Ktetaichinh’s Blog

February 28, 2010

Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng

Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn.

“Với Việt Nam đừng tưởng mạnh mà thắng được yếu”

Nghĩ về sức mạnh cộng hưởng của dân tộc

Trách nhiệm phải lên tiếng

– Được biết ông đã có thư gửi các cấp lãnh đạo có thẩm quyền cảnh báo nguy cơ từ việc cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn. Vì sao ông không đồng tình với việc này?

Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng.

Đặc điểm nước ta nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, chiều ngang hẹp, chiều dài dài, độ dốc núi đổ ra biển rất gần, các cơn lũ quét nhanh ngang tiếng động, thiên tai xảy ra liên tục, môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt nước biển dâng mất thêm diện tích ruộng đồng bằng. Đây là một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.

Ngoài chuyện chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt tôi còn băn khoăn ở chỗ nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. Nhớ lại các thời kháng chiến, tất cả các tỉnh đều có căn cứ là các vùng rừng núi, kháng chiến chống Pháp ta có Việt Bắc, kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường sơn và vùng Tây Nam Bộ. Những đất rừng đầu nguồn này đều nằm trong đất căn cứ hoặc ở vùng biên giới. Ví dụ. Nghệ An đang cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp đây là 3 địa bàn phên dậu quốc gia. Lạng Sơn cũng vậy.

Đảng, Nhà nước ta trong thời đổi mới cần sử dụng đất cho các mục tiêu là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ quy mô, địa điểm, tính từng mét đất. Trong khi dân ta còn thiếu đất, thiếu nhà, thiếu việc làm, triệt để không bán, không cho nước ngoài thuê dài hạn để kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, địa ốc, sân gôn, sòng bạc…

Tuy đã muộn, nhưng ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.

Nhiều ý kiến phản đối, chính quyền tỉnh vẫn ký

– Có ý kiến cho rằng kiến nghị của ông bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác, do đó phản ứng như vậy là có phần cực đoan?

Tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu đó. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở bộ chỉ huy quân sự tỉnh và công an báo lên. Ngay khi nhận được tin báo tôi đã gọi về các địa phương để hỏi, lãnh đạo tỉnh cũng công nhận với tôi là có chuyện đó.

Ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản nhưng chính quyền vẫn ký. Thậm chí, có nơi Chủ tịch tỉnh kí cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn.

Hồi anh Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng, anh Kiệt có giao cho tôi làm đặc phái viên hai việc: Một là làm sao chấm dứt được việc đốt rừng; Hai là tạm thời đình chỉ việc xuất khẩu gỗ. Anh Kiệt cho đến lúc cuối đời vẫn còn trăn trở với 2 phần việc này.

Trong một văn bản ủy quyền cho tôi, anh ghi rõ giao đồng chí Đồng Sỹ Nguyên có quyền xử lí tại trận không cần báo. Gay gắt đến thế trong việc giữ rừng giữ đất. Để đồng bào có sức trồng rừng, anh Kiệt còn cho chở gạo từ phía Nam ra tiếp trợ.

Trong bảy năm được Đảng, Chính phủ giao phụ trách chương trình 327, tôi đã cùng các bộ, các địa phương lặn lội khắp mọi nẻo rừng, ven biển, các đảo; đã từng leo nhiều ngọn núi cao hàng 1000m, từ bước chân, qua ống nhòm đã tận mắt thấy cảnh tàn phá rừng để làm nương rẫy, chặt phá gỗ quý để sử dụng và xuất khẩu.

Mối nguy hại của việc tàn phá rừng đầu nguồn thế nào mọi người đều đã rõ. Bởi vậy, trồng rừng đầu nguồn là vấn đề sống còn, là sinh mệnh của người dân, chúng ta không chỉ trồng rừng mà còn phải bảo vệ rừng.

Đã cho thuê hơn 300 ngàn ha rừng

– Đến nay ông đã nhận được phản hồi nào về kiến nghị của mình chưa?

Khi tôi gửi kiến nghị lên thì có nhận được điện thoại của Thủ tướng. Thủ tướng nói với tôi là đã nhận được thư và đang giao cho Bộ Nông nghiệp đi điều tra thực tế. Bộ Nông nghiệp cũng đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng điều tra xong và gửi lại bằng văn bản cho tôi.

– Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp ra sao, thưa ông?

Bộ Nông nghiệp đồng ý với tôi việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn là sự thật. Bộ đã trực tiếp kiểm tra tại 2 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ngoài ra tổng hợp từ báo cáo của 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đó là một tầm nhìn rất ngắn!

Giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư. Ông nghĩ sao về lập luận này?

Nói như thế là không thuyết phục.

Ngay trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp cũng đã xác nhận một sự thật là một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê.

Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.

Việc lo cho dân phải là việc đặt lên hàng đầu, trước cả việc thu ngân sách. Cứ dựa vào những lập luận như tăng thu ngân sách để có những quyết định ví dụ như cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn là một tầm nhìn rất ngắn!

Sao không tự hỏi vì sao các DN nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí địa chiến lược mang tính cốt tử. Bản thân dân nước mình cũng đang thiếu việc làm.Và khi đã thuê được rồi thì liệu họ có sử dụng lao động là người Việt Nam hay là đưa người của họ sang?

Lấy ngay ví dụ việc cho nước ngoài thuê đất ở Đồ Sơn. Tôi đã trực tiếp đến kiểm tra, xung quanh khu vực đó, họ cho đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của tôi tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi tôi trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.

Việc một số địa phương nói rằng có những vị trí cho người nước ngoài thuê vì bao lâu nay vẫn để trống, nói như vậy là vô trách nhiệm, địa bàn anh quản lí mà để như thế tức là đã không làm tròn nhiệm vụ. Hồi tôi đi làm dự án 327, tôi rõ lắm, dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, sao có đất để không được.

Kiến nghị đình chỉ ngay những dự án chưa ký

“Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc,
hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng”. Ảnh: Thu Hà

– Vậy theo ông, chúng ta cần phải làm gì trước hiện trạng này?

Một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, những tỉnh chưa kỷ đình chỉ ngay. Thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn chương trình 5 triệu ha rừng để thực hiện.

Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường lập ra bộ phận chuyên trách. Trong vòng một năm, chính thức giao khoán đất, khoán rừng cho từng hộ. Trong bản, trong xã cấp sổ đỏ quyền sở hữu sử dụng đất rừng vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, tôi đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp bố trí tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng.

Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng.

Chiến lược thuê đất của Trung Quốc

<!–NGay gio Modified

–>

23/02/2010 23:44

Trên một nông trường của người Trung Quốc ở Sudan – Ảnh: ChinaDaily
Trong nhiều năm qua, người Trung Quốc đã thuê đất đai ở khắp các châu lục trên thế giới.

Theo BBC, ngày 30.1.2010, một cuộc biểu tình với hàng trăm người dân đã diễn ra tại thành phố Almaty ngay sau khi giới lãnh đạo Kazakhstan thông báo Trung Quốc muốn thuê hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp của nước này.

Sự kiện trên chỉ là một trong vô vàn vấn đề liên quan tới chiến lược thuê đất của nước ngoài mà chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh trong nhiều năm qua.

Không ngừng mở rộng

Tờ The Finacial Times (Anh) ngày 8.5.2008 cho biết, dưới áp lực về lương thực, Trung Quốc đã phải hướng ra ngoài để thuê đất nông nghiệp, khích lệ các doanh nghiệp nông nghiệp xuất ngoại. Thực tế cho thấy Chính phủ Trung Quốc đã cổ vũ cho các doanh nghiệp ra nước ngoài thuê mua đất nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đặc biệt khuyến khích các ngân hàng quốc doanh, doanh nghiệp sản xuất hoặc công ty dầu mỏ thuê đất đai ở nước ngoài.

Công ty Tân Thiên ở Tân Cương là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài. Từ năm 1996, Tân Thiên đã đầu tư 50.000 USD vào Cuba để trồng lúa nước. Hai năm sau, công ty này mua thêm 1.050 héc-ta đất ở Mexico. Tương tự, tháng 3.2004, chính quyền thành phố Trùng Khánh đã ký thỏa thuận hợp tác “Khu nông nghiệp tổng hợp Trung – Lào” với diện tích 5.000 héc-ta đất với nhiều hạng mục: lâm nghiệp, thủy lợi…

Mới đây, một quan chức Trung Quốc tiết lộ trên tờ The Finacial Times: “Bộ Nông nghiệp đang làm việc với Brazil để bàn việc mua đất trồng đậu”. Tờ báo cũng phân tích nếu Chính phủ Trung Quốc cổ vũ các doanh nghiệp mua hoặc thuê đất ở nước ngoài để kinh doanh và đưa lao động bản địa sang làm việc thì sẽ gây nên không ít vấn đề lớn cho các nước sở tại.

Thêm nữa, hoạt động nông nghiệp của Trung Quốc cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp của nước sở tại. Từ hơn 10 năm trước, người Trung Quốc đã tới Mông Cổ trồng rau, chủ yếu là rau cải, kinh doanh rất phát đạt. Vài năm trở lại đây, số người Trung Quốc sang trồng rau cải ngày càng nhiều, khiến chính quyền Mông Cổ lo ngại vì sản phẩm của Trung Quốc lấn át sản phẩm nội địa.

Người Trung Quốc nói gì?

Việc Trung Quốc thuê đất ở nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ. Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã có những bước đi tương tự. Nhưng Trung Quốc có vẻ như đang thực hiện một cách ráo riết hơn.

Một câu hỏi đặt ra là mục đích chính của Trung Quốc khi mua hoặc thuê đất đai ở nước ngoài phải chăng chỉ đơn thuần nhằm phát triển nông nghiệp? Ông Lý Vỹ Tường – Phó chủ tịch Phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Trung tâm Nghiên cứu phát triển nông thôn, trực thuộc Bộ Khoa học công nghệ Trung Quốc – trả lời tờ The Finacial Times: Kế hoạch làm nông nghiệp ở nước ngoài của Bắc Kinh mang lại hiệu quả chưa được như ý. Thông thường các doanh nghiệp nước này tự đi ra ngoài hoạt động, chủ yếu là châu Phi do đất đai ở đây dễ mua hoặc thuê. Tuy nhiên, sau khi mua hoặc thuê đất, họ lại vấp phải nhiều khó khăn như vấn đề an toàn, thiên tai, vận chuyển sản phẩm về nước. Theo ông này, việc ra nước ngoài mua hoặc thuê đất nông nghiệp nhằm bảo đảm vấn đề lương thực chỉ là một cách thử nghiệm.

Trong bài viết trên tuần báo Phương Nam hồi tháng 7.2009, ông Khổng Quốc Hoa – tiến sĩ kinh tế tại Đại học Sơn Đông – cho rằng việc “mượn đất nông nghiệp” là một phương thức có nguồn gốc lịch sử và không chỉ đơn thuần là phục vụ mục đích nông nghiệp. Thời Tây Hán, Triệu Sung Quốc đã áp dụng phương sách này. Chính sách này sau khi được áp dụng đã có hiệu quả to lớn, lương thực không những dư thừa mà đất đai còn rộng mở. Triệu Sung Quốc được coi như một nhà chính trị tài ba nhìn xa trông rộng. Kế sách mượn đất của ông được người dân nước này truyền tụng từ đời này sang đời khác, trở thành “văn hóa mượn đất”, tác động mạnh mẽ tới tận thời nay.

Tiến sĩ Khổng cũng cho rằng việc thăm dò khai phá đất biên cương cũng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kích thích mậu dịch biên cương và giao lưu dân tộc phát triển, ổn định biên giới. Như vậy thông qua việc thuê mượn đất, người Trung Quốc xưa đã thực hiện được rất nhiều mục đích chính trị, xã hội.

Cũng theo ông Khổng, ngoài “mượn đất”, nước này còn sử dụng sách lược “mượn biển” hỗ trợ cho lĩnh vực kinh tế và quân sự, đặc biệt tăng thêm tự tin và khích lệ phát triển vùng duyên hải. Tính tới năm 2008, tổng giá trị sản xuất ngành hải sản nước này đã chiếm 9,87% tổng sản phẩm quốc nội. Theo tiến sĩ Khổng Quốc Hoa, chính quyền Trung Quốc hiện tại đã sử dụng phương cách thời Tây Hán để tăng cường các hoạt động kinh tế trên biển.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên:

Cho nước ngoài thuê đất rừng là rất nguy hiểm

>> Lợi ích quốc gia

TP – “Đất rừng ở ta không phải là nhiều, trong khi có nơi còn lấy đất rừng của dân để cho nước ngoài thuê là rất nguy hiểm”, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khẳng định, khi trả lời phỏng vấn Tiền Phong.

Ông Đồng Sỹ Nguyên – Ảnh: B.K

L.T.S: Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vừa có thư gửi  Bộ Chính trị, Ban Bí thư T.Ư Đảng, Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cảnh báo về việc các tỉnh cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Tiền Phong có cuộc trò chuyện với ông, xung quanh câu chuyện này.

Ông Đồng Sỹ Nguyên nói: “Tôi có thư gửi vì một số anh em ở các tỉnh báo cáo với tôi. Các anh em ở Nghệ An không đồng ý việc cho nước ngoài thuê đất để trồng rừng ở các huyện miền núi, đầu nguồn.

Sau khi nhận được thông tin, tôi có hỏi lại Chủ tịch tỉnh và họ công nhận. Trong khi đó, tại tỉnh, Công an tỉnh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phản đối. Mà sự phản đối ấy là đúng.

Vì sao tôi đi sâu vấn đề này? Vì tôi có 7 năm làm chương trình 327. Từ những ngọn núi cao trên 1.000 m đến các đồi núi rừng khác, đâu tôi cũng lội hết”.

Dân thiếu đất sao lại cho thuê?

Bức thư đã được ông gửi từ bao giờ?

Tôi gửi từ trước Tết.

Từ khi gửi thư đến nay ông đã nhận được hồi âm?

Sau khi tôi gửi lên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có điện thoại cho tôi nói là đã nhận được thư và giao Bộ NN&PTNT kiểm tra.

Sau khi Bộ NN&PTNT kiểm tra đã có báo cáo gửi Thủ tướng và có gửi cả cho tôi. Báo cáo có thừa nhận cho 11 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng tại 10 tỉnh.

Việc các tỉnh cho thuê đất rừng được thực hiện theo Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đất đai. Điều gì khiến ông lo ngại và gửi thư?

Qua 7 năm làm công tác trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, càng đi vào thực tế tôi thấy đất nước ta chiều dài rất dài trong khi chiều ngang rất hẹp. Núi với biển rất gần. Độ dốc lớn. Cho nên khi có lũ quét thì sẽ phá hủy rừng núi, đồng ruộng, nhà cửa nhanh như tiếng động.

Do đó, phải làm sao phát động đồng bào dân tộc miền núi tập trung trồng rừng. Cả ở đồng bằng và ven biển nữa. Chỉ có trồng rừng theo đặc điểm địa hình Việt Nam thì mới hạn chế được phần nào tác động của thiên tai.

Vậy mà nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ.

Kết quả kiểm tra của Bộ NN&PTNT ra sao, thưa ông?

Nội dung báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết, họ đã trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và tổng hợp báo cáo của 8 tỉnh về việc cho nước ngoài thuê đất rừng. Báo cáo có thừa nhận cho nước ngoài thuê, hoặc liên doanh để trồng rừng tại 10 tỉnh với diện tích trên 300.000 ha.

Các diện tích cho thuê đó cụ thể là thế nào, thưa ông?

Như tôi đã nói, đặc điểm của nước ta là dài, núi và biển cận kề, vì vậy việc trồng, bảo vệ rừng đầu nguồn ở miền núi là vấn đề cấp bách. Việc này ai làm. Phải để cho người dân Việt Nam làm.

Do đồng bào miền núi đất ruộng ít, đất rừng nhiều. Tại sao không chia đất rừng cho đồng bào miền núi làm, khắc phục cái đói cho họ để cho người cày có ruộng. Đây là yêu cầu bức bách. Cách mạng sở dĩ thành công cũng là nhờ khẩu hiệu “người cày có ruộng”.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ở ta bình quân chỉ 0,15 ha rừng trên đầu người, thấp hơn nhiều mức bình quân thế giới 0,6 ha/đầu người. Qua kiểm tra thực tế tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, nếu chia tổng diện tích đất quy hoạch làm rừng sản xuất cho các hộ dân thì cũng chỉ 4 – 5 ha/hộ.

Diện tích này không lớn đối với sản xuất lâm nghiệp. Như vậy sao lại phải cho nước ngoài thuê?

Tôi nghĩ, nếu mỗi hộ ở miền núi được giao 4 – 5 ha đất rừng sản xuất, thì người miền núi còn dễ làm giàu hơn đồng bằng, do có thể thực hiện đa cây, đa con.

Một cây trồng đất rừng giá trị lắm. Ví dụ nếu bán một cây xà cừ như ở trước cửa nhà tôi là phải 50 triệu đồng. Nên nếu một hộ dân trồng 10 cây xà cừ thì tha hồ thế chấp, vay ngân hàng. Rồi cấp sổ đỏ cho họ thay vì cho người nước ngoài thuê.

Người nước ngoài thuê vì họ trồng rừng nguyên liệu. Quan điểm trồng rừng của tôi khi tôi phụ trách chương trình 327 cũng có người phản đối do không hiểu đặc điểm rừng Việt Nam.

Quan điểm của tôi, đã là đất rừng, cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và cả rừng kinh tế là phải kết hợp. Rừng phòng hộ thì cứ 1ha đất chỉ cần dành trồng 500 cây lim, gụ, táu, lát… Còn 1.000 cây nguyên liệu là keo.

Cứ đan xen với nhau thì lúc nào cũng có rừng khai thác và phòng hộ cho các đời con cháu. Đây cũng là điều kiện để đồng bào xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Lợi trước mắt, hại lâu dài

Có ý kiến cho rằng, việc các tỉnh cho nước ngoài thuê rừng cũng do  áp lực tăng trưởng, tăng thu cho ngân sách?

Tôi cũng băn khoăn nhiều nhưng nói không biết có ai nghe không. Tại sao dân mình, đất mình mà không giao làm. Sao không cho nông dân vay khá hơn thay vì cho nước ngoài vay để kinh doanh bất động sản, xây dựng cao ốc.

Cho nông dân vay để trồng rừng thì không sợ mất tí nào. Mỗi hộ chỉ cần trồng một ít cây xà cừ, một ít cây lát thì tha hồ trả tiền vay. Việc đó phải tập trung lo cho dân trước, thay vì tăng thu ngân sách.

Trên thế giới, qua từng thời kỳ, có nhiều nước, nước Mỹ cũng vấp phải bong bóng bất động sản làm cho nước Mỹ bao lần suy thoái kinh tế. Ngay Trung Quốc cũng phải thừa nhận các tỉnh thi nhau bán đất để tăng thu ngân sách, phô trương tăng GDP 13 đến 14%.

Để đạt mức tăng này nhanh nhất là bán đất. Điều đó chỉ có lợi trước mắt nhưng tương lai thì vô cùng nguy hiểm. Bán đất để tăng thu ngân sách, theo tôi là điều ngớ ngẩn, không hiểu kinh tế. Họ muốn phô trương thành tích thật nhanh mà không tính lâu dài.

Còn dưới góc nhìn về an ninh quốc phòng thì sao, thưa ông?

Kháng chiến chống Pháp ta có căn cứ Việt Bắc. Kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường Sơn, rừng đước ở miền Nam…Rừng đã che chở cho cách mạng. Khi chiến tranh là phải có căn cứ để sơ tán nhân dân, đối phó với địch…

Giờ những đất đầu nguồn, đất rừng này đều thuộc về đất căn cứ cả. Nghệ An cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp…, những vùng khi có chiến tranh thì phải lên đó.

Tại sao dân ta thiếu việc làm, phải đi làm thuê ở Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan…Ta sang họ thì làm thợ, còn họ sang ta làm thầy. Tại sao không giảm bớt phần tiền đầu tư vào bất động sản đưa sang trồng rừng, giảm lượng thất nghiệp, giúp người dân làm giàu.

Ngay như khu Ciputra ở Hà Nội, chúng ta cho thuê 50 năm rồi họ khoanh lại xây biệt thự, bán lại cho dân ta. Phần lợi nhuận hốt được thì họ mang về nước.

Không chỉ có vậy, họ còn dựng hàng rào, biến khu đất thuê này thành khu biệt lập, mà không phải ai muốn vào là vào được. Ở ngay Thủ đô còn vậy, huống chi ở miền núi xa xôi, hẻo lánh.

Nhưng thưa ông, lãnh đạo một số địa phương cho thuê đất rừng  khẳng định việc cho nước ngoài thuê đất rừng đã được cân nhắc rất kỹ về vấn đề an ninh quốc phòng rồi?

Từ báo cáo của Bộ NN&PTNT, tôi thấy có điều khá nhạy cảm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Họ thuê ở Quảng Nam, có đường thuận tiện đi lên Tây Nguyên, qua Campuchia.

Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của mình. Bây giờ nói như thế nhưng nay mai họ đưa người đến. Kinh nghiệm cho thấy khi làm các dự án, họ đều đưa người đến thành các làng mạc, thị trấn.

Thưa ông, trong báo cáo của Bộ NN&PTNT, quan điểm của họ về vấn đề này thế nào?

Bộ NN&PTNT kiến nghị với Chính phủ 5 vấn đề, thì trong đó có hai nội dung tôi hoàn toàn đồng ý: Một là do đất lâm nghiệp bình quân trên đầu người của ta quá ít (chỉ 0,15 ha/người), trong khi nhu cầu đất lâm nghiệp của dân rất lớn.

Vì vậy, nên hạn chế việc cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp, chỉ nên khuyến khích thu hút đầu tư thông qua liên doanh, liên kết với dân và doanh nghiệp trong nước;

Hai là khẩn trương giao đất, giao rừng cho người dân, đồng thời nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho dân để họ có tư liệu sản xuất và có thể liên kết với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để trồng rừng…

Nếu làm được như trên là rất tốt. Trên cơ sở đó chỉ đạo, hướng dẫn cho dân vay vốn phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT vẫn chưa dứt khoát, họ cũng mới chỉ kiến nghị theo kiểu khuyến cáo, đề nghị hạn chế cho nước ngoài thuê.

Phải đình chỉ ngay

Ý ông là phải cấm hẳn?

Trong thư gửi Bộ Chính trị tôi đã nói rõ, với những tỉnh đã lỡ ký cho doanh nghiệp nước ngoài thuê, thì phải tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng, với những tỉnh thuộc vùng xung yếu mà chưa ký thì đình chỉ ngay.

Tôi cho rằng, phải giao đất rừng đến hộ. Sau đó, Nhà nước phải cho họ vay vốn để trồng rừng, đảm bảo kinh tế cho người dân. Điều đó là cần. Còn cho nước ngoài thuê thì họ đi theo lợi nhuận. Của mình thì lợi nhuận phải kết hợp với lợi ích lâu dài của đất nước.

Tốt nhất là để cho các doanh nghiệp trong nước làm. Điều này có thể làm được. Xóa đói giảm nghèo là phải tổ chức được sản xuất của nông dân. Nông dân phải tự đứng mà sản xuất, tự mình làm chủ thì mới xóa đói giảm nghèo bền vững được.

Thỉnh thoảng ti vi có các chương trình, các tổng công ty lên ủng hộ, tặng quà cho người nghèo 1 hay 2 tỷ đồng nhưng làm thế không ra đâu cả, vì nó như là bố thí. Như thế làm sao xoá đói giảm nghèo vững chãi được.

Tôi cũng đề nghị cấp sổ đỏ, giao đất khoán rừng cho dân, Nhà nước bớt đầu tư, cho vay không cần thiết để cho dân miền núi vay nhiều hơn, đạt một công đôi việc: Vừa làm kinh tế vừa làm rừng phòng hộ.

Quan niệm của tôi, tách rừng làm kinh tế và rừng phòng hộ riêng là một sai lầm nghiêm trọng. Phòng hộ phải kết hợp từ trên núi cho đến biển cả, làng mạc, đô thị.

Nhưng có ý kiến cho rằng, những nơi cho nước ngoài thuê lâu nay là đồi núi trọc, có giao dân cũng không mặn mà?

Lý đó không chấp nhận được. Đất mình, dân mình. Mình phải rất kiên trì giáo dục, thuyết phục. Khi tôi làm Chương trình 327, muốn mở rộng dự án nhưng không có đất. Đất không còn.

Bây giờ làm như thế này và trong báo cáo của Bộ NN&PTNT có nói, có nơi như ở Lạng Sơn giao cho nước ngoài chồng lấn lên cả đất của dân. Điều này rất nguy hiểm.

Còn họ nói các nơi đó không có ai làm thì phải hỏi họ: Anh lãnh đạo chính quyền làm gì? Đảng và chính quyền là phải lo cho dân làm. Thế tại sao anh đi xuất khẩu lao động được mà không đưa dân đến những vùng đó để làm được.

Giờ sông Mê Kông nước chặn đầu nguồn, đồng bằng sông Cửu Long ngày càng cạn kiệt trong khi nước mặn xâm lấn thì hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là đã ở trước mắt. Không thể chủ quan. Phải thấy trước được điều đó.

Muốn giữ được an ninh lương thực thì phải giữ được đất đai. Đất đai là tài nguyên quý nhất của đất nước và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân.

Cho thuê rừng phòng hộ: Phải bồi thường cũng nên dừng

GS TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường bàn cách giải quyết những bất cập từ việc cho nước ngoài thuê rừng, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo rà soát và ngừng cấp phép mới cho các dự án FDI trong lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản.

Ngày 10.3, Thủ tướng chỉ thị Ủy ban nhân dân các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đợi Chính phủ rà soát.

Như vậy, Chính phủ đã có phản hồi nhanh chóng và sau lá thư của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo những nguy cơ từ việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.

Đây là một tín hiệu tích cực từ cơ quan điều hành đất nước trước một vấn đề đang gây quan ngại sâu sắc trong dư luận.

Với tư cách một người có hiểu biết về tình hình quản lý và sử dụng đất ở nước ta, tôi cho rằng cần bàn thêm để đóng góp cho cách giải quyết tình trạng này.

Ảnh Duy Tuấn

Vi phạm cần được xử lý nghiêm

Tôi cho rằng câu chuyện xử lý này cần những biện pháp mang tính nguyên tắc hơn dựa trên cơ sở pháp luật và quy hoạch. Trước hết, 10 tỉnh đã ký hoặc đang làm thủ tục ký cho người nước thuê đất rừng phải báo cáo cụ thể các thủ tục đã thực hiện, hiện trạng vùng dự án gắn với bản đồ tỷ lệ 1/10.000.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và Môi trường áp vào quy hoạch hiện tại, đề xuất điều chỉnh hợp lý quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất (trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng).

Những diện tích đã ký cho thuê nếu thuộc vùng rừng sản xuất thì được tiếp tục triển khai, nếu thuộc vùng rừng phòng hộ thì phải rút ngay lại địa điểm thực hiện dự án và chuyển dự án sang vùng rừng sản xuất khác trên địa bàn tỉnh (nếu phải bồi thường cho nhà đầu tư thì cũng phải làm).

Những diện tích đang trong giai đoạn thực hiện thủ tục dự án (chưa ký cho thuê) hoặc đang trong kế hoạch cho thuê của lãnh đạo tỉnh thì đều phải dừng lại chờ điều chỉnh quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Một điều nữa cần làm là xử lý những sai phạm của lãnh đạo tỉnh khi ký cho người nước ngoài thuê rừng phòng hộ, nhất là những trường hợp đã có ý kiến không đồng thuận của cơ quan công an, bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Theo pháp luật về đất đai nước ta, dự án đầu tư phát triển rừng chỉ được thực hiện trên vùng rừng sản xuất. Công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là do các Ban quản lý rừng kết hợp với nhân dân địa phương thực hiện. Những vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm, giữ kỷ cương cho hôm nay và cho mai sau.

4 giải pháp dài hơi

Khi những xử lý trước mắt đã tạm ổn thì cần thực hiện 4 giải pháp dài hơi bao gồm: một là quy hoạch lại đất rừng trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng; hai là xác lập các hàng rào kỹ thuật đối với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trên nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia song hành với bảo đảm bình đẳng về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư; ba là tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của bộ máy hành chính, công tác giám sát của hệ thống cơ quan dân cử và khuyến khích người dân tham gia quản lý; bốn là sử dụng công nghệ cao (nhất là ảnh chụp từ vệ tinh) để giám sát chặt chẽ hiện trạng rừng và các hoạt động có liên quan đến rừng.

Nhà nước ta đã nỗ lực rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Chương trình 327 trước đây và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng hiện nay là những minh chứng cho điều đó.

Chủ trương của Nhà nước thật rõ ràng về bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ thể hiện trách nhiệm cao với dân mà đó còn là trách nhiệm đóng góp giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.

Trong thực tế triển khai, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đang còn rất nhiều bức xúc. Ngay trong chính sách giao đất, giao rừng, chúng ta cũng vẫn chưa tìm ra cơ chế phù hợp để tạo động lực thực sự. Có địa phương đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, có địa phương chủ trương giao cho cộng đồng dân cư quản lý, có địa phương muốn giao cho doanh nghiệp lâm nghiệp, có địa phương lại muốn sử dụng đầu tư nước ngoài trực tiếp, có địa phương thực hiện giao cho các đơn vị quốc phòng.

Về mặt phân loại rừng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã đề xuất nên chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ ở những nơi không xung yếu sang rừng sản xuất nhằm phát triển rừng bằng động lực thị trường.

Trên thực tế, công việc quản lý còn đầy bề bộn mà lâm tặc vẫn hàng ngày phá rừng đầu nguồn, tai biến lũ lụt do mất rừng đầu nguồn ngày càng thường xuyên hơn. Cơn lũ vừa qua ở Miền Trung cuốn trôi gỗ khai thác lậu từ đầu nguồn về cửa sông mới cho ta biết rừng đầu nguồn bị phá nhiều đến thế.

Mỗi người đều không thể không suy nghĩ về những cách thức làm sao cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn. Những kinh nghiệm của hơn 20 năm thực hiện kể từ khi bắt đầu Đổi Mới cũng đủ để đưa ra những kết luận xác đáng.

Quy hoạch lại cho đúng

Thứ nhất, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng không thể chỉ nhìn dưới góc độ kinh tế và môi trường, mà cần phải nhìn trước hết dưới góc độ quốc phòng, an ninh. Các góc độ này phải được thể hiện đầy đủ trong khâu quy hoạch không gian đối với các loại rừng sau khi phân tích cụ thể các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế.

Đối với rừng phòng hộ ở những vị trí quan trọng, cần giao cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang để bảo vệ và phát triển. Từ đây, có thể thấy cần xem xét lại đề xuất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất, quy hoạch lại cho đúng hơn là cần thiết nhưng phải xem xét trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng (hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư hay doanh nghiệp hay lực lượng vũ trang).

Quy hoạch này cần được xây dựng chi tiết, thẩm định cẩn thận và được Quốc hội quyết định.

Lo an ninh để Việt Nam độc lập tồn tại

Thứ hai, trong thời kỳ triển khai mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta phải tuân thủ “luật chơi” chung về sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Khi đã là rừng sản xuất thì nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước được quyền tiếp cận như nhau. Chúng ta không thể đặt rào cản pháp luật để hạn chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ta có thể đặt rào cản kỹ thuật (khi cần thiết) như hàng rào về quy hoạch, về môi trường, v.v.

Cách thức này đòi hỏi những tư duy dài hạn và những dự báo có độ tin cậy cao, chất lượng quản lý cần được nâng cao hơn nhiều lần.

Chúng ta cần tăng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cần hội nhập sâu hơn với kinh tế quốc tế để phát triển, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là an ninh quốc gia để đất nước được độc lập tồn tại.

Đẩy mạnh giám sát

Thứ ba, trong quản lý hiện nay, công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới còn yếu, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan hành chính đã được đẩy mạnh nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, việc khuyến khích người dân tham gia vào quản lý đã có nhưng chưa được nhiều.

Bằng mọi cách, các hoạt động này cần được đẩy mạnh để tạo nên hệ thống quản lý vững chắc, cấp trên luôn biết được cấp dưới làm gì và có quyết định điều chỉnh kịp thời. Phân cấp quản lý là cần thiết nhưng cũng cần có lộ trình phù hợp với tính hoàn chỉnh của hệ thống và năng lực thực hiện của từng cấp.

Thứ tư, số liệu thống kê hiện trạng rừng hiện nay vẫn được thực hiện theo quy trình dưới lên: xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên Trung ương. Độ tin cậy của cách làm này không cao, ngay kể cả trường hợp không xẩy ra gian dối số liệu.

Trên thực tế, ai cũng biết rằng rừng ở nước ta bị phá rất nhiều nhưng theo số liệu chính thức thì ta vẫn có trên 15 triệu ha rừng.

Ở các nước người ta thường sử dụng ảnh vệ tinh là một kênh kỹ thuật thứ hai để thống kê số liệu do các cơ quan kỹ thuật ở Trung ương thực hiện độc lập. Bằng kênh này có thể không chỉ kiểm tra được số liệu của các địa phương, mà còn phát hiện được những nơi rừng đang bị tàn phá, khai thác, cháy, v.v.

Năm 2008, nước ta đã hoàn thành dự án xây dựng trạm thu ảnh vệ tinh hiện đại (theo ODA của Chính phủ Pháp) đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ tính năng kỹ thuật để giám sát hiện trạng tài nguyên và môi trường (trong đó có tài nguyên rừng). Rất tiếc, cho đến nay trạm đã vận hành được hơn 1 năm nhưng chưa thực hiện được việc kiểm kê bất kỳ loại tài nguyên nào.

Đầu tư xây dựng trạm là một việc, nhưng đầu tư để khai thác trạm vào mục đích quản lý là việc còn quan trọng hơn. Quản lý hiện trạng rừng bằng ảnh thu thường xuyên từ trạm này là một việc cần thiết cho đất nước hơn lúc nào hết.

Những suy nghĩ trên đây chỉ là những việc chúng ta có thể làm ngay, trong khả năng chúng ta làm được. Mọi cân nhắc quá phức tạp trong quản lý tài nguyên rừng đều luôn là muộn so với những lời kêu cứu của rừng.

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: