Ktetaichinh’s Blog

March 27, 2010

Cuộc chiến chống mặn, hạn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:02 pm
Tags: ,


(Dân trí) – Hàng ngàn hecta cây ăn trái, hoa màu, tôm cá, lúa… đang thiếu nước tưới, hàng chục ngàn hộ dân thiếu nước ngọt sinh hoạt trầm trọng. Cuộc chiến với hạn, mặn ở ĐBSCL ngày càng quyết liệt.
>> Báo động hạn hán và mặn hóa ĐBSCL
Hàng ngàn hộ dân ở vùng hạn, mặn ĐBSCL đang ngóng chờ những chuyến xe bồn nước ngọt.

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Bến Tre cho biết: Nước mặn từ sông Cửa Đại, Hàm Luông và Cổ Chiên thâm nhập vào đất liền hơn 50 km. Tại xã Gia Hòa (huyện Châu Thành) xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam, phường 7, TP Bến Tre từ 3,5 phần nghìn đến 5,3 phần nghìn. Dự báo tình hình mặn có khả năng tiếp tục xâm nhập sâu hơn nhiều.

Ông Võ Trường Xuân, ấp Lân Bắc, xã Phú Sơn nói: Phú Sơn nằm ven sông Hàm Luông trong bán kính của vùng mặn xâm nhập. Trong 2 năm 2008 – 2009, nông dân ven sông đã tự bỏ tiền và hàng trăm ngày công làm 3 cống ngăn triều cường, trữ nước ngọt bảo vệ sản xuất. Tuy nhiên với mức xâm nhập mặn như hiện nay thì chưa thấm vào đâu.

Chính quyền huyện Chợ Lách có sáng kiến hướng dẫn người dân dùng cỏ, lục bình phủ gốc cây, dùng lá dừa che bóng cho cây trong những ngày khô hạn để giữ độ ẩm cho đất. Đối với vật nuôi, gia súc nên tăng cường bổ sung thức ăn xanh để giảm độ mặn trong khẩu phần ăn.

Ông Lê Phong Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT Bến Tre nói: tình trạng xâm nhập mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản) và sinh hoạt của nhân dân. Theo báo cáo của các địa phương, sẽ có khoảng 26.900 ha cây ăn trái, 4.000 ha ca cao, 4.000 ha lúa, 250 ha hoa kiểng, 450 ha hoa màu bị giảm năng suất.

Để ứng phó với tình hình xâm nhập mặn năm 2010, các giải pháp trước mắt của Bến Tre là: Tiếp tục gia cố đê bao, đắp đập tạm, nạo vét kênh mương để ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; cung cấp dụng cụ chứa nước cho gia đình nghèo, diện chính sách, mở rộng tuyến ống cấp nước của những nhà máy nước hiện có…

Đầu tháng 4/2010, nhà máy nước tại xã An Phú Trung, Ba Tri, có vốn đầu tư khoảng 13 tỷ đồng được đưa vào hoạt động sẽ cung cấp nước sạch cho trên 1.500 hộ dân. Tuy nhiên, để công trình phát huy hiệu quả cần tới 25,5 tỷ đồng để thực hiện nạo vét kênh mương, đê bao, các đập tạm, sửa chữa các cống ngăn mặn, trữ nước ngọt…

Tương tự tại Tiền Giang, mặn đã xâm nhập đến thành phố Mỹ Tho, cách biển gần 60 km. Toàn bộ các cống ngăn mặn ở huyện Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây… đã đóng kín, hàng ngàn hécta lúa đông xuân đang có nguy cơ giảm năng suất do thiếu nước ngọt.

Chi cục thủy lợi Tiền Giang đã mở 19 vòi nước công cộng để phục vụ cho 20.000 nhân khẩu thuộc 2 huyện Tân Phú Đông và Gò Công Đông đang bị thiếu nước sinh hoạt. Tỉnh Tiền Giang đang khẩn trương đưa phương tiện chở nước ngọt từ thành phố Mỹ Tho xuống cung cấp xuống cho các hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

Sở NN-PTNT tỉnh Trà Vinh cho biết: Nắng nóng kéo dài, nước ao hồ cạn kiệt nhanh, độ mặn tăng cao tại 1.044 ha diện tích mặt nước ở các huyện Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang… đã khiến trên 100 triệu con tôm sú giống chết.

Chiều 25/3, Sở NN-PTNT Bạc Liêu cho biết: Từ ngày 20/3 đến nay, nước mặn tràn vào vùng ngọt chuyên sản xuất lúa. Độ mặn đo được tại Bạc Liêu – Sóc Trăng là 3,2 phần nghìn. Hiện Bạc Liêu còn khoảng 24.000 ha lúa đông xuân đang trổ bông, trong đó có hàng nghìn ha có nguy cơ bị mất trắng.

Ông Phạm Đình Đôn, Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường Tây Nam Bộ, cho biết: Lưu lượng nước sông Mekong về tới khu vực đầu nguồn sông Cửu Long hiện chỉ còn khoảng 1.600m3/giây, chưa bằng 5% tổng lưu lượng trong mùa nước nổi. Nếu tận dụng triệt để nguồn tài nguyên này để tưới cho mỗi cây lúa thôi thì nguồn nước mặt vẫn không đủ.

Giải pháp sống chung với hạn đang được nông dân hướng đến. Việc đầu tiên nghĩ tới là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tìm những cây, con chịu hạn, chịu mặn. GS. TS. Nguyễn Văn Luật, Nguyên viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, cho rằng: Cây khoai lang là một trong những loại cây trồng nhiều tiềm năng trong điều kiện có tác động của biến đổi khí hậu.

Advertisements

XK thủy sản 2010 : Nỗi lo trong cuộc

Báo  vừa có bài “XK thủy sản 2010: Không quá lạc quan” phản ánh về dự báo khá lạc quan trong khi thực trạng sản xuất, xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức. Để làm rõ các cơ hội và thách thức,PV   đã trao đổi với các nhà chế biến, XK thủy sản về những lo toan và ghi nhận tình hình vùng nguyên liệu tại ĐBSCL.
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức
Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức

Nói về thuận lợi, khó khăn của hoạt động XK thủy sản 2010, ông Phạm Hoàng Việt – Phó TGĐ Cty cổ phần thực phẩm Sóc Trăng (Sao Ta – Fimex VN) cho rằng: Với DN, cơ hội phát triển và thách thức luôn cùng tiềm tàng. DN không thể lạc quan kiểu “hồn nhiên” mà phải căn cứ trên những cơ sở vũng chắc, từng thời điểm, giai đoạn của tiến trình vận động. Thành hay bại đều do sự ứng phó linh hoạt, hợp thời của DN.

Dự định và thực tế

Ba tháng đầu năm nay, Fimex đã XK hơn 9 triệu USD (tương đương cùng kỳ năm trước); mặt hàng chủ lực vẫn là tôm sứ; thị trường chủ yếu vẫn là Nhật Bản, EU chỉ chiếm khoảng 10%. Hoạt động hiện tại khá yên ổn – sự yên ổn trong tình trạng thiếu nguyên liệu chung của tất cả các DN chế biến, XK thủy sản. Hai mối lo lớn mà Fimex đang tập trung quan tâm là nguồn nguyên liệu và công nhân. Từ trước Tết đến nay, giá và sản lượng nguyên liệu trồi sụt liên tục nên hầu hết các nhà máy ở ĐBSCL đều hoạt động với hơn nửa công suất. Fimex trong bối cảnh đó vẫn tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề vững để giảm giờ làm cho 2.000 công nhân hiện có. Hoạt động đều và ổn thỏa mọi mặt, Fimex cần có 3.000 công nhân. “Tăng trưởng chắc chắn và ổn định là điều Fimex luôn tâm niệm. Năm 2009 xuất khẩu hơn 52 triệu USD thì năm nay cố gắng đảm bảo tăng 10-12% khi hội đủ các điều kiện cần và đủ để phát triển an toàn” – ông Phạm Hoàng Việt cho biết.

Còn ông Trần Văn Phẩm – Tổng Giám đốc Stapimex (Cty CP Thủy sản Sóc Trăng) chia sẻ mối lo toan về nguồn nguyên liệu mà theo ông là năm nay có những nét khác. Ông Phẩm nhận định nguồn nguyên liệu năm nay sẽ khả quan hơn, ví như tôm thẻ chân trắng miền Trung đang rất “đắt hàng”. Nhắc đến trở ngại trong nuôi trồng vì ảnh hưởng mặn và hạn, ông cho hay: So với Cà Mau và Bạc Liêu, diện tích nuôi của Sóc Trăng nhỏ hơn nhưng bù lại năng suất cao gấp 5-7 lần. Chuyện cứu lúa, làm ảnh hưởng tôm ở Bạc Liêu là có thật nhưng nếu giảm chút ít sản lượng ở đây không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng chung, trong khi tổng diện tích nuôi trồng trong cà vùng ĐBSCL đang mở rộng.  Năm 2010, Stapimex không đặt nặng tăng trưởng doanh số mà quan tâm hiệu quả cân đối nhiều mặt. Giá điện tăng sẽ tạo mặt bằng giá nguyên liệu, chế biến và giá thành sản phẩm; nói cách khác, sẽ làm ảnh hưởng kết quả chung cho toàn bộ ngành hàng.

Cạnh tranh nhân công

Trở lại vấn đề kinh doanh XK, TGĐ Trần Văn Phẩm cho biết: Nhận định của Vasep về triển vọng XK 2010 với 500 ngàn tấn cá và 200 ngàn tấn tôm là có cơ sở. Ở Stapimex, 3 tháng đầu 2010 đã XK được 6 triệu USD (thấp chút ít so cùng kỳ 2009) nhưng kinh doanh 2009 có cái dễ, cái khó khác. Năm 2009 nhờ có gói hỗ trợ lãi suất, người nuôi tôm duy trì được diện tích và làm ra nguyên liệu tốt hơn cho chế biến.

Hiện Stapimex có 2.500 công nhân (vào vụ sẽ lên 3.500 công nhân). “Ở VN nói thiếu công nhân là không chính xác. Có chăng là do cạnh tranh, lúc vào vụ chế biến DN nào nuôi công nhân tốt thì ổn định hơn. Mặt bằng lương công nhân ở ĐBSCL là trên dưới 4 triệu đồng/người/tháng, nếu không đủ nguyên liệu sản xuất mà có công nhân đông sẽ khó khăn. Không những thế, vẫn còn hiện tượng thu nhận công nhân nhưng ngoài lương không mua bảo hiểm cho họ. DN sử dụng công nhân rẻ đó sẽ có giá thành chế biến thấp, đó là cạnh tranh không công bằng” – ông Trần Văn Phẩm nhấn mạnh.

Thách thức từ nguồn nguyên liệu

Vấn đề nguyên liệu trong vùng ĐBSCL đang có những thách thức, đe dọa do nguy cơ biến đổi khí hậu (mặn và hạn hán) đang hiển hiện. Ở ba tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn 50 DN thu mua chế biến thủy sản xuất khẩu với gần 100 nhà máy.  Để đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu cho số nhà máy chế biến này hàng năm cần gần gấp đôi tổng sản lượng tôm nuôi toàn vùng. Chuyện khan hiếm nguồn nguyên liệu đã được cảnh báo từ trước do công tác quy hoạch và đầu tư diện tích nuôi trồng. Bộ NN-PTNT trong năm 2009 đang tái khởi động công việc này, tuy nhiên, nông dân mỗi khi biến động giá lên/xuống hoặc mặt hàng ế thì vẫn luẩn quẩn trồng/chặt (lúa, mía) hoặc đào/lấp hay “treo” ao đầm.

Tháng 3/2010, 14 DN ở Cà Mau áp dụng phương án cho công nhân nghỉ việc luân phiên. Lãnh đạo Cty Chế biến thủy sản XK Cà Mau (Camimex) nhận định đây là tình trạng chung của các nhà máy khi hết mùa tôm nên đã tổ chức mạng lưới thu mua đến tận cơ sở với giá cao, dù vậy, vẫn không tìm đủ nguồn nguyên liệu để chế biến. Tại Bạc Liêu, hiện 13 DN chế biến thủy sản hầu hết hoạt động không đủ công suất, cầm chừng vì thiếu nguyên liệu. Cty chế biến thủy sản xuất khẩu Giá Rai, huyện Giá Rai hơn tháng nay hoạt động có thời điểm chỉ 30% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Động thái này liên quan đến chủ trương trên 20.000ha lúa đông xuân cuối vụ đang khát nước nghiêm trọng. Tỉnh Bạc Liêu quyết định hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ – Phụng Hiệp. Việc làm này vô tình ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm tại khu vực lân cận. Ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai có 2.427ha nuôi tôm, đến thời điển này đã có đến 1.519ha bị thiệt hại, trong đó có đến 419ha thiệt hại trên 50% không khả năng khắc phục. Phòng NN-PTNT Giá Rai – cho biết: Trong 20.000 ha đã thả tôm, có đến 5.482 ha bị thiệt hại, mức độ thiệt hại từ 30% trở lên. Đáng báo động là có đến trên 10.000 ha đang đứng trước nguy cơ thiếu nước. Ông Võ Hồng Ngoãn, người nuôi tôm có tiếng tăng ở Bạc Liêu cho biết: “Ai cũng biết nuôi trồng cái gì trái mùa, nếu thành công sẽ lời rất nhiều, nhưng đối với con tôm nuôi trái vụ rất nhiều rủi ro, nếu thất bại là thiệt hại tiền tỉ như chơi”.

Trước thực trạng này – Phó giám đốc Sở NN-PTNT Bạc Liêu Tạ Minh Phú, cho biết: “Chúng tôi khuyến cáo nông dân ở nơi nào điều kiện thuận lợi thì sản xuất, nơi nào có khả năng thiếu nước thì hãy chậm lại để tránh thiệt hại”.

Nắng nóng gây thiệt hại nặng đến trồng lúa, nuôi tôm ở Bạc Liêu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:55 pm
Tags: ,

Nắng hạn kéo dài làm các con
kênh ở Bạc Liêu khô hạn.
NDĐT – Có thể nói, vào vụ sản xuất năm 2010, nhiều nông dân ở hai vùng mặn-ngọt Bạc Liêu rất phấn khởi vì con tôm và hạt lúa đều có giá cao. Tuy nhiên, niềm vui chưa lâu thì thay bằng nỗi lo nhiều tháng qua nắng nóng gay gắt kéo dài, làm thiệt hại lớn đến sản xuất và đảo lộn đời sống của người dân…
Tôm nuôi… điêu đứng
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu, đến cuối tháng 3 dương lịch, toàn tỉnh đã thả nuôi gần 150.000 ha tôm. Trong đó, tôm công nghiệp, bán công nghiệp gần 1.500 ha, còn lại nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. Do nắng nóng kéo dài nên phần lớn nguồn nước trên các kênh rạch đã bị cạn kiệt, dẫn đến thiếu nước trầm trọng. Vì vậy, số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại ngày càng tăng. Đáng lưu ý, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã có gần 7000 ha tôm nuôi bị thiệt hại. Nguyên nhân tôm chết được xác định hầu hết do nắng nóng gay gắt kéo dài, nhiệt độ chênh lệch quá cao giữa ngày và đêm nên tôm nuôi bị sốc…
Kỹ sư Lương Ngọc Lân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu cho biết: “Để giải quyết hài hòa lợi ích giữa con tôm và cây lúa cho bà con nông dân, Ban chỉ đạo điều tiết nước tỉnh Bạc Liêu buộc phải cho mở một số cống ngăn mặn, giữ ngọt dọc theo tuyến quốc lộ 1A để tiêu thoát nước mặn ra sông Bạc Liêu – Cà Mau; đồng thời “kéo” nước ngọt từ kênh Quản lộ – Phụng Hiệp về để cứu lúa. Việc làm này ước tính sẽ có khoảng 20.000-25.000 ha tôm nuôi bị thiếu nước mặn do việc điều tiết nước thời gian tới không được “mạnh tay” vì phải đề phòng tình trạng xâm nhập mặn vào vùng ngọt. Để khắc phục và hạn chế thiệt hại cho người nuôi tôm, ngoài việc khuyến cáo người dân tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật cải tạo ao, thả nuôi, chăm sóc…, ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đang tăng cường việc kiểm tra, kiểm sóat đối với chất lượng tôm giống sản xuất trong tỉnh và nhập từ ngoài tỉnh để đảm bảo chất lượng, hạn chế thiệt hại cho người dân…”.
Nông dân Bạc Liêu tích cực cứu lúa.
Lúa cũng… chết khát…
Vụ lúa đông xuân (lúa vụ 3) năm nay, Bạc Liêu có gần 45.000 ha. Theo ngành chức năng, chưa năm nào nông dân trong tỉnh sản xuất vụ lúa đông xuân lớn như năm nay. Mặc dù chính quyền và ngành Nông nghiệp không khuyến khích nông dân sản xuất lúa vụ 3, nhưng vì giá lúa thời gian qua ở mức khá cao (vào thời điểm bà con xuống giống, lúa 5.500-6.000 đồng/kg), nên nhiều người đã bất chấp tất cả, dù có người đã biết trước được khó khăn…
Ông Phú Văn Khải, Trưởng phòng NN và PTNT huyện Hòa Bình, cho biết: Vụ sản xuất lúa đông xuân năm nay, hầu hết 100% diện tích đất trong huyện đã được người dân xuống giống. Ngành Nông nghiệp huyện đã tích cực khuyến cáo về việc lúa vụ 3 sẽ bị sâu bệnh và thiếu nước ngọt (do vào mùa khô), nhưng vẫn không thể ngăn cản được nông dân. Huyện Hòa Bình hiện có diện tích lúa đông xuân cao nhất tỉnh, với 10.000 ha. Chính vì bất chấp khuyến cáo của ngành chuyên môn, nên đã xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng tại nhiều địa phương, trong khi cây lúa đang trong gian đoạn lòng đòng, trổ bông, giai đoạn quyết định cho sự thành, bại của cả vụ mùa.
Anh Nguyễn Văn Hùng Em, nông dân xã Vĩnh Mỹ B (Huyện Hòa Bình), than: “Tôi làm có năm công ruộng mà bơm nước cực quá. Lúc trước năm ngày mới bơm một lần, còn bây giờ ngày nào cũng phải bơm, vì nếu không thì lúa sẽ chết khô …” Dọc theo tuyến đường từ cầu số 2 (huyện Hòa Bình) đến thị trấn Phước Long (huyện Phước Long) dài gần 30 km, chúng tôi tận mắt chứng kiến để có nước ngọt cho cây lúa, nhiều hộ nông dân đã “liều” đắp các cống ngang tuyến đường liên tỉnh này và đặt máy bơm để bơm nước từ các kênh mương vào ruộng cứu lúa…
Tại các huyện như Phước Long, Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai… cũng đang xảy ra tình trạng thiếu nước ngọt trầm trọng. Theo nhận định của ngành nông nghiệp tỉnh, trong thời gian tới tình trạng thiếu nước ngọt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong tỉnh còn đáng lo hơn, vì hiện nay, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Bạc Liêu nói riêng đang vào giữa mùa khô hạn…
Trước tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, thực tế cho thấy, chính quyền và ngành chức năng ở Bạc Liêu chưa tìm ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu. Tỉnh chỉ có thể thực hiện các giải pháp “tình thế” như chủ động điều tiết nước mặn, kết hợp với các biện pháp tăng cường chất lượng con giống thủy sản, nhất là giống tôm; khuyến cáo nông dân kỹ thuật cải tạo ao đầm, chọn con giống, cách chăm sóc…, nhằm hạn chế rủi ro cho người nuôi tôm.
Theo ngành nông nghiệp và nhiều nông dân Bạc Liêu, mùa khô năm nay nắng nóng gay gắt chưa từng có kể từ nhiều năm nay. Nắng nóng đã làm thiệt hại đến hàng ngàn ha tôm nuôi, hàng chục ngàn ha lúa vụ 3 của tỉnh và ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của người dân…

Sẽ dời 400.000 dân khỏi nội thành Hà Nội

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:48 pm
Tags: ,
“Các nhà lập quy hoạch rất trân trọng những ý kiến đề xuất cụ thể mang tính khả thi. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở góc độ phê phán mang tính cảm tính thì hiệu quả sẽ rất thấp”.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng, TS-KTS Nguyễn Đình Toàn nói như vậy khi trao đổi với Thanh Niên xung quanh đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đang rất được dư luận quan tâm.

* Thưa ông, thất bại trong các kế hoạch giãn dân cho nội thành Hà Nội khiến người ta rất nghi ngờ kế hoạch giảm dân nội đô từ 1,2 triệu dân hiện tại xuống còn khoảng 0,8 triệu dân như đồ án đề xuất?

– Việc giảm tải cho nội đô dứt khoát phải làm, bởi quy hoạch mà người Pháp lập cho Hà Nội chỉ có 300.000 dân thôi (năm 1954), trong khi bây giờ dân số đã gấp 3 lần. Tuy nhiên, bây giờ không thể dùng biện pháp hành chính để di dân mà phải có giải pháp mang tính khả thi. Trong đồ án quy hoạch này đã đề xuất xây dựng chuỗi đô thị mới ở phía đông vành đai 4 và phía tây của sông Nhuệ, có sức chứa khoảng 1,2 triệu dân, với mật độ xây dựng thấp nhưng khuyến khích xây dựng cao tầng, tận dụng quỹ đất để dành cho cảnh quan, cây xanh, hạ tầng xã hội. Khi người dân nội đô thấy  điều kiện sống ở đây tốt hơn họ sẽ tự di chuyển ra ngoài. Từ trước đến nay câu chuyện về giãn dân phố cổ, phố cũ chưa thành công là vì chưa hình thành được các khu đô thị tiện nghi. Tiện nghi được hiểu không phải chỉ có cái nhà mà phải có cảnh quan sân vườn, trường học, y tế, dịch vụ thương mại và thậm chí là cơ hội kiếm sống.

* Nhưng ách tắc giao thông khiến người dân cảm thấy ngán nếu phải đi ngược từ ngoài vào nội đô, chẳng hạn như khi đi làm?

“Ách tắc giao thông triền miên, thường xuyên là điều không thể chấp nhận được đối với sự quản lý ở một đô thị. Nếu không giải quyết rốt ráo vấn đề giao thông cho Hà Nội và TP.HCM thì sẽ không giải quyết được nhiều vấn đề khác như: phát triển kinh tế xã hội bền vững, kiến trúc, văn hóa, bảo tồn…”.

Ông Nguyễn Đình Toàn

– Việc này đúng là liên quan mật thiết đến vấn đề giãn dân. Cần tăng cường hệ thống giao thông cho cả nội đô và ngoại đô. Trong giao thông có 2 việc lớn phải làm, một là nâng cấp hệ thống giao thông ở nội đô (ví dụ một số đoạn cần phải làm đường tầng ở vành đai 2, vành đai 3, và một số tuyến dẫn vào nội thành), hai là khẩn trương xây dựng đường vành đai 3, 5 và 4. Ngay trong năm nay sẽ phải lập dự án tàu điện ngầm (metro) để đến năm 2012 có thể khởi công được ít nhất 3-4 tuyến metro chính. Theo đề xuất giải pháp giao thông trong đồ án quy hoạch chung thì Hà Nội sẽ có khoảng 9-11 tuyến metro, trong đó sẽ chạy ngầm từ vành đai 4 trở vào, và chạy nổi từ vành đai 4 trở ra. Hiện tại Chính phủ đã yêu cầu dừng chất tải trong khu vực nội đô Hà Nội (hạn chế việc xây dựng nhà cao tầng), cộng với các biện pháp như tôi đã nêu ở trên, chắc chắn sẽ giúp giảm tải cho Hà Nội, giải tỏa vấn đề ách tắc giao thông.

* Thưa ông, hiện có nhiều ý kiến xung quanh đề xuất Trung tâm Hành chính quốc gia đặt tại khu vực huyện Ba Vì?

– Trong quá trình nghiên cứu lập đồ án này, tư vấn đã có 5 vị trí được đề nghị lựa chọn, đó là Ba Vì – Hòa Lạc, Quốc Oai, Hoài Đức, Tây Hồ Tây, Phương Trạch (Đông Anh). Sau báo cáo lần 2, ngày 21.8.2009, các tư vấn đã nhận được nhiều đóng góp của chuyên gia, hội nghề nghiệp, các bộ ngành và Hội đồng thẩm định Nhà nước. Đến báo cáo lần 3 thì tư vấn đề xuất chọn đặt Trung tâm Hành chính quốc gia ở khu vực thuộc huyện Ba Vì. Và vị trí này không phải để làm ngay mà quy hoạch là để dự trữ khu đất cho sau năm 2030, tầm nhìn đến 2050. Vị trí ấy có thuận lợi là tựa núi Ba Vì, nhìn về hồ Tây và kết nối với khu vực nội đô bằng trục Thăng Long (kéo dài từ Ba Vì, qua Phúc Thọ, Quốc Oai hướng về hồ Tây, qua cầu Tứ Liên, sang Cổ Loa). Nếu đặt trung tâm hành chính ở đây có thuận lợi nữa là không phụ thuộc vào hệ thống trung tâm hành chính cũ và tạo cơ hội phát triển kinh tế cho cả vùng phía tây.

* Một số chuyên gia cho rằng trung tâm hành chính quốc gia lên phía tây sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng 2 hành lang phát triển kinh tế đông – tây và ngược với trung tâm kinh tế phía bắc đã được xác định?

– Ở đây cần phải khẳng định trung tâm chính trị quốc gia vẫn được xác định là khu vực Ba Đình, trung tâm hành chính (các cơ quan thuộc Chính phủ) thì sẽ được tính để di chuyển với quy hoạch tầm nhìn đến 2050. Sẽ không ảnh hưởng đến định hướng trước đây về 2 hành lang kinh tế quốc gia và quốc tế (xa lộ 18 chạy từ Quảng Ninh – Hà Nội – Vĩnh Yên – Việt Trì lên Lào Cai – Côn Minh, Trung Quốc). Trong đồ án cũng đề xuất phát triển mạnh  kinh tế ở phía bắc Hà Nội, ở đây có các khu công nghiệp, các khu trung chuyển hàng hóa ở Sóc Sơn. Cần hiểu rằng trung tâm hành chính không nhất thiết ở trong đô thị trung tâm cũ thì 2 hành lang và 1 vành đai kinh tế quốc gia ấy mới phát triển được.

* Một số nhà chuyên môn còn nói rằng, đồ án đã không làm báo cáo đánh giá tác động môi trường riêng mà đưa thành một chương trong đồ án. Như vậy có giải quyết được hết vấn đề môi trường hay không?

– Đánh giá môi trường chiến lược trong đồ án này đã làm đúng theo Luật Quy hoạch đô thị và quy chuẩn xây dựng hiện hành. Cần phải lưu ý, đây là một đồ án quy hoạch xây dựng chứ không phải đồ án Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội; do vậy, không có quy định pháp lý nào phải có một báo cáo riêng đánh giá tác động môi trường chiến lược. Bản thân các bộ môn của đồ án quy hoạch chung Hà Nội (như giao thông, cấp nước, thoát nước, rác thải, nghĩa trang,…) đều đã tính đến giải pháp đánh giá tác động môi trường. Một báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược riêng hay nằm trong một chương của đồ án quy hoạch xây dựng đều phải giải quyết những vấn đề đặt ra của thực tiễn hiện nay cũng như về lâu dài. Vấn đề này tư vấn đang tiếp tục cập nhật bổ sung hoàn thiện đồ án.

7 khu đô thị vi phạm quy hoạch, thiếu hạ tầng xã hội

Rất nhiều khu đô thị của Hà Nội đều thiếu hạ tầng xã hội như trường học, trạm y tế, nơi sinh hoạt công cộng…

Cùng với việc nhắc nhở chủ đầu tư của 7 khu đô thị trên phải chấn chỉnh, khắc phục ngay tình trạng vi phạm vi quy hoạch, thiếu hạ tầng xã hội, UBND TP đã yêu cầu các quận, huyện có 7 dự án trên phải khẩn trương rà soát quy hoạch phát triển dân cư, đề xuất cụ thể địa điểm xây dựng trường học trong dự án và các địa điểm khác trên địa bàn (nếu cần thiết). Đồng thời, phối hợp với chủ đầu tư rà soát những tồn tại, vướng mắc trong GPMB tại các dự án đó và  đề xuất biện pháp giải quyết.

March 25, 2010

10 lời gợi ý cho nhãn hàng khi lặn ngụp trên môi trường Social Media

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:41 pm
Tags:

Rất đồng ý với bạn Ban rằng :

…cái gì cũng có khoảng lặng sau một thời gian được bơm vá. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó chết, forum, social network đã bước qua khoảng lặng đó và đang sống bằng chính giá trị thật của mình.

thế nhưng để xác định được giá trị thật của mỗi kênh truyền thông cũng là điều khó khăn. Hơn nữa, những gì có giá trị với cộng đồng chưa chắc lại có giá trị với các nhãn hàng. Advertising Age có một bài khá hay với tên “10 Essential Rules for Brands in Social Media“, dịch lướt qua để nhớ luôn vì thấy toàn Rule mà mình có lờ mờ nhận thấy nhưng chưa hẳn đã biết.

1.Quy luật 1% :

Quy luật này nói rằng số lượng users trung thành/có sức ảnh hưởng lớn nhất trong cộng đồng của bạn chỉ chiếm khoảng 0.6% và hiếm khi lớn hơn 4%. Tuy vậy, số lượng users này có thể tạo ra 20-50% lượng traffic và thậm chí là hơn số này nếu tính conversion rate. Lời khuyên ở đây là làm sao xác định và ủn mông (bằng cách tìm ra, hô hoán rằng tôi đã biết bạn yêu tôi rồi đấy và tìm cách vuốt ve bằng giải thưởng j/k) những người này.

Điều này làm mình nhớ tới mô hình Freemium với giới hạn trên web là 5%. Để engage tốt với cộng đồng thông qua Social Media thì suy cho cùng brand cũng cần phải thật lòng đưa cho cộng đồng giá trị thật và để đổi lại, 0.4-5% những người yêu quí bạn sẽ trả ơn bạn. Điều này là fair, 95% số người còn lại không mua hàng nhưng sẽ có ấn tượng tốt và nói tốt về bạn. Bạn còn cần gì hơn thế nữa?

2.Quy luật 2-4X :

Đây chính là câu trả lời cho 95% số người còn lại. Những người tới website của bạn do người khác giới thiệu sẽ có khả năng có các hành động (có lợi với bạn) tiếp theo gấp 2-4 lần nếu so với những người đến từ các nguồn khác (ví dụ banner, SEM…) Điều này cũng tương đương với việc khi bạn có gì hay, hãy làm cho nó dễ dàng có thể chia sẻ hơn!

3.Quy luật về New Media :

Cũng có lần đã băn khoăn về điều này : Brand in this sense – it lives outside the company, not in the company. Điều quan trọng đối với content của bạn/ với brand của bạn là khách hàng/độc giả nghĩ về nó như thế nào chứ không phải bạn nghĩ về nó như thế nào. Đương nhiên, nếu nó không hay, không giỏi, người ta cũng chả buồn nghĩ về nó luôn.

4.Quy luật mang tên Martha Stewart :

Martha Stewart là ai, xin đọc thêm Wikipedia để biết (quả thật khi dịch tới đây mình cũng chưa biết bà ý là ai). Trích một đoạn ngắn để biết về Martha :

In 2001, Stewart was named the third most powerful woman in America by Ladies Home Journal. In 2004, she was convicted of lying to investigators about a stock sale and served five months in prison. Stewart began a comeback campaign in 2005, with her company returning to profitability in 2006.

Quy luật này nói rằng đừng quá dựa dẫm vào Facebook, Fan Page hay bất cứ thứ gì khác nếu bạn có khả năng tự mình làm được (micro-site,forum…) Nói cách khác, hãy tự tổ chức tiệc ở nhà mình nếu có thể. Tất nhiên là nếu bạn tự tin có thể tự mình mời được khách mà không cần phải nhờ ai!

5.Sức mạnh của những liên kết lỏng lẻo

Đó là sức mạnh của những người không có kết nối trực tiếp với bạn mà kết nối với bạn thông qua một hoặc nhiều người bạn của bạn. Trong quyển Linked của mình, Barabasi cho rằng bạn có thể dễ dàng tìm thấy công việc mới của mình thông qua những người “bạn của bạn” hơn là những người bạn trực tiếp. Chưa được đọc cuốn Linked nhưng ý tưởng này có lẽ cũng giống với ý tưởng “Người kết nối” trong Tipping Point. Chả phải là trên Trái đất thì bất cứ hai người xa lạ không quen nhau nào cũng có thể tìm tới nhau chỉ qua nhiều nhất là 6 người bạn hay sao? Điều quan trọng đối với nhãn hàng là sử dụng các mối liên kết lỏng lẻo này để có thể tìm kiếm và tìm hiểu những khách hàng tiềm năng, những ý tưởng mới cho bản thân mình.

6.Quy luật lan truyền (dịch dở)

Kết hợp của quy luật số 2 và số 5, có content tốt chưa đủ, phải làm cho content đó dễ dàng chia sẻ mới đủ. Tôi có một bài hát hay nhưng lại không có file mp3 để chia sẻ mà mỗi lần khoe với mọi người, tôi phải tự hát với sự giúp sức của 10 nhạc công thì … có lẽ khó lòng tôi chia sẻ được với ai trừ khi tôi quá nổi tiếng. Cái bạn cần là những người bình thường nhất, low-tech nhất cũng có thể gửi cho bạn bè của họ content của bạn.

7.Quy luật về sự thay đổi liên tục

Hôm nay là direct marketing, mai là mass marketing, ngày kia là SEM và ngày kìa là Social Media Marketing, bạn có thể sẽ chóng mặt vì chạy theo mốt. Thế nhưng điều gì tồn tại được sẽ tồn tại được, mọi thứ đều có những quy luật cơ bản nhất định và bạn hãy cố gắng đừng thấy cái mới mà phủ nhận cái cũ trước khi bạn chưa đánh giá được rõ giá trị thật của cái mới.

8.Đừng nhìn cỗ xe đẹp mà quên con ngựa

Sự thành công trên môi trường Social Media sẽ được hỗ trợ rất lớn bởi sự thành công thực sự của nhãn hàng chứ không phải bởi các tip/trick mà bạn mới học được trên mạng. Nếu content của bạn không có giá trị, brand của bạn không có gì đáng nói hoặc rất đáng nói nhưng không nói được, không chia sẻ được hoặc bạn chỉ thích nói một chiều và bắt người khác phải nghe trên môi trường Social Media thì thật khó lòng để không bị biến thành black sheep trên môi trường này.

9.PR lẹm sang quảng cáo

Cá nhân mình cứ cãi nhau hoài với bạn bè về buzz và viral. Theo mình hiểu thì buzz là việc tạo ra cái gì đó để người ta chú ý và xem, nhưng viral là cái để người ta xem xong và thấy đáng để chia sẻ với người khác. Viral khó hơn buzz rất nhiều. Một bài PR tốt có thể sẽ dễ dàng được viral trong khi một bài PR đọc như quảng cáo nếu có đăng trên tất cả các báo, được seed trên tất cả các Fan Page cũng sẽ chỉ được độc giả ngó qua rồi … bỏ y như tờ leaflet phát ở ngoài ngã tư lúc đèn đỏ mà thôi.

10.Quy luật về khách hàng-dịch vụ

Tổng kết tất cả những điều trên, Social Marketing chỉ thành công khi nó cung cấp cho khách hàng cả một “gói dịch vụ” (bao gồm sản phẩm, sự tương tác, sự hỗ trợ…) chứ không phải chỉ là sản phẩm.

10 quy luật này là những quy luật chung chung và thực sự mỗi người đều có thể áp dụng nó theo cách của riêng mình. Cá nhân mình cho rằng “Thời gian là tiền” nhưng để làm Social Media tốt, bạn cần cả thời gian và tiền. Tất nhiên, tiền ở đây sẽ ít hơn tiền bỏ ra để phủ sóng các kênh truyền hình với giá cao ngất ngưởng, thế nhưng nếu bạn cần có một phép màu trong khoảng thời gian ngắn thì chưa chắc Social Media đã phải là lời gợi ý tốt. Nếu có thời gian, 10 lời gợi ý, 10 quy luật trên mình cho rằng khá tốt để suy nghĩ.

10 lời gợi ý cho nhãn hàng khi lặn ngụp trên môi trường Social Media

by ePi.Longo on March 25, 2010 · 0 comments

in others

Rất đồng ý với bạn Ban rằng :

…cái gì cũng có khoảng lặng sau một thời gian được bơm vá. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó chết, forum, social network đã bước qua khoảng lặng đó và đang sống bằng chính giá trị thật của mình.

thế nhưng để xác định được giá trị thật của mỗi kênh truyền thông cũng là điều khó khăn. Hơn nữa, những gì có giá trị với cộng đồng chưa chắc lại có giá trị với các nhãn hàng. Advertising Age có một bài khá hay với tên “10 Essential Rules for Brands in Social Media“, dịch lướt qua để nhớ luôn vì thấy toàn Rule mà mình có lờ mờ nhận thấy nhưng chưa hẳn đã biết.

1.Quy luật 1% :

Quy luật này nói rằng số lượng users trung thành/có sức ảnh hưởng lớn nhất trong cộng đồng của bạn chỉ chiếm khoảng 0.6% và hiếm khi lớn hơn 4%. Tuy vậy, số lượng users này có thể tạo ra 20-50% lượng traffic và thậm chí là hơn số này nếu tính conversion rate. Lời khuyên ở đây là làm sao xác định và ủn mông (bằng cách tìm ra, hô hoán rằng tôi đã biết bạn yêu tôi rồi đấy và tìm cách vuốt ve bằng giải thưởng j/k) những người này.

Điều này làm mình nhớ tới mô hình Freemium với giới hạn trên web là 5%. Để engage tốt với cộng đồng thông qua Social Media thì suy cho cùng brand cũng cần phải thật lòng đưa cho cộng đồng giá trị thật và để đổi lại, 0.4-5% những người yêu quí bạn sẽ trả ơn bạn. Điều này là fair, 95% số người còn lại không mua hàng nhưng sẽ có ấn tượng tốt và nói tốt về bạn. Bạn còn cần gì hơn thế nữa?

2.Quy luật 2-4X :

Đây chính là câu trả lời cho 95% số người còn lại. Những người tới website của bạn do người khác giới thiệu sẽ có khả năng có các hành động (có lợi với bạn) tiếp theo gấp 2-4 lần nếu so với những người đến từ các nguồn khác (ví dụ banner, SEM…) Điều này cũng tương đương với việc khi bạn có gì hay, hãy làm cho nó dễ dàng có thể chia sẻ hơn!

3.Quy luật về New Media :

Cũng có lần đã băn khoăn về điều này : Brand in this sense – it lives outside the company, not in the company. Điều quan trọng đối với content của bạn/ với brand của bạn là khách hàng/độc giả nghĩ về nó như thế nào chứ không phải bạn nghĩ về nó như thế nào. Đương nhiên, nếu nó không hay, không giỏi, người ta cũng chả buồn nghĩ về nó luôn.

4.Quy luật mang tên Martha Stewart :

Martha Stewart là ai, xin đọc thêm Wikipedia để biết (quả thật khi dịch tới đây mình cũng chưa biết bà ý là ai). Trích một đoạn ngắn để biết về Martha :

In 2001, Stewart was named the third most powerful woman in America by Ladies Home Journal. In 2004, she was convicted of lying to investigators about a stock sale and served five months in prison. Stewart began a comeback campaign in 2005, with her company returning to profitability in 2006.

Quy luật này nói rằng đừng quá dựa dẫm vào Facebook, Fan Page hay bất cứ thứ gì khác nếu bạn có khả năng tự mình làm được (micro-site,forum…) Nói cách khác, hãy tự tổ chức tiệc ở nhà mình nếu có thể. Tất nhiên là nếu bạn tự tin có thể tự mình mời được khách mà không cần phải nhờ ai!

5.Sức mạnh của những liên kết lỏng lẻo

Đó là sức mạnh của những người không có kết nối trực tiếp với bạn mà kết nối với bạn thông qua một hoặc nhiều người bạn của bạn. Trong quyển Linked của mình, Barabasi cho rằng bạn có thể dễ dàng tìm thấy công việc mới của mình thông qua những người “bạn của bạn” hơn là những người bạn trực tiếp. Chưa được đọc cuốn Linked nhưng ý tưởng này có lẽ cũng giống với ý tưởng “Người kết nối” trong Tipping Point. Chả phải là trên Trái đất thì bất cứ hai người xa lạ không quen nhau nào cũng có thể tìm tới nhau chỉ qua nhiều nhất là 6 người bạn hay sao? Điều quan trọng đối với nhãn hàng là sử dụng các mối liên kết lỏng lẻo này để có thể tìm kiếm và tìm hiểu những khách hàng tiềm năng, những ý tưởng mới cho bản thân mình.

6.Quy luật lan truyền (dịch dở)

Kết hợp của quy luật số 2 và số 5, có content tốt chưa đủ, phải làm cho content đó dễ dàng chia sẻ mới đủ. Tôi có một bài hát hay nhưng lại không có file mp3 để chia sẻ mà mỗi lần khoe với mọi người, tôi phải tự hát với sự giúp sức của 10 nhạc công thì … có lẽ khó lòng tôi chia sẻ được với ai trừ khi tôi quá nổi tiếng. Cái bạn cần là những người bình thường nhất, low-tech nhất cũng có thể gửi cho bạn bè của họ content của bạn.

7.Quy luật về sự thay đổi liên tục

Hôm nay là direct marketing, mai là mass marketing, ngày kia là SEM và ngày kìa là Social Media Marketing, bạn có thể sẽ chóng mặt vì chạy theo mốt. Thế nhưng điều gì tồn tại được sẽ tồn tại được, mọi thứ đều có những quy luật cơ bản nhất định và bạn hãy cố gắng đừng thấy cái mới mà phủ nhận cái cũ trước khi bạn chưa đánh giá được rõ giá trị thật của cái mới.

8.Đừng nhìn cỗ xe đẹp mà quên con ngựa

Sự thành công trên môi trường Social Media sẽ được hỗ trợ rất lớn bởi sự thành công thực sự của nhãn hàng chứ không phải bởi các tip/trick mà bạn mới học được trên mạng. Nếu content của bạn không có giá trị, brand của bạn không có gì đáng nói hoặc rất đáng nói nhưng không nói được, không chia sẻ được hoặc bạn chỉ thích nói một chiều và bắt người khác phải nghe trên môi trường Social Media thì thật khó lòng để không bị biến thành black sheep trên môi trường này.

9.PR lẹm sang quảng cáo

Cá nhân mình cứ cãi nhau hoài với bạn bè về buzz và viral. Theo mình hiểu thì buzz là việc tạo ra cái gì đó để người ta chú ý và xem, nhưng viral là cái để người ta xem xong và thấy đáng để chia sẻ với người khác. Viral khó hơn buzz rất nhiều. Một bài PR tốt có thể sẽ dễ dàng được viral trong khi một bài PR đọc như quảng cáo nếu có đăng trên tất cả các báo, được seed trên tất cả các Fan Page cũng sẽ chỉ được độc giả ngó qua rồi … bỏ y như tờ leaflet phát ở ngoài ngã tư lúc đèn đỏ mà thôi.

10.Quy luật về khách hàng-dịch vụ

Tổng kết tất cả những điều trên, Social Marketing chỉ thành công khi nó cung cấp cho khách hàng cả một “gói dịch vụ” (bao gồm sản phẩm, sự tương tác, sự hỗ trợ…) chứ không phải chỉ là sản phẩm.

10 quy luật này là những quy luật chung chung và thực sự mỗi người đều có thể áp dụng nó theo cách của riêng mình. Cá nhân mình cho rằng “Thời gian là tiền” nhưng để làm Social Media tốt, bạn cần cả thời gian và tiền. Tất nhiên, tiền ở đây sẽ ít hơn tiền bỏ ra để phủ sóng các kênh truyền hình với giá cao ngất ngưởng, thế nhưng nếu bạn cần có một phép màu trong khoảng thời gian ngắn thì chưa chắc Social Media đã phải là lời gợi ý tốt. Nếu có thời gian, 10 lời gợi ý, 10 quy luật trên mình cho rằng khá tốt để suy nghĩ.

Sự thật khi lái xe cố tình cán chết người

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:37 pm
Tags: ,

Sự thật là cánh tài xế vẫn bảo nhau rằng: “Thà nó chết hẳn còn hơn bị thương. Mất mấy chục triệu một lúc còn hơn phải nuôi nó cả đời ! Đi tù cùng lắm chỉ vài năm, có ai “đóng hộp” hết án đâu. Nó sống thì mình chết !”. “Nó” ở đây chính là nạn nhân của bánh xe.
> Bức xúc hành động cán chết người của tên lái xe tải

Sự thật là việc cố tình cán chết nạn nhân quá kinh khủng, đây là tâm lý có sẵn của không ít lái xe chứ không phải là “một phút bồng bột”. Cho dù tại nguyên do nào thì hành động ác nhân này cũng không chấp nhận được. Rõ ràng là giết người có chủ ý, bằng hành vi côn đồ, dã man chẳng khác nào dùng các vũ khí khác. Hơn nữa là nạn nhân lúc này đang bị kẹt trong đau đớn, không có khả năng kháng cự. Trước đó họ không thù không oán với nhau, hoàn toàn có thể cứu mạng nhau trong những tình huống khác. Vậy mà…

Sự thật là những vụ việc kiểu này đã có từ rất lâu, như một ung nhọt nhức nhối chưa giải quyết được. Phải chăng cánh lái xe không hiểu hết pháp luật đã được cấp bằng cho chạy rầm rập ngoài đường ? Phải chăng pháp luật có điều gì thiếu sót hay do việc phổ biến chưa đến nơi đến chốn? Để cho người lái xe luôn nơm nớp lo sợ cảnh nuôi hết đời người bị nạn, sợ cái nỗi khổ khi “cán mà người ta không chết”, sợ bị ăn vạ đến sạt nghiệp. Và bao nhiêu cảnh thương tâm đã xảy ra. Tôi run cả tay khi gõ những dòng chữ này, nhưng đó là sự thật.

Sự thật là có những nạn nhân bị thương đã hành cho gia đình tài xế “sống chẳng bằng chết”. Kiếm được bao nhiêu tiền phải nuôi người ta bằng hết. Nào thuốc men, nào viện phí, nào bồi dưỡng sức khỏe… đằng đẵng hàng chục năm trời. Tài xế ấy có khá khẩm gì đâu, cha mẹ già yếu, vợ con nheo nhóc, trông cậy cả vào đồng lương lái xe. Vậy mà gia đình nạn nhân dùng đủ mọi biện pháp từ “đỏ” đến “đen” để hạch tiền. Nhiều khoản họ cố tình vẽ ra và đổ lỗi cho vụ tai nạn để bắt chi tiền. Cái nước ấy, anh tài xế nghĩ, thà “nó” chết mình chỉ đền “một phát” là xong, còn rẻ chán, sướng chán!

Pháp luật đã quy định từ lâu về việc “ai sai người ấy chịu”. Vậy kẽ hở nào khiến cho lái xe nói rằng “người chết không mệt bằng bị thương”? Kẽ hở nào khiến cho người bị thương trở thành một gánh nặng sợ hãi của lái xe? Có lần tôi còn thấy một bà bán phở vỉa hè nói với tài xế chiếc xe máy suýt đâm vào hàng bà rằng: “May cho mày đấy, cái nồi nước sôi này mà đổ vào tao thì mày phải nuôi tao, nuôi cả nhà tao hết đời là cái chắc!”. Bà ấy không đùa tí nào. Tất nhiên gây ra thì phải đền thích đáng, nhưng vấn đề rõ ràng là người chết “nhẹ gánh” hơn nhiều so với người bị thương. Đây là nguyên nhân mà lái xe coi rẻ sinh mạng con người. Nếu “cứu người là cứu mình” hay “giết người là giết mình” và “thương tích đền bù thỏa đáng có giới hạn và thời hạn nhất định” thì tài xế có nhẫn tâm như thế không?

Sự thật là những năm tù của tài xế, dù 8 năm, 15 năm, 20 năm hay nhiều hơn thế cũng chẳng trả hết cái nợ này. Quy luật Nghiệp – Quả sẽ theo tài xế sang tận đời con, đời cháu, thậm chí cả kiếp sau. Cuộc đời tài xế cũng coi như khép lại sau 8 năm “đóng hộp”. Chưa kể việc day dứt lương tâm về tội lỗi đã gây ra thì sau này ra tù cũng khó kiếm được một công việc làm ăn tử tế. Vạ lây sang cha mẹ, anh em, vợ con phải sống trong sự khinh rẻ, xa lánh của xã hội. Cái Quả phải trả tuy đến sau nhưng bao giờ cũng lớn hơn cái Nghiệp gây ra trước đó. Đã có không ít anh Tài sau đó phải thốt lên rằng: “Trời ơi, chỉ vì lo sợ trách nhiệm với một người tàn tật mà ra nông nỗi này, giá như mình chết đi còn hơn !”.

Tôi quen một cựu lái xe như vậy, gần hai chục năm nay bác ấy chưa có một giấc ngủ ngon. Mặc dù cũng đi tù, cũng đền tiền nhưng không thể lấy lại cuộc sống như trước. Hình ảnh người phụ nữ chết quằn quại đau đớn trong gầm xe không làm bác ấy ám ảnh bằng khuôn mặt gia đình cô ấy, trong phiên tòa đầy tiếng gào khóc của người mẹ, người chồng và đứa trẻ ba tháng đang khát sữa. Con cái bác cựu lái này hiện nay rất nghèo hèn và gặp toàn rủi ro trong cuộc sống. Bà vợ liệt gần chục năm chỉ nằm một chỗ. Anh con cả, trong một lần đi làm ca đêm trên đường cao tốc đã bị một chiếc xe tải cán phải rồi bỏ chạy. Bây giờ cứ thấy anh lăn xe đi xin ở các chợ hay đền chùa trong vùng người ta lại bảo: “thằng cha ăn mặn, thằng con khát nước đấy mà !”. Nhiều lần bác muốn tự tử nhưng lại không dám vì còn gánh nặng trĩu vai, bác vẫn phải lo kinh tế trong nhà bằng đồng tiền nhặt nhạnh phế liệu và gánh nước thuê.

Sự thật là mỗi khi xảy ra tai nạn giao thông thì cả tài xế và nạn nhân cùng lâm vào tình cảnh bi đát. Cả hai con người, hai gia đình cùng bất hạnh. Và bất hạnh này chỉ có thể thay đổi khi tất cả cùng vì đức hiếu sinh, vì lòng nhân nghĩa, đạo đức để đừng làm khổ lẫn nhau và làm khổ chính mình. Và dù là bất cứ điều gì, việc cố tình lùi xe để giết người là quá côn đồ, dã man, mất hết nhân tính. Xót xa cho người chết oan ức – một sinh mạng vô tội. Và cũng đau lòng cho lái xe – một cuộc đời khổ ải.

Sự thật là không còn đau đớn nào hơn nhìn người thân của mình bị giết chết một cách tức tưởi, oan nghiệt không đáng có. Tôi không dám nghĩ đến hình ảnh cha mẹ em Hoa sau cái chết của con gái. Họ sẽ sống ra sao những năm tháng còn lại của đời người ? Nỗi đắng cay, xót xa, uất hận của họ biết lấy cái gì bù đắp nổi, nguôi ngoai nổi ? Tiền bạc ư ? Những năm đi tù hay cả mạng sống của lái xe ? Khốn khổ là đều không thể được ! Tài xế không chỉ giết chết một sinh mạng mà còn gieo nhân đau thương cho những thân nhân người ta, đâu kém gì cái chết. Xin chân thành chia sẻ mất mát đau thương với gia đình em Hoa, cầu cho linh hồn em được siêu thoát.

Không biết đến bao giờ thì lái xe hết mình cứu mạng sống nạn nhân? Bao giờ thì nạn nhân không lợi dụng thương tích để bắt vạ lái xe? Bao giờ những sự thật trên biến mất khỏi cuộc sống này? Câu trả lời trông cậy trước hết vào những người soạn thảo và phổ biến luật pháp, sau đó là những đơn vị cấp bằng lái xe, tiếp theo mới đến những vấn đề khác.

Thị xã bị đầu độc- Bạc mặt vì có… vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:28 am
Tags: ,

Tại xã Canh Tân, Cao Bằng, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức.

>> Chuyện khó tin bên “dòng sông chết”
>> “Vàng tặc” thách thức cơ quan…

Chúng tôi đi một chiếc xe BKS màu trắng, dán kính đen (tức là không phải xe “biển xanh”, “biển đỏ” mà cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang chống “vàng tặc” tỉnh Cao Bằng thường dùng), chạy rất thong dong để tránh sự theo dõi của các “chim cú” (lực lượng canh gác của “giặc vàng”).

Thế nhưng, suốt mấy chục cây số từ rìa thị xã Cao Bằng, xe chúng tôi vẫn không tài nào cắt đuôi được người đàn ông trung tuổi, đeo khẩu trang, đi xe Dream bám đuổi nhằng nhẵng. Chúng tôi dừng, người đàn ông cũng dừng, cứ nhìn trân trối, đầy thách thức, hỏi gì cũng không biết và không biết. Thấy các vị khách lạ vác camera, cầm máy ảnh, lập tức tiếng hú vang lên, họ nói bằng tiếng địa phương, các máy làm vàng tắt phụp, cánh “vàng tặc” lũ lượt bỏ đi trong các sườn đồi và các tràn ruộng rậm rịt.

“Không thể bắt được vàng tặc” – chỉ là lời nói dối?

Tại xã Canh Tân, sông suối bị bới lanh tanh bành, dòng chảy chính biến mất, các ụ đất chất cao như núi. Tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, hệ thống sàng tuyển đãi vàng hoạt động náo nức. Một người dân khẳng khái: Tôi cũng là dân làm vàng ở… bãi trên, máy này là của anh D, là đảng viên, công an viên của xã đấy.

Mới đây, ngày 30.12.2009, UBND tỉnh Cao Bằng còn có chỉ thị nêu rõ thực trạng ở chính 3 cái xã miền tây này, “phương tiện cơ giới tham gia (đào vàng trái phép) với quy mô lớn, thời gian kéo dài”, “gây thất thoát, lãng phí tài nguyên, ảnh hưởng xấu tới môi trường, an toàn lao động và an ninh khu vực”.

Chỉ thị phân tích cụ thể: Để xảy ra tình trạng nêu trên là do “một số địa phương (cấp xã) còn có hiện tượng một số cán bộ bao che hoặc trực tiếp tham gia khai thác khoáng sản trái phép”; cần phải “kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm” của các cá nhân, đơn vị này. Sau khi 12 vị cán bộ bị xử lý, sẽ tiếp tục đến lượt ai nữa đây?

Chúng tôi đi đến đâu, tiếng máy làm vàng tắt đến đó, nhưng trong những thung lũng rộng dưới sông, suối thượng lưu sông Hiến, vì đường “tụt dốc” xuống các máy múc, máy sàng tuyển quá xa, nên “vàng tặc” nghiễm nhiên nhìn đoàn cán bộ… xem họ làm việc.

Khi thấy có dấu hiệu bị đột nhập hiện trường, họ mới thực sự bỏ chạy. Ở điểm vàng Phiêng Đẩy, xã Quang Trọng, doanh nghiệp Bảo Phát với hơn 200 công nhân, đào bới trên diện tích 8ha, cũng thật sự biến thượng nguồn sông Hiến thành một túi bùn đất nhào ngấu như ruộng cấy!

Đêm, điện sáng như sao sa, ngày nườm nượp “công nhân” và người dân tự do “khoét núi, ngủ hầm”, bốn bề chỉ thấy núi tan hoang, sông biến thành ụ đất bùn, nước đặc quánh như chảo bột màu vàng ai vừa quấy. Bể lắng lọc của công ty, đắp bằng bùn, mưa nhỏ đã vỡ tan hoang, bao bẩn thỉu, độc hại tràn trực tiếp ra sông, suối.

Đúng như ông Bí thư Nguyễn Đặng và ông Chi cục trưởng Bùi Đào Diện đã nói, việc đuổi – chạy, chạy – đuổi giữa cán bộ và “vàng tặc” nơi này nó đã bị “nhờn thuốc” rồi. Hai mươi bảy Tết âm lịch, đoàn cán bộ cực kỳ quy mô của tỉnh Cao Bằng “xông pha” đi xử lý nạn khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây huyện Thạch An.

Công văn giấy tờ rất công phu, báo cáo xuống, trình báo lên khá tốn giấy mực, lúc lên đường thì… đến đâu cũng thấy lơ thơ vài cái máy hỏng. Và bản báo cáo ra đời (Phó Giám đốc Công an tỉnh Cao Bằng đã ký ngày 11.2.1010): “Hiện tại trên địa bàn 3 xã không có đối tượng nào tiến hành khai thác vàng trái phép. Trong quá trình kiểm tra không phát hiện loại máy móc nào đang hoạt động”.

Một cán bộ tỉnh che miệng cười, 27 tết mới ra quân, các đồng chí ấy đi chúc tết… người đào vàng cho vui ấy mà. Và, nếu nói là không tài nào bắt được mấy gã đào vàng trái phép, với máy xúc, máy ủi nặng vài tấn, đi chậm hơn con rùa ở ngoài sông suối, thì hơi bị… khó tin. Thì, chúng ta sẽ không thể hiểu được rằng, với sự “thần thông quảng đại” tới mức nào mà cảnh sát môi trường có thể tóm được các nguồn xả thải, các đường ống ngầm bí mật, tinh vi của Công ty Vedan khi “bọn chúng” đầu độc sông Thị Vải!

Ngang nhiên đào đãi vàng.  Ảnh: Đ.D.H

Cũng may, có những cuộc điều tra tìm ra được một phần của bản chất câu chuyện “vàng tặc”. Đoàn kiểm tra của huyện Thạch An chỉ kiểm tra trong các ngày từ 7 đến 15.1.2010 đã phát hiện rất nhiều máy móc khổng lồ đang “ăn thịt” sông Hiến và các con suối đầu nguồn của nó.

Cụ thể, bắt quả tang 16 công  nhân, 4 máy xúc, 2 giàn tuyển, 4 máy nổ đang khai thác vàng trên suối Nà Giàn (xã Quang Trọng); tại suối Nà Pạc, đoàn cũng đẩy đuổi ông Hoàng Xuân Hoà (người tỉnh Bắc Cạn) cùng 5 công nhân, với đủ bộ máy xúc, máy tuyển, máy nổ, máy bơm kềnh càng về “phía tỉnh bạn”; dọc suối Nậm Cung, tổ công tác cũng xử lý ông Hạ Văn Giới (người Ngân Sơn, Bắc Cạn) cùng 10 lao động và hệ thống máy móc đắt tiền đang “mổ bụng” con suối thượng nguồn…

Đấy là chưa kể rất nhiều hộ gia đình, với máy móc lớn, đắt tiền, đều là người Thạch An cũng bị xử lý, yêu cầu khênh máy móc về nhà, ký cam kết không tái phạm. Dọc Nậm Cung, đoàn còn phát hiện có ít nhất 7 tổ khai thác vàng rầm rộ, trải dài từ huyện Thạch An của Cao Bằng sang huyện Ngân Sơn của tỉnh Bắc Cạn.

Điều đó lý giải vì sao ngay cả khi “chiến dịch” ra quân, các máy vàng trái phép ở Thạch An ngừng hoạt động toàn bộ thì nước sông Hiến và các dòng suối vẫn đục ngầu, sền sệt. Huyện Thạch An đã đề nghị lực lượng công an của mình, tổ chức hội nghị giáp ranh với công an Ngân Sơn, tỉnh Cao Bằng cũng đã có kế hoạch tổ chức đoàn đại biểu sang làm việc với tỉnh Bắc Cạn, ngõ hầu chung tay cứu lấy dòng sông Hiến thơ mộng, nơi cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho thị xã Cao Bằng và nhiều huyện lỵ khác.

Đào vàng trong “bể nước ăn” của thị xã!

Những phân tích trên cho thấy: Cơ quan chức năng tỏ ra bất lực, không hiệu quả trong việc dẹp nạn khai thác vàng trái phép (ít nhất là) ở Thạch An. Có những nguyên nhân vô cùng khó hiểu cho tình trạng này.

Bởi máy đào vàng to và đi chậm hơn xe lu, tiếng nổ của nó thì ở cách vài cây số đã nghe tiếng, nước đục nó phun ra, thì nó chảy thẳng về trước ngay trước cổng tỉnh uỷ, Uỷ ban rồi đi vào nhà máy nước “ăn” của bà con ta, dòng đục dòng trong thế nào, ai chả biết.

Không biết tỉnh Cao Bằng đã quản lý nghiêm với các doanh nghiệp được cấp phép đào vàng chưa, khi mà các đoàn kiểm tra gần đây liên tục phát hiện ra những chuyện tày trời, như: Chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt đã “làm vàng”, làm rồi xả thẳng nước ra sông suối, đập ao làm chiếu lệ sơ sài.

Bản báo cáo đề ngày 14.1.2010 của UBND tỉnh Cao Bằng viết rõ: Khu vực 3 xã kể trên có 3 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động khoáng sản, trong đó doanh nghiệp Bảo Phát đang khai thác điểm vàng Phiêng Đẩy: “Tại thời điểm kiểm tra, có 220 công nhân lao động, đơn vị biên chế thành 10 tổ khai thác bằng hình thức hầm lò là chủ yếu, với 10 đường lò đang hoạt động; (…). Hệ thống xử lý nước thải của đơn vị hầu như không có tác dụng, vì các đập chắn chưa hình thành, nước thải hầu như chảy trực tiếp ra suối (…)”.

Mới đây, Chủ tịch UBND huyện Thạch An, ông Nguyễn Văn Dừa đã ký văn bản yêu cầu cấp trên kiểm tra hoạt động (gây ô nhiễm môi trường) của các doanh nghiệp trên 2 xã Minh Khai và Quang Trọng; đề nghị Công ty Đại Bảo, trước đây đã được cấp phép thăm dò khai thác vàng (nay đã hết hạn) mang máy móc ra khỏi hiện trường, bởi quá trình “thăm dò” của họ đã làm ô nhiễm môi trường rất nặng nề.

Đừng đổi sức khoẻ của dân lấy “vàng”

Một so sánh nhỏ: Tỉnh Gia Lai có một thắng cảnh tuyệt mỹ, “đôi mắt Pleiku Biển Hồ đầy”. Vì Biển Hồ là nguồn nước ăn của thành phố, nên địa phương chấp nhận hy sinh nguồn lợi, cấm tuyệt đối cả hoạt động tắm hồ, khai thác du lịch ảnh hưởng đến sự trong lành của nước hồ. Trong khi đó, Cao Bằng lại cấp phép cho doanh nghiệp đào bới, chấp nhận tạm thời “bó tay” trước nạn đào vàng trên hàng chục cây số dọc thượng du sông Hiến – nguồn nước sinh hoạt của mình.

Tôi không tin và không một ai có thể tin được, rằng lực lượng tinh nhuệ của liên ngành tỉnh Cao Bằng không thể tóm cổ được các cỗ máy đào vàng ù lỳ to như xe tăng dưới bùn nhão của sông suối, hang hốc kia! Có lẽ, vấn đề chỉ còn là: Người ta có thật sự muốn cứu dòng sông ngắc ngoải của mình không, có muốn cứu hàng vạn người đang bị đầu độc nguồn nước sinh hoạt kia không?

UBND huyện Thạch An cũng vừa có báo cáo chính thức lên UBND tỉnh Cao Bằng: “Đề nghị đình chỉ ngay lập tức mọi hoạt động khai thác vàng trái phép ở 3 xã miền tây Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng”.

Điều mà các cán bộ nhà máy cung cấp nước cho thị xã Cao Bằng và tất cả chúng tôi băn khoăn nhất: Liệu có đúng là hàng vạn cư dân của Cao Bằng đang bị “đầu độc” không chỉ bằng bùn nhão, nước đục ngầu, mà còn có cả thuỷ ngân và xianua không?

Giám đốc nhà máy ông Đặng Nhật Quân – đã có công văn gửi UBND tỉnh Cao Bằng, với nội dung: “Đề nghị (tỉnh) không cấp phép khai thác vàng trên toàn bộ lưu vực phía trên các nhà máy nước (kể cả sông Bằng, sông Hiến) vì các đơn vị khai thác có thể sử dụng thuỷ ngân và xianua là hoá chất cực độc để xử lý vàng mà chúng ta không thể kiểm soát được. Lợi ích do khai thác vàng đem lại khó có thể bù lại nguy cơ thiệt hại về sức khoẻ cho nhân dân, nhất là khu vực đông dân như thị xã Cao Bằng”.

PV Lao Động đã tham khảo ý kiến nhiều chuyên gia, gồm các tiến sĩ vật lý, hoá học, các vị từng là lãnh đạo cấp cao của Bộ Tài nguyên – Môi trường, thì nguy cơ nhiễm độc thuỷ ngân và xianua trên sông Hiến do đào đãi vàng là không có gì khó hiểu, lời “tố cáo” của bà con xung quanh việc doanh nghiệp đào vàng xả thẳng nước thải ra sông, suối với cả thuỷ ngân và xianua là có cơ sở. Bởi, trên nguyên tắc, thật khó  có “ông” nào tìm được vàng mà không cần đến hai thứ độc tố “giết người” đó.

Nếu đúng như thế thì có lẽ thị xã Cao Bằng đang bị “đầu độc tập thể” không chỉ bằng bùn đất ô tạp? Vâng, xin trả lại bài toán kỳ quặc này về cho người Cao Bằng.

CTCK “khát” tiền mặt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:18 am
Tags: , ,
Việc cho phép khách hàng lớn dùng tỷ lệ đòn bẩy cao là chiêu mà nhiều CTCK đang sử dụng để lôi kéo khách hàng VIP của đối thủ.

Kết thúc năm 2009, phần lớn CTCK đều kinh doanh có lãi nhưng không trả cổ tức bằng tiền mặt, nếu có thì khá khiêm tốn so với con số lợi nhuận đạt được. Tại sao các CTCK ưa thích trả cổ tức bằng cổ phần?

Giải thích điều này có những lý do thuộc về quá khứ hay hoạt động nghiệp vụ hiện tại. Đáng chú ý khối CTCK đạt lợi nhuận cao, nhưng không đồng nghĩa với việc gia tăng tiền mặt…

Tiền mặt để cung cấp đòn bẩy tài chính

Nửa cuối năm 2009, đòn bẩy tài chính là câu chuyện nóng trên TTCK và hiện tại đang được “sưởi ấm” lại. Thực tế trong dịch vụ này, cả NĐT lẫn CTCK đều hưởng lợi. Với NĐT, đòn bẩy là cách nhanh nhất khuếch đại lợi nhuận khi TTCK đi lên. Với CTCK, dịch vụ hỗ trợ tài chính cho NĐT tạo ra lợi nhuận khi lãi suất cho vay khá cao, gần 20%/năm.

Mặt khác, với hoạt động tài trợ vốn cho NĐT, CTCK có thể nhanh chóng cải thiện thứ hạng thị phần môi giới. Việc cho phép khách hàng lớn dùng tỷ lệ đòn bẩy cao là chiêu mà nhiều CTCK đang sử dụng để lôi kéo khách hàng VIP của đối thủ. Để thực hiện việc này, tiền là yếu tố quyết định.

Theo đại diện một số NHTM, “room” cho vay chứng khoán vẫn còn, nhưng các ngân hàng xác định đây là loại hình tín dụng có rủi ro hơn so với các loại hình tín dụng khác.

Mặt khác, lãi suất cho vay chứng khoán bị áp dụng mức trần (quy định tại Công văn số 8883/NHNN-CSTT) và luôn bị hẻm soát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước, nên hiện tại, các ngân hàng không mấy mặn mà. Điều này khiến các CTCK không có ngân hàng mẹ đứng “chống lưng” đang “khát” tiền mặt.

Với họ, hoạt động hỗ trợ tài chính cho NĐT chỉ gói gọn trong phạm vi lượng tiền mặt tự có. Điều này khiến không ít khách hàng VIP “dứt áo ra đi”. Bức tranh thị phần môi giới quý I hứa hẹn có sự thay đổi lớn .

Thời gian qua, khối CTCK gần như đi tiên phong trong việc tăng vốn điều lệ dưới nhiều hình thức: chia thưởng cổ phiếu từ nguồn thặng dư, phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, trả cổ tức bằng cổ phiếu.

Chẳng hạn, CTCK SSI sắp hoàn tất quá trình tăng vốn điều lệ lên 3.500 tỷ đồng, CTCK Bảo Việt dự kiến tăng vốn lên 1.500 tỷ đồng, CTCK VN Direct có kế hoạch tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng, CTCK phố Wall công bố kế hoạch tăng vốn lên 1.000 tỷ đồng, CTCK TP. HCM đang xem xét kế hoạch phát hành thêm…

Manh nha từ nửa cuối năm 2009, nhưng sang năm 2010 tại sao tăng vốn điều lệ lại trở thành một trào lưu lớn với các CTCK? Câu trả lời nằm ở quy mô vốn của CTCK có liên quan chặt chẽ tới các hoạt động ngân quỹ trong tương lai gần. Theo quy định hiện hành, khi tài trợ vốn cho NĐT, tổng số nợ của CTCK chỉ được phép nằm dưới mức 5 lần vốn chủ sở hữu.

Trả cổ tức bằng cổ phần, thưởng cổ phiếu giúp CTCK giữ lại được tiền mặt hiện có, nhưng gia tăng quy mô vốn, đón đầu sự bùng nổ dịch vụ cung cấp đòn bẩy tài chính khi được chính thức “luật hóa”.

Lãi chưa đủ bù lỗ

ĐHCĐ CTCK Rồng Việt (VDSC) nhóm họp đầu tháng 3 đã thông qua việc phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 6%. Với các cổ đông, phần thưởng này coi như cổ tức năm 2009.

Sở dĩ VDSC không thể làm chính danh, bởi năm 2009, dù Công ty lãi 67 tỷ đồng, nhưng trên bảng cân đối kế toán, phần lãi chưa phân phối vẫn âm 18 tỷ đồng, do năm 2008 Công ty lỗ 85 tỷ đồng.

Theo Điều 93 Luật Doanh nghiệp, VDSC chưa được phép trả cổ tức bằng tiền. Nếu không nhận được cổ tức, có lẽ cổ đông của VDSC phải chờ thêm 1 năm nữa, hy vọng TTCK năm 2010 vẫn thuận lợi Công ty kinh doanh có lãi.

Tuy nhiên, điều này hơi “khó nói”, vì đa số lợi nhuận của các CTCK hiện nay vẫn phụ thuộc vào hoạt động tự doanh. Mà hoạt động tự doanh lại phụ thuộc vào diễn biến của TTCK.

Hiện tại, VDSC có chút thặng dư, đem chia cho các cổ đông dưới hình thức cổ phiếu thưởng là một ý tưởng. Nhờ đó, các cổ đông “trung thành” có thể lấy khoản 6% được chia đó để bán đi, chuyển hóa thành tiền mặt.

Lợi nhuận và yếu tố … “không thực”

Không chỉ các CTCK lỗ không có tiền mặt trả cổ tức, mà các CTCK có lợi nhuận lớn cũng không dư dả tiền mặt để trả cổ tức cho cổ đông.

Thời gian qua, trên thị trường xuất hiện khá nhiều thông tin về việc các NĐT tổ chức trong nước đăng ký vừa mua vừa bán một loại cổ phiếu trong một thời gian nhất định.

Chẳng hạn, CTCK X đang nắm giữ một triệu cổ phiếu A, đăng ký vừa mua vừa bán 200.000 cổ phiếu A đó. Bề nổi của sự kiện này là hoạt động “lướt sóng”.

Bình thường, CTCK sẽ bán cổ phiếu với giá cao và mua lại với giá thấp, chênh lệch của việc mua bán tạo ra thu nhập – khoản lợi nhuận giống như các NĐT cá nhân.

Tuy nhiên, thực tế khác xa với logic thông thường, cốt lõi vấn đề nằm ở các quy định và chuẩn mực kế toán Việt Nam. Với các khoản đầu tư tài chính, khi giá thị trường cao hơn giá vốn, pháp luật chỉ cho phép ghi nhận lợi nhuận sau khi đã hiện thực hóa (giá bán cao hơn giá vốn ban đầu).

Giả sử, 1 triệu cổ phiếu A mà CTCK X đang sở hữu có giá vốn ban đầu bằng mệnh giá (l0.000 đồng/cp), 200.000 cổ phiếu A được bán với giá trung bình 25.000 đồng/cp. Chênh lệch giá bán và giá vốn là 15.000 đồng.

Công ty được phép ghi nhận lợi nhuận 200.000 cổ phiếu x 15.000 đồng = 3 tỷ đồng. Sau đó bởi là “chuyên gia lướt sóng” nên Công ty mua lại với giá rẻ hơn, giả định trung bình là 21.000 đồng/cp.

Kết thúc thương vụ, danh mục của CTCK X vẫn có 1 triệu cổ phiếu A, trong đó 200.000 cổ phiếu mới được ghi nhận với giá vốn 21.000 đồng/cp, 800.000 cổ phiếu ban đầu được ghi nhận giá vốn bằng mệnh giá.

“Lãi thực” đi kèm với khoản tiền mặt xuất hiện thêm là 4.000 đồng x 200.000 cổ phiếu = 800 triệu đồng, tuy nhiên các bút toán lại ghi nhận khoản lãi 3 tỷ đồng! Rõ ràng, CTCK có lợi nhuận, nhưng không kèm với khoản tiền mặt tương ứng.

Thủ thuật này cũng có thể được áp dụng với các loại cổ phiếu ít khi có giao dịch thực tế trên thị trường OTC. Chẳng hạn, CTCK X (hoặc một DN bất kỳ nào) có thể chủ động bán cổ phiếu A cho đối tác Y với giá bán cao hơn giá vốn; bên Y chuyển nhượng hình thức cho đối tác Z với giá bán bằng giá vừa mua; sau đó, Công ty Z chuyển nhượng cho CTCK X với giá vốn như giá mà CTCK X đã bán cho công ty Y. Kết quả, số lượng cổ phiếu A giữ nguyên, nhưng CTCK X ghi nhận lợi nhuận, cổ phiếu ghi giá vốn mới!

Việc “sang tay ba bên” là một cách tạo ra “lợi nhuận sổ sách” cho CTCK. Về dài hạn, cách làm này không mang lại lợi ích gì cho DN, nhưng trong ngắn hạn, để phục vụ những mục đích nhất định, DN vẫn sử dụng thủ thuật này để làm đẹp báo cáo tài chính.

Khi quốc gia vỡ nợ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:15 am
Tags:
“Hãy bán những hòn đảo đi mà trả nợ!”, báo chí Đức đã giật tít như vậy hồi đầu tháng này, khi Hy Lạp, quốc gia với nhiều hòn đảo xinh đẹp đối mặt với tình trạng vỡ nợ, phải cầu cứu sự trợ giúp của các quốc gia khác trong Liên minh châu Âu.

Quốc gia phá sản, chính phủ bán tống bán tháo đất đai, nhân dân tay bị tay gậy đi ăn mày… viễn cảnh thật hài hước và đáng sợ. Trên thực tế, về mặt kỹ thuật một quốc gia không hoàn toàn “phá sản” nhưng chuyện mất khả năng chi trả dẫn đến sự xuống dốc, trì trệ lâu dài đối với nền kinh tế cũng như những thay đổi lớn về chính trị là chuyện không hiếm. Nhiều nước đang phát triển đã nếm trải tình trạng này như các nước Mỹ Latinh (Mexico, Argentina, Chile…) trong thập niên 80, Ukraine trong giai đoạn cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, và gần đây nhất là những nước phát triển hơn như Băng Đảo (Iceland), Hy Lạp. Tình trạng thâm hụt ngân sách quốc gia và nợ nước ngoài chồng chất của rất nhiều quốc gia, trong đó có cả những nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật… đang trở thành một mối lo ngại toàn cầu. Thế giới bắt đầu nhìn vào những món nợ quốc gia khổng lồ và tính toán khả năng vỡ nợ quốc gia. Những nhà đầu cơ đầy toan tính bắt đầu đánh cuộc vào những loại chứng khoán mà họ tính toán sẽ tăng giá trị nếu đồng tiền của một số quốc gia mất giá.

Chuyện xảy ra khi quốc gia vỡ nợ

Cũng như cá nhân, các chính phủ cũng vay nợ: từ các khoản vay song phương và đa phương thông qua các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đến các khoản vay từ các nhà đầu tư tư nhân thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu. Tuỳ trường hợp cụ thể từng nước mà tỷ lệ nợ so với tổng sản phẩm quốc nội có thể đặt quốc gia đó ở mức báo động. Nợ quốc gia của Băng Đảo ở mức 45% GDP, nhưng tổng giá trị tài sản của hệ thống ngân hàng trong nước bằng 800% GDP. Khi tài sản của hệ thống ngân hàng nước này xuống giá hồi 2008, nhà nước phải can thiệp để cứu hệ thống ngân hàng, và dẫn đến tình trạng vỡ nợ. Một loạt quốc gia phát triển khác có tỷ lệ tài sản của hệ thống ngân hàng và nợ chính phủ cao so với GDP, dễ bị rơi vào tình trạng tương tự là Ireland, Thuỵ Sĩ, Anh, Bỉ, Nhật… Tỷ lệ nợ nước ngoài của Mỹ hiện nay là 84% của GDP. Carmen Reinhart, một nhà kinh tế Mỹ thuộc trường đại học Maryland phân tích rằng nếu vượt qua 90% là tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ bị thụt lùi 2%. Có nghĩa là nếu tiếp tục vay thêm với tốc độ này, kinh tế Mỹ sẽ thụt lùi vì nợ nần. Theo bà Reinhart, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì điểm nguy hiểm thấp hơn 90%. Việt Nam, theo những công bố của bộ Tài chính, có nợ nước ngoài tính đến năm 2008 ở mức 30% GDP.

Thường nhiều quốc gia trên bờ vực khủng hoảng tài chính và vỡ nợ lại có động lực để thay đổi và làm mới hệ thống của nó.

Thời báo Tài chính (Anh)
Quốc gia vỡ nợ khi nó không trả nợ được nữa. Khi chuyện này xảy ra thì lãi mẹ đẻ lãi con. Tính toán của hai nhà kinh tế Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff cho thấy bình quân các quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng chất chồng thêm khoảng 86% nợ nần, trong khi tổng thu quốc gia giảm trung bình 2% trong năm tiếp theo của khủng hoảng. Tình trạng này thường diễn ra vào những chu kỳ khủng hoảng kinh tế tài chính, như chuyện xảy ra cho các quốc gia Mỹ Latinh vào những năm cuối thập niên 80. Khi tình hình tài chính một quốc gia đi xuống, như đã xảy ra với Argentina hay Hy Lạp, các nhà đầu tư nước ngoài bán trái phiếu để tháo chạy, tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao. Điều này kéo theo sự mất giá của đồng tiền, càng khiến cho quốc gia đó khó trả nợ hơn. Theo tạp chí Forbes, Hy Lạp có thể không lo tiền mất giá vì sử dụng đồng euro, nhưng thực tế tình trạng còn tệ hơn vì nước này không thể tự do in tiền để thoát khỏi tình trạng khó khăn tài chính. Argentina từng bị vỡ nợ vào năm 1989 rồi đến 2002 lại vỡ nợ tiếp. Cho đến nay nước này vẫn còn đang chật vật trả nợ nước ngoài. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, một số quốc gia như Indonesia cũng ở trên bờ vực vỡ nợ, nhưng được IMF “giải cứu”.

Dịp để rút bài học mới

Theo một quan sát mới đây của tờ Thời báo Tài chính (Anh), thường nhiều quốc gia trên bờ vực khủng hoảng tài chính và vỡ nợ lại có động lực để thay đổi và làm mới hệ thống của nó. Đặng Tiểu Bình bắt đầu công cuộc tự do hoá nền kinh tế Trung Quốc vào năm 1978 khi nước này đối mặt với khủng hoảng ngân sách và tỷ giá hối đoái. Ấn Độ bắt đầu cải cách nền kinh tế của họ vào năm 1991, khi tổng dự trữ ngoại hối chỉ đủ chi trả hai tuần nhập khẩu. Vào năm 1982, Mexico vỡ nợ, kéo theo khủng hoảng kinh tế trên toàn bộ khu vực Mỹ Latinh. Nhưng giới quan sát cho rằng cũng nhờ cuộc khủng hoảng này mà chủ nghĩa độc tài ở khu vực này sụp đổ: ở Argentina giới quân sự nắm quyền bị lật đổ vào năm 1983, còn Brazil thì trở thành một nền dân chủ vào năm 1985…

Mỗi cuộc khủng hoảng là một dịp cho các quốc gia học một bài học mới, và tình trạng chơi vơi bên bờ vực phá sản là cơ hội để nhiều quốc gia lựa chọn những thay đổi tốt cho quốc gia về lâu về dài. Đây có lẽ là bài học duy nhất có thể đến từ mối đe doạ phá sản quốc gia, một tình trạng mà thế giới đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo.

Next Page »

Blog at WordPress.com.