Ktetaichinh’s Blog

March 12, 2010

Canh bạc với hàng xóm- TQ và Lào


Thielke, Thilo

Ngày 11-1-2010

Trung quốc âm thầm dịch chuyển biên giới của họ xuống phía nam. Các nhà đầu tư từ quốc gia rộng lớn đông dân này thuê hẳn một thành phố và xua đuổi dân bản xứ.

George Huang đang phởn chí. Khi gã người Trung quốc này mở cửa sổ văn phòng rộng cỡ cái 2 ga-ra ra, cả một luồng không khí mát rượi ùa vào. Cuốn theo nó là tiếng ồn ào của máy ủi, tiếng đập thình thịch của máy nện và tiếng chói tai nhức óc của máy khoan cắt bê-tông. Du khách phương Tây nếu phải đến đây sẽ không thể chịu được, nhưng đối với Huang thì cái thứ âm thanh hỗn tạp ở thị trấn Bò thèn khỉ ho cò gáy sát biên giới Lào-Trung này lại là âm nhạc.

Gã doanh nhân đóng trong bộ đồ Tây kẻ sọc nhỏ, áo sơ-mi kẻ đen trắng và kravat xám màu. Từ bàn làm việc gã có thể phóng tầm mắt xa tít tới vùng đất đẹp thơ mộng đang dần biến thành công trường. Gã ta là sếp của cái thị trấn bắc Lào này, hay đúng hơn là Tổng Giám đốc công ty Golden Boten City Co. Ltd. Gã thích được gọi là Chủ tịch hơn, còn anh chàng gày gò luôn kè kè bên cạnh mỗi khi có đám khách ngoại quốc lạc vào đây được Huang gọi là Ngoại trưởng.

Mà mấy khi có khách ngoại quốc. Đơn giản bởi vì cái thị trấn Bò-thèn trên đất Lào này hoàn toàn có thể coi là đất Trung Quốc. Ngôn ngữ chính là tiếng Trung, biển hiệu toàn ký tự chữ Hán, thanh toán bằng Nhân dân tệ, đến cả giờ cũng là giờ Bắc Kinh chứ không phải giờ Vientian. Danh chính ngôn thuận thì đây là đất Lào, nhưng cái “thị trấn vàng” Bò-thèn với 21 cây số vuông Đặc quyền kinh tế này nằm chắc trong tay những người Trung quốc.

Những tay cò mồi của các quốc gia giàu có đang dòm ngó đất đai tại những nước đang phát triển. Dẫn đầu là Trung Quốc, họ đã có được những nông trường rộng lớn ở các nước như Sambia, Uganda hay Congo.

Nhưng đặc biệt ở Đông Nam Á hình thái mới của Chủ nghĩa thực dân này đang hiển diện ngày một rõ nét nhất. Tại chính đây Trung Quốc đang mở rộng bờ cõi bằng cách âm thầm di dời đường biên giới vào sâu trong đất của các quốc gia lân bang có chủ quyền.

Theo đánh giá của tổ chức Hợp tác Kỹ thật Đức GTZ thì riêng tại nước nhiệt đới cộng sản nghèo với vẻn vẹn sáu triệu dân này đã bị Trung Quốc đưa vào dự án khoảng 10 ngàn cây số vuông đất, cỡ 4 % diện tích của cả nước Lào. Khoảng chừng 15 % đất của Lào đã nằm trong tay các công ty nước ngoài, trong đó có cả của Việt Nam và Thái Lan.

Theo bản tin điện tử “Asia Time” thì: “Trung Quốc đã nắm trong tay phần lớn nền kinh tế Lào. Từ khai mỏ, thuỷ điện đến cao-su, từ bán lẻ đến dịch vụ khách sạn. Họ kiểm soát hầu hết các mảng trong nền kinh tế”. Ngay từ năm 2007, Trung quốc đã đầu tư hơn một tỷ dollar, chiếm 40 phần trăm tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Lào.

Chính quyền tỉnh Vân Nam Trung Quốc tiếp giáp với Lào đã có hẳn một chương trình cho sự nghiệp công nghiệp hoá miền bắc Lào cho tới năm 2020. Chương trình với cái tên “Dự án phương bắc” đã được đệ trình lên chính phủ Lào và chờ được sự phê chuẩn của đại hội đảng lần thứ 9 Đảng Cộng sản Lào. Dự án chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp then chốt như nông-lâm nghiệp cũng như điện, khai mỏ và du lịch.

Người Trung Quốc đã vào cuộc ngay từ bây giờ. Họ đang cho xây một khách sạn hoành tráng 700 giường Royal Jinlun Hotel, một casino 11 sảnh với một tốc độ chóng mặt.

Đồng thời họ cũng đang hoàn thành một khách sạn 700 giường khác, muộn nhất đầu tới phải xong, một sân golf, một đường đua xe, một công viên, một trường đua ngựa và một trường bắn thể thao. Bò-thèn đang phát – Huang khoe khoang; giờ hiện đang có 7000 người sống ở đây, nhưng không bao lâu nữa sẽ là 6 vạn nguời. Chúng tôi sẽ có đầy đủ khách sạn với tất cả các hạng giá cả. Ngay giờ chúng tôi đã không có đủ phòng để cho thuê.

Bò-thèn nay trở thành trốn truỵ lạc, người dân Lào không dám bén mảng đến đây nữa. Dân Lào bị cấm chơi cờ bạc và đến động mại dâm. Số ít người Lào còn sót lại nơi đây thì giữ khoảng cách với lũ thống trị mới đến từ phương bắc. Một chế độ Apartheid đang hiển diện ở miền bắc Lào.

Huang thì khẳng định còn ít nhất 20% dân số là người Lào gốc còn sống ở đây. Nhưng họ hầu như không xuất hiện. Nhưng tay công an và những chiếc xe cảnh sát không biển kiểm soát lo giữ an ninh trên đường phố đều đến từ Trung Hoa. Cũng như những đầu bếp chuyên gia chế biến thịt gấu hay những chị lao công, các cô váy ngắn đứng phát tờ rơi trước cửa khách sạn hay những tay hồ lì đóng bộ ngồi trong sòng bài đều đến từ đất nước rộng lớn này.

Đường dây điện thoại và đường điện được kéo đến từ Trung Quốc, ổ cắm điện Trung Quốc, bia Tsingtao và thuốc lá được nhập từ Trung Quốc. Ngay cả hải quan Lào cũng rút hẳn khỏi nơi đây, trạm hải quan không còn nằm tại biên giới Lào – Trung mà nằm phía nam của Bò-thèn. Dường như thị trấn này không còn thuộc về Lào nữa.

Phần lớn số dân Lào sau khi bị người Hoa chiếm đất phải sống cách đó 20 km trong khu tạm bợ bên lề con đường liên huyện. Ngay sau khi hợp đồng chuyển nhượng nhằm biến khu thị trấn thành ổ sòng bài được ký thì quân đội Lào được điều động đến.

Một cô gái tên Sida kể: “Quân đội chất chúng tôi lên những chiếc xe tải và thả chúng tôi xuống đây. Họ cấm chúng tôi quay trở lại thị trấn”. Cho một khởi đầu mới mỗi một người dân Bò-thèn được nhận trợ cấp 800 dollar. Nhưng số tiền không giúp họ được bao lâu.

Sida trong chiếc quần jeans lửng và áo T-shirt đỏ này có 3 đứa con phải nuôi. Cô bán Coca-cola, dép tông nhựa và hạt dưa rang. Chồng cô còn có việc làm trong mỏ muối còn sót lại ở Bò-thèn. Chẳng bao lâu nữa cái nghề truyền thống này cũng sẽ bị xoá sổ. Cách duy nhất còn lại để sống là họ phải di xuống phía nam, nơi đất Lào còn là của nguời Lào.

Người dịch: Lê Viết Linh

Advertisements

Tôi không tin vào nhà giá rẻ!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:02 pm
Tags: , , ,

10/03/2010 10:41:36

Làm thế nào để có được một căn nhà ở cho người có thu nhập thấp? Đủ điều kiện nhưng phải chờ đến khi nào? Những căn nhà này chất lượng thế nào? Số báo này, KH&ĐS sẽ chuyển tải tới bạn đọc những ý kiến đóng góp của chuyên gia trong cuộc cũng như ngoài cuộc về dự án nhà ở xã hội nhằm làm cho càng ngày càng có nhiều người được hưởng lợi từ dự án này.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam: Nhà xã hội phải đến đúng đối tượng

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam

Bộ Xây dựng đã có hẳn thông tư 36 hướng dẫn đối tượng và điều kiện mua nhà ở xã hội.

Tất cả các đối tượng đăng ký phải có xác nhận của địa phương, có sự chấm điểm. Do đợt đầu có 800 căn hộ mang ra bán nên sức ép là không thể tránh khỏi.

Có một số người kêu ca về chuyện khó mua được nhà xã hội dù đã hội tụ đủ điều kiện.

Cần phải nhớ rằng 90/100 điểm trong thang điểm Bộ Xây dựng quy định thì các đối tượng đã hội tụ đủ nhưng nhiều đối tượng chỉ mắc 10/100 điểm là do chính quyền địa phương quy định, việc này thì chúng tôi không can thiệp được mà địa phương phải tự điều chỉnh.

Về giá của nhà ở xã hội, hiện có một bất hợp lý mà nhiều doanh nghiệp kêu ca. Giá nhà là do chi phí của doanh nghiệp cấu thành nên.

Nhiều doanh nghiệp do áp dụng khoa học kỹ thuật nên giảm được giá xây dựng, điều đó đồng nghĩa với giá nhà hạ.

Dự kiến trong năm 2010 những ngôi nhà ở thu nhập thấp đầu tiên sẽ được đưa vào sử dụng như nhà ở xã hội tại khu đô thị mới Việt Hưng, dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại Vĩnh Yên, 16 dự án nhà ở xã hội trên địa bàn TP.HCM… tất cả những dự án này đều đang được người dân mong đợi.

Tuy nhiên, trong chính sách, do việc quy định lợi nhuận từ giá nhà tỷ lệ thuận với giá bán nên nhiều doanh nghiệp không muốn hạ giá nhà. Bất hợp lý này đang được chúng tôi điều chỉnh lại.

Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề nhà ở, theo tôi, người dân cũng cần phải thay đổi quan điểm từ sở hữu sang thuê, mượn.

Chưa có nước nào nghèo như chúng ta mà 94% người dân lại sở hữu nhà trong khi ở Nhật, Mỹ tỷ lệ này chỉ chiếm 35%

Ông Nguyễn Mạnh Hà (cục trưởng Cục Quản lý Nhà và Thị trường Bất động sản): Đã có tín hiệu vui về nhà ở xã hội

Theo báo cáo của các địa phương, đến thời điểm này các dự án nhà ở xã hội đã khởi công đều triển khai đảm bảo tiến độ, nhiều dự án đã hoàn thành xây dựng phần móng, đặc biệt một số dự án triển khai sớm đã xây dựng lên tầng 4 – 5 công trình.

Ông Nguyễn Mạnh Hà
Ông Nguyễn Mạnh Hà

Tuy nhiên, việc thực hiện giải ngân đến nay mới đạt khoảng 50% số vốn được bố trí. Băn khoăn nhất của người dân hiện nay là giá bán những căn nhà này.

Tôi xin nói rõ là giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở thu nhập thấp được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 15/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009…

Nguyên tắc xác định giá này nhằm đưa ra mức giá trần để đảm bảo phù hợp với điều kiện thu nhập của các đối tượng có thu nhập thấp.

Hiện nay, trình tự và thủ tục triển khai dự án ở các địa phương còn chậm, thậm chí còn gây khó khăn cho các nhà đầu tư tham gia dự án, do đó tiến độ triển khai dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp chưa được như mong muốn.

Chị Hoàng Thu Hằng (tập thể Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội): Tôi không tin vào nhà giá rẻ!

Chị Hoàng Thu Hằng.
Chị Hoàng Thu Hằng.

Cách đây 3 năm, khi tôi có nhu cầu mua nhà riêng, đọc báo tôi thấy nhà ở xã hội có khoảng 200 – 300 triệu đồng/nhà, không thể tin được.

Hơn nữa, nhà ở giá rẻ kiểu này toàn ở nơi xa, kiểu như ở Hà Tây (cũ) nên không tiện cho công việc.

Kể cả muốn mua nhà giá rẻ nhưng không quen biết, khó mà mua được đúng giá ban đầu…

Nói chung, kiểu gì cũng không yên tâm. Nên tôi đã mua nhà  bình thường, sau đó sửa sang lại.

Hiện tôi cảm thấy yên tâm với ngôi nhà của mình.

Điều kiện và đối tượng được mua nhà ở xã hội
Đối tượng được mua nhà ở xã hội là những người có thu nhập thấp, thu nhập này phải nhỏ hơn mức thu nhập trung bình do từng địa phương ban hành. Phải là những người chưa có nhà ở hoặc những người có khó khăn về nhà ở, diện tích ở dưới 5m2/đầu người.

Những người này có đơn xin mua nhà ở xã hội, có xác nhận của cơ quan, xác nhận của địa phương về điều kiện ở để nộp cho các công ty kinh doanh nhà. Những người thu nhập thấp đã được mua nhà thì trong vòng 10 năm không được bán, nếu hết nghèo thì bán lại cho Nhà nước.

Những góc tối của “cuộc di dân lịch sử”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:58 pm
Tags: , ,

Lao Động số 52 Ngày 09/03/2010 Cập nhật: 8:05 AM, 09/03/2010

Mười mấy nhân khẩu không thể sống trong căn nhà 81m2, anh Nguyễn Văn Đầy tình nguyện ra đường che tạm cái mui đò để ở (Ảnh tại khu tái định cư Lại Tân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang).
(LĐ) – Trong năm 2008, tỉnh Thừa Thiên – Huế triển khai dự án đưa toàn bộ 1.069 hộ sống lênh đênh trên các con sông Đông Ba, An Cựu, Kẻ Vạn, Bạch Yến và sông Hương và 413 hộ dân thuỷ diện vùng đầm Phá Tam Giang – Cầu Hai lên bờ định cư. Đây được coi là “một cuộc di dân lịch sử”…

40m2 “chứa” 3-5 cặp vợ chồng

Ông Nguyễn Văn Ty, ở khu tái định cư Lại Tân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang có 5 người con, trong số đó, 2 con lớn lập gia đình sinh hơn chục cháu. Do không được tách hộ nên khi lên bờ, chỉ mình ông được cấp đất dựng nhà.

Ngôi nhà cấp 4 không đủ chỗ sinh hoạt cho mười mấy con người nên ông đành phải thuyết phục người con đầu nhịn phần cho các em ở. Thế là ông Nguyễn Văn Đầy, con ông Ty đành dùng cái mui đò bỏ tạm bên đường để hai vợ chồng cùng 4 người con của mình có chỗ trú thân.

Đang nhóm lò dưới cái nắng đỏ lửa, bà Trần Thị Lan, vợ ông Đầy than thở: “Khổ mấy cũng phải chịu đựng chứ biết răng được. Chừ thì cứ ở tạm ri đã, khi mô Nhà nước đuổi thì đi. Mà nói thiệt chớ, Nhà nước có đuổi vợ chồng tui cũng không biết đi mô ngoài việc quay lại xuống sông”.

Được lên bờ, được sống trong những căn nhà khang trang, ước mơ bao đời của người dân vạn đò sông Hương đã thành hiện thực.

“Ở thôn Lại Tân, trường hợp đông con nhưng không được tách hộ như nhà ông Nguyễn Văn Đầy, dẫn đến việc không có chỗ ở, hoặc 3-4 thế hệ cùng chen chúc nhau trong một không gian rộng khoảng 40m2 không phải là cá biệt” – ông Võ Văn Kèn, Trưởng thôn Lại Tân – nói. “Hiện tại, thôn Lại Tân cần thêm 40 – 50 lô đất nữa để cấp cho những hộ có đông các cặp vợ chồng xây nhà ở mới giải quyết được tình trạng thiếu chỗ ở”.

Cái ở tại khu tái định cư phường Hương Sơ, TP.Huế còn bi đát hơn gấp bội phần. Ông Nguyễn Văn Tín – Tổ trưởng tổ 14 khu tái định cư Hương Sơ – cho biết: Tổ ông có 106 hộ, trong số đó nhiều căn hộ có đông cặp vợ chồng cùng sống trong 40m2 chật cứng như nêm. Những hộ gia đình có trên 15 nhân khẩu được mua thêm một căn hộ nữa vẫn không thấm tháp vào đâu. Không đủ chỗ, anh em ruột cũng giành giật để mua cho bằng được nhà, vậy là tranh mua, tranh ở, gây sự nhau đủ thứ trên đời.

Cảnh gia đình anh em Huỳnh Ngọc Thân, Huỳnh Ngọc Chung tại khu tái định cư Hương Sơ chửi bới nhau cả ngày là không ai không biết. Ban đầu, hai hộ gia đình với 15 nhân khẩu cùng sống trong một căn nhà không chịu nổi nhau, đành phải cưa đôi ngôi nhà mỗi người một nửa. Nhà đã phân đôi, vậy nhưng vẫn cứ mâu thuẫn, xích mích nhau, hết chuyện nước, đến chuyện tiền điện đóm, con cái ồn ào…

Chị Phạm Thị Tơ – vợ anh Huỳnh Ngọc Thân – than: “Dưới nước nhà mô đò nấy, lên đây ở chung ở chạ rồi xích mích đủ thứ chuyện mới ra rứa chứ có ưa chi cái chuyện gây gổ, chửi bới nhau mô”.

Thất nghiệp, gây rối, trộm cắp…

Đến thời điểm này, dự án tái định cư dân vạn đò đã thực hiện được hơn một nửa chặng đường (năm 2009 đã thực hiện định cư 555/1069 hộ tại các khu tái định cư Phú Hậu, Lại Ân và Hương Sơ) và 343/ 413 hộ dân thuỷ diện vùng đầm Phá Tam Giang – Cầu Hai). Tuy nhiên, do kế hoạch, phương án tổ chức khảo sát, thống kê ngay từ cơ sở để triển khai đào tạo nghề, giải quyết việc làm vẫn chưa được các cơ quan chức năng của thành phố Huế triển khai, nên hầu hết người dân đến nơi ở mới đều gặp khó khăn để kiếm lấy cái ăn.

Trước đây theo đuôi tôm cá, đạp xíchlô, xe thồ, rồi đến cả “thợ đụng”. Giờ ở xa không có phương tiện mất mối làm ăn. Có những gia đình thất nghiệp triền miên, cơm chạy ăn từng bữa. Nói chuyện kiếm ăn ở nơi ở mới, ông Võ Văn Kèn, Trưởng thôn Lại Tân kể thêm: “Xuống đây công việc có trở ngại hơn nhiều, người làm cát sạn, thuyền rồng trên sông Hương mỗi lần di chuyển xa xôi, tốn kém. Nhà mô làm nghề cá thì ở đây gần sông nên lang thang nay đây mai đó, về phía Tam Giang – Cầu Hai kiếm cơm, họ có cái nghề như vậy cũng đã là may mắn lắm đó chú”.

Có những hộ gia đình không cam tâm sống cảnh ăn không ngồi rồi xoay mượn tiền mua xe máy, tập chạy xe để trở lại thành phố tiếp tục cuộc mưu sinh. Phải di chuyển xa nên thu nhập vốn đã bèo bọt nay càng ít ỏi hơn vì chi phí đi lại.

“Từ đây đi lên TP.Huế phải có xe máy mới đi được, đa phần vợ con tụi tui ở đây hồi trước buôn bán hàng rong ở mấy chợ, lúc đầu về đây không có việc chi làm. Chừ kiếm cái xe lên thành phố buôn thúng bán bưng rứa đó” – ông Nguyễn Văn Sang, thôn Lại Tân – kể. Khu tái định cư Hương Sơ tình hình cũng chẳng khá hơn là bao, ban ngày vắng hoe, người dân đã trở vào TP.Huế đi làm bằng đủ thứ nghề. Ai không có nghề ngỗng thì ở nhà xây sòng… đánh bài giải trí. Khổ nhất là những người vốn quen sống bằng nghề đánh bắt cá, giờ họ bị “treo” hẳn trên khô, xa sông, không ghe, không đò đành phải chịu cảnh thất nghiệp.

Cũng do thất nghiệp, thiếu việc làm nên thời gian qua, các điểm tái định cư dân vạn đò phát sinh tình trạng mất ổn định trật tự nghiêm trọng. Ông Võ Văn Kèn – Trưởng thôn Lại Tân – nói: “Chừ thì đỡ hơn, chứ thời gian trước Tết Nguyên đán, trung bình ở đây 2 ngày xảy ra một vụ gây rối trật tự, mất cắp”. Ở các khu tái định cư Phú Mậu, Hương Sơ, tình hình cũng không khá hơn khi thường xuyên xảy ra nạn rượu chè, đánh nhau, mất cắp…

Ông T – một người dân ở thôn Lại Tân – nói: “Để xảy ra tình trạng mất cắp, đánh nhau, một phần lỗi do người dân chúng tôi, nhưng một phần trách nhiệm lại đến từ chính quyền khi lực lượng công an viên quá mỏng (cả xã Phú Mậu chỉ có 6 công an viên); cán bộ thôn, tổ lại hoạt động chưa hiệu quả, can thiệp không kịp thời”.

Lãi suất cho vay đã quá sức chịu đựng doanh nghiệp?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:48 pm
Tags: ,


SGTT – Lãi suất thoả thuận đối với các khoản cho vay trung dài hạn của doanh nghiệp có nơi lên đến 18%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mức này đã đến giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp.

Nếu lãi suất cao hơn nữa, doanh nghiệp sẽ… gửi tiết kiệm thay vì kinh doanh. Tốc độ huy động vốn của các ngân hàng từ đầu năm đến nay rất chậm. Ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ngân hàng Á Châu (ACB) cho biết, dư nợ huy động hai tháng đầu năm ở ACB chỉ tăng nhẹ, nhưng không đều đặn và ổn định, tốc độ chỉ bằng khoảng 50% thời điểm giữa năm 2009.

Bao nhiêu là quá sức?

Đồng thời, như nhiều ngân hàng khác, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở ACB cũng chậm chạp và hầu như đứng im. Ngoài việc tăng trưởng cho vay khó đạt cao vì ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản, ông Lý Xuân Hải cho rằng, đối với nhiều doanh nghiệp, vốn cũng đang gặp nhiều khó khăn, thì lãi suất dần gia tăng đến ngưỡng doanh nghiệp khó thể gánh chịu, và cũng là lý do khiến tốc độ tín dụng chậm lại.

Ở mức lãi suất thoả thuận 17 – 18%/năm phổ biến trên thị trường hiện nay, doanh nghiệp có dự án khả thi và mức lợi nhuận cao thì mới tìm đến ngân hàng. “Mức lãi suất cho vay 17 – 18% hãy còn trong giới hạn chịu đựng của doanh nghiệp, nhưng nếu vượt cao hơn, tôi cho rằng họ khó có thể chịu đựng hơn”, ông Hải nói.

Theo ông, qua theo dõi các năm 2002 – 2007, thời điểm nền kinh tế ổn định và các doanh nghiệp kinh doanh tương đối tốt, các doanh nghiệp Việt Nam thường có 1 đồng thì đi vay 2 đồng (tỷ lệ vay/vốn khoảng 2 lần). Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong khoảng 25 – 30%. Lãi suất vay tổ chức tín dụng vào thời kỳ đó từ 12 – 14%/năm. Như vậy, nếu lãi suất vay tăng 5 – 6% lên 18 – 19% sẽ làm ROE giảm xuống còn khoảng 15 – 18%, tương đương lãi suất huy động. Điều này làm tăng rủi ro hoạt động, ảnh hưởng đến lợi nhuận, các doanh nghiệp không còn hứng thú đầu tư mở rộng mới. Thay vào đó, họ có tiền sẽ đem gửi tiết kiệm, vì hiệu quả như nhau mà rủi ro thấp hơn nhiều.

Theo ThS Đào Trung Kiên, giảng viên khoa ngân hàng đại học Kinh tế TP.HCM, với mức lãi suất đi vay 18%/năm, nhìn chung các doanh nghiệp phải có tỷ suất lợi nhuận khoảng 25% mới bù đắp được chi phí sử dụng vốn. Giả sử lãi suất cao hơn mức trên, doanh nghiệp sẽ lại lao đao như hồi năm 2008, ông nói.

Lãi suất cho vay sẽ giảm

Theo báo cáo chiến lược đầu năm nay của công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), năm 2010 các doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao hơn 63% so với chi phí lãi vay của 273,16 ngàn tỉ đồng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất mà các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân được hưởng trong năm 2009. Với mức hỗ trợ lãi suất bình quân là 4%, với số dư nợ này, các doanh nghiệp phải trả lãi khoảng 21,8 ngàn tỉ đồng/năm (lãi suất 8%). Trái lại, với mức lãi suất thị trường hiện tại là 13%/năm thì các doanh nghiệp sẽ phải trả lãi 35,5 ngàn tỉ đồng (ở mức lãi suất cho vay thương mại thông thường). Và nếu lãi suất cơ bản tăng lên 9% vào cuối quý 1 thì chi phí lãi vay sẽ là 38,2 ngàn tỉ đồng.

Điều đáng mừng là thanh khoản đã được cải thiện. Theo ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng vào tuần trước bình quân ở mức 7,44%/năm, giảm mạnh so với mức 10,69% ở tuần gần cuối tháng 12.2009, và so với mức 9,37% tuần đầu tháng 2. Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, lãi suất cho vay thoả thuận cách đây một tuần khoảng 12 – 14%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, khoảng 15 – 17%/năm đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. Đây là tác động tích cực. Theo ông Lý Xuân Hải, chi phí vay vốn của doanh nghiệp hiện nay không tăng mà có xu hướng giảm đi so với ba – bốn tháng trước, lúc thị trường thiếu hụt thanh khoản hơn hiện nay. “Bây giờ, ACB có thể cho vay doanh nghiệp ở mức 15 – 16%/năm, chứ lúc trước khó có thể ở mức này”, ông nói.

Dù vậy, ngân hàng vẫn khó tăng cho vay ra nếu không huy động được như các số liệu công bố gần đây. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu ngân hàng Nhà nước sắp tới dỡ bỏ quy định trần lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tăng lên, nhưng lãi suất cho vay có thể sẽ giảm xuống, chênh lệch cho vay và huy động khoảng 3,5 – 4% là mức đảm bảo ngân hàng kinh doanh có lời. Nhiều người trông đợi vào cuộc họp mới đây giữa hiệp hội Ngân hàng Việt Nam với đại diện các ngân hàng, mà theo giới thạo tin, sau cuộc họp này, họ sẽ có kiến nghị bỏ lãi suất huy động trần hiện nay.

Vietnam’s Import from U.S. Increases Sharply in January

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:34 pm
Tags: , ,

Vietnam spent 273.52 million U.S. dollars on import from the United States in January this year, up 153.7 percent year-on-year, said the information center of Vietnamese Ministry of Industry and Trade on Tuesday.

Machines, components and spare parts topped the Vietnam’s import items from the U.S market in the first month of 2010. Vietnam’s import turnover of this commodity reached roughly 60 million U.S. dollars, a surge of 126.47 percent over the same period last year.

Animal feed ranked second with import value of 27 million U.S. dollars during this period, followed by animal fats and vegetable oils with turnover standing at 20.7 million U.S. dollars, said the center.

Vietnam saw a year-on-year increase in turnover of most import items from the United States last January including cotton, wood products, plastic materials, milk products, pharmaceuticals and steel.

However, Vietnamese importers reduced their spending on purchasing such U.S. products as automobiles, electronic wires and cables, seafood and wheat during this period, said the center.

Last year, Vietnam paid 2.8 billion U.S. dollars for buying goods from the United States, up 9.1 percent year-on-year, according to the General Statistics Office of Vietnam.

Lá thư kêu cứu và nỗi đau tê tái của cô dâu VN ở TQ 10/03/2010 06:02

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:32 pm
Tags: , , ,


(VTC News) – Những cô gái Việt Nam sang Trung Quốc theo đường không chính thức vào những năm 90 của thế kỉ trước giờ hầu hết đã sinh con. “Thế hệ thứ 2” của họ đã đến tuổi đi học, nhưng đều thuộc diện “3 không”: không có quốc tịch, không phải công dân, không có hộ khẩu. Những chuyện như xin học, xin việc, đều là những nỗi lo khôn xiết. Họ sống nhờ vào kẽ hở của pháp luật, tiền đề để con cái họ có được “danh phận” ở Trung Quốc là nhờ vào người chồng bản xứ. Đó chính là nỗi đau tê tái mà những cô dâu VN ở TQ đang phải gánh chịu.

» Trai TQ lấy vợ VN và lối “tự sướng” dối mình, dối người
» Tại sao đàn ông Trung Quốc “mê mẩn” vợ Việt Nam?
» Mạng Trung Quốc xôn xao chuyện “mua” vợ Việt Nam

Trừ thân phận là dân “3 không”, cô bé 14 tuổi Mạc Thủy Yến trông không có gì khác biệt so với bạn bè, thậm chí tiếng Bắc Kinh lưu loát của cô bé còn khiến hiệu trưởng ngạc nhiên và quý mến. Nhưng bản thân cô bé thì ngậm ngùi tự biết mình không giống với các bạn vì mẹ em, chị Trần Hồng Văn, là một người Việt Nam.

Hai người mẹ Việt Nam và những đứa con mang nửa dòng máu Trung Quốc


Mười mấy năm trước, vào khoảng giữa những năm 90, chị Trần Hồng Văn cũng như một số cô gái Việt Nam khác, vì cảnh nhà nghèo khó không đủ ăn đủ mặc nghe theo lời rủ rê, tìm đường sang Trung Quốc mưu sinh. Cắn răng bỏ ra số tiền tương đương 200 tệ, các chị được nhà thuyền đưa đến thành phố Đông Hưng ở phía nam Quảng Tây, rồi tự tản về các huyện thị ở khu vực Quảng Đông, Quảng Tây đi làm thuê, rồi hầu hết đều lấy chồng ở vùng núi phía tây tỉnh Quảng Đông.

Nhóm người này đến nay chưa có thống kê số lượng chính thức. Ở trấn Cao Lương, huyện Đức Khánh, thành phố Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, chỉ riêng thôn Đại Đồng đã có đến mười mấy người; trong cả huyện có khoảng gần 100 người. Theo người dân cho biết, ở những huyện thị gần Quảng Tây như La Định, Úc Nam, Phong Khai… số lượng thậm chí còn nhiều hơn nữa.


Bức thư kêu cứu

Tháng 12 năm 2009, một bức thư nặc danh được gửi đến Nam phương nông thôn báo, kể lại thực trạng cuộc sống của những người này. Trong phần “kí tên” ghi là “Một người biết chuyện”; nét chữ ngay ngắn, ngôn từ khẩn thiết: “Chúng là những đứa trẻ đang hoặc sắp đến tuổi đi học, giờ đang hoặc sắp đến trường cùng bạn bè đồng trang lứa. Nhưng cha mẹ chúng thì vô cùng lo lắng, khổ tâm vì tương lai của chúng bởi lẽ đây là những đứa trẻ “bất hợp pháp” không được đăng kí hộ khẩu. Không có giấy tờ hợp pháp chứng minh thân phận, không biết sau này khi chuyển cấp, xin việc phải làm thế nào…”.


Những cô gái Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sau khi có con đều biết đối mặt với thực tế, yên phận ở nhà chăm sóc con cái. Trong số họ, có những người mặc dù đã một vài lần về Việt Nam thăm người thân nhưng vẫn chưa lấy được đăng kí kết hôn hợp pháp. Đa phần họ cả năm làm lụng vất vả cũng chỉ tạm đủ duy trì cuộc sống hàng ngày. Có những người lấy chồng nhiều tuổi, thậm chí không còn khả năng lao động. Mười mấy năm trước, nhóm người này đã rời bỏ vùng quê nghèo khó để tìm đến một nơi mà họ nghĩ có thể ăn no mặc ấm, dù nơi đó cũng chỉ là những dãy núi cao trùng điệp.


Nguyễn Kim Hồng, năm nay 35 tuổi, năm 1999 theo một người chị họ đã lấy chồng Trung Quốc sang đây làm thuê, sau đó được giới thiệu lấy một nông dân ở thôn Đại Đồng là Từ Tiến Nguyên. Nói về cuộc nhân duyên của mình, người đàn ông râu tóc đã muối tiêu đến giờ không giấu nổi nụ cười: “Chỉ mất cho người mối 300 tệ. Năm đó 30 tuổi rồi, nhà thì nghèo, tìm không được vợ, lo muốn chết”. Khi phóng viên đến thăm, cả nhà họ Từ đang vui mừng hớn hở. Vườn quýt đường mà họ vất vả chăm sóc cả năm giờ đã cho trái lớn. Cha của Từ Tiến Nguyên vuốt râu kể lại: “Nếu không có con dâu, chắc tôi cũng không sống đến hôm nay. Con trai 30 tuổi còn lấy được người vợ như Kim Hồng, thật là phúc phận mà nhà họ Từ tu mấy kiếp mới có được”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo đến nhà họ Từ, chị Trần Hồng Văn, một người bạn Việt Nam của chị Nguyễn Kim Hồng, cũng đang ở đó. Tiếng cười của chị trong trẻo, vui vẻ. Chị kể bằng tiếng Quảng Đông lưu loát: “Hồi đó tôi vừa đen vừa gầy, gần 30 tuổi rồi ở Việt Nam khó lấy được chồng”. Năm 1995, sau 2 năm mổ gà thuê ở Trung Quốc, chị lấy anh Mạc Hồng Phân, 43 tuổi, ở thôn Giang Nam. Giờ đây, người chồng 58 tuổi ở nhà giữ mấy mẫu ruộng, còn chị thừa hưởng năng khiếu buôn bán của gia đình tại Hà Nội, dẫn theo con gái Mạc Thủy Yến đến trấn Cao Lương tiếp tục bán gà kiếm sống.


Chủ nhiệm thôn Giang Nam Lương Thụ Lâm cho biết, thôn này đã đón 10 cô gái Việt Nam. Ngoài hai cô vì nhà chồng quá nghèo nên đã bỏ đi nơi khác, những người còn lại đều ở lại thôn, sinh con đẻ cái, gánh vác với nhà chồng. Ông Đàm Vịnh, phó chủ nhiệm thôn Đại Đồngcho biết, có 15, 16 cô gái Việt lấy chồng ở đây, chừng hai chục đứa trẻ đến tuổi đi học trong diện “3 không”.


Những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc sớm đã được những tổ chức cơ sở ở thôn trấn mặc nhiên thừa nhận, nhưng để được hưởng chính sách hỗ trợ chính thức của chính phủ Trung Quốc lại gặp rất nhiều khó khăn. Nỗi lo lớn nhất của họ là vấn đề hộ khẩu của con cái và những vấn đề phát sinh theo đó: đi lại, chuyển cấp, xin việc… hầu như không có cách nào giải quyết.


Những đứa trẻ này có đủ cả cha lẫn mẹ, nhưng lại chưa được pháp luật công nhận


Trong nhà chị Nguyễn Kim Hồng, trên tường dán đầy giấy khen các loại. Mặc dù là trẻ diện “3 không” nhưng trong làng xóm vẫn cho phép 3 đứa con của chị Hồng được đi học. “Thôn cho một cái giấy chứng nhận còn các thầy cô trong trường đối xử với chúng không khác gì những đứa trẻ khác”, ông Đàm Vịnh cho biết.

Ông Lý Vĩ Cảnh, hiệu trưởng trường tiểu học La Dương, nói: “Các cháu cũng được hưởng giáo dục phổ cập miễn phí. Trừ việc không được nhận học bổng dành cho học sinh nghèo – vốn chiếu theo hộ khẩu hết sức chặt chẽ – thì ở giai đoạn giáo dục bắt buộc, các cháu diện “3 không” cũng không có gì khác biệt so với các cháu khác”.


Nhập hộ khẩu cho con cái: Bất khả thi!

Năm 1995, khi giải ngũ, anh Mạc Quốc Hoa ở thôn Giang Nam đã nhiều tuổi. và đã bỏ tiền tìm vợ Việt Nam. Giờ đây anh đã là cha của 2 đứa con. Năm 2007, anh đem giấy chứng sinh của con (có dấu xác nhận của thôn ủy) lên công an huyện để đăng kí hộ khẩu cho con là Mạc Chấn Hoàng nhưng “Công an nói không có chính sách này”. Lúc còn trẻ, bản thân anh đã từng muốn bỏ việc cày cuốc mà không được, giờ đây, có lẽ những đứa con không có hộ khẩu tương lai còn không bằng bố chúng! Cúi đầu rít một hơi thuốc thật sâu, anh buồn bã nói: “Lẽ nào con cháu họ Mạc từ nay đời đời là những đứa trẻ bất hợp pháp?”


Người cha Trung Quốc này cũng không có cách nào đưa tên con vào hộ khẩu


Những đứa con của Nguyễn Kim Hồng học hành giỏi giang là động lực để hai vợ chồng vượt khó vươn lên. Nhưng vấn đề hộ tịch ngày càng thắt chặt hơn khiến Từ Tiến Nguyên vô cùng khổ tâm: “Có đỗ đại học cũng không được học, liệu chúng có oán tôi cả đời không?”. Hiệu trưởng Lý Vĩ Cảnh phân tích hoàn cảnh của những đứa trẻ “3 không”: cha mẹ cho chúng cuộc sống, nhưng chính sách khó cho chúng danh phận. Theo luật Hôn nhân Trung Quốc, để được nhập hộ khẩu, phải theo trình tự thủ tục: cô dâu Việt về nước lấy chứng nhận tình trạng hôn nhân cùng hộ khẩu và các giấy tờ tùy thân chứng minh do cơ quan có thẩm quyền cấp, có hộ chiếu và Visa nhập cảnh Trung Quốc, con cái có giấy chứng sinh do bệnh viện ở Trung Quốc cấp”.

Tình hình thực tế là, đối với các gia đình ở vùng núi Quảng Đông, Quảng Tây, mỗi điều kể trên đối với họ đều vô cùng khó khăn. Chị Hoàng Hân, vợ anh Mạc Quốc Hoa ở đây đã 15 năm, chưa một lần về nước, đến liên lạc về nhà cũng không. “Về nước một chuyến cần rất nhiều tiền, nếu tôi đủ tiền để làm các giấy tờ đó thì đã không cần lấy vợ Việt Nam nữa rồi”, Mạc Quốc Hoa thổ lộ.


Ông Hà Quế Lai, chủ nhiệm ban xã hội thuộc Ủy ban huyện Đức Khánh cho biết: “Ở cơ quan đăng kí của huyện không có một cặp vợ chồng Việt – Trung nào đăng kí kết hôn”. Một người phụ trách ở công an huyện Đức Khánh nói, mấy năm trước họ từng đưa vấn đề này lên xin ý kiến của tỉnh. Khi đó, các cơ quan chức năng của tỉnh cho ý kiến chỉ đạo: Nếu có giấy chứng sinh có thể làm hộ khẩu, nhưng phải thỏa mãn 3 điều kiện: người cha thực sự mong muốn con ở lại trong nước, không vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình; Người cha phải có xét nghiệm DNA để chứng minh quan hệ cha con với đứa trẻ được nhập hộ khẩu; Cuối cùng, về nguyên tắc, người vợ Việt Nam vẫn phải trở về nước.


Phó phòng tuyên truyền huyện ủy Đức Khánh Lý Xuân Vinh cũng cảm thấy đau đầu; ông biết rằng ở miền đất nghèo khó này những điều kể trên đều là bất khả thi – “Chính quyền địa phương cũng rất muốn giải quyết vấn đề này nhưng không thể đi ngược lại chính sách chung”.


Khi phóng viên Nam phương nông thôn báo hỏi Nguyễn Kim Hồng có lo bị bắt về nước không, chị quay đầu nhìn ra sân, lặng lẽ một lúc rồi khe khẽ đáp: “Tôi ở đây đã mười mấy năm rồi mà…”. Từ đó cho đến lúc phóng viên rời khỏi, chị Hồng lặng lẽ suy tư, không nói một lời nào nữa, kể cả một câu tạm biệt.


Nhưng những đứa con của chị thì vẫn đang chờ thoát khỏi số phận của trẻ “3 không”…


Đông Linh

Lãi suất và rủi ro pháp lý

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:24 pm
Tags: , , ,

Quyết định của Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được cho vay lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn và thu thêm phí đối với các khoản vay ngắn hạn đang gây phản ứng trái nhiều từ các góc nhìn quan sát.

Với chủ các ngân hàng và doanh nghiệp, đây là quyết định không thể không hợp thức hóa hoạt động thực tiễn lâu nay của họ, giúp khơi thông nguồn vốn đã có dấu hiệu tồn đọng và phát sinh những khoản chi phí khi giao dịch mà không thể đưa vào sổ sách kế toán. Với một số ý kiến chuyên gia nhìn bằng lăng kính pháp lý hiện hành và những doanh nghiệp đang họat động chủ yếu bằng nguồn vốn vay, mà không thể huy động vốn bằng các nguồn khác, thì mức lãi suất mà họ có thể thỏa thuận hiện nay chắc chắn sẽ phạm Luật dân sự vì đã phải chấp thuận mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản (8%/năm) mà Ngân hàng Nhà nước công bố.

Giữa những luồng ý  kiến băn khoăn ấy, những thông tin về các vụ giật hụi, chủ nợ cho vay nặng lãi, doanh nghiệp đút lót cả chục tỷ đồng cho quan chức Ngân hàng để nhận được khoăn vay theo lãi suất quy định của pháp luật vẫn rộn ràng khắp nơi.

Ngoài vụ bị bắt quả tang như ở BIDV, dường như các vụ tranh chấp vay nợ theo lãi suất thỏa thuận nặng lãi bên ngoài không có dấu hiệu sẽ được giải quyết bằng thủ tục pháp lý bởi các cơ quan công quyền với lý do con nợ và chủ nợ tự thỏa thuận cách giải quyết với lý do “hành vi thỏa thuận nợ không được chính quyền công nhận, bất hợp pháp ngay từ khi nó phát sinh”.

Hơn nữa, cần tách bạch hợp đồng tín dụng của các pháp nhân là ngân hàng thương mại với những thỏa thuận dân sự giữa các thể nhân là công dân có năng lực pháp lý và khả năng chịu trách nhiệm pháp luật về hành vi trong cuộc sống hàng ngày. Có như vậy, việc lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 150% lãi suất cơ bản có được coi là hoạt động vi phạm pháp pháp luật hay không hay cơ chế nào để giải quyết những vụ trốn nợ, giật hụi đang xảy ra ngày càng phổ biến.

Ảnh: chaongaymoi.com

Hoạt động ngân hàng là hợp đồng kinh tế, dược đỉều chỉnh bằng các văn bản pháp lý Luật kinh tế, được phán xử tại Tòa kinh tế. Hoặc hành vi bằng các thủ đọan không trung thực để lừa gạt, dụ dỗ, cưỡng bức để bắt một người phải nhận nợ với lãi suất cao; hoặc một người đưa ra cam kết trả lãi suất cao mà không có bằng chứng cho thấy họ có năng lực và khả năng nâng cao giá trị khỏan vay để lấy tiền của người cho vay, là những dấu hiệu vi phạm đạo đức và pháp luật ngay khi bắt đầu thực hiện hành vi bởi động cơ không trung thực. Hành vi đó không thuộc hình thức hợp đồng kinh tế mà phải được coi là dấu hiệu của tội lừa đảo và phải được điều chỉnh bởi luật Dân sự, Luật hình sự.

Ngân hàng như một Nhà máy mà “đầu vào” cũng như  “đầu ra” đều là giá trị tiền. Hoạt động ngân hàng không đơn thuần là nhận tiền gửi rồi lại mang số lượng tiền ấy cho vay để nghiễm nhiên hưởng chênh lệch lãi suất.

Thực tế, có hẳn một Học viện Ngân hàng, nhiều thạc sỹ và tiến sỹ về họat đông ngân hàng trong và ngòai nước đang làm việc trong các tổ chức tín dụng này. Vậy thì, giữa đồng tiền “vào” và đồng tiền “ra” qua cửa ngân hàng chắc hẳn nó phải được xử lý, nó phải được phân tích để ra kết quả về mức lãi suất “vào” và khả năng rủi ro khi cho nó “ra”. Nhân lực ngân hàng phải xử lý các đầu đề bài toán đó và cho ra kết quả tối ưu bảo đảm lãi suất đủ thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội và dòng tiền ra phát huy hiệu quả cho chủ đầu tư và có tỷ suất cao quay trở lại khi đến hạn. Một hoạt động có kết tinh chất xám như thế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt với các đối thủ không chỉ trong nước mà trong tương lai gần cả với các ngân hàng nước ngoài thì không thể quan niệm và kết luận rằng hoạt động ấy đơn thuần chỉ mang tính cơ học.

Đặc biệt, việc đánh giá rủi ro khi quyết định cho vay của Ngân hàng thực sự là một khoa học đòi hỏi các nhân viên có đạo đức nghề nghiệm vững, trình độ học vấn cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú…

Mọi đánh giá sai đều dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn vốn của chủ ngân hàng và đánh đổi bằng hiệu quả của rất nhiều dự án khác mới bù đắp được. “Mười đấm có lãi không bằng một cú đạp nợ khó đòi” – đó là câu dằn lòng của các cán bộ tín dụng.

Ngân hàng không thể  tự ý áp đặt lãi suất cả đầu ra lẫn đầu vào vì còn các đối thủ cùng ngành trong và ngoài nước cạnh tranh. Người vay cũng không buộc phải chấp thuận bất cứ lãi suất nào nếu như chi phí vốn không bù đắp được sự sụt giảm doanh thu và không có lãi, họ còn có quyền chọn ngân hàng để vay và cả cơ chế thỏa thuận trực tiếp bằng uy tín thương hiệu và độ tín nhiệm với ngân hàng.

Khi hoạt động của nền kinh tế phải chịu mức chi phí vốn đầu vào cao hơn mặt bằng trước đó thì cũng là động lực buộc các chủ đầu tư và doanh nghiệp vay vốn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay bằng áp dụng công nghệ tiên tiến, bằng cải tiến quản lý nâng cao năng suất và bằng các biện pháp tổng hợp khác để tồn tại và phát triển.

Ngược lại, hoạt động cho vay nặng lãi hầu như là các hoạt động giữa các cá nhân, không được pháp luật công nhận và  bảo vệ khi có tranh chấp. Dó đó, cả hai phía: bên cho vay và bên nhận nợ đều vi phạm Luật dân sự và Luật hình sự ngay từ khi phát sinh giao dịch. Và hầu như, các thể nhân tham gia giao dịch trong hoạt động này không đủ kiến thức đánh giá, nghiên cứu nhu cầu và khả năng hòan trả vốn trong các giao dịch này – ít nhất là từ phía người nhận nợ.

Vì thế, nên coi hoạt động ngân hàng là việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và được điều chỉnh bằng các văn bản pháp quy về Kinh tế. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước không phải chỉ đóng vai trò là khống chế trần lãi vay như quan niệm phổ biến mà còn đóng vai trò trong việc bày tỏ thái độ của Nhà nước về cung tiền, xu hướng điều chỉnh chính sách vĩ mô, quy định lãi suất của các nghiệp vụ tài chính khác: lãi suất tái cấp vốn, vay qua đêm, trái phiếu…

Đừng vì cách hiểu cứng nhắc và không đầy đủ về lãi suẩt cơ bản để làm ách tắc luồng lưu chuyển của tiền tệ trong nền kinh tế. Cơ thể của nền kinh tế sẽ yếu và đột tử nếu như dòng huyết mạch của nó là luồng tiền bị nghẽn mạch.

Giá xăng dầu công khai cỡ nào ?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:20 pm
Tags: , ,

Các cơ quan quản lý cho rằng có thể giám sát được sự minh bạch của doanh nghiệp xăng dầu khi cách tính giá mặt hàng này được công khai. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế nhận định các công ty xăng dầu đã công khai thì phải công bố chi tiết, nếu không, đó có thể là động thái đánh lạc hướng dư luận, làm như vậy là để thu phục lòng tin của người tiêu dùng

Sau phản ứng của dư luận về giá xăng tăng nhiều, giảm ít, Tổng Công ty Xăng dầu VN (Petrolimex VN) khẳng định với báo giới sẽ đăng tải công thức tính giá cơ sở xăng dầu lên trang chủ website của tổng công ty cho mọi người tham khảo và giám sát.
Vẫn phải chạy theo “anh cả”
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, Tổng Giám đốc Petrolimex VN, việc công khai công thức tính giá sẽ được thực hiện từ tuần tới. Công thức này sẽ dựa vào công thức đã được công bố theo Nghị định 84/2009/NĐ-CP, bao gồm giá nhập khẩu từ thị trường Singapore, thuế, chiết khấu, chi phí hoạt động và những yếu tố quan trọng khác.
Việc công khai công thức tính giá xăng dầu cũng được đại diện Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội cho là  cần thiết. “Sắp tới, khi trang web của Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội đi vào hoạt động, chúng tôi sẽ công khai cách tính giá bán lẻ xăng dầu lên mạng” – ông Cao Văn Hân, giám đốc điều hành đơn vị này, cho biết.
Đại diện một doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại TPHCM bày tỏ việc công khai công thức tính giá cơ sở xăng dầu là thỏa đáng nhưng nếu đã có Petrolimex VN đăng tải lên website, các doanh nghiệp khác không nhất thiết phải đăng vì là công thức chung, người tiêu dùng có thể xem đó là căn cứ để tính toán.
Theo đại diện một doanh nghiệp trong ngành, kể cả khi “anh cả” Petrolimex VN công khai công thức tính giá mặt hàng xăng dầu, các doanh nghiệp khác vẫn phải chạy theo Petrolimex VN trong việc điều chỉnh giá.

Việc giá xăng dầu tăng nhiều, giảm ít đã khiến người tiêu dùng mất lòng tin đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh mặt hàng thiết yếu này. Ảnh: T.Thạnh
Đã từng có thời điểm các doanh nghiệp khác lỗ nặng vì đầu vào tăng quá cao nhưng vẫn chưa thể điều chỉnh vì còn phải chờ Petrolimex VN.

Trong thực tế, kể từ ngày 15-12-2009, Nghị định 84/2009/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực, chỉ sau khi doanh nghiệp có thị phần lớn nhất là Petrolimex VN có động thái giảm giá xăng dầu thì các doanh nghiệp khác như PV Oil, Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội… mới thông báo áp dụng giá bán với mức giảm tương tự. Thậm chí, nhiều đơn vị phân phối bán lẻ đã giảm giá xăng thấp hơn so với Petrolimex VN.
Nhiều thông tin khó kiểm chứng
Theo các cơ quan quản lý, việc công khai công thức tính giá mặt hàng xăng dầu là cơ sở để cơ quan quản lý và người tiêu dùng nắm được cơ cấu giá, thông qua đó giám sát được giá xăng dầu của doanh nghiệp.

Việc công khai cơ cấu giá này sẽ giải quyết được những vấn đề mà dư luận nghi ngờ về tính minh bạch trong cơ cấu giá thành của xăng dầu từ trước đến nay. Tuy nhiên, giới chuyên môn lại có cái nhìn thận trọng hơn. TS Nguyễn Quang A cho rằng công thức tính giá cơ sở của mặt hàng xăng dầu đã nêu rõ ở Nghị định 84/2009/NĐ-CP, muốn tính được phải có đầy đủ thông số đầu vào.

Do đó, quan trọng là doanh nghiệp phải công bố chi tiết chuỗi số liệu như giá nhập khẩu, chi phí, lợi nhuận định mức… Đó không chỉ là số liệu tức thời của thời điểm nhập lô hàng mà cần cung cấp cả “dữ liệu lịch sử” như giá nhập khẩu của 30 ngày trước, thuế, phí, chi phí…

Từ  các thông số này, có thể vẽ được đồ thị giá để kiểm tra chính xác giá bán thực tế. Theo TS Nguyễn Quang A, những thông số đầu vào như vậy không phải bí mật kinh doanh, vì doanh nghiệp lớn như Petrolimex VN đằng nào cũng phải qua kiểm toán.

Việc họ có chịu tiết lộ không là chuyện khác và ngay cả khi chịu công bố, số liệu đó chưa chắc đã chính xác. “Giá ký hợp đồng thực có thể thấp hoặc cao hơn giá công bố ở Singapore nên nếu doanh nghiệp gửi giá thì sao? Giá vận chuyển đã là giá tiết kiệm nhất hay chưa?

Còn rất nhiều thông tin khó kiểm chứng, công khai là tốt nhưng cần phải theo dõi xem những con số đó đã chuẩn hay chưa. Tôi cho rằng doanh nghiệp nói công bố là một bước tiến đáng hoan nghênh nhưng phải công bố chi tiết, nếu không, đó có thể là động thái đánh lạc hướng dư luận” – TS Nguyễn Quang A bình luận.
TS Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thị trường giá cả, lại cho rằng đây không phải là sự tiến bộ của doanh nghiệp mà chẳng qua vì họ đã đẩy người tiêu dùng đến trạng thái mất lòng tin nên phải công khai để người dân kiểm định và tin rằng tất cả các yếu tố tính giá đều đáng tin cậy.

Quốc gia nào cũng phải tiêu dùng xăng dầu nhưng người dân không phải bận tâm đến giá bán. Ở VN thì khác, người dân rất quan tâm vì họ mất lòng tin.

Mập mờ kết cấu giá thành

Công thức tính giá bán lẻ xăng dầu dựa vào hơn 10 yếu tố tính giá cơ sở.

Trong đó, công thức đã được công khai nhưng các yếu tố cơ sở thì còn mập mờ, ví dụ tính theo tỉ giá nào; lợi nhuận hợp lý là lợi nhuận tính trên vốn chủ sở hữu hay trên doanh thu; giá nhập khẩu lấy ở đâu…

Ngay cả biểu thuế cũng có nhiều loại, doanh nghiệp chỉ đề cập chung chung là thuế nhập khẩu chứ không bóc tách chi tiết các loại thuế GTGT, tiêu thụ đặc biệt.

Nếu công khai được các yếu tố hình thành giá cơ sở mới giải quyết được vấn đề làm rõ lý do tăng, giảm giá; còn mức tăng – giảm hợp lý hay chưa còn phụ thuộc vào khoản thu của Nhà nước, hiện đang chiếm 50% giá thành đối với mặt hàng xăng dầu.

“Ông Tây” nói chuyện còi xe ở Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:43 pm
Tags:
(Dân trí) – Âm thanh inh ỏi trên các đường phố Hà Nội và lái xe ở Việt Nam khiến nhiều người cảm thấy phát điên.
Bài viết trên trang tiếng Anh của báo điện tử Dân trí Dtinews tại đây.

Giao thông ở Hà Nội rất dày đặc. Đường phố đông nghịt. Tiếng còi xe inh ỏi. Đôi khi thật là lố bịch. Việc lạm dụng bóp còi khiến nhiều người phát điên. Không thể “can thiệp” về số người lưu thông trên đường nhưng chúng ta có thể làm điều gì đó để áp dụng quy tắc ứng xử đơn giản trên đường.

Bóp còi quá nhiều vừa gây bực mình, vừa gây nguy hiểm

Nhiều tài xế bấm còi mọi lúc mọi nơi, bất kể khi dừng lại, lên dốc hoặc chạy nhanh một cách nguy hiểm trên đường. Tiếng còi làm chói tai, gây xao nhãng và rất nguy hiểm. Họ đang hủy hoại mục đích của còi.

Mục đích đơn giản của còi là một cách giúp các tài xế (đặc biệt là những người đi xe mô-tô) biết bạn đang di chuyển, cảnh báo họ và để tránh tai nạn. Bấm còi liên hồi là hiểm họa vì khiến các tài xế khác sao nhãng khỏi đường đi và chú ý tới bạn. Khi không có chỗ để đi, không có lý do gì để bóp còi. Bóp còi không thể khiến đường xá trở nên trống vắng. Thời gian của một lần bóp còi cũng cần phải chú ý. Một tiếng còi rõ và đơn giản là đủ. Bóp còi với độ to hết cỡ liên tục trong 30 giây là khiếm nhã, không cần thiết và đặc biệt nguy hiểm.

Nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng Hà Nội có vấn đề ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng. Việc sử dụng còi xe bừa bãi đã trở thành mối nguy hiểm. Có quá nhiều tiếng còi thiếu thận trọng, mục tiêu an toàn của còi đã bị đánh mất và tiếng ồn trên đường phố không bao giờ dừng lại. Thậm chí một số người bấm còi khi không có phương tiện nào trước mặt. Có người sử dụng còi khi không có nơi nào để đi.

Việt Nam có đủ các loại còi: còi âm nhạc, còi hơi, bất kể loại nào mà bạn có thể tưởng tượng. Quá nhiều tài xế rất thích bấm còi. Ngày càng có nhiều người lắp còi hơi (được thiết kế cho xe tải loại lớn) cho xe máy và taxi cứ như thể còi càng to thì độ an toàn càng cao. Điều đó là hoàn toàn sai lầm. Những loại còi này là một mối nguy hiểm, vì chúng có thể khiến tài xế giật mình và sợ hãi, dẫn tới tai nạn.

Không có luật lệ, quy định hay hướng dẫn nào về việc sử dụng còi. Đó là chuyện ý thức của từng người. Về cơ bản, còi được thiết kế để cảnh báo những tài xế khác trên đường. Tại Việt Nam, một số tài xế nghĩ rằng họ phải bấm còi mọi lúc. Tôi thấy có người thậm chí còn coi còi giống như âm nhạc phát ra từ đài phát thanh.

Làm ơn hãy thôi bấm còi

David Cornish – phóng viên của Dtinews.

Nhiều người đồng tình rằng có quá nhiều tiếng còi trên các đường phố của thủ đô. Còi nên được sử dụng “tiết kiệm”. Tiếng còi bị lạm dụng, vì thế mọi người nên hạn chế tối đa âm thanh này. Các tài xế thậm chí không để ý khi tiếng còi vang lên vì âm thanh đó lúc nào họ cũng nghe thấy. Họ đã quen với việc bấm còi vô dụng đến nỗi họ không hay biết hoặc không phản ứng khi nghe thấy chúng.

Có những quy tắc chung cho phép lịch sự khi điều khiển xe, bất kể bạn từ đâu tới. Lái xe là quyền và tài xế có bổn phận phải giữ an toàn. Bộ Ngoại giao Mỹ cảnh báo các du khách nước ngoài cần thận trọng khi tới Việt Nam, miêu tả giao thông Việt Nam “là hỗn loạn. Tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra và hầu hết các nạn nhân là những người đi xe máy hoặc đi bộ. Ít nhất 30 người chết mỗi ngày liên quan tới tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông là rủi ro an toàn và sức khỏe lớn nhất tại Việt Nam”.

Cảnh sát giao thông khó có thể làm gì để cải thiện tình hình. Rượt đuổi ai đó với một chiếc dùi cui trên tay sẽ không giúp mọi người có ý thức hơn về việc dùng còi. Cần đặt các biển hiệu giao thông và đưa ra các chỉ dẫn cho việc sử dụng còi. Nhưng dùng còi thích hợp hay không cuối cùng là phụ thuộc vào từng tài xế. Tôi biết các tài xế tại Việt Nam phải thi để lấy bằng, vì thế trong bài thi giao thông, hoặc trong các tài liệu hướng dẫn thi, nên có phần hướng dẫn về cách dùng còi.

Theo Tổ chức Phòng chống Thương vong châu Á, “Việt Nam và Campuchia là hai nước có lượng xe máy tăng hơn 17% trong năm 2007 và 2008. Sự gia tăng này vượt quá khả năng thích nghi của xã hội. Cơ sở hạ tầng và hệ thống trợ giúp mật độ giao thông cao không đủ đáp ứng. Khu vực này chỉ chiếm 16% phương tiện có động cơ toàn thế giới nhưng chiếm 44% số thương vong vì tai nạn giao thông toàn cầu”.

Có rất nhiều điều mà tài xế không thể kiểm soát, nhưng cũng có vài điều có thể. Chúng ta nên đội mũ bảo hiểm, thắt dây an toàn, lái xe thận trọng, tuân thủ luật và luật giao thông, và chỉ sử dụng còi lúc cần. Còi cứu các mạng sống, nhưng nếu lạm dụng, nó sẽ trở nên không hiệu quả khi chúng ta thực sự cần. Hãy để đôi tai và các tài xế được nghỉ ngơi, làm ơn thôi bấm còi!

25 địa chỉ đầu tư hấp dẫn nhất thế giới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:50 pm
Tags:

Xếp thứ 12 trong danh sách 25 nền kinh tế có sức hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới do Bloomberg bình chọn, Việt Nam tiếp tục chứng tỏ là địa chỉ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư toàn cầu.

1. Trung Quốc

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: 0
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 89*
Giải ngân FDI trong năm 2008: 108,3 tỷ USD**
GDP năm 2009: 4.900 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 3.680 USD

Trung Quốc luôn là nước đứng đầu trong nhiều cuộc điều tra về sức hấp dẫn đầu tư kể từ năm 2002 cho đến nay. Tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao trong nhiều năm liên tục, Trung Quốc là niềm mơ ước của các nhà đầu tư trong mọi lĩnh vực, đến từ mọi quốc gia trên thế giới với một thị trường nội địa khổng lồ. Với các giải pháp kích thích tiêu dùng, nâng cao chất lượng lao động, sức hút của “cục nam châm” Trung Quốc ngày một lớn. Tuy vậy, khả năng lạm phát cao có thể là trở ngại đối với kinh tế Trung Quốc trong ngắn hạn.

*Xếp hạng của World Bank.
** Bloomberg sử dụng số liệu của năm 2008 do số liệu của 2009 chưa được cập nhật đầy đủ.

2. Mỹ

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +1
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 4
Giải ngân FDI trong năm 2008: 316,4 tỷ USD
GDP năm 2009: 14.300 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 46.460 USD

Bất chấp ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, việc Mỹ vẫn thăng tiến trên bảng xếp hạng cho thấy các nhà đầu tư vẫn cảm thấy an toàn khi bỏ vốn vào nền kinh tế lớn nhất thế giới. Với một môi trường kinh doanh thân thiện, mặt bằng giá cho các thương vụ mua lại – sát nhập thấp, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, Mỹ tiếp tục là địa chỉ tin cậy của các nhà đầu tư. Lĩnh vực tiềm năng tại Mỹ hiện nay là ngành dược và công nghệ thân thiện với môi trường.

3. Ấn Độ

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: -1
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 133
Giải ngân FDI trong năm 2008: 41,6 tỷ USD
GDP năm 2009: 1.300 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 1.100 USD

Dù tụt hạng theo trong danh sách của Bloomberg, Ấn Độ vẫn được coi là điểm đến lý tưởng của vốn đầu tư trong giai đoạn hiện nay. Đất nước Nam Á đặc biệt hấp dẫn các nhà đầu tư ở khu vực phi tài chính, công nghiệp… Trong khi đó, điểm yếu của Ấn Độ lại nằm ở môi trường kinh doanh kém thuận lợi

4. Brazil

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +2
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 129
Giải ngân FDI trong năm 2008: 45,1 tỷ USD
GDP năm 2009: 1.500 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 7.940 USD

Tiến 2 bậc trên bảng xếp hạng bất chấp sự sụt giảm về FDI trong năm 2009, Brazil được các nhà đầu tư đánh giá là một trong những quốc gia có nhiều triển vọng nhất (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Sức bật lớn của nền kinh tế có được chủ yếu do đóng góp của tầng lớp trung lưu khiến Brazil có sức hút đặc biệt với FDI. Ngoài ra, vị trí thuận lợi, không quá xa so với cả Bắc Mỹ, châu Âu và châu Phi có thể coi là một lợi thế khác của Brazil.

5. Đức

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +5
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 25
Giải ngân FDI trong năm 2008: 24,9 tỷ USD
GDP năm 2009: 3.300 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 39.800 USD

Được coi là điểm đến số một của vốn FDI tại châu Âu, Đức hấp dẫn các nhà đầu tư của cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính. Vốn đầu tư vào nước này chủ yếu đến từ Mỹ, Anh và Nhật.

6. Ba Lan

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +16
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 72
Giải ngân FDI trong năm 2008: 16,5 tỷ USD
GDP năm 2009: 441,9 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 11.580 USD

Là một trong những quốc gia thăng tiến mạnh nhất trong năm nay, thành công của Ba Lan có đóng góp lớn từ khả năng dự báo chính xác cũng như vượt qua tác động của suy thoái kinh tế. Không chỉ hấp dẫn giới đầu tư bởi chi phí nhân công rẻ, các dự án tại Ba Lan có khả năng tái đầu tư rất cao với sự trợ giúp từ chương trình tư nhân hóa mạnh mẽ của Chính phủ.

7. Australia

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +4
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 9
Giải ngân FDI trong năm 2008: 46,8 tỷ USD
GDP năm 2009: 996,1 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 46.860 USD

Với tài nguyên thiên nhiên phong phú, môi trường kinh doanh hấp dẫn, Australia dễ dàng có được vị trí thứ 7 trên bảng xếp hạng. Quốc gia nằm ở Nam bán cầu đặc biệt hấp dẫn giới đầu tư ở các lĩnh vực như khai khoáng, công nghiệp nặng. Australia được coi là điểm đến số một của các nhà đầu tư lớn tại châu Á.

8. Mexico

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +11
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 51
Giải ngân FDI trong năm 2008: 22,9 tỷ USD
GDP năm 2009: 868,3 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 7.810 USD

Thu hút mạnh FDI trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ, Mexico đã lọt được vào Top 10 trên bảng xếp hạng năm nay. Bất chấp ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, Mexico vẫn thu lợi lớn từ các dịch vụ gia công cho Mỹ và Canada.

9. Canada

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: +5
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 8
Giải ngân FDI trong năm 2008: 44,7 tỷ USD
GDP năm 2009: 1.300 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 39.890 USD

Với kho dự trữ dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới (sau Saudi Arabia), các nhà đầu tư có thể thực sự an tâm với an ninh năng lượng của quốc gia Bắc Mỹ này. Môi trường chính trị, an ninh ổn định, Canada cũng hưởng lợi lớn từ hoạt động giao thương với Mỹ.

10. Anh

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: -6
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 5
Giải ngân FDI trong năm 2008: 96,9 tỷ USD
GDP năm 2009: 2.200 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 35.630 USD

Việc nước Anh tụt hạng trong danh sách của Bloomberg chủ yếu do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, vật giá đang ở mức thấp tại quốc đảo này lại có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư. Anh vẫn được coi là một mảnh đất màu mỡ, nơi mà cơ hội vừa nhiều, vừa có giá phải chăng.

11. Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE)

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: -3
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 33
Giải ngân FDI trong năm 2008: 13,7 tỷ USD
GDP năm 2009: 224,9 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 41.390 USD

Điểm mạnh để thu hút đầu từ của UAE là môi trường kinh doanh ổn định. Tuy nhiên, vụ rắc rối tài chính của Dubai là nguyên nhân chủ yếu khiến nước này tụt hạng trong năm 2009.

12. Việt Nam

Thay đổi thứ hạng so với năm 2008: 0
Xếp hạng môi trường kinh doanh thuận lợi: 93
Giải ngân FDI trong năm 2008: 8,1 tỷ USD
GDP năm 2009: 92,6 tỷ USD
GDP trên đầu người năm 2009: 1.060 USD

Việt Nam tiếp tục duy trì được vị trí thứ 12 trên bảng xếp hạng nhờ những nỗ lực tăng trưởng kinh tế cũng như mở cửa thị trường. Gia nhập WTO năm 2007 là sức ép lớn, buộc Việt Nam phải đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc, kêu gọi đầu tư. Tuy nhiên, điểm yếu đối với kinh tế Việt Nam hiện vẫn là cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Các quốc gia khác trong danh sách

Next Page »

Blog at WordPress.com.