Ktetaichinh’s Blog

March 13, 2010

Hàng không nước ngoài lách luật để khai thác nội địa?

Đây là điều lo ngại của Vietnam Airlines (VNA) trước sự kiện Hãng Hàng không giá rẻ AirAsia (AA), Malaysia mua được 30% cổ phần của Hãng Hàng không tư nhân Viet Jet (VJ).

VNA đã kiến nghị Chính phủ không thông qua việc đầu tư hợp tác này vì cho rằng động thái mua cổ phần của VJ là cách lách luật để khai thác thị trường hàng không nội địa VN của hãng hàng không nước ngoài AA.

VNA giữ “miếng bánh” nội điạ

Trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, VNA cho rằng do không có khả năng thâm nhập thị trường nội địa của các nước khác, các hãng hàng không (HK) nước ngoài luôn tìm cách lách luật thông qua con đường đầu tư vào các hãng HK nội địa của nước đó để thâm nhập khai thác thị trường nội địa.

Chính vì vậy, các nước đều dùng chính sách để điều tiết lĩnh vực này nhằm bảo vệ thị trường HK nội địa. Luật Hàng không Dân dụng VN tuy cũng có quy định tỉ lệ sở hữu nước ngoài đối với vốn điều lệ của các hãng HK (cụ thể phần vốn nước ngoài đầu tư vào hãng HKVN tối đa 49% cổ phần và một nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể mua tối đa 30% cổ phần), song “khe hở” ở đây là luật chưa phân biệt rõ nhà đầu tư nước ngoài thông thường và nhà đầu tư nước ngoài là các hãng HK.

Chính vì vậy, các hãng HK chi phí thấp như Jetstar và nay là AA đã tận dụng “khe hở” lách luật, tranh thủ mua rẻ thương quyền nội địa của VN thành lập liên minh các hãng HK giá rẻ ồ ạt khai thác thị trường quốc tế đến VN và thị trường HK nội địa. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tồn tại và phát triển của các hãng HK trong nước. Theo VNA, với 30% cổ phần tại VJ, AA hoàn toàn có khả năng tham gia HĐQT của VJ để điều hành hãng theo mục tiêu của mình.

Mặt khác, VNA cho rằng thị trường nội địa trị giá hàng tỉ USD vì thế cần xác định phương án tính toán, định giá cụ thể thương quyền kinh doanh HK nội địa của VN, làm công cụ đàm phán với đối tác nước ngoài trong việc liên doanh và bán cổ phần để tránh thua thiệt. VNA kiến nghị sửa đổi Nghị định 76/2007/ NĐ – CP, bổ sung quy định về tỉ lệ vốn góp của các hãng HK nước ngoài trong DN kinh doanh vận chuyển hàng không tại VN. Cuối cùng, VNA cũng kiến nghị không thông qua việc đầu tư hợp tác của AirAsia vào VJ.

Có quá lo xa(?!)

Theo các chuyên gia, việc VNA kiến nghị có phần quá lo xa. Bởi hiện đây là hãng chiếm tới hơn 80% thị phần nội địa. Hãng cũng là một trong những đơn vị duy nhất kinh doanh tổng hợp về lĩnh vực HK nên đang gần như là độc quyền tại lĩnh vực này. Thêm nữa, thị trường hàng không nội địa VN hiện không phải là miếng bánh béo bở.

Sự thua lỗ của Pacific Airlines trước đây và Jetstar Pacific Airlines (JPA) hiện nay dù cũng có nhà đầu tư nước ngoài chiếm giữ 30% cổ phần. Hay như Indochina Airlines vừa nhập cuộc được hơn một năm đã phải dừng bay vì nợ nần không thanh toán được, cho thấy “miếng bánh” HK nội địa hoàn toàn không dễ xơi.

Vì thế, việc VJ nhập cuộc thị trường với tỉ lệ nắm giữ 30% vốn của hãng HK nước ngoài có thật sự là một nguy cơ lớn đến thế với VNA nói riêng và các hãng hàng không nội địa nói chung như VNA cảnh báo(?!).

Thêm nữa, VNA chủ trương duy trì mô hình hãng HK dịch vụ đầy đủ chiếm giữ phân khúc thị trường hạng trung bình khá trở lên. Trong khi đó, các hãng HK giá rẻ như JPA và tới đây có thể là VJ với 30% của AA thì nhằm vào phân khúc thị trường hạng bình dân. Việc đa dạng hoá dịch vụ cung cấp cho thị trường HK nội địa cũng là một cách mở rộng thị trường HK còn rất khiêm tốn với mức hơn 1% dân số đi máy bay như hiện nay.

Mặt khác, xu hướng mở cửa bầu trời để thu hút nguồn lực xã hội, phát triển thị trường HK nội địa VN trong thế cạnh tranh để người dân được hưởng lợi, khai thác có hiệu quả hệ thống hạ tầng hàng không VN được đầu tư nhiều tỉ USD, đang là chủ trương của Nhà nước VN. Vì thế, nếu một VJ với nguồn vốn xã hội hoá hoàn toàn, nhập cuộc thị trường HK nội địa, còn có thể là một nhân tố mới thúc đẩy cạnh tranh giúp phát triển thị trường.

Tuy nhiên với lo ngại “khả năng xuất hiện xu hướng thành lập hãng hàng không rồi bán cổ phần cho đối tác nước ngoài để thu lợi” của VNA, thì nhà chức trách hàng không cần đặc biệt quan tâm phát hiện và thổi còi đúng lúc, nếu hiện tượng này có thật. Về điểm này, một đại diện VJ khẳng định: Theo Luật HK hiện nay, việc AA mua 30% cổ phần của VJ là hoàn toàn hợp pháp.

AirAsia chỉ là một cổ đông chiếm giữ 30% cổ phần. Mọi quyết định chiến lược của VJ đều do HĐQT quyết định theo nguyên tắc đa số. Hãng này dự định sẽ khởi bay vào khoảng tháng 6.2010 và khai thác đồng thời các tuyến nội địa cũng như nước ngoài.

Bích Liên
Advertisements

Có cơ chế mới – luồng vốn vẫn chưa thông

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:10 pm
Tags: , ,
(VOV) – Đã bắt đầu xuất hiện những “nút” thắt mới cần phải tiếp tục điều chỉnh chính sách từ phía Ngân hàng Nhà nước mới có thể khai thông luồng vốn và thực hiện mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát.

Đã hơn chục ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay với lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn, thị trường vốn vẫn chưa được khai thông như kỳ vọng.

Trước hết phải khẳng định, cơ chế lãi suất thoả thuận áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn là một giải pháp tháo gỡ “nút thắt” cho doanh nghiệp và ngân hàng ở khâu cho vay và vay vốn. Một khi ngân hàng và khách hàng được tự do thỏa thuận lãi suất sẽ tránh được những bóp méo hay “lách luật” theo kiểu thu phí “ngầm” của các ngân hàng hiện nay – một tình trạng mà ngay cả Ngân hàng Nhà nước đã không thể kiểm soát được.

Tuy nhiên, cơ chế mới đã có hơn chục ngày, nhưng thị trường vốn vẫn ì ạch chưa khai thông vì nhiều lý do. Một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới sẽ được thiết lập đã không diễn ra nhanh như dự báo. Các ngân hàng thương mại vẫn đang trong trạng thái “nhìn nhau” và thận trọng thăm dò để đưa ra mức lãi suất hợp lý không quá cao hay quá thấp so với các ngân hàng khác…

Cũng dễ hiểu bởi trên thực tế, nếu một ngân hàng nào đó đưa ra lãi suất thỏa thuận cao quá, khách hàng có thể chuyển sang giao dịch với ngân hàng khác. Tất nhiên, theo qui luật thị trường sẽ có một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, mà phần thắng sẽ thuộc về ngân hàng nào mời chào lãi suất hợp lý, đi kèm chất lượng dịch vụ tốt trong việc lôi kéo và giữ chân khách hàng.

Tuy nhiên, cái khó của các ngân hàng hiện nay là khi thực hiện cơ chế mới, các ngân hàng không huy động được vốn vì vướng lãi suất trần 10,5%, mức lãi suất được xem là không hấp dẫn người gửi tiền. Nghịch lý đường cong lãi suất một lần nữa lại diễn ra trên thị trường tiền tệ hiện nay khi lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn đều không có sự khác biệt và thường không vượt quá 10,5%/năm.

Theo lẽ thường, kỳ hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao, nhưng hiện nay các kỳ hạn đều có mức lãi suất gần sát nhau với độ chênh lệch không đáng kể nên người gửi tiền không mấy mặn mà đem tiền gửi ở ngân hàng từ 12 tháng đến 36 tháng. Theo tính toán của một số chuyên gia kinh tế, giá trị quà tặng khuyến mãi hay tặng tiền mà một số ngân hàng đang áp dụng chiếm khoảng 30% lãi suất huy động. Vì thế, không ít ngân hàng cho rằng, trần lãi suất đang là “chiếc áo quá chật” đối với tình hình hoạt động của thị trường tín dụng.

Có thể hình dung đơn giản là dù cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng với các khoản vay trung dài hạn, tức là đầu ra đã mở nhưng đầu vào vẫn đóng. Một tâm lý chung là các ngân hàng gần như “án binh” trong tâm lý chờ tín hiệu của thị trường, tín hiệu bỏ trần lãi suất huy động 10,5% và mở rộng cơ chế thỏa thuận đối với cả vay ngắn hạn  từ phía ngân hàng Nhà nước.

Đã có không ít chuyên gia đang cảnh báo thị trường sẽ méo mó nếu cứ duy trì cơ chế lãi suất như hiện nay. Khi lãi suất đầu vào  bị chặn ở trần 10,5%,  các ngân hàng sẽ không huy động được tiền gửi, khi đó tiền sẽ trôi nổi bên ngoài lưu thông gây ra lạm phát, trong khi ngân hàng không có vốn để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Có lẽ bài toán khó nhất lúc này đối với Ngân hàng Nhà nước là nếu dỡ trần lãi suất huy động liệu có xảy ra tình trạng ngân hàng chạy đua đẩy lãi suất lên cao và kịch bản tồi tệ của năm 2008 có thể lặp lại hay không? (khi đó lãi suất cho vay bị đẩy lên cao kỷ lục 22%/năm khiến doanh nghiệp điêu đứng). Hay câu chuyện thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận có thể sẽ khiến cho chi phí sản xuất cho doanh nghiệp vay vốn trung, dài hạn chảy vào những lĩnh vực vốn được coi là nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán…?

Tuy nhiên, đứng ở một góc độ khác, không ít chuyên gia lại cho rằng, có những tín hiệu và cơ sở để tin rằng, khi dỡ trần lãi suất, có thể thời gian đầu lãi suất sẽ tăng lên nhưng sau đó theo quy luật cung – cầu, lãi suất sẽ giảm theo tín hiệu thị trường. Cái được lớn nhất là dòng vốn sẽ thông thoáng khi người gửi được trả lãi suất như mong muốn và người đi vay có được vốn./.

Án tử hình không giúp thủ tiêu bạo lực

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,

Cập nhật lúc 23:47, Thứ Sáu, 12/03/2010 (GMT+7)

,

Hội nghị thế giới lần thứ 4 vận động bãi bỏ án tử hình vừa diễn ra tại Geneva (Thụy Sỹ).

Trong số 1.700 đại biểu đến từ khắp các châu lục, có đại diện của Việt Nam, đến từ Bộ Tư pháp, Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Bộ Công an, Văn phòng Trung ương Đảng…

Trong tuyên bố bế mạc, các nhà tổ chức hội nghị – Hiệp hội Cùng nhau bãi bỏ án tử hình – kêu gọi các quốc gia trên thế giới cùng nỗ lực vì mục tiêu thúc đẩy việc bãi bỏ hoàn toàn án tử hình trên phạm vi toàn thế giới, bởi “án tử hình không thể được coi là câu trả lời thích hợp cho bạo lực cũng như những căng thẳng trong xã hội”.

Mô tả ảnh.
Diễu hành vận động bỏ án tử hình trong khuôn khổ Hội nghị tại Geneva.

Một thành viên trong đoàn Việt Nam cho hay, sự có mặt của đoàn “thể hiện tinh thần chia sẻ của Nhà nước Việt Nam” với hội nghị này.

Hồi tháng 6 năm ngoái, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, theo đó bỏ án tử hình với 8 loại tội: sử dụng trái phép chất ma túy, hiếp dâm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn lậu, làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy, đưa hối lộ.Như vậy, số tội danh quy định khung hình phạt cao nhất ở Việt Nam đã giảm từ 29 xuống 21. Các tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, tham ô tài sản và nhận hối lộ… vẫn nằm trong khung án tử hình.

Sau đó, vào tháng 11/2009, Quốc hội Việt Nam thảo luận về việc thi hành hình phạt tử hình, được quy định trong dự thảo Luật thi hành án hình sự.

Có 2 hình thức được dự thảo đưa ra là xử bắn hoặc tiêm thuốc độc.

Thẩm tra dự luật này, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đề nghị chỉ nên quy định một hình thức thi hành hình phạt tử hình là tiêm thuốc độc.

Đa số thành viên của Ủy ban nhất trí với dự thảo luật quy định cho phép người phải thi hành hình phạt tử hình được hiến xác, mô, bộ phận cơ thể, bởi cho rằng đây là vấn đề mang tính nhân đạo và thể hiện giá trị nhân văn trong pháp luật thi hành án hình sự của Nhà nước.

Tháng 5/2009, Việt Nam đã tiến hành Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam (UPR) trước Hội đồng Nhân quyền LHQ. Trong số các khuyến nghị mà các nước đưa ra, có việc xóa bỏ, không thực hiện, công khai số liệu án tử hình.

Trong “Phụ lục: Trả lời các khuyến nghị”, Chính phủ Việt Nam cho hay: “Việc áp dụng hay xóa bỏ án tử hình là phụ thuộc vào tình hình thực tế tại từng quốc gia. Hiện nay, để đấu tranh với tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và nguy hiểm, án tử hình vẫn đang được coi là một biện pháp tích cực để răn đe các tội phạm nguy hiểm. Vì vậy, trước mắt Việt Nam chưa có kế hoạch xóa bỏ hoặc đình chỉ áp dụng án tử hình”.

Tuy nhiên, Chính phủ khẳng định khi hoàn cảnh và điều kiện cụ thể cho phép việc xóa bỏ án tử hình, Việt Nam sẽ xem xét nghiên cứu, tham gia Nghị định thư thứ 2 của Công ước ICCPR. Trên tinh thần nhân đạo và phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt Nam chủ trương chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Xây trung tâm thương mại gần Hồ Gươm: “Một tiền gà, ba tiền thóc”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:57 pm
Tags: ,

Việc Tổng Công ty Thiết bị điện Việt Nam đang có những động thái xúc tiến nghiên cứu lập và triển khai thực hiện dự án Trung tâm thương mại, khách sạn, văn phòng cho thuê, trên khu đất 10.000m2 gần Hồ Hoàn kiếm đang gây tranh cãi.

Xây trung tâm thương mại gần Hồ Gươm: Thiệt nhiều lợi ít

Trong số các dự án chỉnh trang đô thị phục vụ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội có một số dự án liên quan đến Hồ Hoàn Kiếm, như hạ ngầm đường dây, cáp điện và cải tạo hè xung quanh hồ Hoàn Kiếm, tuyến phố Hai Bà Trưng… nhằm cải thiện nạn ùn tắc giao thông và quá tải hạ tầng kỹ thuật tại khu vực Hoàn Kiếm thật đáng hoan nghênh và cho thấy trách nhiệm của Thành phố đối với Hồ Hoàn Kiếm – vùng đất thiêng liêng từng được mệnh danh là “nơi lắng hồn núi sông ngàn năm”, nơi hội tụ tâm linh Hà Nội và cả nước, nơi mà con tim và tâm hồn của gần 90 triệu người con đất Việt, dù ở trong hay ngoài nước, đều hướng về mỗi thời khắc Giao thừa và các ngày lễ lớn hàng năm.

Tuy nhiên, việc cho phép Tổng Công ty Thiết bị điện Việt Nam xúc tiến nghiên cứu lập và triển khai thực hiện dự án Trung tâm thương mại, khách sạn, văn phòng cho thuê, trên khu đất 10.000m2 gần Hồ Hoàn kiếm này thì lại đang gây tranh cãi; Nhiều người băn khoăn, ngoài dự án này, đã, đang và có thể sẽ còn có bao nhiêu những dự án đầy khát vọng khai thác lợi thế vàng của Hồ Hoàn kiếm như vậy nữa?!…

Dưới giác độ kinh doanh, đó là những dự án khôn ngoan và có triển vọng thương mại tốt, bởi chúng sẽ hứa hẹn là “những con gà đẻ trứng vàng” cho các chủ đầu tư  chí ít cũng trong hàng thập kỷ nữa. Tuy nhiên, dư luận đang đang đòi hỏi cần có thái độ thận trọng hơn đối với các dự án loại này từ góc độ quản lý nhà nước theo các khía cạnh dài hạn và toàn diện.

Về pháp lý, Quy hoạch chi tiết tôn tạo khu vực Hồ Hoàn Kiếm  và vùng phụ cận năm 1996 đã được phê duyệt vẫn là văn bản còn nguyên giá trị. Mọi thay đổi sẽ căn cứ vào Quy hoach tổng thể mới về Thủ đô đang được khẩn trương xây dựng và thông qua. Do đó, tất cả việc đầu tư  xây dựng ở khu vực nhạy cảm này, trong phạm vi ranh giới quy hoạch Hồ Hoàn Kiếm, các tổ chức nhất thiết đều phải tuân thủ theo quy hoạch hiện hành hoặc chờ quy hoạch mới, tránh hiện tượng “vượt rào” hoặc “sự đã rồi” đầy tai hại  như  trường hợp công trình “Hàm cá mập ” chịu tai tiếng  dư luận một thời.

Đặc biệt, Hà Nội may mắn có đương kim Chủ tịch UBND TP là một Tiến sỹ Kinh tế-Kiến trúc sư xây dựng với nhiều kinh nghiệm tốt về quy hoạch đô thị ở tỉnh Bắc Ninh nơi ông từng làm Chủ tịch UBND tỉnh, nên trong việc này hy vọng Thủ đô sẽ có “người gác cửa” có bản lĩnh và có trí tuệ  trong tầm trách nhiệm và chuyên môn của mình.

Về văn hoá và tâm linh, quy hoạch mới dù có thay đổi nào đi chăng nữa, cũng có những điểm không nên và không thể thay đổi là giá trị tâm linh thiêng liêng, vô giá của Hồ Hoàn Kiếm trong lòng người dân và  yêu cầu phải tập hợp, bảo tồn, phát huy và phát triển những  giá trị  văn hóa lịch sử  truyền thống, cũng như bảo vệ cảnh quan của Hà Nội cổ với Hồ Hoàn Kiếm làm trung tâm.

TS Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam có lý khi khẳng định: “Ai cũng biết Hồ Gươm không chỉ của Hà Nội mà còn là của cả nước. Đây là di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc và xung quanh hồ có nhiều công trình có ý nghĩa về kiến trúc, văn hóa, lịch sử. Chính vì thế mà người ta làm quy hoạch, để không ai được tuỳ tiện xâm phạm. Ở những khu vực này, nên dành cho những công trình văn hóa chứ không nên dành cho mục đích buôn bán”.

Theo quy hoạch chi tiết khu vực Hồ Gươm và vùng phụ cận TP Hà Nội kèm theo Quyết định số 448/BXD-KTQH ngày 3-8-1996 của Bộ Xây dựng, thì đối với các công trình tại các lô đất tiếp giáp bên bờ hồ Hoàn Kiếm, chiều cao tối đa không vượt quá 16m, không tạo thành bức tường thành ngăn cách không gian hồ và các khu vực lân cận.

Đối với các khu vực còn lại, chiều cao tối đa các công trình được khống chế không quá 4 tầng (16m), không quá 6 tầng (24m) đối với phần xây dựng lớp trong các ô phố.

Đặc biệt, từ góc độ văn hoá và du lịch văn hoá tâm linh tầm quốc gia, có thể nói, cần tìm chỗ hoặc đổi chỗ các công sở, các trụ sở đoàn thể, tổ chức chính trị và xã hội nhà nước đang đặt trong khu vực Hồ Hoàn Kiếm hiện nay để có đất xây dựng thêm các quần thể kiến trúc văn hoá-du lịch và lịch sử, nhất là hệ thống bảo tàng tổng hợp và chuyên đề về Hà Nội đang còn rất thiếu ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm, nhằm tô đậm và tôn nhấn thêm giá trị Tâm linh to lớn, cần thiết và vô giá cho muôn đời…

Bên cạnh các bảo tàng Lịch sử và bảo tàng Cách mạng đang có, rõ ràng việc đặt các bảo tàng về Hà Nội ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm sẽ giúp cho người dân cả nước và khách quốc tế khi về thăm Hà Nội, đến bờ Hồ là có điều kiện thuận lợi tham quan bảo tàng Hà Nội, hiểu hơn về con người và lịch sử nơi đây, chứ không phải chạy tít vào khu vực Mễ Trì mới có thể xem được bảo tàng Hà Nội.

Sẽ thật đáng buồn và đáng trách nếu các công trình văn hoá cần thiết cho cộng đồng và tương lai, thì vì lý do không rõ ràng nào đó, lại bị đuổi đi xa nơi chúng cần có mặt một cách chính đáng cả về lý và tình; còn những công trình thương mại đồ sộ, lạnh lùng và vô hồn thì tìm mọi cách trụ lại cái nơi mà sự có mặt của chúng trở nên nhàm chán và thừa thãi. Nói cách khác, đừng để các giá trị thương mại kim tiền thuần tuý có nguy cơ lấn át các giá trị tâm linh sâu xa của Hồ Hoàn Kiếm. Điều này, làm được đến đâu còn tuỳ thuộc vào cái Tâm và Tầm của người lãnh đạo…

Về giao thông và hạ tầng khác, việc xây dựng các công trình cao tầng như trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê ở khu vực xung quanh Hồ Hoàn Kiếm, nếu không xem xét kỹ lưỡng, sẽ kéo theo nhiều hệ luỵ cả về mật độ dân cư, xây dựng, hạ tầng, giao thông, không gian tĩnh…

Hơn nữa, Hà Nội đã mở rộng và đang có xu hướng giãn nở nhanh, di chuyển các  trung tâm ra ngoại vi, càng cần tránh việc co cụm các công trình cao tầng trong khu vực đã có mật độ dân cư đông, nhất là tại khu vực nội đô, làm nặng nề thêm sự quá tải của mạng lưới giao thông đô thị vốn đã quá tải của Hà Nội.

Thực tế cho thấy, khi các công trình cao ốc tập trung ở khu trung tâm chắc chắn  sẽ làm gia tăng các hoạt động giao thông 2 chiều từ ngoại ô vào trung tâm và ngược lại, dễ dẫn  đến  ùn tắc từ ngoài cửa ngõ đến trung tâm. Khi đó, nguy cơ phải xây cầu vượt và đường bê tông trên cao ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm -do đó sẽ “bức tử” cảnh quan của Hồ này- không phải là không đặt ra…

Về góc độ kinh doanh, việc xây dựng trung tâm thương mại và văn phòng cho thuê trong khu vực Hồ Hoàn Kiếm về trung hạn và dài hạn sẽ ngày càng mất ý nghĩa và giảm hiệu quả thương mại. Do:

Xu hướng hình thành các trung tâm thương mại hiện đại, đòi hỏi quy mô diện tích sử dụng thực tế và hạ tầng giao thông tốt hơn, phù hợp với yêu cầu và phương tiện đi lại ngày càng hiện đại của người dân, như ô tô riêng, trong khi những yếu tố này ở khu vực đất ở Hồ Hoàn Kiếm thì khó có điều kiện cải thiện, hoặc với giá cực đắt đỏ (cả do chi phí giải phóng mặt bằng  và do khống chế  độ cao xây dựng khiến giá thành 1m2 xây dựng cao gấp nhiều lần nơi khác), khiến kéo dài thời gian hoàn vốn trong bối cảnh cạnh tranh thị trường có độ rủi ro ngày càng cao.

Trong  tương lai, chắc chắn sẽ gia tăng yêu cầu biến khu vực Hồ Hoàn Kiếm thành khu phố đi bộ, cấm xe hơi, hạn chế đến mức tối thiểu lượng phương tiện giao thông công cộng ra vào; như vậy là đồng nghĩa với việc giảm bớt lượng khách hàng có tiềm năng thanh toán cao nhất của các trung tâm này.

Xu hướng khách hàng sẽ có sự thay đổi cùng với sự phát triển của hệ thông giao thông hiện đại. Theo đó, khách hàng mua sắm và trụ sở các công sở và văn phòng sẽ không đổ dồn vào các trung tâm cổ, xa cách thị trường tiêu thụ thực tế của Thành phố và cả nước nữa, mà có sự san sẻ rõ rệt cho các trung tâm thương mại -dịch vụ tổng hợp lớn, hiện đại, tập trung và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu vận tải đồng bộ logichtics đang và sẽ được xây dựng trên địa bàn Thủ đô  mở rộng….Điều này cũng có nghĩa là con gà sẽ không còn đẻ trứng vàng cho các chủ đầu tư nữa, mà ngược lại, xảy ra tình trạng “1 tiền gà, 3 tiền thóc”, như là một quả báo rủi ro trong kinh doanh khi xâm phạm các Giá trị Tâm

Fitch Freaking Out About A Sovereign Crisis In Vietnam- Barclays thinks the downgrade is ridiculous

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 pm
Tags: , ,

There’s still confidence in the dong, trade data is improving, the nation’s financial position is manageable, and the central bank is actually tightening policy ever so quietly:

Economist Prakriti Sofat @ Barclays Capital:

First, we do not believe domestic confidence in the VND has deteriorated, although the currency remains weak. When the State Bank of Vietnam devalued the currency in early February, spot VND did not immediately jump to the top end of the new band, as was the case in previous devaluations, which suggests underlying pressures were not that stretched. Also the grey-market rate is currently trading fairly close to the official rate, indicating improved FX demand-supply dynamics. The closure of the bulk of the gold trading floors ahead of the official 30 March deadline is also helping.

Second, the trade deficit has improved since the start of the year. The deficit was USD1.8bn during January-February 2010, versus FDI disbursements of USD1.1bn and healthy remittances inflows ahead of Lunar New Year in February. For 2010, we expect FDI disbursements to be USD11bn and remittances of USD7bn, which should more than cover the trade deficit.

Third, Vietnam’s external position remains fairly healthy, with external debt amounting to roughly 30% of GDP and the bulk being multilateral and bilateral loans with long maturity profile. Short-term external liabilities stand at USD4.4bn as of Q3 09, according to World Bank data. Fitch reported that FX reserves were USD16bn in October – suggesting a cover ratio of nearly 4x. By comparison, Indonesia’s short-term external debt was USD29bn as of Q3 09, according to World Bank data, versus FX reserves of USD62.3bn – a cover ratio of 2.1x.

Fourth, the central bank is tightening policy quietly. It removed the 12% interest rate cap on medium- to long-term loans in late February. This implies an effective tightening in policy, with newswires indicating that lending interest rates have risen as high as 19%. The current policy move will be supported by previously announced tightening measures that took effect in January. These include a halving of the government interest rate subsidy for medium- to long-term loans to 2pp; eliminating he subsidy for short-term loans; and a decree that only 30% of short-term deposits can be used for medium/long-term lending, from 40% previously.

Fitch might be missing the fact that Vietnam’s long-term prospects are very bright. For Vietnam, the economic pie is highly likely to grow substantially over time, which means a lot of near-term problems could be eventually solved by the simple benefits of rapid economic growth.

Add my twitter for more investor-related analysis like this: @vincefernando

Những điều cần chú ý khi kiểm toán BCTC trong điều kiện kinh tế khủng hoảng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:45 pm
Tags:


from Kế toán | Tài chính by tmtvietnam
Mặc dù nền kinh tế thế giới và trong nước đã có những dấu hiệu phục hồi bước đầu nhưng tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự có những chuyển biến rõ rệt.

Mặc dù nền kinh tế thế giới và trong nước đã có những dấu hiệu phục hồi bước đầu nhưng tình hình kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt nam vẫn chưa thực sự có những chuyển biến rõ rệt. Những bất lợi của điều kiện kinh tế, những rủi ro từ thay đổi trong quy mô và hoạt động của các doanh nghiệp, những biến động lên xuống của thị trường đang đặt ra rất nhiều thách thức cho vấn đề tác nghiệp của các kiểm toán viên khi ngày kết thúc năm tài chính 2009, ngày 31/12 đang đến rất gần.

Tháng 4/2009 vừa qua, Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc đã ban hành thông cáo “Những vấn đề kiểm toán viên cần quan tâm trong điều kiện kinh tế khủng hoảng”. Trong đó đưa ra những rủi ro nổi trội mà kiểm toán viên sẽ phải chú ý hơn khi kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009, từ khâu xem xét chấp nhận khách hàng, đến lập kế hoạch kiểm toán và kết thúc kiểm toán nhằm trợ giúp các kiểm toán viên trong điều kiện kinh tế khủng hoảng. Những vấn đề mà Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc đưa ra không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi quốc gia mà nó cũng là những vấn đề mà nhiều nước khác cũng đang đối mặt, trong đó có Việt nam. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu và phân tích những rủi ro để nhận diện đúng rủi ro và đưa ra những hướng giải quyết phù hợp cho kiểm toán cuối năm 2009. Những rủi ro có thể kể đến là:

1.Xem xét chấp nhận khách hàng

Rủi ro đầu tiên mà thông cáo đặt ra là rủi ro từ sự biến động về quy mô và hoạt động của doanh nghiệp. Năm 2009 là năm mà nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, kinh doanh hoặc cơ cấu lại tổ chức nhằm giảm thiểu lao động dư thừa. Nhiều công ty sát nhập hoặc nhượng bán lại một phần doanh nghiệp trong khi nhiều công ty có khả năng mất tính thanh khoản do hàng không bán được, nhưng chi phí vẫn luôn phát sinh. Do đó, trong quá trình xem xét chấp nhận khách hàng, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu về tình hình kinh doanh, mô hình hoạt động và tính chính trực của bộ máy quản lý của đơn vị. Đây là việc mà kiểm toán viên ngay trong điều kiện bình thường cũng phải làm cẩn thận. Tuy nhiên trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng như hiện nay thì kiểm toán viên cần phải đánh giá kỹ hơn những áp lực, thách thức mà doanh nghiệp đang gặp phải có khả năng ảnh hưởng đến tính chính trực của ban lãnh đạo khả năng xảy ra gian lận và liệu rủi ro kiểm tóan có thể được giảm thiểu đến mức chấp nhận được. Từ đó kiểm toán viên cân nhắc có nên chấp nhận kiểm toán hay không, kể cả đối với những khách hàng đã ký hợp đồng kiểm toán nhiều năm.

2.Tính hoạt động liên tục và rủi ro thanh khoản

Ở Việt Nam, một số doanh nghiệp vẫn còn dư nợ từ năm trước với lãi suất cao trên dưới 20% trong khi nhu cầu thị trường vẫn chưa phục hồi. Do đó khi tìm hiểu đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên cần phải xem xét đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản của công ty, xem xét dự đoán luồng tiền ra -tiền vào, khả năng thanh toán của công ty với các khoản nợ đến hạn trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán cũng như xem lại các kịch bản tình huống mà lãnh đạo doanh nghiệp đặt ra để thử độ giãn (stress test) của tính thanh khoản của công ty có hợp lý không. Đối với các doanh nghiệp trong năm 2009 được hưởng lợi từ hỗ trợ lãi suất và giảm, giãn thuế thì việc đưa những điều kiện thuận lợi như vậy làm đầu vào cho việc dự đoán tính thanh khoản cho các năm sau liệu có hợp lý? Động thái tăng lãi suất cơ bản của NHNN lên 8% từ ngày 01/12/2009 dẫn đến việc cho vay doanh nghiệp của các NHTM cũng sẽ tăng. Liệu điều đó đã được phản ánh trong kế hoạch hoạt động của DN? Tại Việt Nam, tín dụng tăng trưởng đã quá nóng, tính đến tháng 11/2009 đã là 33,29%, dẫn đến nhiều tổ chức tín dụng đang thắt chặt cho vay và đẩy lùi thời hạn giải ngân, do đó kiểm toán viên cần phải xem xét xem liệu việc này có ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp do thiếu hay chậm vốn hay không.

Ngoài ra đối với các doanh nghiệp cho phép khách hàng trả chậm thì kiểm toán viên cần phải xem xét đến rủi ro tín dụng mà doanh nghiệp có khả năng gặp phải từ những khoản phải thu thương mại này vì nó sẽ ảnh hưởng đến luồn tiền vào từ hoạt động bán hàng/dịch vụ. Đánh giá được rủi ro thanh khoản của doanh nghiệp là một việc làm rất quan trọng trong việc xác định xem doanh nghiệp có khả năng hoạt động liên tục hay không. Do đó, trong điều kiện khủng hoảng tài chính, kiểm toán viên cần phải đặc biệt chú ý đến các dấu hiệu như ngân hàng yêu cầu đối tượng được kiểm toán phải bổ sung tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng đã từng có quan hệ lâu dài nay đột nhiên chấm dứt quan hệ tín dụng, doanh nghiệp bị phạt do vi phạm các điều khoản của hợp đồng cho vay, khách hàng hoặc nhà cung cấp quan trọng chấm dứt quan hệ kinh doanh, hợp tác; thanh lý nhiều máy móc, nhà xưởng đang dùng trong hoạt động sản xuất… Khi có những dấu hiệu này, kiểm toán viên cần phải tìm hiểu rõ bằng cách trao đổi với khách hàng và độc lập kiểm tra với bên thứ ba (ngân hàng, tổ chức tín dụng, khách hàng/nhà cung cấp của doanh nghiệp…) để có thể đưa ra được nhận định khách quan nhất về tính hoạt động liên tục của đơn vị được kiểm toán.

3. Lập kế hoạch kiểm toán

3.1. Hệ thống Kiểm soát nội bộ

Khi đã chấp nhận kiểm toán BCTC của một doanh nghiệp (DN) thì phần lập kế hoạch kiểm toán cần chú trọng vào tìm hiểu về khách hàng, đặc biệt là tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB). Việc cơ cấu lại hay giảm thiểu lao động nhằm cắt giảm chi phí cũng có thể dẫn đến việc đánh đổi chốt kiểm soát ở một số khâu sẽ bị nới lỏng, thậm chí mất hẳn chốt kiểm soát. Ví dụ trước đây, hồ sơ xin cấp tín dụng mua hàng của khách hàng sẽ được các chi nhánh nhận và sau đó sẽ scan và truyền qua mạng nội bộ về hội sở. Bộ hồ sơ gốc sẽ được chuyển phát qua đường thư tín bảo đảm và sẽ có nhân viên chịu trách nhiệm so sánh, kiểm tra bản scan với hồ sơ gốc. Tuy nhiên do công ty cắt giảm nhân sự mà việc kiểm tra so sánh đã bị xao nhãng, dẫn đến rủi ro bản scan và bản gốc có thể không trùng khớp nhau. Do đó, kiểm toán viên cần phải đánh giá lại tính hiệu quả của các chốt kiểm soát đã bị nới lỏng và tăng cường kiểm tra cơ bản đối với những khâu mất hẳn chốt kiểm soát.

3.2. Mức độ trọng yếu

Sau khi đã tìm hiểu về hoạt động của đơn vị được kiểm toán, hệ thống kế toán, hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro thì kiểm toán viên phải xác định được mức độ trọng yếu cho BCTC của đơn vị được kiểm toán. Trong tình hình hiện nay, cần phải xem xét đến sự thay đổi trong kỳ vọng của những người sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp như nhà đầu tư, chủ nợ… Do sức ép từ thị trường tài chính, chứng khoán, từ sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nên việc cho rằng những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có động lực để “phù phép” báo cáo tài chính là có cơ sở. Cũng chính vì tâm lý này mà mức độ trọng yếu trong thời điểm này sẽ thấp hơn tại những thời điểm kinh tế bình thường khác do rủi ro kiểm toán cao hơn. Thêm vào đó, có những doanh nghiệp các năm trước đều lãi lớn nhưng năm nay lại lỗ hoặc lãi không đáng kể, do vậy cần phải xem xét lại cách định lượng mức độ trọng yếu cho BCTC.

3.3. Chương trình kiểm toán

Khi lập chương trình kiểm toán cho các phần hành, kiểm toán viên cần phải tăng cường các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với những khoản mục được xác định là trọng yếu và liên quan nhiều đến sự đánh giá chủ quan của người lập BCTC. Một số khoản mục cần được chú ý do chịu rủi ro thị trường giá như nợ phải trả bằng ngoại tệ, dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư, lỗ lãi từ việc chuyển nhượng thoái vốn như trường hợp của Vinashin, SCIC và Bảo Việt. Đối với các khoản phải thu thương mại, cần xem xét đến khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp và tính hợp lý của dự phòng nợ xấu và dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Một số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tham gia vào thị trường công cụ phái sinh thì cần phải xem xét đến giá trị hợp lý của các công cụ này tại ngày kết thúc năm tài chính. Đối với các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tài chính thì xác định giá trị hợp lý cho các công cụ tài chính này sẽ do bên đối tác, thường là ngân hàng, cung cấp. Còn đối với các tổ chức tài chính thì kiểm toán viên cần xem xét lại giá trị đầu vào cho mô hình định giá giá trị hợp lý của các công cụ này, đặc biệt trong sự biến động tỷ giá như hiện nay.

Lý thuyết “Positive accounting” nên được vận dụng để phân tích các khoản mục có rủi ro sai sót cao, đặc biệt là hiện tượng “tát nước theo mưa”. Đây là hiện tượng mà kết quả năm nay không đạt được kế hoạch đặt ra do khủng hoảng tài chính, ban lãnh đạo quyết định sẽ ghi nhận thêm các chi phí như tăng dự phòng rủi ro hàng tồn kho, tăng dự phòng các khoản phải thu thương mại, tăng dự phòng bảo hành… Điều này dẫn đến các năm sau khi hoàn nhập sẽ tăng lợi nhuận của DN. Kiểm toán viên do đó cần đặc biệt chú ý đến những khoản mục mà có sự đánh giá chủ quan của người lập BCTC.

3.4. Nhân lực và vật lực

Nhân lực và vật lực của một cuộc kiểm toán trong điều kiện kinh tế biến động cũng khác với trong điều kiện bình thường. Khi các công ty đang gặp khó khăn để kinh doanh thì phí trả cho kiểm toán viên sẽ không tăng, thậm chí giảm đi so với năm trước. Trong khi đó do rủi ro kiểm toán tăng cao nên chất lượng kiểm toán viên cũng như thời gian của cuộc kiểm toán phải tăng lên. Rất nhiều kiểm toán viên ở nước ta với tuổi đời còn trẻ, chưa từng kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, do đó cần phải sử dụng thêm các kiểm toán viên dày dặn kinh nghiệm và tăng thời gian hướng dẫn, giám sát, kiểm tra chất lượng của một cuộc kiểm toán lên so với điều kiện bình thường. Không chỉ vậy, với những phần hành phức tạp, cần phải có kiến thức chuyên và sâu như định giá một công trình xây dựng quy mô lớn thì cần phải có sự tham gia của các chuyên gia hoặc bên thứ ba có khả năng tư vấn . Thủ tục kiểm toán cơ bản cũng sẽ tăng lên, độ tin cậy đạt được dựa vào thủ tục kiểm soát giảm xuống, dẫn đến lượng thời gian của một cuộc kiểm toán cũng tăng thêm. Do đó, các công ty kiểm toán nên có các khóa đào tạo cho các kiểm toán viên về các rủi ro cơ bản mà các doanh nghiệp gặp phải trong khủng hoảng kinh tế, cũng như cách tiếp cận kiểm toán trong thời kỳ kinh tế biến động khác biệt ra sao so với kiểm toán trong điều kiện bình thường. Đặc biệt cần phải nhấn mạnh với các kiểm toán viên là hơn bao giờ hết, thái độ hoài nghi nghề nghiệp là rất quan trọng.

4. Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán

Khi lập kế hoạch kiểm toán và trong suốt quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cần phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có, làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và phải trao đổi với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện được. Trong điều kiện bình thường thì đây là việc mà kiểm toán viên phải làm theo yêu cầu của chuẩn mực số 260 của Việt Nam. Tuy nhiên trong điều kiện khủng hoảng tài chính, thị trường có nhiều biến động thì việc trao đổi thông tin này càng quan trọng hơn nữa và càng phải kịp thời hơn nữa. Lý do là bởi trong điều kiện hoạt động kinh doanh không thuận lợi, ban lãnh đạo chịu áp lực từ nhiều phía có thể không thể bao quát hết hoặc không biết có sai phạm trong nội bộ doanh nghiệp. Ngoài ra do tâm lý của người lao động bi quan về cắt lương và giảm thưởng, dẫn đến rủi ro đạo đức như thông đồng với nhau để tham ô tài sản doanh nghiệp hay giảm năng suất lao động, bỏ bẵng trách nhiệm của mình. Do đó kiểm toán viên có thể tăng thêm giá trị cho DN thông qua giúp lãnh đạo DN nhận biết được những sai sót, yếu kém đó một cách kịp thời, không chỉ qua thư quản lý khi kết thúc kiểm toán mà có thể trực tiếp và liên tục trong quá trình kiểm toán.

5. Gian lận

Phát hiện được gian lận luôn là một thách thức với các kiểm toán viên trong điều kiện kinh tế bình thường và càng trở nên khó khăn hơn trong điều kiện kinh tế khủng hoảng, khi mà nhân lực thì cắt giảm và các nhà quản lý thì chịu nhiều áp lực từ thị trường và cổ đông. Một số vấn đề mà kiểm toán viên nên chú ý như tăng thẩm quyền phán quyết và thẩm quyền can thiệp của quản lý viên và kiểm soát viên trên hệ thống; thay đổi nhân sự ở các vị trí chủ chốt trong năm; cắt giảm nhân lực ở các phòng có chức năng quản lý rủi ro như kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ; hay chỉ tiêu đặt ra tại đại hội đồng cổ đông quá cao và không được sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế trong năm.

Một trong những gian lận khó phát hiện là gian lận xuất phát từ chính ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên cần phải thu thập thêm thông tin về tính chính trực của ban lãnh đạo trong quá trình kiểm toán thông qua việc quan sát và đánh giá văn hóa doanh nghiệp, văn hóa lãnh đạo, môi trường làm việc, cơ chế lương thưởng và tuyển dụng của DN. Ngoài ra nên thu thập thông tin từ nhân viên cấp dưới, phỏng vấn riêng rẽ từng người trong ban lãnh đạo DN và so sánh thông tin cung cấp bởi họ xem có sự sai lệch, mâu thuẫn gì không.

Đối mặt với rủi ro gian lận, kiểm toán viên cần phải giữ được thái độ hoài nghi nghề nghiệp, cho dù đó là khách hàng lâu năm và trong quá khứ không có dấu hiệu gian lận nào dù là nhỏ ở cấp quản lý. Thêm vào đó, cần tăng cường sự trao đổi thông tin trong nội bộ nhóm kiểm toán, đặc biệt là trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện ra các giao dịch khác thường thì kiểm toán viên cần phải tìm hiểu rõ bản chất cũng như điều kiện phát sinh các giao dịch này.

Kiểm toán trong thời kỳ kinh tế biến động đòi hỏi kiểm toán viên phải ngồi lại và nghiên cứu lại mô hình hoạt động của khách hàng, phân tích xem những khó khăn và thách thức nào mà doanh nghiệp được kiểm toán đang gặp phải. Từ đó xác định ra khả năng dẫn đến những sai lệch trọng yếu của BCTC. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần phải được đặt lên hàng đầu, luôn đặt câu hỏi về những cơ hội gian lận và bản chất của giao dịch cho từng bộ phận. Một việc không kém quan trọng nữa là việc “biết người, biết ta”, kiểm toán viên phải nhận biết được khả năng của mình, để biết khi nào cần đến sự tư vấn và trợ giúp của chuyên gia nội bộ hoặc chuyên gia thuê ngoài, để có thể đưa ra ý kiến hợp lý nhất khi kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng tài chính như hiện nay./.

Theo Kiemtoan.com.vn

Kiện Việt Nam bán phá giá tăng mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:27 pm
Tags: , ,

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay

Dệt may là ngành đối diện với nguy cơ bị kiện chống phá giá năm nay.

Dệt may, đồ gỗ, thép và đinh sản xuất từ Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá từ thị trường Âu Mỹ trong năm 2010.

Bên cạnh tôm, cá, túi nhựa, da giày, một số mặt hàng mới như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa có thể sắp bị điều tra.

Đó là nhận định của chuyên gia Việt Nam và Hoa Kỳ từ cuộc hội thảo tìm giải pháp đối phó trước nhiều vụ kiện chống phá nhắm vào hàng xuất khẩu Việt Nam.

Cuộc hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và công ty luật Hoa Kỳ Squire Sanders tổ chức.

Từ giày dép, cá ba sa, nguy cơ bị kiện chống phá giá nay lan sang túi nhựa, đồ gỗ, ốc và đinh, vít, luật sư Peter John Koenig từ công ty Squire Sanders cho hay. “Những mặt hàng này thuộc diện khai phá thị trường của Việt Nam, chưa phải là sản phẩm kim ngạch lớn,” ông Koenig nói.

“Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng.

“Hiện tôm đông lạnh của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang rà soát cuối kỳ, và có khả năng áp thuế thêm 5 năm nữa,” luật sư Koenig được trích lời nói tại cuộc hội thảo.

Lý do đồ gỗ Việt Nam đang đối diện với nguy cơ kiện chống phá giá cao, theo ông Koenig, do hàng xuất sang Hoa Kỳ tăng mạnh. “Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ từ Việt Nam tăng 10 lần trong 10 năm qua,” ông nói. Mặt khác do Việt Nam ở gần Trung Quốc, nước được coi là tâm điểm của các vụ kiện chống phá giá trên thế giới, “mỗi khi Trung Quốc có sản phẩm nằm trong diện điều tra chống phá giá, các quốc gia khác có hàng xuất khẩu tương tự luôn nằm trong diện có nguy cơ cao.”

Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, có rà soát từng năm và cuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng

Luật sư Peter Koenig

Năm qua doanh nghiệp Việt Nam phải đối diện với “con số kỷ lục” các vụ kiện phòng vệ thương mại, báo cáo tại hội thảo nói.

Kiện khắp nơi

7 vụ ở 6 thị trường khác nhau, theo VCCI, 2009 là năm bận rộn và nhức đầu cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

VCCI cho rằng khi kinh tế thế giới rơi vào kỳ suy giảm, số vụ kiện nhắm đến hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ gia tăng. Và không chỉ từ Âu Mỹ, nơi nhà sản xuất hay dò xét sản phẩm giá rẻ từ Việt Nam. Kiện Việt Nam chống phá giá hiện giờ còn xuất phát từ Ấn Độ và Brazil.

“Phía Ấn Độ kiện các doanh nghiệp thép của Việt Nam, Brazil kiện doanh nghiệp giày dép, dù hai nước này xuất siêu sang Việt Nam,” một quan chức của VCCI nói tại cuộc hội thảo.

Trong 10 năm qua số vụ kiện chống phá giá nhắm vào hàng Việt Nam đã lên đến 42. Chuyên gia dự đoán thời gian tới sẽ còn thêm kiện tụng do kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Tiến sĩ Peter Koenig, luật sư cao cấp của Văn phòng luật Squire Sanders cho rằng công ty Việt Nam “chưa có nhiều kỹ năng” đối phó với kiện chống phá giá, dù vụ kiện đầu tiên như ai cũng biết là Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam bán phá giá cá da trơn diễn ra đã 10 năm nay.

Chuyên gia Mỹ nói đến khả năng công ty Việt Nam chung sống lâu dài với các vụ kiện thương mại, khi xu hướng bảo hộ mậu dịch gia tăng, trong lúc Việt Nam tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu.

“Nếu cần thiết Việt Nam nên tìm cách kiện lại, chứ đừng kêu ca, than phiền, kêu gọi quốc tế thương cảm cho nhân công Việt Nam như trước đây,” mạng VietnamNet đưa tin.

2009 Country Reports on Human Rights Practices

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:03 am
Tags: , , ,

http://www.state.gov/g/drl/rls/hrrpt/2009/eap/136015.htm

Fitch Warns May Cut Vietnam Ratings As Dong Confidence Crumbles

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:58 am
Tags: , , , ,

By Leigh Murray
Of DOW JONES NEWSWIRES
Fitch Ratings Friday warned it may cut Vietnam's credit ratings deeper into junk
territory, citing weakening domestic confidence in the dong, and said balance of payment
support is needed before trust can be restored.
Fitch put Vietnam's long-term foreign and local currency ratings of BB- on negative
watch. It also put its short-term foreign currency rating and country ceiling of BB- on negative
watch.
The ratings agency said the Southeast Asian country must allow greater data transparency
for international reserves and the balance of payments to help avert negative rating action.
“The strength of Vietnam's external finance position, which has provided support to the
sovereign's overall creditworthiness, has been sharply eroded as the economy
displays signs of domestic overheating and residents lose confidence in the local currency,”
Ai Ling Ngiam, Director in Fitch's Asia Sovereign team, said in a statement released by
the ratings agency.
“Without a strong policy tightening backed by significant BOP support, confidence in the
Vietnamese dong is unlikely to be restored,” the Fitch statement said.
An official at the State Bank of Vietnam said he was not aware of the Fitch announcement
and had no comment.
The Fitch move is the latest sign of pressure on Vietnam's economy. Vietnam's
recovery from the global crisis–growth is set to rise to 6.5% this year from 5.32% in 2009–is
marred by surging inflation and a wide trade deficit. An interest rate hike Dec. 1 and two
currency devaluations since November have done little to fix those problems.
Black market traders Friday were demanding a 4.2% premium for the U.S. dollar over the
official dollar-dong exchange rate, underlining weak confidence in the Vietnamese currency.
Fitch said the premium indicates ongoing depreciation pressures on the dong.
The central bank recently said flexibility in the exchange rate in coming months was
necessary to boost exports, reduce Vietnam's trade deficit and improve its
international balance of payments, but economists say a tighter monetary policy is also necessary to cool the economy, restrain demand-side inflation and help make dongdenominated
assets more attractive for foreign investors.
Barclays Capital analyst Prakriti Sofat said in a note that the Fitch move was not justified,
arguing that while the dong remains weak he doesn't believe domestic confidence in
the currency has deteriorated. He added that Vietnam's trade deficit has improved this
year, its external debt is relatively healthy and the central bank has been moving to tighten
policy.
“Given this backdrop we believe that Fitch rating outlook change to negative is hasty and
short-sighted. It does not take into account the fundamental strength of the Vietnamese
economy and the country's long-term potential,” Sofat said.
Fitch said official data show gross international reserves have fallen to $15.9 billion in
October last year from $23.6 billion in September 2008, adding that more recent figures have
not been published.
It forecast that foreign exchange reserves may decline to 2.6 months of imports and 1.6
months of current external payments this year–the lowest since 1994 and weakest
“A preference towards Vietnamese dong devaluation to boost exports and the
authorities' pro-growth policy measures in the run-up to the January 2011 national
congress of the ruling Communist Party point to risks of further build-up in inflationary
pressures and a weak policy response,” Fitch said.
Further evidence of deteriorating public confidence in dong-denominated assets and rising
dollar liquidity constraints–due to robust dollar demand–is the nine failed primary auctions by
the State Treasury since last November.
Fitch warned that bond yields may spike further due to increasing interbank rates at a time
loan demand is propped up by the government's three interest rate subsidy scheme.
Fitch's Ai Ling later told Dow Jones Newswires the most immediate and effective
support for the balance of payments would come from fiscal tightening, while other avenues
would include government debt issuance, foreign direct investment, portfolio inflows, as well
as bilateral and multilateral support in the form of developmental assistance.
Brayan Lai, credit analyst at Credit Agricole, said the Fitch news didn't mark a major
event for the market, given ongoing “expectations that Vietnam faces fiscal and monetary
pressures.”
Vietnam's 2020 dollar-denominated bond, which it sold in January at 98.576, was
quoted unchanged from yesterday at 101.75-102.50, said Singapore-based trader.
Still, the announcement isn't likely to bode well for Vietnamese borrowers that may be
looking at tapping the international bond market Phu My Bridge BOT Joint Stock Co was reported by state media Thursday to be planning to
raise $700 million from an overseas bond issue to fund the construction of three projects,
including the construction of two bridges and a tram system in Ho Chi Minh City. So far, only
the Vietnam government has issued overseas bonds.
-By Leigh Murray, Dow Jones Newswires; 66-2690-4200; leigh.murray@dowjones.com
(Ditas Lopez in Singapore contributed to this article.)
Trang 3/3

Chữa cháy ở Hà Nội chỉ có thể vươn tới tầng 10′

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:53 am
Tags:
Thượng tá Nguyễn Đình Bính. Ảnh: Hoàng Anh.

Trao đổi với VnExpress.net, Phó phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an Hà Nội Nguyễn Đình Bính cho biết, gần 50% cao ốc ở Hà Nội có vấn đề về phòng cháy chữa cháy, trong khi phương tiện hiện nay chỉ có thể cứu hỏa từ tầng 10 trở xuống.
> ‘Có người đã vứt chất gây cháy vào hầm rác chung cư 18 tầng’

– Sau vụ cháy chung cư JSC, nhiều cư dân rất lo lắng. Ông nói gì về công tác phòng cháy chữa cháy tại các cao ốc của Hà Nội hiện nay?

– Thành phố hiện có 364 nhà cao tầng đã đưa vào sử dụng. Có thể nhiều hơn nữa vì có những tòa nhà đang trong giai đoạn hoàn thiện hoặc chưa được nghiệm thu. Trong số này có 247 nhà chung cư, 34 nhà vừa làm chung cư vừa làm văn phòng, 47 văn phòng, 17 khách sạn và 16 nhà đa năng (văn phòng, khách sạn, cửa hàng, trung tâm thương mại).

Tất cả tòa nhà cao tầng trước khi đưa vào sử dụng đều được nghiệm thu và phải đảm bảo thực hiện đúng luật phòng cháy chữa cháy như ban hành nội quy thoát nạn; thành lập lực lượng phòng cháy chữa cháy tại chỗ, được huấn luyện sử dụng thành thạo các phương tiện chữa cháy; bảng kê theo dõi phương tiện chữa cháy; lập phương án chữa cháy…

Tuy nhiên, hiện nay chỉ có hơn 200 nhà cao tầng lực lượng phòng cháy tại chỗ vận hành trơn tru các phương tiện cứu hỏa. Nhiều tòa nhà cao tầng nội quy chưa được hoàn thiện, lực lượng phòng cháy cơ sở (tại chỗ) còn mỏng và yếu. Cá biệt có ngôi nhà lực lượng phòng cháy chữa cháy chưa sử dụng thành thạo các phương tiện.

Ngoài ra, hệ thống phòng cháy chữa cháy xuống cấp một cách nghiệm trọng, không được duy tuy bảo dưỡng, sự hợp tác của một số hộ dân sống trong những tòa nhà đó chưa được tốt. Họ để những chướng ngại vật ra hành lang, cầu thang thoát nạn hoặc những vật cản trở ở nơi chữa cháy. Khi có cháy, công tác cứu hộ gặp nhiều khó khăn.

– Theo ông nói, trước khi đưa vào sử dụng, các tòa nhà cao tầng đều được nghiệm thu về phòng cháy chữa cháy, vậy tại sao chung cư JSC vẫn xảy ra hỏa hoạn giữa ban ngày?

– Một vụ cháy xảy ra trước hết phải xem xét ý thức trách nhiệm của cư dân, cơ quan quản lý tòa nhà rồi mới đến cơ quan quản lý nhà nước. Vụ cháy tòa nhà JSC lỗi do ai, lãnh đạo công an thành phố đã giao cho cơ quan điều tra làm rõ. Hỏa hoạn xảy ra dứt khoát phải có lỗi ở nơi nào đó. Nếu tuân thủ tốt quy định làm sao có thể xảy ra hỏa hoạn.

Tầng 17 tòa nhà JSC sau vụ cháy chiều tối 10/3. Ảnh: Nguyễn Hưng.
Tầng 17 tòa nhà JSC sau vụ cháy chiều tối 10/3. Ảnh: Nguyễn Hưng.

– Trong vụ cháy tòa nhà JSC nhiều người dân than phiền về thiết bị chữa cháy của cảnh sát, cụ thể là việc xe thang không thể với tới tầng 17, 18. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu có hỏa hoạn ở tòa nhà trên 20 tầng?

– Đúng là lực lượng trang thiết bị phòng cháy chữa cháy của thủ đô còn yếu và thiếu. Phương tiện hiện nay chỉ có thể chữa cháy được từ tầng 10 trở xuống. Toàn thành phố mới có một xe thang 52 mét, 2 xe thang 32 mét và gần 50 chiếc chuyên dụng (xe thang, chữa cháy và chở nước).

Chúng tôi đã báo cáo Bộ Công an và UBND thành phố để nâng cao trang thiết bị cho lực lượng cứu hỏa, đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy trong các tòa nhà cao tầng. Theo tôi, trong tương lai, mỗi quận huyện phải có một đội phòng cháy chữa cháy riêng, chứ hiện nay 29 quận, huyện chỉ có 9 đội. Con số này quá ít.

– Trong vụ cháy JSC, nhiều cư dân đã thoát nạn bằng cách đắp khăn lạnh hoặc chui vào nhà vệ sinh. Theo ông, đâu là cách xử lý tốt nhất khi hỏa hoạn tấn công cao ốc?

– Với lượng khói nhiều, người dân nên lấy khăn hay mảnh vải nhúng nước bịt vào mùi, bò dưới mặt sàn rồi nhanh chóng đến khu vực thoát hiểm gần nhất. Nếu không đắp khăn ướt nạn nhân sẽ bị ngạt khói.

Trong một số vụ cháy, cách chui vào nhà vệ sinh để tránh lửa chưa phải là tốt bởi oxy chiếm dưới 16% thể tích không khí sẽ gây suy hô hấp. Đã suy hô hấp là bị tê liệt thần kinh, người lúc đó sẽ bồng bềnh và không biết gì.

Với những trường hợp như chập điện, hở bình ga… có nguy cơ gây cháy nổ, chúng tôi cũng đã có văn bản cảnh báo gửi đến các cơ sở để họ phổ biến cho người dân nắm rõ.

Theo thượng tá Nguyễn Đình Bính, Phó trưởng phòng Phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Công an Hà Nội, nhà cao tầng được xác định là nhà có 10 tầng từ mặt đất trở lên. Nguyên nhân cháy tại tòa nhà JSC cao 18 tầng được xác định ban đầu trùng với nguyên nhân vụ cháy tòa nhà 13 tầng tại 25 Vũ Ngọc Phan hồi tháng 6/2009, đều do người dân đưa vật liệu dễ cháy vào thùng rác.

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.