Ktetaichinh’s Blog

March 14, 2010

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:19 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

Advertisements

Doanh nghiệp xuất khẩu khốn đốn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:30 pm
Tags: , , ,

TP – “Cực kỳ khó khăn về vốn” – Tổng Giám đốc Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam thốt lên trên diễn đàn về xuất khẩu hôm 11-3.

Thứ trưởng Bộ Công Thương, ông Nguyễn Thành Biên cũng xác nhận: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là các doanh nghiệp (DN) khó tiếp cận nguồn vốn để sản xuất hàng xuất khẩu”.

Các ngành chế biến xuất khẩu nông sản đặng gặp rất nhiều khó khăn về vốn  –  Ảnh: Phục Lễ

Nông thủy sản lao đao

Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cảnh báo: Thị trường chứng khoán, bất động sản hút vốn rất mạnh, vì vậy, không khéo việc  lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất xuất khẩu.

Tổng thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam, ông Đặng Hoàng Giang cho biết, dự kiến tổng nhu cầu vốn cho thu mua, nhập khẩu và chế biến của toàn ngành Điều năm 2010 là 14.820 tỷ đồng để thu mua 400 nghìn tấn điều thô trong nước, nhập khẩu 250 nghìn tấn điều thô và phục vụ sản xuất 180 nghìn tấn nhân điều.

Tuy nhiên, hiện nay việc tiếp cận vốn của các ngân hàng thương mại là rất khó khăn, hạn mức cho vay thấp, lãi suất cao trong khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa giải ngân cho các khoản vay…

TGĐ Cty CP Intimex, ông Đỗ Hà Nam lo lắng: “Cà phê đang trong tình trạng báo động đỏ!”. Trong khi sản lượng cà phê giảm khoảng 30% so với năm trước vì mất mùa, mức độ tiêu thụ của thị trường thế giới cũng giảm nhưng giá bán ra của cà phê Việt Nam lại giảm mạnh, xấp xỉ 44% và hiện vẫn đang xuống dốc.

Hạt điều cũng không ngoại lệ. Trong khi giá bán thấp thì giá thu mua quá cao, từ 1.100 – 1.150 USD/tấn. Với giá nguyên liệu như hiện nay các DN hoàn toàn làm không công cho nước ngoài.

Thêm vào đó, chi phí đầu vào của ngành điều đã tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Hiện điện, nước, xăng dầu đều tăng nên DN đã khó lại càng thêm khó.

Ông Đỗ Hà Nam cũng nêu một thực tế không vui, khi các DN trong nước gặp khó khăn về vốn, các DN nước ngoài nhảy vào thu gom dự trữ và giành mất quyền nắm giữ các cơ hội kinh doanh.

Theo ông Nam, cũng do kẹt vốn nên các DN xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất hợp đồng.

Khi DN Việt Nam thiếu vốn, một số đối tác chỉ dây dưa, chậm thanh toán là ngay lập tức DN Việt Nam hoảng hốt và phản ứng bằng cách siết chặt các yêu cầu thanh toán và đó là cớ để nhiều đối tác bỏ đi tìm đối tác khác.

Bao giờ hết khó?

Ông Nguyễn Thành Biên cũng cho biết Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, thủy sản của một số ngành hàng có lượng hàng hóa lớn như gạo, thủy sản, cà phê và một số nông sản khác nhằm duy trì phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân và ổn định giá hàng hóa.

Theo đề nghị của Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam,  Chính phủ giao các bộ ngành liên quan nghiên cứu ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất thu mua dự trữ 200.000 tấn để giữ giá cà phê đồng thời giúp nông dân không bị ảnh hưởng nặng nề.

Chính phủ tiếp tục kéo dài chương trình hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn đến hết năm 2010, đồng thời tiếp tục gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 tháng cho các nhóm đối tượng DN vừa và nhỏ; số thuế phải nộp từ hoạt động sản xuất, gia công dệt may, da giày của DN.

Theo các chuyên gia, việc giãn thời gian nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đã cho thấy quyết tâm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn của Chính phủ.

Tuy nhiên, không phải khó khăn nào của DN cũng được “lắng nghe và thấu hiểu” và kịp thời giải quyết.

“Đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt Nam sớm giải ngân và dành khoản tín dụng cho vay ngắn hạn 2.000 tỷ đồng để các DN ngành điều thu mua nguyên liệu từ tháng 3 đến tháng 7-2010”- Ông Đặng Hoàng Giang bức xúc.

Ông Giang cũng đề nghị ngân hàng này dành khoản tín dụng cho vay đầu tư trung hạn ưu đãi 1.500 tỷ đồng để giúp DN cải tạo nhà xưởng và đầu tư trang thiết bị phục vụ chế biến. Đồng thời đề nghị các ngân hàng giải quyết cho DN vay ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.

Đồng bằng sông Cửu Long:

Nông dân và doanh nghiệp đều khát vốn

TP – Năm 2009, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được hơn 6 triệu tấn gạo, tương đương 3 tỷ USD. Trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp tới 95% lượng gạo hàng hóa xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối phó với khó khăn về vốn.

Ảnh minh họa

Theo thống kê, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn của cả nước đến nay vào khoảng 231 ngàn tỷ đồng; riêng khu vực ĐBSCL là 71 ngàn tỷ (chiếm 30,6%). Trong khi đó huy động vốn của cả khu vực chỉ đạt xấp xỉ 115 ngàn tỷ đồng, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn tại chỗ đang ngày một tăng.

Xuất phát từ thực tế trên, tại hội thảo tín dụng cho nông thôn tổ chức hôm 10-3, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định: “Nhu cầu vốn của người nông dân và các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL là rất lớn. Nhưng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của nông dân bị hạn chế do lãi suất và cơ chế vay vốn còn có nhiều điểm chưa phù hợp với đặc điểm nông thôn, nông dân”.

Hiện tại, các doanh nghiệp cũng đang đứng trước khó khăn lớn về vốn cho thu mua lúa gạo tạm trữ cho xuất khẩu. Do hầu hết doanh nghiệp chưa ký kết được hợp đồng với đối tác nước ngoài nên đều chưa thể vay vốn ngân hàng.

Trong khi đó, các doanh nghiệp mới chỉ tiến hành thu mua được 500 nghìn tấn trong tổng số 1 triệu tấn gạo theo kế hoạch; cùng với việc phát triển hệ thống kho chứa lên 4 triệu tấn vào cuối 2010 đầu 2011 sẽ đặt ra nhu cầu bức thiết về vốn cho các doanh nghiệp”.

Ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: Tín dụng cho khu vực nông thôn nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng có những đặc trưng như nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất thường cao hơn mức huy động được tại địa bàn; mạng lưới của các ngân hàng (ngoại trừ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Agribank) chưa bao phủ rộng, khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân và doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng còn hạn chế…

Chẳng hạn, tại khu vực ĐBSCL, nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đạt 115 ngàn tỷ đồng (tương đương 6% tổng vốn huy động toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước, khoảng 1.777 ngàn tỷ đồng) trong khi dư nợ cho vay lên tới 174 ngàn tỷ đồng.

Đó là còn chưa kể đến các nhu cầu chưa được ngân hàng đáp ứng mà vay từ nguồn tín dụng phi chính thống khác.

Dưới quan điểm của các doanh nghiệp đầu mối, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, với dự kiến xuất khẩu tới 6 triệu tấn gạo trong năm 2010 (kim ngạch khoảng 3 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu gạo rất khó khăn trong việc xoay xở nguồn vốn.

Dù vừa qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có chỉ đạo về việc đáp ứng nguồn vốn cho các doanh nghiệp thu mua gạo nhưng khi đầu ra vẫn còn khó khăn như hiện nay, các ngân hàng vẫn do dự khi cho vay.

Bên cạnh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể thực hiện việc đầu tư kho và hệ thống xay xát, chế biến cũng chỉ bởi một lý do: thiếu vốn.

Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Liên Việt cho biết, để giải quyết những khó khăn về vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL rất cần sự tham gia của ngân hàng trong liên kết 4 nhà (Nhà nước- Nhà nông- Nhà khoa học- Nhà doanh nghiệp).

Theo ông Hưởng, một trong những điểm bất cập của mô hình liên kết 4 nhà là việc doanh nghiệp thiếu vốn và phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân dẫn đến liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân còn lỏng lẻo.

Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ, doanh nghiệp phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính.

Hiện tại, để giải quyết bài toán vốn cho ĐBSCL, trước mắt, Liên Việt sẽ triển khai đề án “Đầu tư phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL” với việc dành ra một khoản tín dụng từ 3 ngàn đến 5 ngàn tỷ đồng cho giai đoạn 2010 – 2013, trong đó riêng năm 2010, sẽ triển khai đề án với vốn lên đến 1,2 ngàn tỷ đồng.

Đồng bằng sông Cửu Long: Thiếu nước gay gắt

TP – Vùng sông nước ĐBSCL đang gồng mình hứng chịu khô hạn khốc liệt, xâm nhập mặn. Ngày 12-3, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cùng các địa phương tìm giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho ĐBSCL.

Khoan lấy nước ngầm để nuôi tôm ở Bạc Liêu  – Ảnh: Phan Thanh Cường

Thiếu nước ngọt cho lúa

ĐBSCL có 1.564.000 ha lúa đông xuân, đã thu hoạch xong 677.000 ha. Diện tích còn lại, có trên 620.000 ha của các tỉnh ven biển Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre đang bị khô hạn.

Các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân (Bạc Liêu) có 44.631ha lúa đông xuân, đã thu hoạch 13.000ha, còn lại đến giữa tháng 4-2010 mới thu hoạch.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cáo Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gay gắt hơn trong thời gian tới.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN& PTNT Bạc Liêu cho biết: “Nếu không có mưa trái mùa, diện tích trên sẽ khó sinh trưởng, phát triển”. Hiện nay, hơn 20.000 ha lúa đông xuân thiếu nước ngọt. Các tuyến kinh cấp 3 ở các xã Vĩnh Hưng, Vĩnh Hưng A (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu) đã trơ đáy.

Ở tỉnh Sóc Trăng, các huyện Long Phú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị nước mặn xâm nhập và nông dân phải lựa nguồn nước rất gian nan để tránh bơm nhầm nước mặn cho đồng lúa.

Ông Trương Thanh Bình, GĐ Sở NN&PTNT Sóc Trăng, cho biết, Sóc Trăng đã xuống giống vụ xuân hè khoảng 50.000 ha, có 20.000 ha thiếu nước.

Tại tỉnh Cà Mau, khô hạn đang đặt 36.000 ha rừng tràm báo động nguy cơ cháy cấp 4, cấp 5. Ông Trần Văn Thức, PGĐ Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định: “Nắng hạn kéo dài đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5 sẽ thiếu nước chữa cháy rừng, nếu cháy rừng xảy ra”.

Hiện nay, các kinh rạch đang cạn nước, sụt giảm hơn 0,5m so với những năm trước.

Lượng mưa hụt nhiều, lại kết thúc sớm, nắng nóng ngay đầu năm, xâm nhập mặn sâu đến 70km. Lượng nước sông Mekong sụt giảm, thiếu nước thượng nguồn, không có nước đổ về ĐBSCL.

Từ đó, nước mặn theo các sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Sông Tiền, Sông Hậu, Hàm Luông, Cổ Chiên, Quản lộ Phụng Hiệp… Vùng bán đảo Cà Mau, xâm nhập khu vực ngọt sớm gần 2 tháng so với những năm trước.

Thiếu nước mặn nuôi tôm

Mực nước tại các kinh rạch vùng bán đảo Cà Mau sụt giảm, tăng độ mặn tại các vuông tôm lên đến 28-30%. Người nuôi tôm ở Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân phải bơm nước để nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Lẹ ở xã An Xuyên (TP Cà Mau) cho biết, bà con ở hai bên sông Bạch Ngưu phải đặt máy bơm, chờ nước lớn để bơm vô vuông tôm. Nhà nhà bơm nước mặn nên sông cũng thiếu nước mặn nuôi tôm.

Ông Lương Ngọc Lân, PGĐ Sở NN&PTNT Bạc Liêu, cho biết, các cống lớn vùng mặn chỉ vận hành đóng lại hoặc mở ra để không cho mặn lấn sâu lên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp về phía tỉnh Sóc Trăng.

Trong khi đó, các cống ở tỉnh Cà Mau, sông Cái Lớn tỉnh Kiên Giang còn bỏ ngỏ, dẫn đến thiếu nước cho khoảng 25.000 ha/55.000 ha đất nuôi tôm ở huyện Giá Rai, Phước Long.

Tỉnh Bạc Liêu lắp đặt 144 máy để bơm nước pha loãng khối mặn xâm nhập vào các huyện Giá Rai, Phước Long, Hòa Bình cho người nuôi tôm.

Lo nước ngọt cho người và lúa

Ông Nguyễn Văn Đồng, GĐ Sở NN&PTNT Hậu Giang đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ nông dân bơm nước thông qua tỉnh làm đầu mối thành lập các trạm bơm theo từng tiểu vùng, từng cụm dân cư.

Nguồn vốn kiên cố hóa kinh mương, tỉnh Hậu Giang sử dụng 45 tỷ đồng tận dụng nguồn nước ngọt để cứu lúa, đảm bảo sản xuất trên 50.000 ha.

Sở NN&PTNT Bạc Liêu đề nghị Bộ NN&PTNT hướng dẫn, phối hợp liên tỉnh, liên vùng vận hành các công trình đầu mối thuộc hệ thống thủy lợi Quản lộ  Phụng Hiệp để sử dụng nguồn nước ngọt.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết, các cơ quan chuyên môn dự báo hạn và mặn còn gắt hơn trong thời gian tới. Nên các cấp phải chuẩn bị nguồn tài chính, giải pháp kỹ thuật để chống khô hạn, chống xâm nhập mặn sâu hơn.

Trước mắt, triển khai ngay các giải pháp kỹ thuật để cung cấp nước cho dân, nước ngọt cứu lúa. Khôi phục đập tạm để chống hạn, tích trữ nước. Các địa phương từ tỉnh đến xã cần theo dõi sát tình hình, có biện pháp cụ thể cho địa phương mình.

Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết thêm, đang theo dõi nguồn nước toàn tuyến sông Mê Kông và Bộ sẽ báo cáo Chính phủ để có biện pháp hỗ trợ dân, bảo đảm sản xuất.

Ván bài lật ngửa – một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:22 pm
Tags: ,
Nguyễn Chánh Tín trong phim Ván bài lật ngửa – Ảnh tư liệu

TTO – Ở quê tôi những năm thập niên 1980, món ăn tinh thần điện ảnh duy nhất chỉ là những lần có đội chiếu bóng về chiếu ở khu huyện đội trình chiếu một loạt phim về chiến tranh hay như Cánh đồng hoang, Biệt động Sài Gòn… Ván bài lật ngửa, bộ phim 8 tập kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, đã gây ấn tượng mạnh trong tiềm thức của tôi.

>> Nguyễn Chánh Tín – 20 năm sau Ván bài lật ngửa

Bộ phim đã mô tả một xã hội đầy biến động, phong cách sống của thành phố Sài Gòn, có thể gọi là một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam.

Bộ phim được trình chiếu và thành công nhiều mặt. Trước hết là kịch bản của nhà văn Nguyễn Bạch Đằng biết chọn lọc những chi tiết rất đắt, dẫn dắt người xem tới những âm mưu, thủ đoạn, những vụ áp phe thường thấy trên chính trường thời đó một cách mạch lạc, dễ hiểu và đầy lôi cuốn với những lời thoại đầy ấn tượng, đầy chất trí tuệ.

Ván bài lật ngửa là bộ phim truyền hình đen trắng 8 tập về đề tài tình báo của đạo diễn Khôi Nguyên (tên thật Lê Hoàng Hoa), do Xí nghiệp phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982-1987.

Bộ phim kể về quãng đời hoạt động của nhân vật lịch sử có thật ngoài đời – anh hùng liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên như Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân – tức anh hùng Phạm Ngọc Thảo), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân)…

Bộ phim có tám tập như sau:

1. Đứa con nuôi vị giám mục (1982)
2. Quân cờ di động (1983)
3. Phát súng trên cao nguyên (1983)
4. Cơn hồng thủy và bản tango số 3 (1984)
5. Trời xanh qua kẽ lá (1985)
6. Lời cảnh cáo cuối cùng (1986)
7. Cao áp và nước lũ (1987)
8. Vòng hoa trước mộ (1987

(Theo Wikipedia)

Những đoạn đối thoại ấn tượng, thể rõ tính cách từng nhân vật, cũng như tính chất sống còn, căng thẳng trong những pha đấu trí. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng hiện rõ trong thông điệp của bộ phim.

Thứ đến, đạo diễn Lê Hoàng Hoa không những đã tạo được sự căng thẳng, những giây phút nguy hiểm kề cận sống – chết, thành công – thất bại, vốn dĩ phải có ở một phim nói về tình báo mà còn tạo nhịp phim thông thả nhịp nhàng nhưng hấp dẫn bởi nét hào hoa trong cách dựng phim. Ông tạo những khuôn hình đẹp, dựng lại chân thực cảnh trí, văn hóa Sài Gòn, trang phục nhân vật đúng trước năm 1975, nhạc nền là những bản nhạc thịnh hành ở Sài Gòn thời đó.

Người xem còn cảm nhận Sài Gòn hiện lên thật mềm mại, đẹp, lãng mạn. Khán giả còn thấy vẻ kiêu sa, xa hoa ở một đô thị bù nhìn của đế quốc Mỹ, bị ảnh hưởng văn hóa và lối sống phương Tây. Đà Lạt, Tây nguyên, Phan Thiết, miền Đông Nam bộ, Lào, Campuchia… những vùng đất xuất hiện trong phim người xem rất dễ nhận ra bởi đạo diễn đã lựa chọn những nét độc đáo văn hóa vùng đó đưa vào phim.

Thành công bộ phim phải kể đến hai diễn viên chính Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), Lâm Bình Chi (vai Ngô Đình Nhu). Nguyễn Chánh Tín thể hiện được nét hào hoa, lịch lãm, thông minh, điềm đạm của một nhà tình báo chuyên nghiệp. Lâm Bình Chi thể hiện được nét khôn ngoan, thâm trầm, quỷ quyệt cáo già của một chính trị gia lão luyện.

Họ đã tạo nên vai diễn để đời trong thời buổi công nghệ làm phim Việt Nam còn non nớt và đời sống thiếu thốn là cả một sự cố gắng cao độ. Đó là cái thời mà diễn viên đi diễn hàng tháng trời, thù lao không đủ sống, thiếu thốn trăm bề nhưng biết đầu tư vào vai diễn, tìm cách thể hiện sao cho đạt nhất.

Theo tôi, đây khuôn thước cho một bộ phim Việt Nam nói chung để những người làm phim ngày nay có thể rút tỉa được những kinh nghiệm. Trước hết, phải thể hiện độc đáo bản sắc của đạo diễn (đối với đạo diễn Hoàng Hoa là sự hào hoa) nhưng văn vẫn mang văn hóa Việt trong sự thể hiện đó. Đó là một kịch bản gãy gọn, khúc chiết, hấp dẫn, giàu ý nghĩa, với những lời đối thoại phù hợp. Sau cùng là một dàn diễn viên phù hợp với từng nhân vật và yêu nghề.

Tôi  nghĩ người Việt mình hoàn toàn có thể làm được những tác phẩm điện ảnh đầy sức sống, đủ sức lay động lòng người. Vấn đề là con người, ở đây là các nhà làm phim sáng tạo có bản sắc, diễn viên tận lực, chăm chút từng vai diễn… tất cả đặt trách nhiệm cao nhất với đứa con tinh thần của chính mình.

TRẦN THANH GIẢNG

Mời bạn đọc tham gia viết về những bộ phim Việt Nam yêu thích

Nhằm hưởng ứng Ngày điện ảnh Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức (15-3), giải Cánh diều vàng 2010, và cũng là dịp tôn vinh những bộ phim điện ảnh Việt Nam, TTO mời bạn đọc tham gia viết về những ấn tượng, bài học, giá trị mà những bộ phim điện ảnh Việt Nam đã mang lại cho bạn.

Mỗi tác giả có quyền gửi nhiều bài viết, mỗi bài viết dài khoảng 500 – 1.000 chữ. Bài viết phải được viết bằng tiếng Việt. Những bộ phim được đề cập phải là những bộ phim điện ảnh Việt Nam.

Thời gian nhận bài viết từ ngày 8 đến hết  15-3-2010.

Bài viết xin gửi về địa chỉ tto@tuoitre.com.vn; tiêu đề ghi: tham dự chuyên mục “Viết về những bộ phim điện ảnh yêu thích”. Dưới bài viết vui lòng ghi rõ họ tên, bút danh, địa chỉ, số điện thoại liên lạc… để chúng tôi tiện liên hệ.

Bài được chọn đăng trên Tuổi Trẻ Online sẽ được trả nhuận bút.

Ván bài lật ngửa – một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam

Nguyễn Chánh Tín trong phim Ván bài lật ngửa – Ảnh tư liệu

TTO – Ở quê tôi những năm thập niên 1980, món ăn tinh thần điện ảnh duy nhất chỉ là những lần có đội chiếu bóng về chiếu ở khu huyện đội trình chiếu một loạt phim về chiến tranh hay như Cánh đồng hoang, Biệt động Sài Gòn… Ván bài lật ngửa, bộ phim 8 tập kể về cuộc đời hoạt động của nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, đã gây ấn tượng mạnh trong tiềm thức của tôi.

>> Nguyễn Chánh Tín – 20 năm sau Ván bài lật ngửa

Bộ phim đã mô tả một xã hội đầy biến động, phong cách sống của thành phố Sài Gòn, có thể gọi là một đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam.

Bộ phim được trình chiếu và thành công nhiều mặt. Trước hết là kịch bản của nhà văn Nguyễn Bạch Đằng biết chọn lọc những chi tiết rất đắt, dẫn dắt người xem tới những âm mưu, thủ đoạn, những vụ áp phe thường thấy trên chính trường thời đó một cách mạch lạc, dễ hiểu và đầy lôi cuốn với những lời thoại đầy ấn tượng, đầy chất trí tuệ.

Ván bài lật ngửa là bộ phim truyền hình đen trắng 8 tập về đề tài tình báo của đạo diễn Khôi Nguyên (tên thật Lê Hoàng Hoa), do Xí nghiệp phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982-1987.

Bộ phim kể về quãng đời hoạt động của nhân vật lịch sử có thật ngoài đời – anh hùng liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên như Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân – tức anh hùng Phạm Ngọc Thảo), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân)…

Bộ phim có tám tập như sau:

1. Đứa con nuôi vị giám mục (1982)
2. Quân cờ di động (1983)
3. Phát súng trên cao nguyên (1983)
4. Cơn hồng thủy và bản tango số 3 (1984)
5. Trời xanh qua kẽ lá (1985)
6. Lời cảnh cáo cuối cùng (1986)
7. Cao áp và nước lũ (1987)
8. Vòng hoa trước mộ (1987

(Theo Wikipedia)

Những đoạn đối thoại ấn tượng, thể rõ tính cách từng nhân vật, cũng như tính chất sống còn, căng thẳng trong những pha đấu trí. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng hiện rõ trong thông điệp của bộ phim.

Thứ đến, đạo diễn Lê Hoàng Hoa không những đã tạo được sự căng thẳng, những giây phút nguy hiểm kề cận sống – chết, thành công – thất bại, vốn dĩ phải có ở một phim nói về tình báo mà còn tạo nhịp phim thông thả nhịp nhàng nhưng hấp dẫn bởi nét hào hoa trong cách dựng phim. Ông tạo những khuôn hình đẹp, dựng lại chân thực cảnh trí, văn hóa Sài Gòn, trang phục nhân vật đúng trước năm 1975, nhạc nền là những bản nhạc thịnh hành ở Sài Gòn thời đó.

Người xem còn cảm nhận Sài Gòn hiện lên thật mềm mại, đẹp, lãng mạn. Khán giả còn thấy vẻ kiêu sa, xa hoa ở một đô thị bù nhìn của đế quốc Mỹ, bị ảnh hưởng văn hóa và lối sống phương Tây. Đà Lạt, Tây nguyên, Phan Thiết, miền Đông Nam bộ, Lào, Campuchia… những vùng đất xuất hiện trong phim người xem rất dễ nhận ra bởi đạo diễn đã lựa chọn những nét độc đáo văn hóa vùng đó đưa vào phim.

Thành công bộ phim phải kể đến hai diễn viên chính Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), Lâm Bình Chi (vai Ngô Đình Nhu). Nguyễn Chánh Tín thể hiện được nét hào hoa, lịch lãm, thông minh, điềm đạm của một nhà tình báo chuyên nghiệp. Lâm Bình Chi thể hiện được nét khôn ngoan, thâm trầm, quỷ quyệt cáo già của một chính trị gia lão luyện.

Họ đã tạo nên vai diễn để đời trong thời buổi công nghệ làm phim Việt Nam còn non nớt và đời sống thiếu thốn là cả một sự cố gắng cao độ. Đó là cái thời mà diễn viên đi diễn hàng tháng trời, thù lao không đủ sống, thiếu thốn trăm bề nhưng biết đầu tư vào vai diễn, tìm cách thể hiện sao cho đạt nhất.

Theo tôi, đây khuôn thước cho một bộ phim Việt Nam nói chung để những người làm phim ngày nay có thể rút tỉa được những kinh nghiệm. Trước hết, phải thể hiện độc đáo bản sắc của đạo diễn (đối với đạo diễn Hoàng Hoa là sự hào hoa) nhưng văn vẫn mang văn hóa Việt trong sự thể hiện đó. Đó là một kịch bản gãy gọn, khúc chiết, hấp dẫn, giàu ý nghĩa, với những lời đối thoại phù hợp. Sau cùng là một dàn diễn viên phù hợp với từng nhân vật và yêu nghề.

Tôi  nghĩ người Việt mình hoàn toàn có thể làm được những tác phẩm điện ảnh đầy sức sống, đủ sức lay động lòng người. Vấn đề là con người, ở đây là các nhà làm phim sáng tạo có bản sắc, diễn viên tận lực, chăm chút từng vai diễn… tất cả đặt trách nhiệm cao nhất với đứa con tinh thần của chính mình.

TRẦN THANH GIẢNG

Mời bạn đọc tham gia viết về những bộ phim Việt Nam yêu thích

Nhằm hưởng ứng Ngày điện ảnh Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức (15-3), giải Cánh diều vàng 2010, và cũng là dịp tôn vinh những bộ phim điện ảnh Việt Nam, TTO mời bạn đọc tham gia viết về những ấn tượng, bài học, giá trị mà những bộ phim điện ảnh Việt Nam đã mang lại cho bạn.

Mỗi tác giả có quyền gửi nhiều bài viết, mỗi bài viết dài khoảng 500 – 1.000 chữ. Bài viết phải được viết bằng tiếng Việt. Những bộ phim được đề cập phải là những bộ phim điện ảnh Việt Nam.

Thời gian nhận bài viết từ ngày 8 đến hết  15-3-2010.

Bài viết xin gửi về địa chỉ tto@tuoitre.com.vn; tiêu đề ghi: tham dự chuyên mục “Viết về những bộ phim điện ảnh yêu thích”. Dưới bài viết vui lòng ghi rõ họ tên, bút danh, địa chỉ, số điện thoại liên lạc… để chúng tôi tiện liên hệ.

Bài được chọn đăng trên Tuổi Trẻ Online sẽ được trả nhuận bút.

Hàng ngàn phụ nữ và trẻ em VN bị bán như là “nô lệ tình dục”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:21 pm
Tags: , ,

AsiaNews: Từ 1998-2010 ít nhất 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam để cung cấp cho các đường dây mại dâm. Khoảng 65% đến Trung Quốc, số còn lại tới Campuchia, Lào, đến Europea, châu Phi và Mỹ. Nhiều trẻ em bị giao bán trực tuyến trên các trang Internet. Đây là  hình thức mới của chế độ nô lệ thế kỷ 21.


Trẻ em bị bán đấu giá trên mạng Internet cho người nào trả giá cao nhất, thông qua các trang web chuyên ngành với các thông tin cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần mỗi ngày với người mới”. Những phụ nữ trong các đường dây mại dâm bị đối xử như nô lệ tình dục. Họ bị  kẻ buôn bán chuyển từ các quốc gia lân cận – Campuchia và Trung Quốc – sang tới các thị trường châu Âu, Mỹ và châu Phi. Ở Việt Nam, trong lúc cuộc sống còn nhiều khó khăn, số lượng phụ nữ bị buôn bán cho các đường dây mại dâm tăng lên hàng năm.

Một tài liệu của chính phủ được công bố gần đây, cho thấy rằng từ năm 1998 đến đầu năm 2010 khoảng 4.500 phụ nữ và trẻ em đã bị đưa ra khỏi biên giới của Việt Nam, để rời vào tay của kẻ buôn lậu vô đạo đức.

Hiện tượng đó đã bắt đầu vào năm 1987 khi Hà Nội mở cửa biên giới của mình cho một nền kinh tế thị trường, mọi việc trở nên nghiêm trọng bởi nhiều trường hợp tham nhũng liên quan đến chính quyền địa phương hoặc những người của “tầng lớp trung lưu.” Tình trạng buôn bán gia tăng khi các can thiệp của những tổ chức từ thiện phi chính phủ và sự phối hợp  giữa Việt Nam, Campuchia và Thái Lan trở nên yếu đi.

Trong năm 2009, hoạt động phối hợp của Chính phủ Việt Nam và Campuchia đã dẫn đến việc bắt giữ được 31 kể dẫn mối, cứu được 70 nạn nhân chuẩn bị vượt biên giới vào Campuchia. Một nhà hoạt động xã hội, báo cáo rằng, một lần nữa năm ngoái, 981 phụ nữ và trẻ em đã được bán tại Campuchia hoặc Trung Quốc.

Hoạt động buôn người diễn ra ’sôi động’ nhất ở biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam; ước tinh chiếm khoảng 65% toàn bộ số lượng phụ nữa và trẻ em gái bị buôn bán ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đó là những phụ nữ để cung cấp cho thị trường mại dâm, hoặc dưới hình thức cô dâu được bán cho người trả giá cao nhất. 10% khác được ghi nhận dọc theo biên giới giữa Việt Nam và Campuchia: những phụ nữ này được sử dụng làm gái mại dâm hoặc ở Campuchia hoặc chờ để quá cảnh sang các nước Châu Âu như Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra còn có 6,3% băng qua biên giới Việt Nam tới Lào, từ vùng biên giới ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá và Quảng Trị.

Trong một số trường hợp, các nạn nhân bị lừa gạt bằng các chiêu bài (đi lao động – Danchimviet) và xuất cảnh qua cửa khẩu Tân Sân Nhất và Nội Bài sang các thị trường Malaysia, Hồng Kông, và Ma Cao hoặc các quốc gia Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ. Kể từ khi chính quyền Bangkok ra tay đàn áp với tệ nạn mại dâm, đặc biệt là mại dâm trẻ em, Việt Nam đã trở thành “vùng nóng mới” cho du lịch tình dục. Các quán bar, vũ trường, các khu du lịch của thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Hải Phòng và Đà Nẵng luôn là điểm thu hút khách du lịch.

P. Martino, thành viên của một chức phi chính phủ về các vấn đề xã hội, giải thích rằng, mục tiêu của tổ chức này là “giúp trẻ em Việt Nam, những người đang bị bán như ‘nô lệ tình dục’ ở Campuchia.” Trẻ em bị bán bằng hàng trăm cách, cả trên internet, trên các trang web mà họ luôn quảng cáo là có “sản phẩm mới” được cập nhật ít nhất “ba hay bốn lần một ngày.” Thị trường tình dục, ông kết luận, là “một hình thức mới của chế độ nô lệ đặc trưng của thế kỷ 21.”

Nguồn: AsiaNews

Lúng túng chuyện giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:08 pm
Tags: , , ,

Dai dẳng mấy tháng nay, giới đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nhiều lần lên tiếng bày tỏ sự lo ngại trước khả năng Nhà nước tăng cường kiểm soát giá một số mặt hàng trong khi giới kinh doanh trong nước hầu như chưa thấy lên tiếng về vấn đề này. Vì sao thế?

Nguồn gốc chuyện kiểm soát giá

Căn nguyên của chuyện kiểm soát giá là bản dự thảo một thông tư do Bộ Tài chính soạn thảo nhằm thay thế Thông tư 104 được ban hành từ cuối năm 2008.

Trong khi Thông tư 104 quy định khá chi tiết các điều kiện áp dụng các biện pháp bình ổn giá đối với một số mặt hàng (ví dụ đối với sữa: “Trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục, giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên so với giá thị trường trước khi có biến động”) thì dự thảo chỉ ghi những điều kiện chung chung như “mức giá tăng cao hơn so với mức giá đã đăng ký, đã kê khai trước đó với cơ quan có thẩm quyền”…

Với các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký giá, Thông tư 104 chỉ giới hạn vào các doanh nghiệp có trên 50% vốn sở hữu nhà nước trong khi dự thảo mở rộng ra tất cả doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục phải đăng ký giá, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giới đầu tư quan ngại chuyện tăng giá.

Việc đưa ra một dự thảo mới thay thế cho Thông tư 104 là do thông tư này đã không làm được nhiệm vụ bình ổn giá như mục tiêu đề ra. Ví dụ trong năm 2009 dư luận xã hội nóng lên chuyện giá sữa tăng liên tục, nhiều người bất bình vì có loại sữa giá ở thị trường Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các thị trường khác trong khu vực.

Thế nhưng Thông tư 104 đã không cung cấp cho các cơ quan nhà nước cũng như chính quyền địa phương một công cụ để bình ổn giá vì đã quy định chỉ áp dụng các biện pháp bình ổn giá khi giá bán lẻ sữa tăng từ 20% trở lên trong thời gian tối thiểu 15 ngày liên tục. Trở ngại tương tự cũng xảy ra với các mặt hàng khác như gạo, thuốc chữa bệnh, đường… Nếu giá các mặt hàng này tăng dưới mức quy định trong thông tư thì các cấp quản lý cũng đành chịu.

Lập luận của giới đầu tư nước ngoài

Nay khi dự thảo đưa vào diện đăng ký giá, kê khai giá cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngay lập tức giới đầu tư nước ngoài phản ứng. Lần lượt các hiệp hội doanh nhân nước ngoài như EuroCham, AmCham đã gửi thư cho Bộ Tài chính, Chính phủ, trả lời báo chí nước ngoài và tổ chức hội thảo để phản đối các quy định kiểm soát giá.

Họ không hiểu vì sao Việt Nam lại muốn quay lại cơ chế kiểm soát giá chứ không theo quy luật thị trường và để thị trường quyết định giá hàng hóa. Họ cho rằng các quy định trong dự thảo sẽ gây ra những gánh nặng quản lý cho các doanh nghiệp khi phải thực hiện việc đăng ký giá cho hàng ngàn chủng loại hàng, rằng các thông tin về phương án giá (như giá vốn, giá nhập khẩu, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến…) là bí mật kinh doanh nay lại phải kê khai, đăng ký.

Các nhà đầu tư cũng cho rằng với khả năng có chuyện kiểm soát giá như thế, các dự án FDI vào các lĩnh vực sản xuất hàng hóa trong danh mục như sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất dầu thực vật, phân bón, và sữa sẽ lưỡng lự trước khi quyết định đầu tư vì không nhà đầu tư nào muốn sản phẩm của mình phải chịu áp đặt giá. Họ cũng đặt vấn đề liệu kiểm soát giá như thế có trái với các cam kết WTO hay không bởi các văn bản gia nhập có cam kết: “kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng các biện pháp quản lý giá phù hợp với quy định của WTO”.

Vấn đề tâm lý

Sự bất lực của cơ quan quản lý giá đối với một số mặt hàng như sữa, đường hay tân dược trong năm 2009 là yếu tố thuận lợi cho việc ra đời dự thảo thay thế cho Thông tư 104.

Việc loại bỏ các điều kiện cụ thể trước khi có thể áp dụng các biện pháp bình ổn giá được kỳ vọng sẽ giúp cơ quan quản lý kiểm soát được giá sữa, giá thuốc chữa bệnh bất kể giá có tăng dưới 20% (sữa) hay dưới 15% (thuốc chữa bệnh). Buộc đăng ký giá đối với tất cả các khâu từ sản xuất, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ cho đến đại lý cũng được kỳ vọng sẽ lấp khe hở của Thông tư 104 khi trong thực tế năm 2009, các doanh nghiệp kinh doanh sữa hay thuốc chữa bệnh ở Việt Nam là nhà phân phối cho các hãng nước ngoài, không thuộc diện đăng ký giá.

Chính vì thế mà đã từng có những kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 104 theo hướng “tất cả doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ nhà nước bình ổn giá phải thực hiện đăng ký giá theo quy định pháp luật”.

Bối cảnh những tháng đầu năm 2010 cũng thuận lợi cho dự thảo khi nhiều mặt hàng liên tục tăng giá, trong đó có nhiều mặt hàng là đầu vào cho dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp khác. Bởi vậy, doanh nghiệp trong nước giữ im lặng trước dự thảo là điều dễ hiểu. Mặt khác, cũng có phỏng đoán, giới doanh nghiệp trong nước hiểu rõ tính khả thi thấp của các biện pháp kiểm soát giá nên giữ thái độ im lặng vì cho rằng mọi việc rồi sẽ “đâu vào đó”. Chuyện giá xăng tăng liên tục bất kể nhiều quy định chặt chẽ là một minh họa điển hình.

Nhưng quan trọng hơn là tính khả thi

Việc kiểm soát giá chưa bao giờ là một vấn đề mang tính khả thi cao. Giả dụ theo tinh thần của dự thảo, để áp dụng biện pháp bình ổn giá, Bộ Tài chính có thể quy định giá tối đa và giá tối thiểu cho một sản phẩm, nhà cung cấp sẽ giữ lại không đưa mặt hàng này vào thị trường nữa và ngay lập tức thị trường sẽ hình thành những loại “chợ đen” buôn bán “chui” các sản phẩm này với giá thật sự theo cung cầu thị trường.

Biện pháp kiểm soát hàng tồn kho của doanh nghiệp là sự can thiệp quá mức vào việc kinh doanh, sẽ vấp phải sự chống đối cao hơn nữa. Kiểm soát giá sẽ dẫn đến sự khan hiếm giả tạo như thời kỳ bao cấp, phải mua hàng hóa bằng tem phiếu và sau cùng giá cả sẽ trở nên đắt đỏ, lạm phát cao sẽ quay trở lại – những hệ quả hoàn toàn trái ngược mục tiêu của dự thảo mong muốn đạt được.

Dự thảo có nhiều đoạn mang tính mơ hồ không định lượng được như “biến động một cách bất thường”, “giá tăng quá cao hoặc quá thấp không hợp lý”, “những yếu tố hình thành giá không hợp lý”. Làm sao để doanh nghiệp biết được thế nào là bất thường, thế nào là không hợp lý thì không thấy dự thảo hướng dẫn hay giải thích. Thử hỏi với quy định như thế này “giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định giá không đúng các yếu tố hình thành giá theo quy định của pháp luật” làm sao doanh nghiệp hiểu để tuân thủ?

Bộ máy hành chính phục vụ công việc kiểm soát giá cũng không thể nào kham nổi khối lượng công việc khổng lồ, tiếp nhận đăng ký giá, theo dõi biến động giá, hiệp thương giá… vì giá chịu rất nhiều yếu tố đầu vào khác nhau tác động như tỷ giá, giá thế giới, giá xăng dầu, giá điện, lương, chi phí sản xuất…

Không thể nào tưởng tượng nổi chuyện doanh nghiệp sản xuất một mặt hàng trong diện đăng ký giá, mỗi khi thay đổi giá thì phải thực hiện đúng quy trình thực hiện phương án điều chỉnh giá phức tạp mới được tăng hay giảm giá bán. Có những quy định mới nhìn vào đã thấy không thể nào thực hiện được, không hiểu sao dự thảo vẫn đưa vào.

Ví dụ, Sở Tài chính sẽ là nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký giá của các thành phần kinh tế khác (ngoài doanh nghiệp do Nhà nước nắm 51% vốn điều lệ trở lên – đăng ký ở Bộ Tài chính) nhưng làm sao một sở ở một địa phương có đủ nguồn lực để biết doanh nghiệp đăng ký giá như thế nhưng có thực hiện đúng giá đã đăng ký không ở trên các thị trường khắp cả nước. Làm sao doanh nghiệp, mặc dù đã đăng ký giá, có thể kiểm soát được việc bán đúng giá đã đăng ký tại hàng chục ngàn hay thậm chí hàng trăm ngàn điểm bán lẻ trên khắp cả nước.

Biện pháp thay thế

Cứ vài ba năm, lại rộ lên một chuyện nào đó với cộng đồng đầu tư nước ngoài. Cách đây mấy năm là chuyện hiểu nhầm phải ghi tên công ty bằng tiếng Việt, rồi trước đó nữa là vấn nạn hai giá. Nay vấn đề kiểm soát giá thật sự là một chuyện không hay ho gì cho việc quảng bá môi trường kinh doanh của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam vẫn còn bị xem là nền kinh tế phi thị trường, những nỗ lực để các nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường chắc chắn bị ảnh hưởng xấu bởi chuyện kiểm soát giá mà tính khả thi, như phân tích ở trên là rất ít.

Thông tư 104 với đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối mà cũng không triển khai được trong thực tế thì dự thảo thay thế với đối tượng mở rộng ra nhiều lần sẽ càng khó thực thi hơn. Tại sao không sử dụng các luật đã có như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và quan trọng nhất là quy luật thị trường để kiểm soát giá.

Riêng với các mặt hàng “nhạy cảm” với công luận như sữa, thuốc chữa bệnh thì nên có những nghiên cứu riêng để áp dụng. Điều quan trọng đối với vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý giá là tính minh bạch, là thông tin rõ ràng trong các khâu phân phối để người tiêu dùng tự mình quyết định. Chính họ là nguồn áp lực lớn nhất buộc nhà sản xuất phải điều chỉnh giá cho phù hợp với cung cầu thị trường. Vai trò đó cũng là tạo một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh chứ không phải là dùng các biện pháp hành chính, càng làm méo mó thị trường, càng tạo điều kiện cho đầu cơ giá.

Blog at WordPress.com.