Ktetaichinh’s Blog

March 2, 2010

Lao động “nhấp nhổm”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:48 am
Tags: ,
Ông Vũ Trọng Bình – Ảnh: Minh Việt

TT – “Di cư ngược” là hiện tượng mà các chuyên gia về phát triển nông thôn ghi nhận được trong thời gian qua, khi đông đảo lao động mất việc ở thành phố do suy giảm kinh tế đã trở về nông thôn để “trú ẩn”. Đằng sau hiện tượng này là gì?

Tuổi Trẻ đã có cuộc trao đổi với TS VŨ TRỌNG BÌNH (giám đốc Trung tâm phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn – IPSARD) về vấn đề nêu trên. TS Vũ Trọng Bình nói:

– Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhiều lao động từ chỗ di cư ra thành phố để tìm việc làm đã phải quay về với đồng ruộng (nghiên cứu của IPSARD tại bốn tỉnh Lạng Sơn, Nam Định, Bình Thuận và An Giang trong những tháng đầu năm 2009 cho thấy đã có 21,7% lao động di cư mất việc phải trở về địa phương, 17,2% lao động xuất khẩu phải về nước trước thời hạn – PV).

Điều đáng nói là không phải tất cả những lao động về quê đều tìm được việc làm (theo nghiên cứu nêu trên, chỉ có 11,3% lao động tìm được việc làm khi về địa phương), do đó trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010, nhiều lao động “di cư ngược” trước đó nay tiếp tục trở lại thành phố tìm kiếm việc làm mới.

* Việc chủ động di cư để tìm kiếm việc làm phần nào cho thấy tính linh hoạt của người lao động, nhưng có vẻ như ông lại tỏ ra quan ngại vì sự “linh hoạt” này?

“Thật ra việc “ngược” hay “xuôi” với nhiều lao động đôi khi chỉ là một chuyến xe, một chuyến tàu. Vấn đề chính là dù “di cư ngược” hay “di cư xuôi” thì tính ổn định của nhóm lao động này rất thấp”

– Trong thời đại ngày nay, di cư từ nông thôn ra đô thị, từ vùng này sang vùng khác, từ nước này sang nước kia hoặc ngược lại là hoàn toàn bình thường. Chúng ta chỉ cần nắm được hiện tượng để dự báo. Vấn đề chính như tôi nói ở trên là làm sao đảm bảo cho người lao động một sự ổn định tương đối. Vì khi lao động từ nông thôn ra thành thị mà hòa nhập được người ta mới bán tài sản, đất đai của mình ở nông thôn để yên tâm xây dựng cuộc sống mới.

Lúc đó những người ở lại với ruộng đồng mới có điều kiện tích lũy đất đai nhằm xây dựng nông thôn, nếu họ chỉ thuê mượn đất đai của những người đã di cư trong thời gian ngắn thì sản xuất lại không ổn định. Hiện nay lao động di cư không bán đất đai ở quê vì cuộc sống mới của họ ở đô thị rất bấp bênh, thành ra trong xã hội hiện có một bộ phận rất lớn những người lao động không hẳn là ở nông thôn cũng chẳng phải thành thị.

Chính vì không ổn định nên người ta rất khó xác định định hướng nghề nghiệp.

Ví dụ một nông dân lên thành phố làm công nhân được mấy tháng, mất việc người đó bèn về quê làm ruộng ít tháng rồi lại khăn gói lên thành phố kiếm việc mới. Như vậy người này mặc dù không còn gắn bó với đồng ruộng nhưng cũng chẳng trở thành công nhân chuyên nghiệp được. Với nhóm lao động “lơ lửng” này, chúng ta nói là xây dựng nông dân kiểu mới cũng khó mà xây dựng công nhân hiện đại cũng không được.

* Như vậy, với nhiều lao động thì nông thôn thật ra chỉ là vùng đệm để khi gặp khó khăn ở thành phố họ sẽ quay về chờ cơ hội mới?

– Trong hơn mười năm qua, lúc nào đất nước có khó khăn về kinh tế thì nông nghiệp luôn là giá đỡ quan trọng, năm 2009 cũng vậy. Với đông đảo người lao động, nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò như một bộ “giảm sốc”. Thực tế nhiều lao động nông thôn ra thành phố chỉ có thể làm lao động phổ thông, trong đó có bao nhiêu lao động được đóng bảo hiểm? Nhiều khi nếu có tai nạn xảy ra, chủ lao động thương thì họ được đền bù vài triệu đồng, không thì thôi. Còn với bảo hiểm thất nghiệp thì chúng ta mới triển khai.

Vì vậy ruộng đất ở quê nhà chính là bảo hiểm đối với lao động di cư. Điều này đã tạo ra một thế giằng co rất khó gỡ, nếu tôi là lao động di cư thì tôi cũng không bán ruộng đất ở quê để “phòng thân”. Như vậy khi có những vấn đề ảnh hưởng đến việc làm ở thành phố thì việc xuất hiện dòng “di cư ngược” là điều dễ hiểu.

Người lao động dự phỏng vấn tuyển dụng việc làm tại Đà Nẵng – Ảnh: Quốc Nam

* Đâu là hệ quả từ thực tế tồn tại nhóm lao động “lơ lửng” như ông phân tích ở trên?

– Thực tế này tạo ra bất cập cho quá trình phát triển. Những nông dân lên thành phố làm công nhân đều ở lứa tuổi thanh niên, nhiều người trong số họ không xác định trở thành công nhân chuyên nghiệp. Ví dụ rõ nhất là trước tết năm nay cũng như các năm trước, công nhân ào ào về quê nhưng sau tết nhiều người trong số họ không trở lại nhà máy và doanh nghiệp phải vất vả tìm kiếm công nhân mới.

Có những lao động đi làm ở khu công nghiệp đôi khi chỉ vì theo bạn bè cho vui, nếu Hà Nội, Bình Dương, TP.HCM… rộng cửa cho họ thì có thể họ sẽ gắn bó với việc làm mới. Nhưng nhiều khó khăn đã chờ đón họ không chỉ về việc làm, thu nhập mà còn là những rào cản về nhập cư, về hộ khẩu, sự phân biệt giữa những lao động có hộ khẩu thành phố và lao động đến từ nông thôn… Ở thành phố không được, nhưng về quê làm nông dân thì họ cũng “nhấp nhổm”, vì ở quê nay đã đất chật người đông.

* Đề ra các chính sách để khuyến khích người lao động “ly nông bất ly hương” cũng là một giải pháp để giảm bớt sức ép nhập cư vào các thành phố lớn, nhưng dường như lâu nay việc này chúng ta làm chưa được bao nhiêu?

– Vấn đề ở đây là làm thế nào tạo ra công ăn việc làm phi nông nghiệp ngay tại nông thôn, muốn vậy phải có mạng lưới đô thị nhỏ trong nông thôn, đó là các thị tứ, thị trấn nơi có hạ tầng tốt với các cụm công nghiệp nhỏ, các dịch vụ liên quan hoạt động mạnh. Hiện đang có một bất cập là chúng ta cho phép đặt nhà máy ngay tại các làng, trong khi lẽ ra công nghiệp, dịch vụ phải được quy hoạch theo chuỗi đô thị chứ không thể đặt lẫn lộn vào sản xuất nông nghiệp. Nói đến “ly nông bất ly hương” cũng là nói đến đào tạo nghề, phát triển các làng nghề. Đây là một vấn đề lớn cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Cái chính là phải lắng nghe tín hiệu của thị trường.

Tôi lấy ví dụ như đào tạo cho nông thôn đang nặng về đào tạo cán bộ quản lý, chẳng hạn nhìn vào các trường sẽ thấy đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học về nông nghiệp, nông thôn mà hiếm có đào tạo nông dân. Hay thành phố đang có nhu cầu lớn những người giúp việc nhà chuyên nghiệp, nhưng việc đào tạo để đáp ứng nhu cầu này chưa được làm một cách bài bản.

Advertisements

USD tự do tăng mạnh: áp lực đè nặng DN

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:42 am
Tags: , , ,

01/03/2010 17:05:20

– Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544 (khoảng 3,3%), giá đô la trên thị trường tự do cũng tăng mạnh. Giao dịch mua vào bán ra sáng nay (1/3) giao động khoảng 19.450 – 19.500 đồng/USD, tăng từ 50 – 70 đồng/USD.

Theo ông Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính), sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá..

Áp lực tỷ giá

Ông đánh giá thế nào với việc tăng tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ lên 3,3%?

Mô tả ảnh.
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh

Việc tăng tỷ giá này của ngân hàng nhằm mục đích bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la trong ngân hàng và thị trường tự do gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Ngoài ra, chúng ta phải điều chỉnh tỷ giá vì thâm hụt cán cân quá lớn. Tháng 1, tháng 2 mới chỉ là những tháng khởi động, nhưng từ tháng 3 trở đi, nhập siêu sẽ tăng lên rất lớn.

Nhập siêu như thế lại gây áp lực lên tỷ giá vì mất cân đối về ngoại tệ, các nguồn ngoại tệ hiện nay mình vẫn chưa kiểm soát được. Bắt các Tổng công ty bán nhưng họ cũng chỉ bán một phần nhỏ, còn ngoại tệ ngoài luồng thì chịu, mà trên tài khoản không phải tất cả bán hết.

Để hạn chế tình trạng này, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất tiền gửi bằng tiền đô là 1%, nhưng thực tế hiện nay vẫn tồn tại cơ chế 2 giá, kể cả giá tiền gửi và cho vay. Cho vay danh nghĩa là theo mức lãi suất quy định nhưng nhiều khi để hấp dẫn, nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay với mức giá khác. Để loại bỏ cơ chế 2 giá này thì rất khó vì hiện nay chúng ta vẫn không đủ ngoại tệ.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu?

Hiện nay các ngân hàng thương mại đều đồng loạt tăng trần cả huy động và cho vay. Theo quy luật, cứ phá giá thì sẽ có lợi cho xuất khẩu và có hại cho nhập khẩu.

Tuy nhiên, xuất khẩu ở Việt Nam, do không khống chế được về giá và kết cấu của xuất khẩu là khai thác nguyên liệu thô để bán, nên thu được nhiều hay ít, cho dù có phá giá thì cũng chỉ thêm được tiền Việt Nam, chứ không có giá trị về mặt cạnh tranh quốc tế. Mình không thể hạ giá bằng đô la thấp hơn vì đây là tỷ giá của mình thay đổi. Nói chung phá giá không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu.

Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.
Tăng tỷ giá nhằm bình ổn thị trường đô la.

Trong xuất khẩu các nhóm hàng khác nhau cũng chịu những tác động khác nhau. Đối với nhóm hàng khai khoáng (dầu thô, gạo,…) thì càng điều chỉnh tỷ giá thì doanh nghiệp càng nộp ngân sách nhiều tiền hơn.

Tuy nhiên, với một số mặt hàng phải nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu như may mặc, da dày, thì điều chỉnh tỷ giá không tác động là mấy, do nhóm hàng này thực chất không làm lợi được mấy, chủ yếu là đầu vào tăng, sau đó họ lại gia công một chút rồi bán thì hàm lượng giá trị gia tăng cũng không đáng kể.

Về nhập khẩu, phá giá càng không ảnh hưởng nhiều. Khi điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái thì giá bán của hàng nhập khẩu ở VN sẽ cao, thế nhưng hàng nhập khẩu của VN thì giá cao thế chứ cao nữa vẫn dùng, vì hàng trong nước không thay thế được. Do đó, không giảm về tiêu dùng.

Do vậy mỗi lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái là giá lại tăng, và tăng đầu tiên là hàng hóa nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu lại là đầu vào cho những sản xuất khác, kéo theo giá thành của nhiều sản phẩm cũng tăng.

Đối với doanh nghiệp, tỷ giá tăng có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh không?

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua…”

Đối với doanh nghiệp, khi họ không mua được đô la ở trong ngân hàng thì họ sẽ phải mua ở ngoài thị trường tự do. Giá đô la ở ngoài tăng cao thì họ sẽ mua với giá cao, sau đó cũng bán với giá cao.

Họ sẽ chỉ thiệt ở chặng thứ hai khi bán rồi lại mua đô la để nhập. Nhưng thực tế cái đó đều được tính trong cả một chu trình kinh doanh, chứ nếu thiệt thì doanh nghiệp sẽ không nhập hàng về để chịu thua lỗ.

Còn việc mua đô la trong ngân hàng thì cũng chưa chắc đã mua được với mức giá đúng của nó. Vì vậy, họ sẵn sàng mua đô la ở bất cứ đâu miễn là đủ ngoại tệ để nhập hàng. Tuy nhiên, nếu mua ở ngoài chợ đen thì sẽ khó khăn về mặt hạch toán.

Ở VN hiện nay, một mặt cơ quan quản lý không cho mua đô la chợ đen, chỉ được bán. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp nhập khẩu hàng về thì cũng không ai hỏi nguồn ngoại tệ ở đâu và bản thân ngân hàng không cung cấp đủ nên khác gì bảo người ta ra ngoài mà mua.

Muốn cân đối nguồn đô la hiện nay, theo tôi cách tốt nhất là hạn chế nhập siêu.

Xăng tăng giá, DN giải thích “cho vui”

Hiện nay giá xăng thành phẩm đang giảm, trong khi giá xăng bán tại các đại lý lại tăng, điều này có phải bị tác động với việc tăng tỷ giá?

Giá bán lẻ xăng dầu hiện nay có khoảng 11 bộ phận cấu thành, tỷ giá là một phần. Nhà nước cho phép doanh nghiệp được quyết định giá xăng theo nguyên tắc cộng trừ 7% .

Nhiều doanh nghiệp cho rằng do giá xăng thế giới thay đổi nên tăng giá. Nhưng giá xăng không thay đổi trong thời điểm mà trong thời gian dài, tương ứng với lượng dự trữ xăng dầu của VN, trước kia là 20 ngày, bây giờ là 30 ngày. Nó phải biến động giá trong một chu kỳ như thế mới coi là tỷ giá là một yếu tố.

Thực chất 10 yếu tố còn lại không ai đưa ra giải thích nên mỗi lần DN xăng dầu giải thích như thế cũng chỉ là nói cho vui, không có nghĩa giá xăng dầu thế giới tăng 10% thì VN cũng tăng 10%, còn các yếu tố khác như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tỷ lệ hoa hồng trích cho các đại lý và là đại lý nhiều cấp thì sao.

Việc tăng tỷ giá này có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và chính sách tiền tệ?

Sức ép về cân đối cung cầu ngoại tệ sẽ buộc phải phá giá. Phá giá đồng VN thì lại làm tăng giá hàng nhập khẩu, dẫn đến giá cả trong nước cũng tăng theo làm đồng VN mất giá.

Đồng VN mất giá lại tạo sức ép lên tỷ giá, tạo ra vòng xoáy. Khi đồng VN liên tục mất giá thì người ta chối bỏ đồng VN và quay sang ngoại tệ khác hoặc dự trữ vàng, và như thế đồng VN sẽ càng mất giá.

  • Nguyễn Yến (thực hiện)

Đồng bằng sông Cửu Long: Gồng mình chống hạn, mặn

TT – Nước mặn, hạn hán đang “bao vây” hàng trăm ngàn hecta lúa đông xuân và cũng bắt đầu gây khó khăn cho cuộc sống của hàng triệu người dân ở ĐBSCL.

Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG

Ngày 26-2, tại các xã Long Phú, Đại Ân 2 (huyện Long Phú, Sóc Trăng), hàng chục nông dân tất bật bơm nước cứu lúa. Dưới kênh nước đang mặn lên từng ngày. Ông Trần Văn Háp ở ấp Tú Điềm, xã Đại Ân 2, than thở: “Trời nắng nóng như thiêu đốt nên bơm nước đầy ruộng ba ngày đã cạn sạch. Mấy ngày nay nước kênh mặn chát nhưng cũng phải đánh liều bơm lên ruộng vì nếu không bơm, thiếu nước lúa cũng chết”.

Cứu lúa như cứu hỏa

Khoảng 800.000ha lúa
bị ảnh hưởng

Ông Nguyễn Trí Ngọc – cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN&PTNT – cho biết nạn thiếu nước sản xuất và độ nhiễm mặn cao ở nhiều tỉnh thuộc ĐBSCL sẽ khiến khoảng 800.000ha lúa vụ xuân hè và hè thu bị ảnh hưởng (cao điểm là tháng 3, tháng 4-2010).

Lãnh đạo Cục Trồng trọt nhận định nạn khô hạn, thiếu nước và nguy cơ nước biển xâm nhập vào sâu trong nội đồng với độ mặn cao còn tiếp diễn với chiều hướng xấu nên các địa phương cần chủ động nạo vét hồ đập, củng cố hệ thống thủy lợi để tích trữ nước, đồng thời phải có cơ cấu giống và mùa vụ thích hợp với điều kiện thiếu nước, nhiễm mặn. Về lâu dài, nên hạn chế diện tích và tiến tới bỏ hẳn diện tích lúa xuân hè.

ĐỨC BÌNH

Cánh đồng xã Tân Hưng chạy dài qua Đại Ngãi (Sóc Trăng) những ngày này lúa vụ ba chỉ mới hơn 40 ngày tuổi mà nước dưới kênh chỉ còn chừng 20cm nhưng cũng mặn chát.

Ông Bảy Hoàng ở ấp Tân Quy A, xã Tân Hưng, nói: “Nếu có nước cũng không dám bơm vì mấy ngày trước độ mặn dưới kênh này lên đến 3-4‰”. Theo Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, hiện toàn tỉnh có trên 40.000ha lúa vụ ba bị ảnh hưởng nắng hạn và xâm nhập mặn nên năng suất sẽ không cao.

Cảnh bơm nước cứu lúa cũng rất khẩn trương trên cánh đồng các xã Tân Tây, Bình Ân, Kiểng Phước, Tân Thành (huyện Gò Công Đông), Bình Phú, Đồng Sơn (huyện Gò Công Tây, Tiền Giang). Ông Dương Minh Việt ở xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, sản xuất 1,4ha lúa đang trong giai đoạn trổ bông nói: “Cứ 4-5 ngày tôi phải bơm một lần, mỗi lần bơm 5-6 giờ mới đủ nước. Trời nắng quá nên mới bơm xong  nước đã rút đâu mất. Từ nay đến khi thu hoạch tôi còn phải bơm bốn đợt nữa nhưng bây giờ kênh cạn rồi”.

Ông Nguyễn Văn Về, chủ tịch UBND xã Tân Tây, cho biết hiện có khoảng 750ha lúa đang rất cần nước để trổ bông, ngậm sữa. Do nước kênh cạn nên xã vận động người dân luân phiên nhau bơm nước lên ruộng kể cả ban đêm để tránh tình trạng tranh giành nước.

Diễn biến phức tạp

Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập cho biết xâm nhập mặn tại Hậu Giang đang diễn biến phức tạp. Nước mặn đang lấn sâu vào địa bàn một số xã đầu nguồn thị xã Vị Thanh.

Theo trạm quản lý nước và công trình thủy lợi tỉnh, độ mặn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.

Ông Nguyễn Văn Hòa, phó chủ tịch UBND thị xã Vị Thanh, nói trước mắt kêu gọi người dân đắp bờ vùng, bờ thửa trữ nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Ban chỉ đạo thị xã cũng đang chuẩn bị phương án đắp đập ngăn mặn đồng loạt tại 33 con kênh (tập trung tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến) nếu mặn tiếp tục lấn sâu. Trong hai năm trở lại đây, Hậu Giang liên tục bị ảnh hưởng bởi mặn xâm nhập. Theo dự báo của ngành chức năng tỉnh, xâm nhập mặn năm nay tại Hậu Giang có thể kéo dài hơn mọi năm (cao điểm trong tháng 3 và 4). Đi cùng với mặn là tình trạng thiếu nước ngọt, đời sống người dân bị đảo lộn.

Trước tình hình này, ông Lập  cho biết đang chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp cùng Công ty Cấp thoát nước – công trình đô thị tỉnh đẩy nhanh tiến độ thi công trạm cấp nước từ kênh Tám Ngàn để chủ động phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân tại thị xã Vị Thanh và một phần thị xã Vị Thủy. Trong trường hợp nước mặn lấn sang huyện Long Mỹ thì đưa nước sạch bằng xe bồn về phục vụ bà con.

Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh – giám đốc Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường TP Cần Thơ – cho biết mặn “tấn công” vào đất liền năm sau nhiều hơn năm trước. Cụ thể, năm 2009 xâm nhập mặn đã đến thị trấn Thạnh An, TP Cần Thơ (cách biển hơn 40km), trong khi năm trước đó mặn chỉ “với” tới huyện Mông Thọ, tỉnh Kiên Giang cách biển chừng 10km.

Một số khu vực của tỉnh An Giang và thị xã Vị Thanh (Hậu Giang) cũng bị mặn xâm nhập với độ mặn cao nhất là 7‰, không thể bơm nước phục vụ trồng trọt. Theo ông Vinh, những năm gần đây một số tỉnh phía tây bị ảnh hưởng xâm nhập mặn nhiều là do gió tây mạnh hơn cộng với lượng nước trên sông Mekong giảm, không đủ nước đẩy mặn ra biển.

“Né” mặn hạn chế thiệt hại

Cả ngày 26-2, Sở NN&PTNT Tiền Giang đã họp khẩn cấp với tất cả các xã có sản xuất lúa ở các huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây và thị xã Gò Công để bàn giải pháp cứu lúa vì cống Xuân Hòa – là cống lấy nước ngọt cuối cùng cho vùng này – sẽ đóng ngày 1-3. Hiện trong vùng ngọt hóa Gò Công có 25.000ha lúa đang trổ và ngậm sữa, cần nước đầy đủ để sinh trưởng trong khoảng 20 ngày nữa.

Nếu thiếu nước thì lúa không thể ngậm sữa và mất mùa. Ông Nguyễn Thiện Pháp, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Tiền Giang, nói mực nước trong các kênh lúc này chỉ còn 0,4-0,5m. Nhiều nơi phải tổ chức bơm chuyền 2-3 lần mới đến ruộng. Giải pháp duy nhất có thể làm lúc này là vận động nhân dân nạo vét kênh, tranh thủ bơm nước dự trữ. Dự báo sẽ thiếu nước gay gắt từ đầu tháng 3-2010 trở đi. Tỉnh sẽ hỗ trợ kinh phí để bơm chuyền từ kênh trục chính vào kênh nội đồng để dân bơm tiếp.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt, cho biết đến cuối tháng 2-2010 toàn vùng ĐBSCL sẽ thu hoạch 450.000ha lúa đông xuân. Do đó tình hình hạn, mặn sẽ căng nhất vào những tháng tới. “Phải khẩn trương nghiên cứu những giống lúa chịu được hạn, mặn cấp độ cao hơn hiện nay để trồng ở những vùng ven biển.

Ngoài ra, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động “né” được hạn, mặn bằng cách khuyến cáo dân sử dụng giống lúa ngắn ngày để thu hoạch sớm hơn, điều chỉnh lịch thời vụ sớm hơn để khi nước mặn tới thì lúa đã chín, có mặn cũng không sao” – ông Dư nói.

Trong khi đó, ông Kỷ Quang Vinh cho rằng để “sống chung” với mặn, cần phải chọn giống lúa thích hợp chịu được mặn và hạn. Hiện ở Úc có giống lúa chịu được độ mặn đến 7‰, trung tâm đang đề xuất Sở NN&PTNT Cần Thơ nghiên cứu.

Ngoài ra, theo ông Vinh, cần phải tận dụng hệ thống kênh rạch chằng chịt của ĐBSCL để giữ nước lũ bằng cách đắp đập và nạo vét sâu kênh rạch. Lượng nước này sẽ được phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đẩy mặn (ước tính cần 3% diện tích ĐBSCL). Một biện pháp khác là chứa nước ngọt ở tầng nước ngầm (mùa mưa lọc nước lũ hoặc nước mưa đẩy xuống tầng nước ngầm, mùa hạn bơm lên sử dụng).

Hơn 100.000ha lúa bị nước mặn “bao vây”

TS Phạm Văn Dư cho biết năm 2010 nước mặn xuất hiện sớm hơn các năm trước 10-15 ngày và xâm nhập sâu vào đất liền khoảng 70km, gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.

Đến ngày 26-2, các tỉnh ĐBSCL có khoảng 100.000ha lúa đông xuân (chiếm 16% diện tích) có nguy cơ bị ảnh hưởng hạn, mặn. Các “điểm nóng” được xác định là: Gò Công Đông, Gò Công Tây, thị xã Gò Công, Chợ Gạo, Tân Phú Đông (Tiền Giang), Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần, Châu Thành (Trà Vinh), Mỹ Xuyên, Long Phú (Sóc Trăng), Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai (Bạc Liêu), An Minh, An Biên (Kiên Giang).

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – phó phòng dự báo Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam bộ – cho biết tình hình xâm nhập mặn những ngày qua tăng nhanh và cao hơn cùng kỳ năm ngoái. Theo bà Lan, độ mặn sẽ còn tăng do gió chướng (khoảng tháng 2 và 3 âm lịch) đẩy nước mặn từ biển vào, đỉnh điểm của xâm nhập mặn là trong hai tháng 4 và 5 âm lịch.

Create a free website or blog at WordPress.com.