Ktetaichinh’s Blog

March 27, 2010

Cuộc chiến chống mặn, hạn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,


(Dân trí) – Hàng ngàn hecta cây ăn trái, hoa màu, tôm cá, lúa… đang thiếu nước tưới, hàng chục ngàn hộ dân thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Cuộc chiến với hạn, mặn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt.
>> Báo động hạn hán và mặn hóa ĐBSCL
Hàng ngàn hộ dân ở vùng hạn, mặn ĐBSCL đang ngóng chờ những chuyến xe bồn nước ngọt.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Nước mặn từ sông Cửa Đại, Hàm Luông và Cổ Chiên thâm nhập vào đất liền hơn 50 km. Tại xã Gia Hòa (huyện Châu Thành) xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, phường 7, TP Bến Tre từ 3,5 phần nghìn đến 5,3 phần nghìn. Dự báo tình hình mặn có khả năng tiếp tục xâm nhập sâu hơn nhiều.

Ông Võ Trường Xuân, ấp Lân Bắc, xã Phú Sơn nói: Phú Sơn nằm ven sông Hàm Luông trong bán kính của vùng mặn xâm nhập. Trong 2 năm 2008 – 2009, nông dân ven sông đã tự bỏ tiền và hàng trăm ngày công làm 3 cống ngăn triều cường, trữ nước ngọt bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên với mức xâm nhập mặn như hiện nay thì chưa thấm vào đâu.

Chính quyền huyện Chợ Lách có sáng kiến hướng dẫn người dân dùng cỏ, lục bình phủ gốc cây, dùng lá dừa che bóng cho cây trong những ngày khô hạn để giữ độ ẩm cho đất. Đối với vật nuôi, gia súc nên tăng cường bổ sung thức ăn xanh để giảm độ mặn trong khẩu phần ăn.

Ông Lê Phong Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT Bến Tre nói: tình trạng xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) và sinh hoạt của nhân dân. Theo báo cáo của các địa phương, sẽ có khoảng 26.900 ha cây ăn trái, 4.000 ha ca cao, 4.000 ha lúa, 250 ha hoa kiểng, 450 ha hoa màu bị giảm năng suất.

Để ứng phó với tình hình xâm nhập mặn năm 2010, các giải pháp trước mắt của Bến Tre là: Tiếp tục gia cố đê bao, đắp đập tạm, nạo vét kênh mương để ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; cung cấp dụng cụ chứa nước cho gia đình nghèo, diện chính sách, mở rộng tuyến ống cấp nước của những nhà máy nước hiện có…

Đầu tháng 4/2010, nhà máy nước tại xã An Phú Trung, Ba Tri, có vốn đầu tư khoảng 13 tỷ đồng được đưa vào hoạt động sẽ cung cấp nước sạch cho trên 1.500 hộ dân. Tuy nhiên, để công trình phát huy hiệu quả cần tới 25,5 tỷ đồng để thực hiện nạo vét kênh mương, đê bao, các đập tạm, sửa chữa các cống ngăn mặn, trữ nước ngọt…

Tương tự tại Tiền Giang, mặn đã xâm nhập đến thành phố Mỹ Tho, cách biển gần 60 km. Toàn bộ các cống ngăn mặn ở huyện Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây… đã đóng kín, hàng ngàn hécta lúa đông xuân đang có nguy cơ giảm năng suất do thiếu nước ngọt.

Chi cục thủy lợi Tiền Giang đã mở 19 vòi nước công cộng để phục vụ cho 20.000 nhân khẩu thuộc 2 huyện Tân Phú Đông và Gò Công Đông đang bị thiếu nước sinh hoạt. Tỉnh Tiền Giang đang khẩn trương đưa phương tiện chở nước ngọt từ thành phố Mỹ Tho xuống cung cấp xuống cho các hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết: Nắng nóng kéo dài, nước ao hồ cạn kiệt nhanh, độ mặn tăng cao tại 1.044 ha diện tích mặt nước ở các huyện Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang… đã khiến trên 100 triệu con tôm sú giống chết.

Chiều 25/3, Sở NN-PTNT Bạc Liêu cho biết: Từ ngày 20/3 đến nay, nước mặn tràn vào vùng ngọt chuyên sản xuất lúa. Độ mặn đo được tại Bạc Liêu – Sóc Trăng là 3,2 phần nghìn. Hiện Bạc Liêu còn khoảng 24.000 ha lúa đông xuân đang trổ bông, trong đó có hàng nghìn ha có nguy cơ bị mất trắng.

Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ, cho biết: Lưu lượng nước sông Mekong về tới khu vực đầu nguồn sông Cửu Long hiện chỉ còn khoảng 1.600m3/giây, chưa bằng 5% tổng lưu lượng trong mùa nước nổi. Nếu tận dụng triệt để nguồn tài nguyên này để tưới cho mỗi cây lúa thôi thì nguồn nước mặt vẫn không đủ.

Giải pháp sống chung với hạn đang được nông dân hướng đến. Việc đầu tiên nghĩ tới là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tìm những cây, con chịu hạn, chịu mặn. GS. TS. Nguyễn Văn Luật, Nguyên viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho rằng: Cây khoai lang là một trong những loại cây trồng nhiều tiềm năng trong điều kiện có tác động của biến đổi khí hậu.

Advertisements

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.

Nắng nóng gây thiệt hại nặng đến trồng lúa, nuôi tôm ở Bạc Liêu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 pm
Tags: ,

Nắng hạn kéo dài làm các con
kênh ở Bạc Liêu khô hạn.
NDĐT – Có thể nói, vào vụ sản xuất năm 2010, nhiều nông dân ở hai vùng mặn-ngọt Bạc Liêu rất phấn khởi vì con tôm và hạt lúa đều có giá cao. Tuy nhiên, niềm vui chưa lâu thì thay bằng nỗi lo nhiều tháng qua nắng nóng gay gắt kéo dài, làm thiệt hại lớn đến sản xuất và đảo lộn đời sống của người dân…
Tôm nuôi… điêu đứng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu, đến cuối tháng 3 dương lịch, toàn tỉnh đã thả nuôi gần 150.000 ha tôm. Trong đó, tôm công nghiệp, bán công nghiệp gần 1.500 ha, còn lại nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Do nắng nóng kéo dài nên phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch đã bị cạn kiệt, dẫn đến thiếu nước trầm trọng. Vì vậy, số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại ngày càng tăng. Đáng lưu ý, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có gần 7000 ha tôm nuôi bị thiệt hại. Nguyên nhân tôm chết được xác định hầu hết do nắng nóng gay gắt kéo dài, nhiệt độ chênh lệch quá cao giữa ngày và đêm nên tôm nuôi bị sốc…
Kỹ sư Lương Ngọc Lân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu cho biết: “Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa con tôm và cây lúa cho bà con nông dân, Ban chỉ đạo điều tiết nước tỉnh Bạc Liêu buộc phải cho mở một số cống ngăn mặn, giữ ngọt dọc theo tuyến quốc lộ 1A để tiêu thoát nước mặn ra sông Bạc Liêu – Cà Mau; đồng thời “kéo” nước ngọt từ kênh Quản lộ – Phụng Hiệp về để cứu lúa. Việc làm này ước tính sẽ có khoảng 20.000-25.000 ha tôm nuôi bị thiếu nước mặn do việc điều tiết nước thời gian tới không được “mạnh tay” vì phải đề phòng tình trạng xâm nhập mặn vào vùng ngọt. Để khắc phục và hạn chế thiệt hại cho người nuôi tôm, ngoài việc khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật cải tạo ao, thả nuôi, chăm sóc…, ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đang tăng cường việc kiểm tra, kiểm sóat đối với chất lượng tôm giống sản xuất trong tỉnh và nhập từ ngoài tỉnh để đảm bảo chất lượng, hạn chế thiệt hại cho người dân…”.
Nông dân Bạc Liêu tích cực cứu lúa.
Lúa cũng… chết khát…
Vụ lúa đông xuân (lúa vụ 3) năm nay, Bạc Liêu có gần 45.000 ha. Theo ngành chức năng, chưa năm nào nông dân trong tỉnh sản xuất vụ lúa đông xuân lớn như năm nay. Mặc dù chính quyền và ngành Nông nghiệp không khuyến khích nông dân sản xuất lúa vụ 3, nhưng vì giá lúa thời gian qua ở mức khá cao (vào thời điểm bà con xuống giống, lúa 5.500-6.000 đồng/kg), nên nhiều người đã bất chấp tất cả, dù có người đã biết trước được khó khăn…
Ông Phú Văn Khải, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Hòa Bình, cho biết: Vụ sản xuất lúa đông xuân năm nay, hầu hết 100% diện tích đất trong huyện đã được người dân xuống giống. Ngành Nông nghiệp huyện đã tích cực khuyến cáo về việc lúa vụ 3 sẽ bị sâu bệnh và thiếu nước ngọt (do vào mùa khô), nhưng vẫn không thể ngăn cản được nông dân. Huyện Hòa Bình hiện có diện tích lúa đông xuân cao nhất tỉnh, với 10.000 ha. Chính vì bất chấp khuyến cáo của ngành chuyên môn, nên đã xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng tại nhiều địa phương, trong khi cây lúa đang trong gian đoạn lòng đòng, trổ bông, giai đoạn quyết định cho sự thành, bại của cả vụ mùa.
Anh Nguyễn Văn Hùng Em, nông dân xã Vĩnh Mỹ B (Huyện Hòa Bình), than: “Tôi làm có năm công ruộng mà bơm nước cực quá. Lúc trước năm ngày mới bơm một lần, còn bây giờ ngày nào cũng phải bơm, vì nếu không thì lúa sẽ chết khô …” Dọc theo tuyến đường từ cầu số 2 (huyện Hòa Bình) đến thị trấn Phước Long (huyện Phước Long) dài gần 30 km, chúng tôi tận mắt chứng kiến để có nước ngọt cho cây lúa, nhiều hộ nông dân đã “liều” đắp các cống ngang tuyến đường liên tỉnh này và đặt máy bơm để bơm nước từ các kênh mương vào ruộng cứu lúa…
Tại các huyện như Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai… cũng đang xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Theo nhận định của ngành nông nghiệp tỉnh, trong thời gian tới tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong tỉnh còn đáng lo hơn, vì hiện nay, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Bạc Liêu nói riêng đang vào giữa mùa khô hạn…
Trước tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, thực tế cho thấy, chính quyền và ngành chức năng ở Bạc Liêu chưa tìm ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu. Tỉnh chỉ có thể thực hiện các giải pháp “tình thế” như chủ động điều tiết nước mặn, kết hợp với các biện pháp tăng cường chất lượng con giống thủy sản, nhất là giống tôm; khuyến cáo nông dân kỹ thuật cải tạo ao đầm, chọn con giống, cách chăm sóc…, nhằm hạn chế rủi ro cho người nuôi tôm.
Theo ngành nông nghiệp và nhiều nông dân Bạc Liêu, mùa khô năm nay nắng nóng gay gắt chưa từng có kể từ nhiều năm nay. Nắng nóng đã làm thiệt hại đến hàng ngàn ha tôm nuôi, hàng chục ngàn ha lúa vụ 3 của tỉnh và ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân…

Sẽ dời 400.000 dân khỏi nội thành Hà Nội

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:48 pm
Tags: ,
“Các nhà lập quy hoạch rất trân trọng những ý kiến đề xuất cụ thể mang tính khả thi. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở góc độ phê phán mang tính cảm tính thì hiệu quả sẽ rất thấp”.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng, TS-KTS Nguyễn Đình Toàn nói như vậy khi trao đổi với Thanh Niên xung quanh đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đang rất được dư luận quan tâm.

* Thưa ông, thất bại trong các kế hoạch giãn dân cho nội thành Hà Nội khiến người ta rất nghi ngờ kế hoạch giảm dân nội đô từ 1,2 triệu dân hiện tại xuống còn khoảng 0,8 triệu dân như đồ án đề xuất?

– Việc giảm tải cho nội đô dứt khoát phải làm, bởi quy hoạch mà người Pháp lập cho Hà Nội chỉ có 300.000 dân thôi (năm 1954), trong khi bây giờ dân số đã gấp 3 lần. Tuy nhiên, bây giờ không thể dùng biện pháp hành chính để di dân mà phải có giải pháp mang tính khả thi. Trong đồ án quy hoạch này đã đề xuất xây dựng chuỗi đô thị mới ở phía đông vành đai 4 và phía tây của sông Nhuệ, có sức chứa khoảng 1,2 triệu dân, với mật độ xây dựng thấp nhưng khuyến khích xây dựng cao tầng, tận dụng quỹ đất để dành cho cảnh quan, cây xanh, hạ tầng xã hội. Khi người dân nội đô thấy  điều kiện sống ở đây tốt hơn họ sẽ tự di chuyển ra ngoài. Từ trước đến nay câu chuyện về giãn dân phố cổ, phố cũ chưa thành công là vì chưa hình thành được các khu đô thị tiện nghi. Tiện nghi được hiểu không phải chỉ có cái nhà mà phải có cảnh quan sân vườn, trường học, y tế, dịch vụ thương mại và thậm chí là cơ hội kiếm sống.

* Nhưng ách tắc giao thông khiến người dân cảm thấy ngán nếu phải đi ngược từ ngoài vào nội đô, chẳng hạn như khi đi làm?

“Ách tắc giao thông triền miên, thường xuyên là điều không thể chấp nhận được đối với sự quản lý ở một đô thị. Nếu không giải quyết rốt ráo vấn đề giao thông cho Hà Nội và TP.HCM thì sẽ không giải quyết được nhiều vấn đề khác như: phát triển kinh tế xã hội bền vững, kiến trúc, văn hóa, bảo tồn…”.

Ông Nguyễn Đình Toàn

– Việc này đúng là liên quan mật thiết đến vấn đề giãn dân. Cần tăng cường hệ thống giao thông cho cả nội đô và ngoại đô. Trong giao thông có 2 việc lớn phải làm, một là nâng cấp hệ thống giao thông ở nội đô (ví dụ một số đoạn cần phải làm đường tầng ở vành đai 2, vành đai 3, và một số tuyến dẫn vào nội thành), hai là khẩn trương xây dựng đường vành đai 3, 5 và 4. Ngay trong năm nay sẽ phải lập dự án tàu điện ngầm (metro) để đến năm 2012 có thể khởi công được ít nhất 3-4 tuyến metro chính. Theo đề xuất giải pháp giao thông trong đồ án quy hoạch chung thì Hà Nội sẽ có khoảng 9-11 tuyến metro, trong đó sẽ chạy ngầm từ vành đai 4 trở vào, và chạy nổi từ vành đai 4 trở ra. Hiện tại Chính phủ đã yêu cầu dừng chất tải trong khu vực nội đô Hà Nội (hạn chế việc xây dựng nhà cao tầng), cộng với các biện pháp như tôi đã nêu ở trên, chắc chắn sẽ giúp giảm tải cho Hà Nội, giải tỏa vấn đề ách tắc giao thông.

* Thưa ông, hiện có nhiều ý kiến xung quanh đề xuất Trung tâm Hành chính quốc gia đặt tại khu vực huyện Ba Vì?

– Trong quá trình nghiên cứu lập đồ án này, tư vấn đã có 5 vị trí được đề nghị lựa chọn, đó là Ba Vì – Hòa Lạc, Quốc Oai, Hoài Đức, Tây Hồ Tây, Phương Trạch (Đông Anh). Sau báo cáo lần 2, ngày 21.8.2009, các tư vấn đã nhận được nhiều đóng góp của chuyên gia, hội nghề nghiệp, các bộ ngành và Hội đồng thẩm định Nhà nước. Đến báo cáo lần 3 thì tư vấn đề xuất chọn đặt Trung tâm Hành chính quốc gia ở khu vực thuộc huyện Ba Vì. Và vị trí này không phải để làm ngay mà quy hoạch là để dự trữ khu đất cho sau năm 2030, tầm nhìn đến 2050. Vị trí ấy có thuận lợi là tựa núi Ba Vì, nhìn về hồ Tây và kết nối với khu vực nội đô bằng trục Thăng Long (kéo dài từ Ba Vì, qua Phúc Thọ, Quốc Oai hướng về hồ Tây, qua cầu Tứ Liên, sang Cổ Loa). Nếu đặt trung tâm hành chính ở đây có thuận lợi nữa là không phụ thuộc vào hệ thống trung tâm hành chính cũ và tạo cơ hội phát triển kinh tế cho cả vùng phía tây.

* Một số chuyên gia cho rằng trung tâm hành chính quốc gia lên phía tây sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng 2 hành lang phát triển kinh tế đông – tây và ngược với trung tâm kinh tế phía bắc đã được xác định?

– Ở đây cần phải khẳng định trung tâm chính trị quốc gia vẫn được xác định là khu vực Ba Đình, trung tâm hành chính (các cơ quan thuộc Chính phủ) thì sẽ được tính để di chuyển với quy hoạch tầm nhìn đến 2050. Sẽ không ảnh hưởng đến định hướng trước đây về 2 hành lang kinh tế quốc gia và quốc tế (xa lộ 18 chạy từ Quảng Ninh – Hà Nội – Vĩnh Yên – Việt Trì lên Lào Cai – Côn Minh, Trung Quốc). Trong đồ án cũng đề xuất phát triển mạnh  kinh tế ở phía bắc Hà Nội, ở đây có các khu công nghiệp, các khu trung chuyển hàng hóa ở Sóc Sơn. Cần hiểu rằng trung tâm hành chính không nhất thiết ở trong đô thị trung tâm cũ thì 2 hành lang và 1 vành đai kinh tế quốc gia ấy mới phát triển được.

* Một số nhà chuyên môn còn nói rằng, đồ án đã không làm báo cáo đánh giá tác động môi trường riêng mà đưa thành một chương trong đồ án. Như vậy có giải quyết được hết vấn đề môi trường hay không?

– Đánh giá môi trường chiến lược trong đồ án này đã làm đúng theo Luật Quy hoạch đô thị và quy chuẩn xây dựng hiện hành. Cần phải lưu ý, đây là một đồ án quy hoạch xây dựng chứ không phải đồ án Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội; do vậy, không có quy định pháp lý nào phải có một báo cáo riêng đánh giá tác động môi trường chiến lược. Bản thân các bộ môn của đồ án quy hoạch chung Hà Nội (như giao thông, cấp nước, thoát nước, rác thải, nghĩa trang,…) đều đã tính đến giải pháp đánh giá tác động môi trường. Một báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược riêng hay nằm trong một chương của đồ án quy hoạch xây dựng đều phải giải quyết những vấn đề đặt ra của thực tiễn hiện nay cũng như về lâu dài. Vấn đề này tư vấn đang tiếp tục cập nhật bổ sung hoàn thiện đồ án.

7 khu đô thị vi phạm quy hoạch, thiếu hạ tầng xã hội

Rất nhiều khu đô thị của Hà Nội đều thiếu hạ tầng xã hội như trường học, trạm y tế, nơi sinh hoạt công cộng…

Cùng với việc nhắc nhở chủ đầu tư của 7 khu đô thị trên phải chấn chỉnh, khắc phục ngay tình trạng vi phạm vi quy hoạch, thiếu hạ tầng xã hội, UBND TP đã yêu cầu các quận, huyện có 7 dự án trên phải khẩn trương rà soát quy hoạch phát triển dân cư, đề xuất cụ thể địa điểm xây dựng trường học trong dự án và các địa điểm khác trên địa bàn (nếu cần thiết). Đồng thời, phối hợp với chủ đầu tư rà soát những tồn tại, vướng mắc trong GPMB tại các dự án đó và  đề xuất biện pháp giải quyết.

Blog at WordPress.com.