Ktetaichinh’s Blog

March 6, 2010

Tự do hoá lãi suất từng bước

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:08 pm
Tags:
Saturday, 6. March 2010, 16:30:21

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, NHNN nên tiếp tục khống chế trần lãi suất ngắn hạn ở mức thấp để từ đó khuyến khích dân chúng gửi tiền ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Khi bị khống chế bởi lãi suất trần, các NHTM luôn tìm mọi cách để vượt trần lãi suất bằng rất nhiều cách khác nhau như đề ra các khoản phí (phí dàn xếp khoản vay, phí quản lý, phí thẩm định, phí tư vấn,…) để thu từ khách hàng.

Ngày 26/2 NHNN đã ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN cho phép các NHTM được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn.

Điều đó có nghĩa là NHTM có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần cho các khoản vay trung dài hạn. Có thể nói lãi suất đang được tự do hoá từng bước.

Khi bị khống chế bởi lãi suất trần, các NHTM luôn tìm mọi cách để vượt trần lãi suất bằng rất nhiều cách khác nhau như đề ra các khoản phí (phí dàn xếp khoản vay, phí quản lý, phí thẩm định, phí tư vấn,…) để thu từ khách hàng.

Trần lãi suất còn cần?

Trong điều kiện thị trường có nhiều rủi ro hơn (tính bất định cao hơn,…) và khi NHTM đã thực hiện cắt giảm hết mức các chi phí có thể cắt giảm được thì yêu cầu về tăng lãi suất là hoàn toàn phù hợp vì đó là sự chia sẻ chi phí giữa những “người tham gia cuộc chơi”.

Các chuyên gia cho rằng, những trường hợp khác mà NHTM tìm mọi cách tăng lãi suất hay tăng phí để tận thu từ khách hàng hay nền kinh tế đều coi là không tốt cho nền kinh tế và có thể coi là trục lợi.

Nhất là trong các trường hợp NHTM ở vào vị thế độc quyền; hoặc những NHTM (hoặc đối tượng khác tương tự NHTM) do chi tiêu quá mức mà lại tìm mọi cách tăng lãi suất huy động, hoặc tăng lãi suất cho vay quá đáng (vượt xa mặt bằng lãi suất thị trường) thì đó lại là vấn đề đáng quan ngại.

Thậm chí khi NHTM huy động với lãi suất cao đó lại là hành vi trục lợi nguy hiểm như mô hình xây tháp ngược (Pyramid scheme), hay đó là tình trạng NHTM quá căng thẳng về thanh khoản mà phải huy động bằng mọi giá… Khi thị trường tài chính còn ở mức kém phát triển, thì người gửi tiền vẫn chạy theo lãi suất là điều bình thường.

Người ta vẫn rút tiền ở nơi thấp để gửi vào NHTM có lãi suất cao và không ngờ đó là cái “bẫy lãi cao”. Thực tế năm 2008 ở VN cho thấy hiện tượng này đã diễn ra đối với thị trường ngân hàng VN và đã tạo nên cuộc đua lãi suất rất đáng quan ngại.

Như vậy, các hình thức hạn chế (như lãi suất trần) sẽ là cần thiết khi thị trường chưa phát triển có chiều sâu (mức độ cạnh tranh thấp, khả năng quản lý rủi ro hạn chế,…) và khả năng giám sát khu vực ngân hàng của các cơ quan chức năng còn gặp nhiều trở ngại.

Thực tế ở VN thời gian qua cũng cho thấy việc áp dụng lãi suất trần và cứng nhắc quá lâu đã làm cho lãi suất thị trường tiền tệ rơi vào tình trạng mất cân bằng mà biểu hiện của nó là DN khó vay được vốn từ ngân hàng với lãi suất như quy định mà phải trả thêm các khoản phụ phí khó giải thích.

Và NHTM cũng khó huy động được vốn. Một số chuyên gia hàm ý rằng, việc duy trì lãi suất theo cơ chế quản lý quá mức sẽ làm mất một số chức năng của lãi suất là tín hiệu của thị trường tiền tệ… làm hỏng hệ thống báo cáo tài chính của các DN (vì các DN không biết hạch toán các khoản phụ phí vô lý phải chi vào đâu…).

Lợi ích từ chính sách

Việc ngày 26/2/2010, NHNN đã ban hành Thông tư 07/2010/TT-NHNN cho phép các NHTM được thực hiện lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung dài hạn, có thể đánh giá như sau:

Về hiệu quả chính sách, chắc chắn các NHTM có thể cho vay trên cơ sở bù đắp được rủi ro dự tính của thị trường và rủi ro ở mỗi dự án, cân đối để có lãi (chênh lệch lãi suất đầu ra/đầu vào). Khi cho vay được, NHTM sẽ tăng cường huy động… và DN sẽ an tâm đầu tư vào sản suất kinh doanh (vì đây là các khoản vay trung và dài hạn)… Thị trường sẽ vận hành trôi chảy và lãi suất thị trường sẽ cân bằng.

Nếu cơ quan quản lý kiên trì mục tiêu này thì rất có thể sẽ thay đổi được cơ cấu nguồn vốn trung và dài hạn hiện nay – vấn đề cốt lõi và căn bệnh cố hữu đã lâu ở các NHTM. Hơn thế nữa, qua đó mới đảm bảo tăng trưởng tín dụng bền vững.

Theo cách thức nới rộng quản lý này, lãi suất các khoản trung và dài hạn (kể cả huy động và cho vay) sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu vốn và mức độ rủi ro. Thực tế cho thấy, các NHTM hiện nay đang ở vào tình trạng mất cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn: 80% là vốn ngắn hạn, trong khi 60% là cho vay trung và dài hạn.

Người ta có thể hỏi rằng, còn lãi suất ngắn hạn thì sao? Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, NHNN nên tiếp tục khống chế trần lãi suất ngắn hạn (nhất là lãi suất huy động và lãi suất tiền gửi ngoại tệ) ở mức thấp để từ đó khuyến khích dân chúng gửi tiền ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Chính sách cho các NHTM

Quan sát thị trường cho thấy, thời gian qua có rất nhiều NHTM rất lười cho các DN vay (cho vay nền kinh tế) mà họ chỉ cho vay lại để kiểm lời. Có giám đốc NHTM nói: “Tôi không cần cho DN vay, mệt lắm vì tôi có nguồn từ kho bạc nhà nước rồi. Tôi chỉ luộc lại các NHTM CP nhỏ”. Trong khi các NHTM CP, do cơ chế thoáng nên họ đầu tư rất mạnh vào các khoản trung và dài hạn (nhất là bất động sản và chứng khoán,…).

Về chính sách đối với các NHTM, trong điều kiện hiện nay, người ta cũng cho rằng, Nhà nước cần hạn chế các NHTM đầu cơ mạo hiểm (cho vay mua nhà, mua chứng khoán hoặc đầu tư bất động sản, đầu tư cổ phiếu…); hoặc hạn chế cho vay bán buôn quá nhiều; hoặc hạn chế hơn nữa việc vay trên thị trường liên ngân hàng để cho vay nền kinh tế…

Cụ thể, người ta cũng cho rằng, Nhà nước không nên cho các NHTM mua quá nhiều bất động sản để làm trụ sở như hiện nay mà chỉ nên cho phép NHTM có không quá hai địa điểm đất đai để làm trụ sở chính (tại Hà Nội và Tp HCM).

Các khoản cho vay lẫn nhau giữa các NHTM hoặc cho vay/đầu tư phi sản xuất thì Nhà nước không cấm nhưng đánh thuế thật cao, hoặc yêu cầu về dự phòng rủi ro thật cao… Có như vậy sẽ hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất vật chất (khu vực DN sản xuất).

Tự do hoá theo cách nào ?

Việc hướng lãi suất tới cơ chế thị trường rõ ràng là định hướng phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của VN. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, việc tự do hoá tài chính (trong đó có lãi suất) từng bước, tuần tự đi đôi với quản lý phù hợp rõ ràng là cách đi phù hợp với VN.

Khi nguyên tắc đó được thực hiện, các mục tiêu chính sách có thể đạt được tốt nhất mà không gây nên những hiệu ứng tiêu cực cho nền kinh tế và DN. Khi DN vay được vốn ngân hàng với mức lãi suất hợp lý thì ngân hàng mới có lãi bền vững, góp phần giúp tăng trưởng kinh tế ổn định.

Theo Ths Lê Văn Hinh
DĐDN

Advertisements

China all at sea over Japan island row

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:37 pm
Tags: , ,

Japan’s Okinotori Island, which has a Tokyo postal address even though it lies roughly 1,770 kilometers south of the capital and it is actually a pair of tiny islets, has become a bone of contention for China.

Among other things, China refuses to grant it island status, and refers to it instead as an atoll, reef or simply a rock. By doing so, China hopes to throttle back Japan’s plan to create an exclusive economic zone (EEZ) there. The dispute over Okinotori, which Japan calls Okinotorishima, persists because it involves strategic concerns and rights to undersea resources over an area that is roughly equivalent to the entire land mass of the four main Japanese islands.

At an undersea resource development conference hosted by

Kyushu University last December that was attended by experts from China, Japan and South Korea and elsewhere, the cobalt-rich manganese crusts around Okinotori were highlighted. Although “rich natural resources” in the area are frequently mentioned as well by China, details are lacking.

At the East Asian Seas Congress in Manila last November, Japan’s submission to the United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf (CLCS) in March 2009 was discussed. This document addressed seven regions between Japan and the Philippines comprising 740,000 square kilometers. Besides potential overlapping claims with the United States and the Republic of Palau – not involving Okinotori – Japan is confronted by both China and the Republic of Korea (South Korea), which filed complaints last year with the CLCS concerning Japan’s actions on Okinotori. [1]

When the Democratic Party of Japan-led government headed by Prime Minister Yukio Hatoyama came to power last year, it wasted no time in declaring that Japan is allocating US$7 million in 2010 to create a facility on Okinotori in a bid to firmly establish yet another foothold there. This may seem like a large sum, but it represents less than 3% of the total amount spent thus far by Japan to sustain this remote island. Hundreds of millions of dollars have been allocated by the Japanese over the past two decades.

Japan now finds itself indebted to Vietnam, albeit indirectly. Vietnam is exposing curious contradictions that it has detected in China’s case against Japan in this instance.

Vietnam, along with other Southeast Asian nations, has a territorial dispute with China in the South China Sea. Last year, the Vietnamese government submitted a national report on the limits of its continental shelf “which lie 200 nautical miles beyond the country’s baselines in the northern part of the East Sea [Vietnam’s name for the South China Sea]” to the CLCS. This took place in late August.

Together, Vietnam and Malaysia also presented another joint report to the CLCS on the continental shelves of both countries, “which extend out over 200 nautical miles from their baselines in the southern part of the East Sea”.

The Vietnamese national report and the Vietnam-Malaysia joint report preceded the approval by the Japanese Diet (parliament) of a law in 2010 that authorizes the central government – not local government – to manage and control both Okinotori and the even more remote Minamitori Island, southeast of Tokyo – and about 290 kilometers more distant than Okinotori.

While China dismisses all of these actions by Japan as illegal, it is anxiously looking over its shoulder at the emboldened Vietnamese.

“The construction of infrastructure will not change Okinotori Reef’s legal position,” said China’s Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu at a press briefing in January, adding that this violates international maritime law. [2]

Japan claimed Okinotori, also known as Douglas Reef or Parece Vela, in 1931 as part of Ogasawara village in the prefecture of Tokyo, and officially named it Okinotorishima.

“The Japanese claim to an EEZ and continental shelf around Okinotorishima is based on several factors,” said Associate Professor Peter Dutton of the China Maritime Studies Institute at the US Naval War College. “First, Japanese scholars claim that Okinotorishima is an island that qualifies under the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) for an EEZ and continental shelf in that it sustains economic activity, even though it is apparently not much more than 10 square meters in size at high tide.

“This argument has only the most tenuous support under the current state of international law. The Japanese seem to recognize this fact and have set out a second legal basis, namely that Japan has longstanding historic interests in Okinotorishima, the adjacent waters, and the resources of the surrounding seabed. In Japan’s view, these interests have consolidated over time into legally protected rights.”

China points to Article 121 of UNCLOS, which defines an island as “a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide”. China designates it as a rock under the same article – rocks cannot sustain human habitation or economic life – because a rock by itself cannot be used to claim either an EEZ or by extension a continental shelf submerged in a relatively shallow sea.

By acting as if it has legal standing under UNCLOS, China has suddenly opened the door for Vietnam, and Vietnam has seized the opportunity.

The strategic importance of Okinotori cannot go unnoticed as it sits halfway on a line between the huge US military base on the island of Guam and Taiwan. While divergent Chinese and Japanese strategic interests are driving this dispute, China’s need to navigate freely is increasing.

“China has staked legal positions that have de-legitimized foreign military operations in a coastal country’s EEZ. China’s objections to US military activities in its EEZ are based on these legal perspectives,” said Dutton. “On the other hand, as China’s naval power has grown over the last couple of decades, China’s strategy for controlling the outcome of events throughout East Asia in times of crisis has also evolved. During times of crisis, China now has aspirations of challenging outside naval powers for control of the waters between the first and second island chain.” (The first island chain encompasses the Yellow Sea, the East China Sea and the South China Sea. The second encompasses the Japan Sea, the Philippines Sea and the Indonesia Sea.)

This puts China in an awkward position to say the least.

“To be consistent with its demand that the US cease performing military operations in and above China’s EEZ, China would not be able to undertake military operations in the waters of Japan’s EEZ surrounding Okinotori. As such, to preserve their own security interests, China refuses to recognize Japan’s claim,” said Dutton.

Prior to Vietnam’s move, the chief objective here for Japan had been to politely ignore China’s protests and to ensure that, above all else, Okinotori should not somehow sink beneath the sea.

“There is no change in the nature of the dispute. Japan has been planting coral on Okinotori to secure its status as an ‘island’, while China keeps criticizing [and asserting that] it is a ‘rock’, so as not to allow Japan’s EEZ,” said Yukie Yoshikawa, senior research fellow at the Reischauer Center for East Asian Studies in Washington, DC.

Planting coral there is just one of the latest Japanese measures, which have included pouring tons of concrete, at a cost of $280 million, to encase both of the islets, as well as covering them with a titanium net which cost another $50 million.

In 2005, Japan mounted a large address plaque there so that everyone would immediately know on arrival that they had reached “1 Okinotori Island, Ogasawara Village, Tokyo.” Soon after this was put in place, Tokyo governor Shintaro Ishihara was photographed kissing the plaque and waving the Japanese flag over it. He kept his life jacket on at the same time. [4]

As China attempts to convince the rest of Asia that what Japan is now undertaking actually harms its neighbors, Vietnam shakes its head.

“If Japan’s efforts succeed, other countries will not be allowed to fish or share other rich natural resources in a region that is currently regarded as international high seas,” said Wang Hanling, an expert in maritime affairs and international law at the Chinese Academy of Social Sciences. “Besides, for some neighbors such as China and the Republic of Korea, the fleets’ freedom of navigation along some key routes in the area will also be hampered. That will pose risks to their national security.”

In its dealings with Japan, China has even raised the issue of fairness at times, a tactic which must amuse Hanoi.

“Japan’s claim over Okinotori, which lies between Taiwan and Guam, is in a strategically important position for Japan’s benefit,” said Jin Yongming, a researcher at the Shanghai Academy of Social Sciences. “But the move has harmed other countries’ navigation interests and marine survey in the sea waters around Okinotori, and is contrary to the principle of fairness.” [4]

Why China is beginning to realize that the stance it has adopted here might backfire is becoming increasingly apparent. Vietnam still claims sovereignty over the Paracel Islands – China’s Xisha Islands – in the South China Sea, while the Spratlys, or Nansha Islands as China calls, them are claimed by China, Vietnam, the Philippines, Brunei and Malaysia.

In early 2009, or perhaps earlier, Vietnam started picking apart the “reefs and islands” argument raised by China supposedly under UNCLOS rules in its case against Japan, and said in effect, “Wait a minute, China, you are arguing the exact opposite regarding our claims in the East Sea.”

One minute, argues Vietnam, China asserts that Okinotori cannot have an exclusive economic zone or determine the limits of a continental shelf because it is an atoll, reef or rock and does not have an independent economic life, and the next minute China asserts that so-called “islands” in the East Sea all have independent economic life so they can support a claim to exclusive economic zones and continental shelves of 200 nautical miles covering 80% of the East Sea.

None of this rings true, or not to the extent that it allows China to proceed down the path it is taking. Ownership of the islands in the East Sea is really not central to the outcome because Vietnam contends that “no country can claim up to 80% of the East Sea on the basis of a claim to ownership of these islands”. [5]

In other words, look closely and one can detect dozens of little “Okinotoris” dotting the South China Sea. China is just hoping that the rest of the world – at least the rest of the world which has been following China’s attempt to derail Japan – will overlook them.
“It seems as though Vietnam is signaling that it would be satisfied with sovereignty over the islands and to leave most of the South China Sea as high seas. The implication of Vietnam’s perspective, were Vietnam to consolidate its claims at China’s expense, is that most of the South China Sea would remain open for all states to fish and extract seabed resources,” said Dutton. “That is not the effect of China’s claims over the South China Sea.”

At the same time, if China is attempting to counter this clever tactic by Vietnam, it is not doing a very effective job. In fact, China appears to be turning a blind eye to Vietnam here.

“This position presents China with an additional dilemma that it has not yet publicly begun to reconcile,” said Dutton.

Beijing’s decision to build a luxury resort in the Paracels in the South China Sea has not helped the situation.

“[Vietnam] demanded in early January 2010 that China abandon the project, which [it] said causes tension and further complicates the situation,” said Yoshikawa.

Still, when Chen Bingde, chief of the general staff of the Chinese People’s Liberation Army and a member of the Central Military Commission, met with Nguyen Chi Vinh, Vietnam’s deputy defense minister, in Beijing in early March, there was no mention of this dispute, not publicly anyway.

China has been diligent in other maritime matters despite any protests elsewhere. Just last month, for example, China finished work on the last of 13 permanent facilities on islands and reefs in the East China Sea as part of another intensive EEZ extension and development process. A new lighthouse at Waikejiao is the latest addition.

“Because Japan and China tend to look at foreign policy in a more relationship-oriented manner – rather than Washington’s event-driven policies – if both countries are on good terms, which you can say for now, the Okinotori Island issue will be taken care of so that it does not dampen the relationship,” said Yoshikawa.

Japan is not likely to suffer any consequences as it proceeds with its plans on Okinotori.

“I do not see that happening for the foreseeable future as this is a peripheral issue which is more likely to be affected by overall Sino-Japanese relations,” said Yoshikawa.

Nevertheless, China has a very good reason for persisting in its efforts here, regardless if it annoys Japan or not.

“There is not much that China can do about Japan’s claim, given China’s own claims in the South China Sea,” said Dutton. “However, China will probably continue to diplomatically object to Japan’s claim in order to preserve Chinese freedom of military action in the waters surrounding Okinotori.”

Notes: 1.) EAS CONGRESS 2009 HIGHLIGHTS , Nov 24, 2009
2.)Beijing slams Tokyo move on atoll, China Daily, Jan 8, 2010
3.)Japan and China Dispute a Pacific Islet , New York Times, July 10, 2005
4.) Japan atoll expansion ‘hurts neighbors’, China Daily, Feb 11, 2010
5.) Vietnam delimits its continental shelf in UN report. Vietnamnet, Aug 2009
Peter J Brown is a freelance writer from the US state of Maine.

(Copyright 2010 Asia Times Online (Holdings) Ltd. All rights reserved. Please contact us about sales, syndication and republishing.)

Ngân hàng: Ngoại lãi nhiều, nội lãi ít

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:38 am
Tags: ,
Điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài?

Gần đây những chiếc máy rút tiền tự động ATM của các ngân hàng ngoại như ANZ, HSBC xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực trung tâm Tp.HCM. Không giống như trước, máy ATM của ngân hàng ngoại chỉ được đặt ở cạnh hội sở chính, bây giờ họ có thể đặt ở nhiều nơi.

Cùng với việc mở rộng mạng lưới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa, đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận, họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa với các ngân hàng cổ phần.

Năm ngoái, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Tp.HCM, các ngân hàng nước ngoài trên địa bàn có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008).

Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉ có 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

Các ngân hàng cổ phần hối hả cho vay, hối hả nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và hối hả phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm vừa qua tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần nhảy lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng. Còn các ngân hàng nước ngoài vẫn “bình chân như vại” trong mảng tín dụng. Họ dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay. Kết quả là tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm – 0,66%.

Vậy điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn, trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu; thu phí thanh toán xuất nhập khẩu và các phí khác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại. Ở một số ngân hàng nước ngoài khác, lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

Rõ ràng, dịch vụ ngoại hối và phí mới là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng nước ngoài. Khi mà ngân hàng nội địa bị ràng buộc bởi hàng loạt các quy định hành chính liên quan đến kinh doanh ngoại tệ, không thể lách luật, thì ngân hàng nước ngoài tỏ ra linh hoạt.

Suốt một thời gian dài họ mua bán Đô la Mỹ với doanh nghiệp thông qua một ngoại tệ thứ ba để đạt được tỷ giá mong muốn và khi Ngân hàng Nhà nước cấm nghiệp vụ này, họ vẫn sử dụng ngoại tệ thứ ba thông qua một ngân hàng thứ ba.

Thí dụ doanh nghiệp XYZ muốn mua Đô la Mỹ của họ, thì đầu tiên doanh nghiệp đó phải mua Euro của ngân hàng nội địa XYZ với một tỷ giá thỏa thuận. Họ bán Euro cho ngân hàng XYZ để XYZ bán cho doanh nghiệp. Có Euro rồi, doanh nghiệp bán lại cho họ cũng theo giá thỏa thuận vào ngày hôm sau, làm sao tương ứng với sự chênh lệch của Đô la Mỹ (giữa giá niêm yết của ngân hàng và giá thị trường tự do) mà họ bán cho doanh nghiệp. Trên hợp đồng, giá mua bán Đô la vẫn tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước, nhưng trên thực tế, sau một sự lòng vòng, giá thực mua – bán đã khác nhiều.

Ngoài ra một số ngân hàng nước ngoài áp dụng phí ngoại tệ linh hoạt (flexible fees) khi doanh nghiệp chuyển khoản ra nước ngoài, mở L/C, bảo lãnh… Với các công ty đa quốc gia, việc đưa ra các mức phí càng thuận lợi hơn, nhất là khi các công ty này nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu, triển khai dự án đầu tư.

Không phải ngẫu nhiên, các công ty của nước nào thì thường giao dịch với ngân hàng của nước ấy mở ở Việt Nam. Chẳng hạn các công ty Hàn Quốc giao dịch với ngân hàng Hàn Quốc, Đài Loan với Đài Loan, Pháp với Pháp, Úc với Úc… Ngân hàng trong nước không thể “bắt chước” cách kinh doanh ấy của ngân hàng nước ngoài vì nếu làm vậy có thể bị thanh tra, kiểm tra liên tục.

Tuân thủ đúng quy định, ngân hàng nội khó tìm lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối. Một khi giá mua bán Đô la Mỹ chuyển khoản và tiền mặt luôn kịch trần và bằng nhau, các ngân hàng cổ phần chỉ còn cách giới thiệu các doanh nghiệp với nhau để tự thương lượng. Hậu quả là doanh thu kinh doanh ngoại tệ năm 2009 của nhiều ngân hàng cổ phần sụt giảm mạnh, có ngân hàng thậm chí lỗ ở mảng này.

Lợi nhuận từ dịch vụ thấp, ngân hàng cổ phần lao vào tín dụng. Cho vay chỉ cung cấp 20% cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài, nhưng lại chiếm đến 75-80% lợi nhuận của ngân hàng nội. Sự lệch pha đó dẫn đến sự lệch pha về chất lượng tín dụng của hai khối.

Năm 2009 tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng nước ngoài ở Tp.HCM chỉ chiếm 0,63% tổng dư nợ. Tuy nhiên với ngân hàng cổ phần, tỷ lệ này là 1,39%, gấp hơn hai lần tỷ lệ của ngân hàng nước ngoài. Còn so với ngân hàng quốc doanh, nơi nợ xấu chiếm 2,02% tổng dư nợ, thì tỷ lệ nợ xấu của nước ngoài chỉ bằng một phần ba.

Cùng một môi trường kinh doanh như nhau, cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô như nhau, vì sao ngân hàng ngoại lãi nhiều, ngân hàng nội lãi ít? Phải chăng sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ấy chỉ thuần túy do ngân hàng nước ngoài nhiều kinh nghiệm, công nghệ cao hay đằng sau đó còn là sự quản lý ở mức độ khác nhau đối với tổ chức tín dụng nội và ngoại của Ngân hàng Nhà nước?

Yêu cầu ngân hàng báo cáo tình hình cho vay, khuyến mại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:37 am
Tags: ,
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các chi nhánh tỉnh, thành phố kiểm tra và báo cáo tình hình khuyến mại và thu phí cho vay VND

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa có Công văn số 1641/NHNN-CSTT yêu cầu các chi nhánh tỉnh, thành phố kiểm tra và báo cáo tình hình khuyến mại tiền gửi và thu phí cho vay VND.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện nay có một số tổ chức tín dụng thực hiện khuyến mại tiền gửi và thu phí cho vay. Để nắm bắt tình hình và xử lý các vấn đề liên quan, Thống đốc yêu cầu các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tiến hành kiểm tra và gửi báo cáo về tình hình khuyến mại đối với các khoản tiền gửi VND và thu phí đối với các khoản cho vay VND của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố.

Việc kiểm tra và báo cáo về khuyến mại tiền gửi VND được tiến hành theo các nội dung: các hình thức và mức khuyến mại (hiện vật, tiền mặt…); giá trị các hình thức và mức khuyến mại quy đổi tính trên khoản tiền gửi theo tỷ lệ %/năm; lãi suất tiền gửi thực tế, bao gồm lãi suất tiền gửi do tổ chức tín dụng công bố cộng giá trị khuyến mại (%/năm).

Việc kiểm tra và báo cáo về thu phí cho vay VND được tiền hành theo các nội dung: các loại phí, phương thức và thời điểm thu, mức phí; giá trị các khoản phí tính trên khoản vay theo tỷ lệ %/năm; lãi suất tiền vay thực tế bao gồm lãi suất cho vay theo hợp đồng tín dụng cộng giá trị các khoản phí (%/năm).

Báo cáo của các đầu mối trên phải gửi về Ngân hàng Nhà nước (Vụ Chính sách tiền tệ) trước ngày 9/3/2010.

Cùng với yêu cầu trên, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có văn bản số 1666/NHNN-CSTT yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố báo cáo lãi suất cho vay thỏa thuận trên địa bàn.

Các chỉ tiêu chính của báo cáo được lập bao gồm tình hình cho vay trung và dài hạn; cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với nhu cầu vốn để phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; tỷ trọng dư nợ cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận so với tổng dư nợ cho vay bằng VND; tỷ trọng dư nợ cho vay bằng VND đối với các nhu cầu vốn để phục vụ đời sống; tỷ lệ nợ xấu của cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận; tỷ lệ nợ xấu của cho vay bằng VND đối với các nhu cầu vốn để phục vụ đời sống…

Ngoài việc thể hiện theo tổng số, dư nợ cho vay của các chỉ tiêu trên được lập theo nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, nhóm ngân hàng nước ngoài, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tín dụng khác. Lãi suất của các chỉ tiêu cho vay theo lãi suất thỏa thuận được lập theo các mức: Mức phổ biến, mức thấp nhất và mức cao nhất.

Blog at WordPress.com.