp thêm động lực để trở thành hành động của tập thể.

Trở lại với Bức tường Berlin chia cắt nước Đức, những thanh niên Đức đã đập tan bức tường này đều mặc những chiếc áo phông vẽ hình logo MTV. Thậm chí có người còn kết luận rằng: “Chính MTV đã kéo sập bức tường Berlin”.

Nhiều người nghĩ  rằng bất kể ảnh hưởng của văn hóa đại chúng là gì, thì chính quyền Mỹ cũng không nên liên can tới việc phổ biến các thông điệp của loại văn hóa này trong việc thực thi chính sách đối ngoại của Mỹ. Và, văn hóa nên nhường lại cho các nhân tố phi nhà nước.

Nhưng, trên thực tế thì văn hóa đại chúng của Mỹ lại được triển khai với rất nhiều cấp độ áp dụng khác nhau, đã trở thành một phần trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ qua.

Bất kỳ tổng thống nào của Mỹ – từ thời Woodrow cho tới George W. Bush – đều hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của sức mạnh văn hóa Mỹ.

Xuất khẩu “phong cách sống kiểu Mỹ”

Ngành công nghiệp phim ảnh và truyền hình của Mỹ có vô vàn ví dụ minh chứng cho tầm quan trọng chiến lược này của văn hóa đại chúng trong việc phát triển có hệ thống chính sách đối ngoại của Mỹ. Nó cũng đưa ra các minh chứng rõ ràng về những phản ứng hết sức trái chiều mà nền văn hóa đại chúng Mỹ đã kích động như thế nào trên thế giới.

Về bản chất, sự lôi cuốn từ sức mạnh mềm của Mỹ trong lĩnh vực văn hóa đại chúng chủ yếu dựa trên các hệ thống giá trị ẩn sâu trong các khu vực mà nó được công chúng địa phương truyền tải và tiếp nhận.

Tại các quốc gia phương Tây, nơi mà công chúng có sự chia sẻ rộng rãi các giá trị tự do và lâu bền gắn liền với chủ nghĩa cá nhân và dân chủ, thì các bộ phim cũng như truyền hình của Mỹ đạt được những thành công rất lớn và nổi tiếng.

Ảnh nguồn: bostoncondoloft.com

Nhưng các nhóm tinh hoa của các quốc gia này cũng phản ứng lại bằng cách hạn chế tầm quan trọng của các sản phẩm văn hóa Mỹ, và cũng tìm cách tạo ra đối trọng từ chính văn hóa bản địa, song những động thái này lại có xu hướng xuất phát từ động cơ bảo hộ về mặt thương mại.

Từ góc  độ lý thuyết, các nhà phân tích về sức mạnh mềm của Mỹ thường bị giới hạn trong cách tiếp cận tự do mới, trong đó nhấn mạnh vai trò của các nhân tố phi nhà nước và tầm quan trọng của các ý tưởng và giá trị trong việc định hình nên chính sách đối ngoại.

Trên thực tế, việc xuất cảng các giá trị và phong cách sống kiểu Mỹ theo con đường Hollywood và truyền hình vệ tinh lại rất phù hợp với các mô hình tự do mới.

Tuy nhiên, việc xuất khẩu có tính chất thương mại hóa các sản phẩm văn hóa của Mỹ chưa bao giờ đơn thuần là một sứ mệnh đạo đức do các nhân tố  phi nhà nước đảm nhận, cho dù đó là các nhà sản xuất của Hollywood hay là các chương trình của CNN.

Chính phủ Mỹ chưa bao giờ tỏ ra thờ ơ với các lợi ích thương mại từ việc xuất khẩu văn hóa Mỹ. Tương tự, các đối tác thương mại của Mỹ từ lâu đã lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực lên cán cân thanh toán quốc gia khi mà các thị trường của họ tràn ngập các sản phẩm văn hóa Mỹ.

Do đó, có  thể nói rằng, cách thức quảng bá cho sức mạnh mềm của chính phủ Mỹ không chỉ mang đặc tính của chủ nghĩa lý tưởng cao cả, mà còn bị ảnh hưởng từ cách tiếp cận đầy tính thực dụng trực thuộc tư duy thực tế trong ngoại giao quốc tế của Mỹ.

Dẫu vậy, trong chính sách đối ngoại của Mỹ thì chủ nghĩa lý tưởng giáo điều và chủ nghĩa thực tế trong hoạt động thương mại vẫn chỉ là “đồng sàng dị mộng” khi mà các sản phẩm văn hóa nội địa được xuất khẩu trên toàn cầu. Chúng cùng vận hành với nhau, mang tính cộng sinh và thậm chí là trái ngược nhau.

Phần 2: Hollywood: “Sứ thần” của Hoa Kỳ trên thế giới

Người Việt thực sự giữ bao nhiêu USD?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:15 pm
Tags: ,

“Khoảng 9,7 tỉ USD nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”.

Trước tết, Nguyễn Văn Hưng, một người buôn ôtô ở Hà Nội bỏ ra lượng tiền mặt tròn 5 tỉ VND để mua USD. Một phần trong số ngoại tệ đó, Hưng kể, được chuyển cho con gái đầu của anh đang học tại trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Oxford ở Anh, số còn lại anh cho vào két để ở nhà. “Tôi dự kiến cháu học năm năm sẽ mất khoảng 5 tỉ đồng. Đang sẵn tiền nên tôi mua hết USD. Chưa chuyển hết cho cháu thì giữ USD chắc cũng không bị mất giá như tiền đồng”, Hưng, người đang sở hữu gần chục căn nhà ở Hà Nội sau những phi vụ trúng quả lớn ở Đức và Tiệp Khắc cách đây 20 năm, nói.

Thật khó biết được số lượng những bậc phụ huynh làm giống như anh Hưng – tức mua ngoại tệ trong nước để nuôi con ăn học ở nước ngoài. Tuy nhiên, con số này có lẽ không nhỏ khi thống kê chỉ từ bốn đại sứ quán Mỹ, Anh, Úc, và Singapore cho biết đã có hàng chục ngàn sinh viên người Việt Nam đang theo học ở các trường học từ cấp tiểu học đến đại học ở các nước này. Vì thế, lượng USD tiền mặt gửi ra nước ngoài chỉ cho riêng hoạt động này có lẽ là không nhỏ.

Nhưng đây chỉ là một phần trong bức tranh người Việt Nam giữ tài sản bằng USD, thay vì tiền đồng. Người ta mua USD để cho con đi học nước ngoài, thanh toán ôtô nhập khẩu, trả tiền cho chiếc iPod, hay đơn thuần là cất trong tủ… Những hoạt động này làm nền kinh tế Việt Nam bị đôla hoá rất cao, ít nhất so với các quốc gia khác trong khu vực.

Kinh tế gia trưởng của ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Martin Rama giải thích về hiện tượng này: “Người dân và doanh nghiệp không yên tâm về tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD. Có rất nhiều người đang găm giữ USD vì họ cho rằng găm giữ USD là biện pháp bảo vệ tài sản cho họ”.

Người Việt thực sự đang giữ bao nhiêu USD? Câu hỏi này gây tò mò cho chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh. Ông Doanh kể lại, ông đã cùng ngồi phỏng đoán với phó chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiều hối, FDI, xuất khẩu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng… đã công bố cuối năm ngoái.

“Chúng tôi giật mình khi thấy sai số là 9,7 tỉ USD. Con số này không thấy xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Tức là nó nằm trong túi người dân. Điều này cho thấy chúng ta không thiếu ngoại tệ, nếu huy động được số tiền này”, ông Doanh nói.

Đánh giá của ông Doanh gần giống với một báo cáo mới công bố của ngân hàng Thế giới. Báo cáo này lưu ý rằng, có nhiều hạng mục bị sai số một cách không bình thường trong cán cân thanh toán (lên tới 10% GDP). “Người dân Việt Nam đang nắm giữ hàng tỉ USD”, ông Rama giải thích cho hiện tượng này.

Một câu hỏi khác: vậy còn bao nhiêu USD nằm trong tài khoản ngân hàng thương mại? Viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành giải thích thêm, dự trữ ngoại hối hiện có, cộng với khoảng 20 tỉ USD đang gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy “Việt Nam có hơn 30 tỉ USD”. Ông nói: “Con số này và số USD trong dân cho thấy, nền kinh tế không thiếu USD”.

Nhưng mặt khác, rõ ràng là đang có tình trạng thiếu ngoại tệ cho các giao dịch cần ngoại tệ.

Ông Rama nói tiếp: “Hiện tượng mua bán USD vượt ra ngoài biên độ chính thức trên thị trường tự do cho thấy một số dấu hiệu mất lòng tin vào đồng nội tệ”. Anh Hưng và nhiều người khác đang nắm giữ USD biết rất rõ điều này. Nhưng điều họ không biết là tỷ giá VND/USD luôn có chiều hướng tăng chính vì sự găm giữ đó, và đây là một yếu tố mang tính tàn phá nền kinh tế. Ông Thành ước tính, tỷ giá có thể dao động ở biên độ rất lớn 18.000 – 20.000 VND/USD, mà biên độ nhỏ nhất chỉ có thể có khi người dân từ bỏ găm giữ USD và chuyển qua VND.

Gợi ý này, tuy vậy, là bất khả thi. Ông Rama nói: “Tôi cho rằng, để dòng tiền vào thị trường không có kiểm soát là không thể được. Nếu để mọi người mua USD thì ngân hàng Nhà nước sẽ mất thêm nhiều dự trữ… Đây là áp lực với Chính phủ và Chính phủ hiểu được áp lực đó”.

* Chuyên gia kinh tế trưởng của ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á – Thái Bình Dương Vikram Nehru: “Thâm hụt tài khoản đối ngoại là đáng quan ngại đối với Việt Nam. Theo tôi, một cách giải quyết vấn đề này là tăng lãi suất. Nó sẽ mang lại hai kết quả. Thứ nhất là làm nguội bớt sức ép lạm phát; thứ hai là có hiệu ứng làm dòng vốn tài chính tạo ra thâm hụt quay trở lại, người dân rời bỏ USD để quay sang tiền đồng, qua đó dự trữ ngoại hối sẽ được bắt đầu tích luỹ lại”.

Bất động sản Hà Nội: Rất khó dự đoán!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:13 pm
Tags: ,

Một vài phân khúc thị trường bất động sản Hà Nội hiện nay trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, rất khó dự đoán

Văn phòng cho thuê trên đà giảm giá, dư cung trong ngắn hạn nhưng lại có thể thiếu về dài hạn do quy mô quá nhỏ so. Dự án căn hộ nhiều nhưng phần lớn đã “sang tay” hết dưới hình thức góp vốn trước khi được chào bán chính thức.

Chính vì lẽ đó mà ông Trần Như Trung, Giám đốc bộ phận nghiên cứu của Savills Việt Nam nhận xét rằng một vài phân khúc thị trường bất động sản Hà Nội hiện nay trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu, rất khó dự đoán.

Đánh giá thị trường bất động sản quý 1/2010, công ty nghiên cứu thị trường bất động sản Savills Việt Nam cũng nhận định thị trường bắt đầu có sự thay đổi, và trong tương lai sẽ hút thêm một lượng nhà đầu tư, những người phải tìm kiếm kênh đầu tư mới sau khi các sàn vàng đóng cửa trước thời hạn 31/3/2010 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Văn phòng cho thuê: Hạng C tốt nhất

Công ty nghiên cứu thị trường bất động sản Savills Việt Nam cho biết quý 1/2010 có khoảng 610.000 m2 diện tích văn phòng, tăng nhẹ 3,5% so với quý 4/2009, bao gồm 86 văn phòng các hạng A, B, C phân bố trên 10 quận của thành phố. Hai tòa nhà văn phòng mới là Hà Nội Tourism Tower (Quận Hoàn Kiếm) và Sky City Tower (Quận Đống Đa) đã bổ sung thêm khoảng 17.600m2 diện tích văn phòng vào tổng cung.

Công suất thuê trung bình của thị trường văn phòng trong quý này đạt mức 85%, tăng nhẹ khoảng 2% so với quý trước. Công suất thuê của văn phòng hạng B và C quý này cũng lạc quan hơn so với quý 4/2009. Trong khi đó, giá thuê văn phòng trên tất cả các hạng vẫn tiếp tục xu hướng giảm, thấp hơn 3,6% so với quý 4/2009, đạt khoảng 27 USD/m2/tháng.

Quy mô văn phòng hạng A được thuê trong quý này tăng hầu như không đáng kể. Văn phòng hạng C vẫn tiếp tục đạt kết quả tốt nhất. Trước những tác động ban đầu của quy định cấm sử dụng chung cư vào mục đích cho thuê văn phòng hoặc kinh doanh thương mại, văn phòng hạng C được dự đoán sẽ có nhiều chuyển biến tích cực hơn nữa trong các quý tiếp theo.

Trong 4 năm tới, khoảng 1,9 triệu mét vuông văn phòng từ 120 dự án dự kiến sẽ có mặt trên thị trường, dẫn đến tình trạng dư thừa nguồn cung. Ước tính khu vực quận trung tâm thành phố chỉ chiếm khoảng 5% lượng cung mới này.

Tuy nhiên, với tình trạng chậm tiến độ và trì hoãn vốn rất phổ biến ở Việt Nam, nhiều khả năng những dự án này sẽ đi vào thị trường muộn hơn dự kiến.

Giá thuê dự báo sẽ tiếp tục xu hướng giảm, tuy nhiên, sẽ có thể phục hồi trong vòng 12 đến 16 tháng. Vào thời điểm này, dự tính nhiều khách thuê sẽ linh hoạt tìm địa điểm thuê mới tại các khu vực ngoài trung tâm khi nguồn cung trong khu vực trung tâm thành phố được phủ kín. Do vậy, thị trường văn phòng kỳ vọng sẽ hồi phục và đạt mức tăng trưởng ổn định trong khoảng từ cuối 2010 cho đến nửa đầu 2011.

Căn hộ để bán: Giá thứ cấp tăng

Savills Việt Nam cũng cho biết, tại thị trường thứ cấp, Hoàng Mai là quận duy nhất có giá chào thứ cấp bình quân giảm nhẹ trong quý 1/2010. Giá chào thứ cấp ở 10 quận, huyện khác đều tăng từ 2% đến 12% so với quý trước.

Thị trường sơ cấp quý 1 có tổng cung là 1.816 căn hộ từ 15 dự án đang bán. Quận Cầu Giấy chiếm thị phần cao nhất (36%) trong nguồn cung sơ cấp, tiếp theo là quận Hoàng Mai với gần 22% và Từ Liêm 18%.

Toàn thị trường sơ cấp có số lượng giao dịch thành công thấp hơn so với quý trước. Khoảng 1.200 căn hộ đã được bán trong quý 1/2010, chiếm 2/3 nguồn cung sơ cấp. Trong quý trước, số lượng căn hộ đã bán được là khoảng 1.460 căn.

Thị trường tại các quận Gia Lâm, Thanh Xuân và Đống Đa hoạt động tốt với 100% nguồn cung đã được bán trong quý 1/2010. Phần lớn số căn hộ tại những dự án bắt đầu bán chính thức trong quý này ở các quận Gia Lâm và Thanh Xuân đã được bán theo hình thức hợp đồng góp vốn trước khi được chào bán chính thức.

Công ty Savills đánh giá, nhu cầu về nhà ở hiện vẫn cao. Hà Nội có diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp nhất cả nước (7 – 7,5 m2/người), so với diện tích nhà ở bình quân đầu người cả nước là 18,6 m2/người.

Hơn nữa, nhu cầu nhà ở còn được thúc đẩy bởi các yếu tố như phong cách sống đang thay đổi, dân số và tốc độ đô thị hóa cũng như thu thập bình quân đầu người tăng và cấu trúc gia đình thay đổi. Hà Nội đang mở rộng về phía tây có thể thu hút nguồn cầu căn hộ về khu vực này của thành phố.

Dự đoán, thị trường sơ cấp trong quý 2/2010 có thể nhận thêm một nguồn cung mới khoảng 1.990 căn hộ từ 7 dự án. Cuối 2010 có thể có nguồn cung mới gần 2.000 căn từ 9 dự án. Ngoài ra, ước tính sẽ có ít nhất khoảng 10.900 căn hộ sẽ được tung vào thị trường vào năm 2011. Bên cạnh đó, một lượng cung chưa xác định từ các khu đô thị mới cũng sẽ gia nhập thị trường trong tương lai.

Căn hộ dịch vụ: Giá thuê giảm

Tổng nguồn cung trên thị trường căn hộ dịch vụ trong quý 1/2010 không thay đổi so với quý trước. Hiện 41 tòa nhà căn hộ dịch vụ thuộc phạm vi nghiên cứu cung cấp cho thị trường khoảng 222.000m2, tương ứng với hơn 2.209 căn hộ. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái thì tổng cung của quý này đã tăng 7%, tương đương với hơn 100 căn hộ dịch vụ.

Thị trường căn hộ dịch vụ Hà Nội có diện tích dao động từ khoảng 40m2 tới 750m2, với các loại từ 2 tới 6 phòng ngủ và căn hộ áp mái. Hoạt động của thị trường căn hộ dịch vụ trong quý 1/2010 khá ổn định so với các phân khúc thị trường khác. Công suất thuê bình quân tăng nhẹ 1% so với quý trước. Tuy nhiên, giá thuê bình quân giảm 0,3 USD/m2/tháng so với giá thuê tại thời điểm quý 4/2009.

Tổng số căn hộ khách thuê trong quý này cao hơn khoảng 4 căn so với quý 4/2009. Do vậy, công suất thuê trong quý 1/2010 chỉ tăng nhẹ. Chủ của hầu hết các căn hộ dịch vụ đưa ra mức giá thuê thấp hơn.

Khách thuê căn hộ dịch vụ chủ yếu là các chuyên gia nước ngoài. Do vậy, có thể thấy nguồn cầu của phân khúc thị trường căn hộ dịch vụ phần lớn đến từ các đại sứ quán, các tổ chức phi chính phủ và các công ty nước ngoài.

Năm 2010 được đánh dấu là mốc quan trọng trong lĩnh vực thương mại với một loạt các Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Úc-New Zealand ký kết và có hiệu lực từ ngày 1/1/2010. Những sự kiện này có thể làm gia tăng số lượng các công ty nước ngoài vào Việt Nam. Theo đó, cầu về căn hộ dịch vụ có thể sẽ tăng và tạo ra những chuyển biến tích cực đối với phân khúc thị trường căn hộ dịch vụ.

Nguồn cung mới ước tính khoảng 2.300 căn hộ trong 4 năm tới, trong đó 47% thuộc huyện Từ Liêm. Dự kiến nguồn cung mới đưa vào thị trường gồm khoảng 60 căn hộ từ một dự án ở quận Tây Hồ và 84 căn hộ từ dự án Crown Plaza thuộc huyện Từ Liêm trong quý 3/2010 và quý 4/2010.

Trung Quốc làm lệch sự cân bằng tài nguyên

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:10 pm
Tags: , ,
Khi Mỹ và các nước phương Tây khác phục hồi từ cuộc suy thoái lớn, họ sẽ khám phá rằng bàn cờ tài nguyên toàn cầu đã bị nghiêng mạnh về phía TQ.

Hãy nghĩ về nó như một câu chuyện của hai nước. Khi nói đến việc mua sắm các nguồn lực để xã hội công nghiệp hoạt động, Trung Quốc hiện là nước nghiện mua sắm nhất trên hành tinh, trong khi Hoa Kỳ chỉ ở nhà.

Bị ảnh hưởng mạnh do suy thoái toàn cầu, Hoa Kỳ có kinh nghiệm trong việc giảm tiêu thụ dầu hỏa và các vật liệu công nghiệp quan trọng khác. Trung Quốc thì khác.

Do tác động của suy thoái kinh tế ở Mỹ sẽ kéo dài trong nhiều năm, các nhà phân tích tiên đoán sự phục hồi chậm khi nói đến việc tiêu thụ tài nguyên. Trung Quốc không phải như vậy.

Thật vậy, người Trung Quốc đã có kinh nghiệm trong việc tăng mạnh sử dụng nguồn dầu và các nguồn hàng hóa khác.

Hơn thế nữa, lường trước được việc tiêu thụ thật nhiều tài nguyên để thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai, và lo lắng về việc không biết có đủ các nguồn tài nguyên cung cấp, các công ty năng lượng khổng lồ của Trung Quốc và các công ty sản xuất – nhiều công ty đó thuộc sở hữu nhà nước – đã thực việc chi tiêu quá mức, khi phải đóng các nguồn cung cấp tài nguyên trong thế kỷ 21.

Họ đã mua các mỏ dầu, trữ lượng khí đốt tự nhiên, hầm mỏ, đường ống, nhà máy lọc dầu, và các nguồn tài nguyên khác trong một cuộc mua sắm bận rộn trên toàn cầu với tỷ lệ gần như chưa từng thấy.

Như đa số các quốc gia khác, Trung Quốc chịu một số ảnh hưởng xấu do suy thoái kinh tế mạnh trong năm 2008. Xuất khẩu giảm và việc tăng trưởng kinh tế bùng nổ trước đó, đã bị chậm lại so với mức kỷ lục. Tuy nhiên, cảm ơn gói kích cầu $586 tỉ đô la, những ảnh hưởng tồi tệ nhất chỉ tồn tại trong thời gian ngắn đã được chứng minh và tăng trưởng nhanh sớm trở lại với nhịp độ cao như trước đây.

Từ đầu năm 2009, Trung Quốc đã có kinh nghiệm về những bước nhảy quan trọng liên quan tới quyền sở hữu xe hơi và xây dựng nhà – cùng với những lo ngại về việc tạo ra bong bóng nhà ở – trong các dấu hiệu về sự thịnh vượng quay trở lại. Điều này lần lượt tạo ra một nhu cầu gia tăng trong việc sử dụng dầu, thép, đồng, và các vật liệu thô khác.

Chẳng hạn như dầu hỏa, tại Hoa Kỳ, thực tế việc tiêu thụ dầu đã giảm 9% trong hai năm qua, từ 20,7 triệu thùng mỗi ngày trong năm 2007 còn 18,8 triệu thùng mỗi ngày năm 2009. Ngược lại, lượng dầu tiêu thụ ở Trung Quốc đã tăng trong cùng kỳ, từ 7,6 triệu thùng mỗi ngày lên tới 8,5 triệu thùng.

Theo các dự báo mới nhất từ Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, điều này là bình thường. Nhu cầu sử dụng dầu của Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong suốt thời gian còn lại của năm nay và năm 2011, ngay cả khi lượng dầu tiêu thụ của người Mỹ không thay đổi.

Cũng như Hoa Kỳ, Trung Quốc mua một số dầu nhất định từ các giếng dầu trong nước, nhưng phải mua phần gia tăng từ các nhà cung cấp nước ngoài. Trong năm 2007, nước này sản xuất 3,9 triệu thùng mỗi ngày và nhập khẩu 3,7 triệu thùng, nhưng tỷ lệ đó đang thay đổi rất nhanh.

Đến năm 2020, được dự kiến chỉ sản xuất 3,3 triệu thùng, trong khi nhập khẩu 9,1 triệu thùng. Tình hình này cho thấy có “lỗ hổng chiến lược”, và do đó làm cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc gặp nhiều khó khăn.

Để giải quyết, cũng như các viên chức Mỹ trong hàng thập kỷ qua, họ đã đi tới việc giành quyền kiểm soát các nguồn năng lượng nước ngoài – và nhiều vật liệu tương tự quan trọng khác, bao gồm cả khí tự nhiên, sắt, đồng, và uranium.

Trung Quốc lạm dụng năng lượng

Các công ty năng lượng Trung Quốc bắt đầu mua lại các công ty nước ngoài và liên doanh khoan dầu (hoặc ít nhất mua cổ phần trong các các công ty này) ngay đầu thế kỷ 21. Ba tổng công ty dầu thuộc sở hữu nhà nước – Tổng Công ty Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), Tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và Công ty cổ phần Dầu mỏ hóa chất Trung Quốc (Sinopec) – đã dẫn đầu.

Những công ty này hoặc các công ty con có một phần vốn tư nhân như PetroChina thuộc CNPC và Công ty TNHH Quốc tế CNOOC thuộc Tập đoàn CNOOC – đã bắt đầu chiếm hết tài sản năng lượng nước ngoài tại Angola, Iran, Kazakhstan, Nigeria, Sudan và Venezuela.

Nhìn chung, những việc mua bán này vẫn còn ít so với các công ty khổng lồ phương Tây như ExxonMobil, Chevron, Royal Dutch Shell và BP. Tuy nhiên, nó đại diện cho một cái gì đó mới: sự hiện diện của một Trung Quốc phát triển trong vũ trụ đã từng bị các “công ty lớn ” phương Tây thống trị.

Sau đó, cuộc suy thoái mạnh đã xảy ra. Kể từ năm 2008, các công ty phương Tây hầu như đã miễn cưỡng đầu tư lớn vào các liên doanh dầu mỏ nước ngoài, do sợ suy thoái kéo dài sẽ giảm doanh số bán hàng toàn cầu. Tuy nhiên, các công ty Trung Quốc đã gia tăng các nỗ lực mua bán của họ.

Các quan chức chính phủ cao cấp đã thúc giục họ, những quan chức này đã thấy tầm quan trọng trong việc mua lại các nguồn tài nguyên có giá trị quyết định cho tương lai bị đói năng lượng với giá hạ.

Ông Zhang Guobao, người đứng đầu Tổng cục Năng lượng đã khẳng định hồi đầu năm 2009: “Cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế … có cùng một cơ hội và thử thách như nhau. Sự [phát triển kinh tế] chậm lại … đã giảm giá các nguồn tài nguyên năng lượng quốc tế và giúp chúng tôi tìm kiếm các nguồn tài nguyên ở nước ngoài”.

Như một vấn đề về chính sách, chính phủ Trung Quốc đã làm việc cực nhọc để tạo điều kiện kiểm soát các nguồn năng lượng nước ngoài. Ngoài những thứ khác, họ đã cho các công ty tài nguyên lớn của Trung Quốc vay dài hạn với lãi suất thấp, để tìm kiếm việc làm ăn ở nước ngoài, cũng như chính phủ nước ngoài sẵn sàng cho phép các công ty Trung Quốc tham gia vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của họ.

Chẳng hạn như năm 2009, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) đã đồng ý cho CNPC vay $30 tỉ đô la trong thời hạn 5 năm để hỗ trợ nỗ lực của công ty mua các tài sản ở nước ngoài. Tương tự, CDB đã cho công ty Petrobras, công ty dầu do chính phủ Brazil kiểm soát, vay 10 tỷ USD để phát triển mỏ dầu sâu ngoài khơi, đổi lại là một lời hứa cung cấp cho Trung Quốc 160.000 thùng dầu thô Brazil mỗi ngày.

Bị kích thích theo cách này với dòng tiền mặt bất tận quay trở lại, CNPC và các công ty khổng lồ khác của Trung Quốc đã đi vào một cuộc nghiện [mua sắm] toàn cầu, mua lại tài nguyên của mỗi loại [hàng hóa] tưởng tượng với số lượng đáng kinh ngạc ở Trung Á, châu Phi, Trung Đông, và châu Mỹ Latinh . Một phần danh sách của các hợp đồng quan trọng hơn gần đây bao gồm:

– Tháng 4 năm 2009, CNPC đã liên doanh với Kazmunaigas, công ty dầu thuộc sở hữu nhà nước của đất nước giàu năng lượng ở Trung Á Kazakhstan, để mua công ty năng lượng Kazakh, Công ty Liên doanh Mangistaumunaigas (MMG), với giá $3,3 tỉ đô la. Đây chỉ là các hợp đồng mới nhất trong một loạt các thỏa thuận cho Trung Quốc quyền kiểm soát hơn ¼ sản lượng dầu đang tăng của Kazakhstan. Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc đã cho vay $5 tỉ đô la để đầu tư vào dầu trong hợp đồng mới nhất này.

– Tháng 10 năm 2009, một liên doanh giữa CNPC và BP đã giành một hợp đồng khai thác giếng dầu Rumaila ở Iraq, có thể đây là một trong những giếng dầu lớn nhất thế giới ở đất nước có trữ lượng dầu lớn thứ ba trên thế giới.

Theo hợp đồng này, liên doanh sẽ đầu tư $15 tỉ đô la để tăng sản lượng hàng ngày của Rumaila từ 1,1 triệu-2,8 triệu thùng, tăng gấp đôi sản lượng ròng của Iraq. CNPC nắm 37% cổ phần; BP 38% cổ phần và chính phủ Iraq nắm 25% cổ phần còn lại.

Nếu liên doanh thành công, Trung Quốc có quyền sử dụng một trong những nguồn dầu khí có nhiều hứa hẹn trong tương lai nhất thế giới và là nền tảng để tham gia vào ngành công nghiệp dầu kém phát triển của Iraq.

– Tháng 11 năm 2009, Sinopec đã liên doanh với công ty Petroecuador, công ty thuộc sở hữu nhà nước Ecuador, một liên doanh 40:60 (Petroecuador nắm giữ phần nhiều hơn) để khai thác hai mỏ dầu ở phía đông tỉnh Pastaza của Ecuador. Sinopec trở thành nhà sản xuất chính ở Ecuador, đã liên doanh với CNPC để mua tài sản năng lượng của Ecuador thuộc tập đoàn EnCana của Canada hồi năm 2005 với giá $1,4 tỉ.

– Tháng 12 năm 2009, CNPC đã mua một phần của Boyaca 3 lô đất có dầu ở vành đai Orinoco, một khoản tiền lớn bỏ vào các mỏ dầu lớn ở miền đông Venezuela. Trong tháng đó, CNOOC đã lập một liên doanh với công ty nhà nước Petroleos de Venezuela SA để khai thác lô Junin 8 trong cùng một vùng.

Những hành động này được xem là một phần trong nỗ lực chiến lược của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez để gia tăng việc xuất khẩu dầu của đất nước ông tới Trung Quốc và giảm sự lệ thuộc việc xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

– Cũng trong tháng 12 năm ngoái, CNPC đã ký một thỏa thuận với chính phủ Myanmar xây dựng và vận hành một đường ống dẫn dầu chạy từ đảo Maday ở phía tây nước này tới Thụy Lệ, tỉnh Vân Nam, phía tây nam Trung Quốc.

Đường ống dẫn dầu dài 2.800 km sẽ cho phép tàu chở dầu Trung Quốc từ châu Phi và Trung Đông dỡ bỏ hàng hóa của họ ở Myanmar trên Ấn Độ Dương. Do đó tránh các chuyến đi dài tới bờ biển phía đông Trung Quốc ngang qua eo biển Malacca và Biển Biển Đông, khu vực do Hải quân Mỹ chi phối đáng kể.

– Tháng 3 năm 2010, Công ty Quốc tế CNOOC đã công bố kế hoạch mua 50% Tổng Công ty Bridas, một công ty năng lượng tư nhân của Argentina với các hoạt động dầu hỏa và khí đốt tại Argentina, Bolivia và Chile. CNOOC sẽ trả $ 3,1 tỉ đô la cho phần của mình ở Bridas, công ty do gia đình ông trùm Carlos Bulgheroni của Argentina sở hữu.

– Tháng 3, PetroChina liên doanh với công ty dầu khí Shell để mua Công ty Năng lượng Arrow, một công ty của Úc cung cấp chính về khí đốt tự nhiên có nguồn gốc từ vĩa than có khí metan. Hai công ty đang trả khoảng $1,6 tỉ cho mỗi bên và sẽ liên doanh 50:50 để điều hành Công ty Cổ phần Arrow.

Đó chỉ là lĩnh vực năng lượng. Các công ty kim loại và khai thác mỏ Trung Quốc đã làm sạch thế giới với những dự trữ đầy hứa hẹn như: sắt, đồng, boxit, và các loại khoáng sản công nghiệp chính khác.

Chẳng hạn như trong tháng 3, Aluminum Corp của Trung Quốc, hay Chinalco đã mua lại 44,65% cổ phần trong dự án quặng sắt Simandou ở nước Guinea, châu Phi. Chinalco sẽ trả cho công ty khai thác mỏ khổng lồ Anh – Úc, Rio Tinto Ltd., số tiền $1,35 tỉ đô la cho cổ phần này.

Nên nhớ rằng Chinalco đã sở hữu 9,3% cổ phần trong Rio Tinto và đã bị ngăn không cho mua lại cổ phần lớn hơn trong công ty này, cám ơn nỗi sợ hãi của Úc rằng Trung Quốc đang hấp thụ quá nhiều công nghiệp khoáng sản và năng lượng của đất nước.

Làm lệch sự cân bằng tài nguyên thế giới

Các công ty Trung Quốc như CNPC, Sinopec và Chinalco không phải một mình trong việc tìm kiếm sự kiểm soát nguồn tài nguyên có giá trị ở nước ngoài. Các công ty lớn của phương Tây cũng như các công ty thuộc sở hữu nhà nước ở Ấn Độ, Nga, Brazil, và các nước khác cũng đã được mua các tài sản như thế.

Tuy nhiên, rất ít công ty chỉ theo đuổi một mục đích duy nhất như các công ty Trung Quốc, lợi dụng giá cả tương đối thấp theo sau sự suy thoái toàn cầu, và ít có công ty có sẵn nhiều tiền như các công ty như thế, nhờ vào thiện chí của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và các cơ quan chính phủ khác cung cấp sự ủng hộ tài chính hào phóng.

Khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác cuối cùng phục hồi từ cuộc suy thoái lớn, họ sẽ khám phá ra rằng bàn cờ tài nguyên toàn cầu đã bị nghiêng mạnh về phía Trung Quốc.

Các nhà sản xuất năng lượng và khoáng sản đã từng xuất trực tiếp sản lượng của mình – và thường là do lòng trung thành chính trị của họ – sang Hoa Kỳ, Nhật Bản và Tây Âu hiện nay xem Trung Quốc như khách hàng chính và là người giúp đỡ.

Một điều có thể nhận ra sự thay đổi này, Ả Rập Saudi công bố gần đây rằng họ đã bán nhiều dầu cho Trung Quốc trong năm ngoái hơn là Hoa Kỳ, trước đây là khách hàng lớn nhất và được chiều chuộng nhất của họ.

Ông Khalid al A-Falih, Chủ tịch và là Giám đốc Điều hành của Saudi Aramco, công ty dầu khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước đã nói: “Chúng tôi tin rằng đây là sự chuyển đổi lâu dài. Thay đổi dân số và xu hướng kinh tế đang càng làm rõ ràng hơn – văn bản nằm ở trên tường. Trung Quốc là thị trường tăng trưởng về dầu khí”.

Và bây giờ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang tránh bất kỳ sự ám chỉ nào liên quan tới việc mua lại tài nguyên ở nước ngoài trong thời gian gần đây, kéo theo các cam kết chính trị hay quân sự, có thể gây ra sự xích mích với Hoa Kỳ hoặc các cường quốc phương Tây khác.

Họ nhấn mạnh rằng đây chỉ là những giao dịch thương mại. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi thực tế là các mối quan hệ của Trung Quốc về tài nguyên càng gia tăng với các quốc gia như Angola, Australia, Brazil, Iran, Kazakhstan, Saudi Arabia, Sudan và Venezuela có ý nghĩa địa chính trị mà dường như Washington, London, Paris và Tokyo sẽ không bỏ qua.

Có lẽ đi xa hơn bất kỳ sự phát triển gần đây là việc mua sắm toàn cầu của Trung Quốc cho thấy sự cân bằng quyền lực trên thế giới đang dịch chuyển từ Tây sang Đông như thế nào.

Michael Klare là giáo sư nghiên cứu về hòa bình và an ninh thế giới tại trường Cao đẳng Hampshire ở Amherst, bang Massachusetts, tác giả của phim tài liệu gần đây nhất “Quyền lực gia tăng, trái đất thu hẹp lại”.

4 tác động khiến tỷ giá 2009 USD/VND giảm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:08 pm
Tags:

Thứ nhất, ngày 30/12/2009, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó.

Thứ hai, chỉ hơn nửa tháng sau đó, ngày 18/1/2010, Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường.

Thứ ba, ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% – 4,5%/năm. Quy định này được bình luận là đặt các tổ chức đó vào thế “tự xử”, phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn. Khớp với chính sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này.

Thứ tư, chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Lãi suất vay VND tăng cao đầu năm 2010, lên từ 15% – 17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% – 9%/năm. Chênh lệch này khiến một bộ phận doanh nghiệp chọn “đường vòng” vay USD rồi bán lại lấy vốn VND, tăng cung ngoại tệ cho thị trường. Ngoài chênh lệch lãi suất lớn, lựa chọn này được hỗ trợ bởi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ ổn định, hoặc rủi ro biến động không quá lớn trong kỳ vay vốn. Thực tế, tỷ giá USD/VND gần như cố định kể từ tháng 2 đến nay.

Thêm vào đó, ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu.

Tác động này được dẫn chứng ở tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng đột biến tới 14,07% trong quý 1/2010, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm 2,24%.

Những tác động chính trên tạo sự cộng hưởng từ loạt chính sách điều hành với diễn biến thực tế thị trường. Và thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước liên tục phát đi thông điệp thị trường ngoại hối có chuyển biến tích cực.

Báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Các doanh nghiệp đã bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng thương mại, tính thanh khoản của thị trường được cải thiện rõ rệt, nhu cầu mua ngoại tệ được đáp ứng đủ. Từ giữa tháng 3 đến nay, trạng thái ngoại tệ của hệ thống tổ chức tín dụng liên tục dương và trong hầu hết các ngày số ngoại tệ mua được lớn hơn số ngoại tệ bán ra”.

Bùng nổ đầu tư vàng ‘chui’

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:07 pm
Tags: , ,

Hàng loạt đơn vị như Công ty Hồng Hối, Trung tâm vàng 24K, Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh vàng quốc tế (IGI), Vàng Ngọc Thanh… sau ngày đóng cửa sàn vàng đã công bố hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn, với yêu cầu đặt cọc 5%.

Sau ngày 30/3, khi các sàn vàng đóng cửa theo lệnh của Thủ tướng, những đơn vị trên đã công bố trên website của mình hoạt động kinh doanh vàng vật chất, chỉ cần đặt cọc 5%. Khi Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ thanh tra, kiểm tra các sàn vàng biến tướng, họ nhanh chóng gỡ toàn bộ thông tin về hoạt động kinh doanh vàng vật chất theo kỳ hạn ra khỏi trang web.

Tuy vậy, nhiều nhà đầu tư cho biết vẫn đang được một số đơn vị như Trung tâm mua bán vàng Ngọc Thanh, vàng 24K…mời chào ký hợp đồng. “Người chơi chỉ cần đặt cọc khoảng 5% có thể giao dịch vàng vật chất như với vàng tài khoản. Nếu đến kỳ hạn quy định, nhà đầu tư chưa đủ tiền nộp mua vàng sẽ phải chịu lãi suất ký gửi để duy trì trạng thái”, một khách hàng tại Trung tâm vàng 24K nói.

Một số môi giới cũng đang ráo riết giới thiệu dịch vụ mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài (trên các trang web như FXPRO, FXDD, FXCM…). Chỉ cần hai bước, chuẩn bị hồ sơ sau đó gửi đến email của môi giới để được hướng dẫn hoàn thiện mở tài khoản và nhận chuyển tiền…

Hoạt động kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn bắt đầu bùng nổ. Ảnh: Hoàng Hà

Theo một chuyên gia về kinh doanh vàng tại TP HCM, thực chất hình thức đặt cọc 5% cũng tương tự như ký quỹ, là cách để kinh doanh vàng tài khoản phổ biến bấy lâu nay. Vì nếu đã là đầu tư vàng vật chất thì phải đưa đủ 100% tiền mặt mới được nhận vàng, chứ không doanh nghiệp nào lại chấp nhận khoản tiền cọc chỉ 5%.

Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại TP HCM cho biết, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, nếu phát hiện các trường hợp vi phạm như hoạt động sàn chui, mở tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài… sẽ xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Riêng những biến tướng sau khi sàn vàng đóng cửa, Ngân hàng Nhà nước TP HCM sẽ tập hợp và ghi nhận, đề xuất hướng xử lý gửi lên Vụ quản lý ngoại hối Ngân hàng Nhà nước.

“Rồi đây, sẽ có nhiều người tiếp tục “chết” vì vàng nếu những hình thức này không được kiểm soát”, vị chuyên gia này nói.

Thực tế, trước và trong khi có sàn vàng, hình thức kinh doanh vàng vật chất kỳ hạn đã hoạt động và “dìm chết” rất nhiều người tham gia.

Lãnh đạo một công ty kinh doanh vàng tại TP HCM cho rằng, trường hợp vỡ nợ của chủ tiệm vàng Tuấn Tài hồi tháng 11 năm ngoái cũng chính vì tham gia vào hình thức “đánh vàng ngoài sàn” như trên. Họ chỉ cần mang một số tiền đến ngân hàng ký quỹ 5-7%, còn nhà băng chịu 93-95%, để vay một số vàng lớn. Sau đó, người chơi chờ giá vàng xuống để hưởng phần chênh lệch. Cách chơi này giới đầu cơ gọi là đánh xuống.

Tuy nhiên, tháng 11 năm ngoái, khi giá vàng vượt 29 triệu đồng một lượng khiến người chơi hoảng loạn, tìm cách mượn vàng bạn hàng, vay của dân, mua giá cao để cắt lỗ nhưng vẫn không trả đủ cho ngân hàng. Cuối cùng, người chơi chấp nhận thanh lý hợp đồng ngay thời điểm giá cao, đồng nghĩa với việc chịu thua lỗ nặng.

Năm 2007, cuộc chơi kinh doanh “vàng ngoài sàn” cũng diễn ra tương tự, để lại nhiều nạn nhân với những cuộc kiện tụng cho đến nay vẫn chưa giải quyết xong. Nhiều người sau đợt sốt vàng 3 năm trước giờ cũng chìm trong nợ nần với khoảng vài trăm lượng.

Mấy tháng nay, ông Trương Văn Tấn (Hóc Môn, TP HCM), một người chơi vàng năm 2007, cầm lá đơn khởi kiện vừa nhận được từ một ngân hàng thương mại tại TP HCM mà lo lắng không yên. Ông bị nhà băng này đưa ra tòa vì “không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết”.

Ông Tấn cho biết, trong đơn khởi kiện, ngân hàng yêu cầu ông phải trả hơn 600 lượng vàng là nợ gốc cộng lãi phát sinh, lãi phạt chậm. Đơn khởi kiện còn liệt kê các loại tài sản thế chấp cho khoản nợ mà ông đã trót lao vào cuộc chơi vàng năm ấy, bao gồm một ôtô Mitsubishi 7 chỗ, 18 thửa đất ở Long An, 36 thửa đất ở Tây Ninh…

Nhớ lại diễn biến của ba năm về trước, ông Tấn nghẹn giọng kể, nếu giá vàng tại thời điểm khoảng 12,5 triệu đồng một lượng, ông nộp ngân hàng khoảng 1,5 tỷ đồng tiền ký quỹ (7%), nhà băng mở cho ông một sổ tiết kiệm có giá trị 14 tỷ đồng (ngân hàng 93%). Đổi lại, ông phải ký với ngân hàng một hợp đồng vay 1.000 lượng vàng với lãi suất 3,5% một năm, còn sổ tiết kiệm trị giá 14 tỷ đồng được xem là tài sản cầm cố để đảm bảo khoản vay. Nếu giá vàng xuống dưới 12,5 triệu đồng mỗi lượng (tức 12,5 tỷ đồng cho 1.000 lượng vàng) ông thu được khoản lời chênh lệch. Ngoài ra, ông Tấn còn được hưởng tiền lãi từ sổ tiết kiệm, nếu trừ lãi suất vàng mỗi tháng cũng thu lời 40-50 triệu đồng (trong trường hợp giá vàng ổn định và ít biến động).

Thấy số tiền lời quá hấp dẫn, ông Tấn lao vào chơi. Chưa đầy 3 tháng, toàn bộ tài sản lần lượt ra đi do giá kim loại quý liên tục tăng cao. Không chỉ tài sản của gia đình bị ném vào khoản tiền bổ sung ký quỹ, nhà đầu tư này còn đi vay mượn tiền bạc, đất đai, nhà cửa của anh em, dòng họ để bổ sung vào. “Đến khi, mọi nguồn lực cạn kiệt, không thể chống đỡ nổi, tôi đành mang khoản nợ 600 lượng vàng mà không có cách nào trả được”, ông Tấn nói.

Nhà đầu tư vàng này bức xúc, khoản nợ của mình có thể sẽ nhẹ hơn nếu như theo đúng hợp đồng, khi dư nợ vượt quá 98% giá trị tài sản cầm cố (sổ tiết kiệm), ngân hàng tự động cắt lỗ, tất toán hợp đồng cho khách hàng. Đằng này, nhà băng cho rằng, khi ông Tấn không yêu cầu thì họ có quyền cắt hoặc không cắt. Do đó, ngân hàng vẫn cứ để mặc cho nhà đầu tư say máu, chìm ngập trong thua lỗ đến mức tài khoản của họ vượt 130% so với tài sản cầm cố (tức bị âm đến 30%), mới tất toán. Đến lúc này, ông Tấn bị cột chặt vào hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ để trở thành con nợ của ngân hàng.

Ngoài ra, hơn chục nhà đầu tư khác như bà Hiệp, bà Nhân, bà Hà…sống tại TP HCM cũng đang chung cảnh nợ nần như ông Tấn khi trót dính vào cuộc chơi vàng 2007. Giờ đây, họ phải ngày đêm chạy trốn chủ nợ và sống cảnh vất vưởng khắp nơi.

Hàng hóa tiêu hủy : DN có phải nộp thuế không

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:05 pm
Tags:

Thực tế trong hoạt động xuất nhập khẩu có nhiều loại hàng hóa đã nhập khẩu vào thị trường VN nhưng vì lý do nào đó phải tiêu hủy. Vậy đối với những trường hợp như vậy DN có phải nộp thuế không ? Đây cũng là vướng mắc mà cơ quan hải quan đang gặp phải gần đây.

Theo quy định đối với hàng may mặc, nếu nguyên liệu thừa nằm ngoài định mức tiêu hao (3%) mà tiêu thụ tại thị trường nội địa thì DN phải nộp thuế. Song vẫn đề phát sinh là ở chỗ số nguyên phụ liệu thừa đó không sử dụng được, hoặc phế phẩm, phế liệu tiêu hủy, không thu được lợi gì. Theo Hiệp hội Dệt may VN, yêu cầu DN phải nộp thuế đối với số nguyên phụ liệu thừa là bất hợp lý. Bởi lẽ nếu còn sử dụng được thì phía đối tác nước ngoài đã yêu cầu DN chuyển sang thực hiện hợp đồng gia công tiếp theo, hoặc xuất khẩu trả lại nước ngoài, hoặc biếu tặng tại VN. Đương nhiên trong trường hợp này DN không phải nộp thuế. Theo Hiệp hội Dệt may, nếu DN đã nộp đủ thuế cho số nguyên phụ liệu thừa, phế liệu, phế phẩm tiêu hủy thì không cần thiết phải có quy định chặt chẽ về thủ tục hải quan cho phép và giám sát việc tiêu hủy như hiện nay.

Không chỉ có Hiệp hội Dệt may, hiện nay nhiều DN đang đề nghị cơ quan hải quan xem xét lại việc thu thuế đối với hàng hóa NK là nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm hàng gia công thừa mà không có giá trị sử dụng hoặc không đảm bảo chất lượng DN phải tiêu hủy. Mặc dù việc cơ quan hải quan thu thuế đối với hàng hóa NK sau đó tiêu hủy tại VN là căn cứ trên quy định hiện hành, tuy nhiên số hàng hóa này sau khi tiêu hủy không còn giá trị sử dụng nên việc yêu cầu DN nộp thuế là chưa hợp lý và chưa đúng bản chất của thuế NK và thuế GTGT.

Về vấn đề này, theo ý kiến của Bộ Công Thương để tạo điều kiện cho DN phát triển sản xuất, cần xem xét miễn thuế cho nguyên liệu, vật tư, phế liệu, NK thừa sau quá trình gia công, sản xuất hàng XK hoặc quá trình sản xuất hàng hóa không có giá trị sử dụng phải đem tiêu hủy, hoặc không đủ chất lượng phải tiêu hủy.

Theo Hiệu hội Dệt may VN, yêu cầu DN phải nộp thuế đối với số nguyên phụ liệu dư thừa là bất hợp lý. Bởi lẽ nếu còn sử dụng được thì phía đối tác nước ngoài đã yêu cầu DN chuyển sang thực hiện hợp đồng gia công tiếp theo, họăc xuất khẩu trả lại nước ngoài, hoặc biếu tặng tại VN.

Rõ ràng đây là vấn đề cần xem xét để tạo thuận lợi cho DN, tuy nhiên thực tế liệu có phát sinh việc lợi dụng sự thuận lợi này để gian lận trốn thuế ? Vấn đề đặt ra là cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đối với hàng tiêu hủy được miễn thuế để tránh gian lận, nhất là tránh trường hợp các DN đưa hàng phế phẩm phế liệu vào VN tiêu hủy, gây ảnh hưởng đến môi trường. Mặt khác cũng tránh việc các DN sử dụng các nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm với danh nghĩa thừa hoặc không đáp ứng chất lượng để sản xuất sản phẩm tiêu thụ trên thị trường trốn được khoản thuế NK nhẽ ra phải nộp.

Được biết Bộ Tài chính đang lấy ý kiến của các bộ ngành liên quan để có cơ sở trình Thủ tướng Chính phủ cho miễn thuế đối với số nguyên liệu, vật tư, phế liệu, phế phẩm vì lý do nào đó đem tiêu hủy không còn giá trị sử dụng.
Nguồn: H.Đức-Diendandoanhgnhiep

Create a free website or blog at WordPress.com.