Ktetaichinh’s Blog

March 8, 2010

Mê Kông dòng nước uống chung

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:20 am
Tags:

<!–NGay gio Modified

–>

07/03/2010 2:43

Uống chung một dòng nước, một bộ phim tài liệu về sông Lan Thương – Mê Kông (thượng nguồn sông Mê Kông trong lãnh thổ Trung Quốc được gọi là sông Lan Thương – PV), do Đài truyền hình Trung Quốc hợp tác với các nước tiểu vùng sông Mê Kông thực hiện.

Đầu năm 2008, bộ phim cùng lúc được phát sóng trên kênh truyền hình quốc gia của 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông. Bộ phim có kinh phí sản xuất lên đến 2 triệu USD, được đánh giá là phim tài liệu truyền hình khái quát nhất, hệ thống nhất về dòng Lan Thương – Mê Kông đầy quyến rũ và bí ẩn. Nhưng trên hết, bộ phim nhằm nói lên mối dây liên hệ không thể tách rời, đồng sở hữu và sự phụ thuộc của sinh kế người dân vào dòng sông này.

Khi xem bộ phim, đến giờ tôi cứ nhớ mãi chi tiết kết ở tập một của bộ phim. Đó là hình ảnh những đứa trẻ xếp thuyền giấy thả xuống dòng sông. Hình ảnh đó được chồng mờ bằng cảnh một chiếc tàu đang băng băng ra biển lớn. Những nhà làm phim đã bình luận: “Những người sống ở gần sông nước luôn có khao khát được ra khơi”. Điều này có lẽ hoàn toàn hợp với quy luật tự nhiên. Chỉ có điều, phim ảnh và hiện thực lại khác nhau quá xa. Mơ ước, khát khao được ra khơi của người dân đang bị “suy kiệt, bức tử” bởi hàng loạt hệ thống đập thủy điện trên thượng nguồn và sự thiếu hợp tác của một số nước trong khu vực.

Nói về vấn đề hợp tác giữa các nước tiểu vùng sông Mê Kông, TS Lê Anh Tuấn, trường ĐH Cần Thơ cho rằng: Các số liệu địa lý, thủy văn về dòng sông có thu thập tương đối đầy đủ và có trao đổi so sánh thường xuyên chỉ được thực hiện ở đoạn từ Thái Lan ra đến biển Đông, chiếm chừng 75% diện tích toàn lưu vực. Hợp tác quốc tế thể hiện qua sự hình thành Ủy ban sông Mê Kông (MRC) với 4 thành viên là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Các thông tin phía trên thượng nguồn dòng sông, chiếm gần 25% diện tích lưu vực, rất ít ỏi và thiếu cơ sở kiểm chứng do Trung Quốc và Myanmar đến nay vẫn không tham gia vào MRC và không có sự chia sẻ thông tin đến các quốc gia hạ nguồn. Tuy nhiên, điều này không thể là cơ sở để Trung Quốc, kể cả Myanmar, phủ nhận trách nhiệm của mình trong việc gây ảnh hưởng đến con sông quốc tế này.

Thông tin từ nhiều nguồn cho biết đã có 16 con đập được xây dựng trên dòng sông này chủ yếu trên lãnh thổ Trung Quốc và cả trăm dự án khác trên các chi lưu. Với hệ thống đập dày đặc như thế, người ta có thể dễ dàng hình dung ra dòng Mê Kông đang bị “băm nát”. Trong số các con đập trên, có cái cao tới 292m, cao nhất thế giới hiện nay. Liên quan đến các con đập, đã có nhiều cảnh báo đáng lo ngại. Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng 58% các dự án thủy điện trên thế giới được lên kế hoạch và xây dựng mà không hề tính đến tác động môi trường, kể cả khi các tác động này có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm, xói mòn nghiêm trọng. Hãng tin Reuters thì dẫn lại thông tin từ Tân Hoa xã cảnh báo 40% đập ở Trung Quốc không an toàn.

Theo nhiều nhà khoa học, hệ thống các đập trên là nguyên nhân chính gây nên tình trạng khô hạn gay gắt hiện nay ở cả Trung Quốc và các nước trong khu vực. Hiện tại, miền nam Trung Quốc đang trải qua đợt hạn hán tồi tệ nhất trong vòng 60 năm qua. Ở Thái Lan, có đến 23 tỉnh đang đối mặt với thiếu nước nghiêm trọng. Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra với người dân Lào, Campuchia và Việt Nam. Mực nước sông Mê Kông xuống thấp nhất trong lịch sử 50 năm trở lại đây.

Trở lại với câu chuyện về bộ phim Uống chung một dòng nước, đạo diễn Lý Hiểu Sơn (Trung Quốc) từng trả lời báo chí Việt Nam rằng: Uống chung một dòng nước là bộ phim kết hợp của 6 quốc gia, nó mang tính quốc tế và sự nhìn nhận cũng rộng lớn hơn. Ngay khi lãnh đạo của chúng tôi duyệt cho làm bộ phim này cũng nhấn mạnh rằng cần phải nhìn từ góc nhìn của những người phương Đông, góc nhìn của người châu Á về dòng sông của mình”. Tinh thần quốc tế về dòng Mê Kông như thế là đã rõ. Có điều tinh thần và hành động lại không song hành

Advertisements

Muối lạt nhưng lại cay

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:18 am
Tags:


Mới chỉ có 170.000 tấn muối có hạn ngạch nhập về trong tổng số 260.000 tấn muối sẽ nhập khẩu trong năm nay, mà diêm dân miền Tây đã lâm vào cảnh sống không được, chết cũng không xong. Và chưa ai dám hình dung thảm cảnh muối nội sẽ ra sao khi mà sản lượng muối nhập khẩu đã đạt như mong muốn, nhưng… không phải của diêm dân.

Muối trắng, nhưng tương lai diêm dân còn… đen, mịt mù không biết về đâu.

Năm 2003, đồng muối Bạc Liêu thu hẹp chỉ còn dưới 2.000 ha. Mấy năm nay nghề muối đã quy tụ diêm dân lưu lạc tứ xứ trở về với nghiệp muối vùng này. Vụ muối năm nay, 3.124 ha của tỉnh cho sản lượng 100.000 tấn/năm, lớn nhất vùng ĐBSCL. Ông Nguyễn Văn Tâm, 30 năm trong nghề làm muối mới tháng trước còn hy vọng hốt bạc ở vụ muối năm nay. Ông nói: “đầu vụ giá muối cao lắm, 50.000 đồng/giạ, tôi cũng bán được mấy trăm giạ. Rồi bổng dưng giá muối giảm liên tục… còn chưa tới 20.000 đồng/giạ.

Hiện nay, muối đang vào mùa thu hoạch rộ, muối trắng đầy ngoài đồng mà tương lai diêm dân nhuốm màu xám xịt. Ông Tâm than: “Do không có vốn nên tui đã mượn vốn của thương lái để đầu tư sản xuất 3,5 ha muối. Bây giờ, giá muối rớt thê thảm kiểu này, bán hết muối cũng không đủ tiền trả cho người ta”. Ông Tâm nói thêm, cảnh ăn trước trả sau đối với những người nghèo làm muối không phải là ít trên khắp vùng diêm điền xứ Đông Hải – Bạc Liêu.

Còn ông Trịnh Văn Thanh, ở xã Long Điền Tây (Đông Hải – Bạc Liêu) tiếc rẻ: “Nếu như hồi tháng 1.2010 thương lái mua muối trắng 25.000 – 27.000 đồng/giạ (30kg); muối đen 20.000 đồng/giạ, thì nay muối trắng chỉ còn 20.000 đồng/giạ; muối đen hơn 10.000 đồng/giạ. Giá sụt giảm đã đành nhưng kêu bán giá rẻ cũng hổng ai thèm mua!”. Ông Thanh nói rằng năm ngoái thấy muối có giá nênquyết định đầu tư trên 110 triệu đồng trải vải bạt 25 công đất, chuyển từ làm muối đen sang làm muối trắng (muối sạch). Đến khi thu hoạch, sản lượng muối trắng đạt hơn 100 tấn, nhưng đến nay chỉ bán được cho công ty Muối Đông Hải vỏn vẹn 10 tấn, số còn lại kêu bán hoài mà không ai mua.

Ông Nguyễn Văn Thường, chủ 30 công muối, thở dài: “Mấy năm trước, cứ đến vụ là thương lái các nơi về tấp nập. Còn bây giờ, cảnh mua bán lèo tèo, ế ẩm… thấy chán chết”. Ông Nguyễn Văn Tám, xã Vĩnh Thịnh nói trong chưa xót: “Thu hoạch gần 1 tấn muối bán với giá chỉ 450 đồng/kg, tính ra không đủ tiền bù vào khoảng chi phí giá xăng dầu đầu tư sản xuất 2 ha muối”. Với tình trạng này thì những hộ dân mới vừa chuyển đổi từ nuôi tôm sang trồng muối chắc chắn sẽ tiếp tục ôm nợ vì muối.

Ông Mai Thanh Hùng, Phó phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Đông Hải, Bạc Liêu cho biết, năm 2009, muối có giá, diện tích muối 2010 mở rộng lên 2.248 ha, tăng khoảng 169 ha. Dự báo từ nay đến tháng 4 thời tiết nắng nóng, muối sẽ trúng mùa, sản lượng toàn huyện ước đạt từ 80.000 – 90.000 tấn. Tuy nhiên, giá thấp, khó tiêu thụ như hiện nay chuyện tồn đọng muối cuối vụ là khó tránh khỏi. Tới thời điểm này Đông Hải còn trên 32.000 tấn muối đóng “tu” ngoài đồng, chưa bán được”.

Vùng muối Vĩnh Châu (Sóc Trăng) cũng rơi vào cảnh trạng tương tự. Sản lượng muối thu hoạch ở các xã Lai Hòa, Vĩnh Phước và Vĩnh Tân cứ tăng từng ngày nhưng đầu ra nhỏ giọt. Theo số liệu của phòng Nông nghiệp &Phát triển nông thôn huyện Vĩnh Châu. Tổng diện tích sản xuất muối đến cuối tháng 2 của 3 hợp tác xã Vĩnh Tân, Vĩnh Phước, Lai Hòa trên địa bàn là 231 ha. Tới lúc này, sản lượng muối thu hoạch được khoảng 300 tấn. Năm nay với thời tiết thuận lợi, sản lượng muối của huyện có thể đạt cao, nhưng thương lái trả giá mua chỉ 400 – 500 đồng/kg, thấp hơn cả muối Bạc Liêu.

Chính sách nhập cư và thiếu hụt lao động

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 am
Tags:

SGTT – Nguyễn Văn Thành quê tại Lập Thạch, Vĩnh Phúc sau sáu năm làm công nhân tại tỉnh Bình Dương đã quyết định không trở lại đó mà đi tìm việc tại khu công nghiệp Thăng Long, Hà Nội, nơi chỉ cách nhà Thành vài chục kilomet thay vì hàng ngàn kilomet như trước đây. Thành nói, so mức lương 2,8 triệu/tháng tại Bình Dương với mức lương 2,5 triệu/tháng ở Hà Nội thì Thành quyết định làm ở Hà Nội bởi chi phí sẽ ít đi.

Nhiều lao động như Thành sau tết đã không quay trở về nơi làm việc cũ làm nên sự khan hiếm lao động tại hầu hết các khu công nghiệp sau tết, nhất là tại khu vực phía Nam. Đây là nỗi lo thường trực của hầu hết các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp bởi sau khi trả lương, thưởng tết không có ràng buộc gì để người lao động gắn bó hơn với doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã tìm cách nợ lương, nợ thưởng người lao động để sau tết mới trả nhưng vẫn không làm dịu đi sự căng thẳng về nguồn cung lao động đầu năm. Sự thiếu hụt lao động ngày càng trở nên nghiêm trọng khi nhiều khu công nghiệp thi nhau mọc lên trong khi chưa được chuẩn bị về nguồn lao động. Tại nhiều địa phương, nguồn lao động chủ yếu dựa vào những người nhập cư nhưng do không được đảm bảo về đời sống vật chất lẫn tinh thần, những lao động như Thành đã không mạo hiểm “di cư” đi xa nữa mà tìm kiếm cơ hội ở những nơi gần hơn.

Thực trạng này hiện nay đang diễn ra ở nhiều tỉnh, thành phố. Theo Báo cáo cung cầu lao động được bộ Lao động, thương binh và xã hội gửi Chính phủ cuối năm 2009, tỉnh Đồng Nai hàng năm thiếu hụt tới 20.000 lao động, trong đó 5.000 công nhân kỹ thuật và 15.000 lao động phổ thông; TP.HCM trong năm 2009 cần tuyển tới 62.000 người nhưng chỉ đáp ứng được tỷ lệ thấp; tỉnh Bình Dương cần tuyển tới 41.600 người… Trong năm 2009 các doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng qua sàn giao dịch việc làm tại các tỉnh với số lượng hơn 100.000 lao động, trong đó 80% là lao động phổ thông nhưng số người đến đăng ký chỉ bằng 17% nhu cầu tuyển dụng và số lượng tuyển được thực tế chỉ bằng 6% nhu cầu.

Chính việc thiếu hụt các chính sách “giá đỡ” đối với lao động nhập cư nên nhiều năm qua đã không tạo nên được những dòng di cư lao động tích cực.

Nguyễn Hữu Dũng,
trợ lý bộ trưởng bộ Lao động,
thương binh và xã hội

Tại rất nhiều tỉnh, thành phố phía Nam sự thiếu hụt lao động ngày càng trầm trọng, trong khi tại nhiều tỉnh phía Bắc, miền Trung số lượng lao động dư thừa lại vẫn nhiều. Nhưng sức hút từ đồng tiền lương không đủ kéo những người lao động nông nghiệp rời bỏ ruộng vườn để góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như Nguyễn Văn Thành, mặc dù tìm việc ở khu công nghiệp Thăng Long khó khăn hơn so với trong các khu công nghiệp tại Bình Dương vì người nhiều việc ít nhưng Thành vẫn không trở lại Bình Dương nữa. Tiền lương 2,8 triệu đồng/tháng lại phải chi trả đủ các loại chi phí khiến sáu năm làm việc tại Bình Dương, Thành không tiết kiệm được nổi chục triệu đồng. Thêm nữa, Thành đã tính đến chuyện kết hôn nên phải tính đến chuyện sinh con và trường học, bệnh viện… cho con sau này.

Tính toán của những lao động nhập cư như Thành là có cơ sở. “Nếu vào Bình Dương làm việc và lấy vợ trong đó, với đồng lương 2,8 triệu/tháng em phải đi thuê nhà, nuôi vợ con và thậm chí trả tiền cho con đi học mẫu giáo cũng khó khăn. Trong khi đó nếu ở nhà thì đã có ruộng cấy lấy thóc ăn, trường mẫu giáo gần nhà và tiền thuê nhà cũng không mất”, Thành kể.

Ở góc nhìn của một công nhân như Thành thì điều đó có lợi. Nhưng nếu xét về tổng thể thì những tính toán như vậy có hại cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Nếu những chính sách điều tiết thị trường lao động không can thiệp được vào những tính toán như vậy thì câu chuyện thiếu hụt lao động tại các khu công nghiệp sẽ vẫn còn tiếp diễn trong nhiều năm nữa.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, trợ lý bộ trưởng bộ Lao động, thương binh và xã hội, người đang tham gia vào xây dựng Chiến lược an sinh xã hội quốc gia tới năm 2020 cũng thừa nhận, chính việc thiếu hụt các chính sách “giá đỡ” đối với lao động nhập cư nên nhiều năm qua đã không tạo nên được những dòng di cư lao động tích cực. “Chỉ với đồng lương thấp, không được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục và y tế, thậm chí cả chính sách hộ khẩu cũng khắt khe khiến cho người lao động không muốn dịch chuyển”, ông Dũng nói.

Bởi vậy trong Chiến lược an sinh xã hội quốc gia cho giai đoạn 2011 – 2020 đang được xây dựng, dự kiến sẽ có chương trình hỗ trợ cho lao động di cư. Theo ông Dũng, dự kiến ban đầu sẽ là việc hỗ trợ tiền di chuyển, tiền ăn ở trong những tháng đầu tiên cho những lao động này. Để thực hiện dự kiến này ngân sách sẽ phải chi ra khoản tiền không nhỏ. Nhưng ông Dũng cũng cho rằng để thu hút lao động nhập cư thực sự hiệu quả, chính các tỉnh, thành phố phải đưa ra các chính sách “trải thảm đỏ” như hỗ trợ họ nhập khẩu, chính sách về y tế, giáo dục đối với lao động nhập cư…thay vì trông chờ các chính sách từ Trung ương.

“Thiên đường” thành địa ngục

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:53 am
Tags: ,

Từ giữa năm 2004 đến nay, đã có hơn 60 con bạc “đại gia” tại TPHCM mất sạch nhà cửa vì qua “thiên đường” Bavet đánh bạc, còn số con bạc bình dân tán gia bại sản thì nhiều không kể xiết

> Càng chơi, càng cháy túi > Dễ hơn đi chợ

Nói về tệ nạn cờ bạc ở khu Bavet – Campuchia, một blogger đã bức xúc viết: “Tổ chức “thiên đường cờ bạc” ngay tại vùng biên, các chủ sòng chỉ việc ung dung ngồi hốt bạc của những người khách tự nguyện đến cống nạp mà chẳng cần quan tâm đến việc những đồng tiền ấy từ đâu ra, kể cả nó có nhuốm màu ma túy hoặc máu…”.
Dù mới khai trương nhưng sòng Titan King Casino ở Bavet luôn tấp nập khách đến đánh bạc

Tán gia bại sản
Tại quầy giải khát ở sòng Titan King Casino trong khu Bavet, chúng tôi dọ hỏi một “lưu linh” xung quanh việc có hay không chuyện người chơi mượn tiền đánh bạc nhưng không có trả sẽ bị giữ lại để đòi tiền chuộc. “Lưu linh” này xác nhận: “Giá mỗi con bạc bình thường là 2.000 USD. Người nào mượn không có tiền trả thì bọn em giữ lại rồi gọi người nhà từ VN đem tiền sang chuộc về”.

Một vị khách và cũng là con bạc của sòng này quay sang chúng tôi nói đùa đầy chua chát: “Bây giờ làm gì cũng có khuyến mãi. Theo tôi, các sòng bạc nên khuyến mãi quan tài, bởi ở đây thiếu gì người tự tử vì trắng tay!”.
Theo thông tin chúng tôi điều tra được, từ giữa năm 2004 đến nay, đã có hơn 60 con bạc “đại gia” tại TPHCM mất sạch nhà cửa vì qua “thiên đường” Bavet đánh bạc, còn số con bạc bình dân tán gia bại sản thì nhiều không kể xiết.
Ông Tám Ngon, nhà ở huyện Bến Cầu – Tây Ninh, người từng sang Bavet chơi vào thời điểm vài sòng bạc đầu tiên ở đây mới mọc lên, tiết lộ: “Tôi từng nghe những ông chủ sòng bạc tại khu Bavet tuyên bố rằng nếu khách chơi thắng được tiền thì chỉ đem xây mả mới có thể giữ lại được! Nếu không, trước sau gì tiền đó sẽ quay lại túi chủ sòng bạc, còn người chơi sẽ tán gia bại sản”.
Ông Tám Ngon dẫn chứng trường hợp bà G., trước đây là chủ một khách sạn ở quận 1 – TPHCM. Vì mê sang Bavet chơi, bà G. đã bỏ cả chồng con, bán luôn khách sạn để lấy tiền đánh bài.

“Rốt cuộc bà G. trắng tay, không mặt mũi nào về VN nên ở lại rửa bát thuê cho sòng bạc. Vậy mà máu mê cờ bạc của bà G. vẫn không dứt, cứ kiếm được đồng nào là bà lại ném vào “thiên đường” nên đến giờ vẫn loay hoay làm thuê trên đất bạn” – ông Tám Ngon kể.

Ông còn cho biết một “đại gia” khác ở Bình Dương hiện đã thân bại danh liệt. “Tính từ khi sang Bavet chơi bài đến khi trắng tay, số tiền “đại gia” này ném vào các sòng bạc không dưới 5 triệu USD” – ông Tám Ngon khẳng định.
Chảy máu ngoại tệ
“Thiên đường cờ bạc” Bavet có trên 10 sòng, như:  Titan King Casino, Las Vegas, Mộc Bài, New World, Winn, Le Macau, Sun City, Volvo, Vip, Full House, J Club…

Theo tìm hiểu của chúng tôi, chủ các sòng này thông qua một số đường dây môi giới đã tổ chức được cả mạng lưới “tiếp thị và khuyến mãi” đến tận gia đình, khu phố, doanh nghiệp… để chiêu dụ các con bạc. Trong  đó, họ chú trọng lôi kéo các “đại gia” nhiều tiền lắm của ở TPHCM.
TPHCM và Tây Ninh hiện có khoảng 10-12 nhóm với hơn 40 người chuyên đưa đón khách từ VN sang Bavet đánh bạc. Những người này được hưởng 0,2% trên số tiền khách đánh bạc đổi “phỉnh” tại sòng.

Ngoài ra, trước khi đến các sòng bạc ở khu Bavet, nếu khách không muốn đổi “phỉnh” từ dịch vụ của sòng thì có thể đổi ngay trên xe chở họ từ VN sang.

Riêng ở TPHCM, tại các trạm đón khách (khu vực nhà hàng K.H. gần Sân vận động Thống Nhất, khu vực nhà hàng P.L. trên đường Lý Thường Kiệt – quận 11, nhà hàng P.H. – quận 5, đường Tản Đà – quận 5…) đều có nhiều đầu nậu sẵn sàng cho các con bạc ký gửi tiền để qua Bavet chơi. Khi khách có nhu cầu mượn tiền, những đầu nậu này liên lạc nhau qua điện thoại di động với các đường dây cho vay tiền tại sòng bạc để đáp ứng. Khi về VN, các con bạc sẽ thanh toán theo thỏa thuận. Nếu khách thắng bạc ở tại sòng thì có thể thông qua số đầu nậu này để nhận tiền thắng bạc tại nơi cư trú.
Khách sang Bavet không cần mang nhiều tiền, chỉ cần bỏ túi 100 – 200 USD để chi phí dọc đường, còn tiền đánh bạc sẽ có người của các sòng cho mượn, sau đó thua thắng gì đều thanh toán tại VN. Theo quan sát của chúng tôi, hầu hết con bạc sang Bavet chơi đều mang theo rất ít tiền nhưng thực tế số tiền họ ăn thua rất lớn.

Nguồn tin từ cơ quan chức năng cho biết bình quân mỗi ngày có đến cả triệu USD theo chân các con bạc chảy lậu sang biên giới để ném vào “thiên đường cờ bạc” Bavet.

Được bạc cũng không yên
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết tại các sòng ở khu Bavet có rất nhiều đường dây bảo kê, dắt mối con bạc và đổi phỉnh hoạt động 24/24 giờ, như Tỷ Phú, Na, Thành Lợi, Lợi… Trong đó, vợ chồng C. và H. làm chủ đường dây dắt mối, tổ chức cờ bạc quy mô nhất. Sau khi tiếp cận các đại gia, vợ chồng C. và H. rủ rê họ qua Campuchia mua sắm, “giải trí” cờ bạc. C. và H. còn sắm xe du lịch dùng làm phương tiện đưa đón các con bạc.

Theo một nguồn tin từ cơ quan chức năng, C. và H. đang móc nối với các đối tượng cờ bạc mới thụ án xong để làm “vệ tinh” dẫn khách từ VN qua Campuchia đánh bạc.
Các đường dây khác ở “thiên đường” Bavet thường thuê những băng “anh chị” từ Hà Nội, Hải Phòng vào bảo kê, dắt mối và điều hành. Ngoài hoạt động cờ bạc, các băng nhóm này còn chi phối toàn bộ dịch vụ nhà hàng, khách sạn, massage, múa thoát y, cho vay lãi nặng, đòi nợ thuê… Những đường dây này có hẳn đội ngũ chuyên đâm thuê chém mướn. Các ông chủ sòng bạc thuê họ dằn mặt hoặc thanh toán những con bạc nào không chung chi tiền sòng phẳng, có thể tổ chức cướp tài sản khi có con bạc nào thắng lớn. Thậm chí, đối với những người thắng đậm, chúng sẵn sàng chỉ điểm cho cơ quan chức năng tóm gọn. Mới đây, một nhóm sang Bavet đánh bạc thắng đậm đã bị các đối tượng này chỉ điểm cho cơ quan chức năng bắt giữ với số tiền hơn 70.000 USD.

Cổ phiếu ‘lặng sóng’ sau mua bán sáp nhập

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:36 am
Tags:

Cổ phiếu AGF tính từ ngày HĐQT đồng ý cho đối thủ trong ngành là HVG chào mua công khai để nâng tỷ lệ sở hữu, đã không tăng giá như dự kiến mà ngày một lùi bước.

Vụ chào mua cổ phiếu giữa hai doanh nghiệp thủy sản – HVG (Công ty cổ phần Hùng Vương) và AGF (Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang – Agifish) vừa qua thu hút sự chú ý nhà đầu tư. Bởi đây là thương vụ chào mua công khai đầu tiên ở Việt Nam, giữa hai đối tác nặng ký.

Thông thường, cổ phiếu của đơn vị bị chào mua sẽ có khoảng thời gian tăng giá. Nhà đầu tư kỳ vọng doanh nghiệp chào mua sẽ tiếp sức về vốn, công nghệ, nhân sự, tiềm lực kinh doanh, để vực dậy công ty bị thôn tính, cho nên lực cầu vào thị trường sẽ gia tăng. Không ít người mong đợi thông tin mua bán này sẽ là bàn đạp đẩy giá AGF lên 4-5 “chấm”. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra, ngược lại giá cổ phiếu Agifish còn thấp hơn so với thời điểm công bố thông tin trên thị trường.

Ngày 20/1, Hội đồng quản trị AGF thông qua việc HVG chào mua thêm 3,75 triệu tương đương 29,16% tổng số cổ phiếu AGF đang lưu hành, giúp HVG nâng tỷ lệ sở hữu lên 51,08%. Từ giá đóng cửa 35.000 đồng của ngày 20/1, mã AGF dù có lúc bật tăng nhưng không đáng kể, cộng với số phiên giảm chiếm quá nửa nên chốt ngày 2/3 chỉ còn 34.100 đồng, thấp hơn mức giá 36.000 đồng mà HVG định chào mua. Bản thân HVG cũng giảm gần 10% sau 25 phiên giao dịch.

Theo ông Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Đầu tư tài chính, Đại học Kinh tế TP HCM: “Liệu những thay đổi của AFG sau khi có sự can thiệp của HVG trong quản trị, điều hành có mang lại những hiệu quả như giới đầu tư kỳ vọng, phải chờ thời gian xác nhận”. Hơn nữa, giá chào mua của HVG chỉ cao hơn giá thị trường 2.000 đồng, sẽ khó kích thích những cổ đông lớn nhả hàng ra. Microsoft khi mua Yahoo phải trả giá cao hơn thị trường 85%.

Việc thôn tính nắm quyền kiểm soát nhằm tận dụng lợi thế của nhau để gia tăng lợi thế cạnh tranh. Ngoài hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản gặp khó khăn (một số doanh nghiệp còn thua lỗ), khiến nhà đầu tư ngần ngại bỏ tiền mua, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuận, Trưởng khoa Tài chính ngân hàng, Đại học Mở TP HCM còn cho rằng: “Cả hai phía phải chứng minh được việc kết hợp này đưa đến kết quả cụ thể gì, có triển vọng hay không”. Theo ông, hoạt động tái cấu trúc không phải dễ dàng đạt như mong muốn, mà trường hợp của KDC mua TRI là một ví dụ. Mới đây, TRI bị HOSE đưa vào diện kiểm soát do không khắc phục được tình trạng thua lỗ.

Cặp đôi xi măng Hà Tiên 1 (HT1) – Hà Tiên 2 (HT2) cuối năm ngoái cũng gây xôn xao thị trường bởi kế hoạch hợp nhất thành một doanh nghiệp duy nhất mang tên Công ty cổ phần xi măng Vicem Hà Tiên. Dù hàng loạt cái lợi được liệt kê như: tận dụng lợi thế về thị phần, quản lý, tiết giảm chi phí bán hàng… nhưng trầy trật mãi, phương án này mới được cổ đông hai công ty thông qua.

“Bài toán cộng” này, theo ông Thuận phải lớn hơn 2, mới kích thích nhà đầu tư mua vào. Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển đổi HT2 sang HT1 là 1:1, thị trường, công suất hoạt động có giới hạn, lại thêm chi phí đầu vào tăng (xăng dầu, điện nước) nhưng giá bán không đổi là những lực cản hạn chế sức cầu đối với nhóm cổ phiếu xi măng. Cặp đôi này từ đầu năm đến nay cứ loay hoay quanh 15.000 đồng (HT1) và 14.000 đồng (HT2).

Như vậy, hiệu ứng một doanh nghiệp lớn hơn thâu tóm như trường hợp của HVG – AGF hoặc động thái sáp nhập giữa hai đơn vị (HT1 – HT2) đã không thể hiện rõ lên giá cổ phiếu, trước mớ “bòng bong” vây quanh đã hạn chế sức cầu.

Thị trường chứng khoán còn gần đây đồn thổi thông tin VNM thu gom cổ phiếu ngành sữa ở phía Bắc – HNM, khiến 2 cổ phiếu này cũng nhiều phen dậy sóng.

Theo các chuyên gia, xu hướng mua bán sáp nhập doanh nghiệp sẽ phát triển mạnh hơn trong thời gian tới, nhất là những doanh nghiệp cùng ngành, cùng đơn vị đầu tư. Ngoài nguyên nhân do sự cạnh tranh, M&A còn giúp hai phía tiết giảm chi phí về vốn, nhân sự, tận dụng triệt để các lợi thế riêng biệt của từng công ty về thị phần, quản lý.

M&A khởi động ở Việt Nam từ năm 2000. Theo PricewaterhouseCoopers, nếu giai đoạn 2000-2005, có 18 thương vụ với tổng trị giá 61 triệu USD, thì đến năm 2009, con số này đạt 295, ước tính 1.138 triệu USD.

Danh sách M&A đình đám năm 2009 ngoài HT1 – HT2, còn có sự góp mặt của Viettel – Vinaconex, đánh dấu bằng việc Viettel sở hữu 18,9% cổ phần của Vinaconex. HSBC tăng tỷ lệ sở hữu tại Tập đoàn Bảo Việt lên 18%. Motul mua tiếp 70% cổ phần của Vilube. Ngoài ra, còn có những thương vụ: Lotte – Coralis, Eland – Thành Công, Pomina – Thép Việt, Sab Miller – Công ty liên doanh bia với Vinamilk, ICP – Thuận Phát, BIDV – PIB Campuchia.

Theo Bạch Hường
Vnexpress

Blog at WordPress.com.