Ktetaichinh’s Blog

February 28, 2010

Lê Xuân Khoa – Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:27 pm
Tags: ,

Sang năm mới Canh Dần, tình hình chính trị Việt Nam đáng bi quan hơn trước. Ngoài  “quốc nạn” tham nhũng tiếp tục hoành hành, tình trạng xuống cấp đến mức báo động của giáo dục, và sự gia tăng các tệ nạn xã hội, người Việt Nam trong và ngoài nước còn phải đối diện với hai mối quan tâm hết sức nghiêm trọng:

  1. Tiếp theo những vụ lấn chiếm lãnh thổ và lãnh hải đã được chính thức hoá bằng những văn bản thoả hiệp với lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng những hành động xác lập quyền sở hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực hiện những dự án khai thác tài nguyên mang tính chiến luợc trên cả hai mặt kinh tế và quân sự.
  2. Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam vừa tiếp tục ca ngợi mối quan hệ tốt với Trung Quốc qua những khẩu hiệu “bốn tốt” và “16 chữ vàng”, vừa gia tăng ngăn cấm những quyền tự do căn bản của con người, đồng thời mạnh tay trừng phạt những công dân dám công khai bày tỏ lòng yêu nước hoặc yêu cầu cải thiện chế độ chính trị và thực hiện công bằng xã hội.

Nhiều nhà bình luận ở hải ngoại đã phân tích và nhận định khá chi tiết về hai mối quan tâm đặc biệt này, nhưng phần đông vẫn chỉ nhằm kể tội lãnh đạo cộng sản, hô hào đoàn kết chống cộng và cầu mong chế độ sớm bị sụp đổ. Gần đây mới có một số trí thức đề cập đến những phương thức cụ thể và tích cực hơn, như thành lập cơ quan nghiên cứu chiến lược dân chủ và phát triển (think tank), vận dụng các nguồn lực vào tiến trình dân chủ hoá Việt Nam, nhấn mạnh vào vai trò xây dựng xã hội công dân của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hay vai trò của cộng đồng hải ngoại như một lực lượng đối lập. Đây là những kế sách lâu dài có hiệu lực chuyển hoá chế độ chính trị ở trong nước, nhưng công cuộc thực hiện đòi hỏi nhiều thời gian, phương tiện tài chánh và nhân sự, nhất là sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng.

Trong khi theo đuổi những mục tiêu lâu dài, chúng ta cần gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề trước mắt, ưu tiên là hai mối quan tâm nghiêm trọng đã nêu trên. Xét cho cùng, mối quan tâm thứ hai có liên quan với mối quan tâm thứ nhất và những biện pháp mạnh của nhà cầm quyền đối với mọi tiếng nói phát biểu lòng yêu nước và nguyện vọng chính đáng của người dân đều là hệ quả của tinh thần lệ thuộc Trung Quốc, với mục đích  bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng và Nhà nước. Những biện pháp này đều rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc, từ những phiên toà “kangaroo” với những bản án đã có sẵn dành cho những người bất đồng chính kiến và những người đòi đối xử công bằng cho những nạn nhân bị chính quyền tước đoạt đất đai, cho đến những hành động đàn áp tín đồ các tôn giáo không nằm trong hệ thống kiểm soát của nhà nước. Nếu không có gì thay đổi bất thường, đại đa số trong bộ máy lãnh đạo Đảng sau Đại hội XI vào tháng Giêng 2011 sẽ là những đảng viên thân Trung Quốc.

Để có thể tồn tại với chế độ độc tài đảng trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn Trung Quốc làm mô hình trị nước và hội nhập với cộng đồng quốc tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việc giao thiệp với Hoa Kỳ và các nước dân chủ khác trên căn bản “đôi bên cùng có lợi” chủ yếu là làm giàu cho Đảng để củng cố bộ máy nhà nước. Chính phủ tìm mọi cách ngăn chặn mọi nguồn thông tin mở rộng sự hiểu biết của người dân và đưa đến những đòi hỏi dân chủ hoá chế độ. Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động Diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” đã đích danh kết tội “các thế lực thù địch”, đặc biệt là chính phủ Mỹ và các tổ chức “phản động” của người Việt ở nước ngoài. Những chương trình viện trợ phát triển của USAID, chương trình học bổng Fulbright và Vietnam Education Foundation (VEF), chương trình giao lưu văn hoá và hợp tác văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, cùng với các chương trình nhân đạo của các tổ chức phi chính phủ (NGO), đều bị tố cáo là nhắm mục tiêu “xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và bản sắc văn hoá Việt Nam” (?). Đáng chú ý là Bản Chỉ thị này đã báo động về “xu hướng tự diễn biến, tự chuyển hoá” đang “có chiều hướng gia tăng, có mặt trầm trọng, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Để cho cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình có thể thành công, Đảng và Nhà nước cần phải dựa vào Trung Quốc, hiện đang là quốc gia phát triển kinh tế nhanh nhất trên thế giới và cũng là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Vì cùng chung chế độ và cùng chung chí hướng, cộng sản Việt Nam coi Trung Quốc là đồng minh vững chắc và điểm tựa an toàn nhất để chống lại mọi nỗ lực dân chủ hoá chế độ. Lãnh đạo Việt Nam không phải không biết đến hiểm hoạ Trung Quốc nhưng họ đã ưu tiên đặt quyền lợi và sự sống còn của Đảng lên trên vận mệnh tương lai của đất nước. Cộng sản Việt Nam luôn luôn giữ lễ với Trung Quốc cho nên mọi lời tuyên bố của lãnh đạo và phát ngôn viên chính phủ đều chỉ dừng lại ở chỗ xác nhận chủ quyền và kêu gọi Trung Quốc đối xử tử tế với ngư dân Việt Nam. Không có một viên chức chính quyền nào lên tiếng phản đối Trung Quốc và đòi hỏi công lý cho những ngư dân bị hải quân Trung Quốc bắt giữ, đánh đập, và bắt nộp tiền chuộc tàu thuyền và ngư cụ. Những tàu tuần Trung Quốc hành động trái phép và vô nhân đạo ấy đều được gọi là “tàu lạ”, một từ ngữ lần đầu tiên được sử dụng trong lịch sử bang giao giữa hai nước.

Hiểm hoạ Trung Quốc

Truyền thống bá quyền của người Hán bắt đầu trễ nhất là từ hai ngàn ba trăm năm trước, ngay sau cuộc thống nhất trung nguyên của Tần Thuỷ Hoàng vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Quân nhà Tần đã mở cuộc nam tiến chinh phục các bộ tộc Bách Việt và đồng hoá dân bị trị bằng những cuộc di dân vĩ đại của người Hán. Số dân Bách Việt không chịu bị đô hộ phải chạy xa xuống phía Nam, tản mát trong các nước Đông Nam Á ngày nay. Riêng dân Lạc Việt đất Văn Lang đã kháng cự mãnh liệt, đẩy lui được nhiều đợt tấn công của các tướng nhà Tần như Đồ Thư, Nhâm Ngao, Triệu Đà và ngay cả của Tần Thuỷ Hoàng, rốt cuộc Đồ Thư bị chặt đầu, Tần Thuỷ Hoàng lâm bệnh phải rút quân về nước mà chết (210 tr.TL). Anh hùng chiến thắng quân Tần là Thục Phán lên ngôi vua, xưng hiệu là An Dương Vương, thay tên nước Văn Lang là Âu Lạc, chấm dứt triều đại Hùng Vương đã tan rã dưới sức mạnh của quân Tần. Nước Âu Lạc tồn tại được 30 năm thì mất do việc An Dương Vương gả con gái là Mị Châu cho Trọng Thuỷ, con trai của vua nước Nam Việt là Triệu Đà. Qua sự thông đồng của Trọng Thuỷ, Triệu Đà đã đánh bại An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.

Năm 111 tr. TL, triều đại nhà Hán đem quân chinh phục nước Nam Việt. Các triều đại kế tiếp đã thay nhau thống trị dân tộc ta trong suốt mười thế kỷ, nhưng mọi cố gắng đồng hoá dân tộc Việt và biến lãnh thổ của ta thành một tỉnh của Trung Quốc đều thất bại. Tuy nhiên, sau khi Khúc Thừa Dụ lật đổ sự thống trị của nhà Đường năm 905, khôi phục nền độc lập cho dân tộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc vẫn tiếp tục xâm lược nước ta cho đến khi toàn bộ quân nhà Thanh bị vua Quang Trung đánh tan năm 1789.

Những năm sau đó, vì phải lo chiến tranh với các nước Tây phương và vì Pháp đã chiếm đóng Đông Dương, Trung Quốc không có cơ hội trở lại Việt Nam cho đến khi Mao Trạch Đông ủng hộ Hồ Chí Minh trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ với thâm ý kéo Việt Nam vào quĩ đạo của Trung Quốc. Dã tâm đó thể hiện rõ rệt qua sự kiện Chu Ân Lai ép buộc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng phải chấp nhận Hiệp định Genève chia đôi đất nước. Sau đó họ Chu đã làm mất mặt các đồng chí Việt Nam khi mời đại diện Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Luyện đến dự tiệc chung với Phạm Văn Đồng và thông báo ý muốn thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và chính phủ Ngô Đình Diệm.

Mưu đồ của Trung Quốc thôn tính Việt Nam và dùng Việt Nam làm bàn đạp để tiến chiếm toàn vùng Đông Nam Á đã được cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tiết lộ cho các đồng chí lãnh đạo sau chuyến đi Bắc Kinh hội kiến với Mao Trạch Đông năm 1963, khi họ Mao không thuyết phục được Lê Duẩn và Trường Chinh ra tuyên bố chung chống chủ nghĩa xét lại của Khrushchev. Từ đó, Bắc Kinh biết Hà Nội đã chọn kết thân với Moscow, nhưng vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Hà Nội vì nhu cầu chống Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Sau 1975, quan hệ Việt-Trung xấu hẳn đi cho đến khi Đặng Tiểu Bình quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” trong cuộc chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979. Sau khi các nước cộng sản Đông Âu theo nhau sụp đổ năm 1989 và khi Gorbachev giải tán Đảng Cộng sản và Liên Bang Xô-viết năm 1991 thì Cộng sản Việt Nam phải quay về với Trung Quốc để có khả năng bảo vệ Đảng và chế độ. Kể từ đó, Trung Quốc đã có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc dùng Việt Nam làm cứ điểm để tiến hành kế hoạch kiểm soát Biển Đông và toàn thể các nước Đông Nam Á.

Vào thời điểm đó, tinh thần yêu nước trong giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn cao, cho nên mặc dù phải trở lại với Trung Quốc, họ cũng ráo riết vận động Mỹ bỏ cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Dần dần, chính sách nước đôi ấy đưa đến hai khuynh hướng bảo thủ và cấp tiến trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Do sự suy giảm thế lực vả ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ trong khi Trung Quốc phát triển mau chóng và xác lập đuợc vị thế của một siêu cường, phe bảo thủ Việt Nam giành đuợc ưu thế và sẵn sàng nhượng bộ Trung Quốc để đổi lấy sự bảo vệ quyền lực và quyền lợi riêng của Đảng. Ngoài hai bản hiệp ước phân định biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam, việc Trung Quốc xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa và công bố bản đồ hình lưỡi rồng (còn gọi là lưỡi bò) ở Biển Đông là những hành động phi pháp, ngang ngược không chỉ đối với Việt Nam mà còn với tất cả các nước trong khu vực. Sự nhượng bộ của Việt Nam lên đến mức báo động khi Nhà nước quyết định để cho Trung Quốc khai thác bô-xít trên Tây Nguyên, bất chấp những cảnh báo khẩn cấp của các nhà khoa học, chính trị và quân sự, đặc biệt là ba lá thư gửi lãnh đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu Chính phủ ngưng thực hiện các dự án khai thác bô-xít vì đây là “vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng.” Mới đây, hai vị cựu tướng lãnh Đồng Sĩ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh lại phát hiện được hành động bất chính của lãnh đạo mấy tỉnh biên giới đã âm thầm cho doanh nghiệp nước ngoài thuê 300 ngàn héc-ta (ha) rừng đầu nguồn để khai thác dài hạn (50 năm) trong đó 264 ngàn ha được dành cho Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Các ông đã viết thư cho Bộ Chính trị, báo động nguy cơ về an ninh quốc phòng, ô nhiễm môi trường và tai nạn cho nhân dân miền hạ du, và yêu cầu huỷ bỏ những hợp đồng bất chính ấy nhưng chưa có kết quả.

Người Việt hải ngoại có thể làm gì?

Trước viễn ảnh giang sơn mấy ngàn năm của tổ tiên bị biến thành một tỉnh của Trung Quốc, trước những biện pháp đe doạ và trừng trị tàn nhẫn của chính quyền, người dân trong nước vẫn còn phải cắn răng chịu đựng, ngoại trừ tiếng nói dũng cảm của một số trí thức và đảng viên có uy tín nhưng luôn luôn bị bộ máy công an sách nhiễu và bọn tin tặc tìm cách bóp nghẹt. Trước tình thế ấy, cộng đồng nguời Việt hải ngoại hết sức lo ngại và nóng lòng tìm cách đối phó. Nhiều phương cách tranh đấu đã được đưa ra, từ ôn hoà tới cực đoan, nhưng phần lớn chỉ là những điều mơ ước (wishful thinking) thiếu tính khả thi. Ngoài ra, trong cộng đồng vẫn chưa có sự thảo luận thẳng thắn, tôn trọng ý kiến khác biệt dù cùng theo đuổi một mục tiêu, do đó không đạt được sự đồng thuận, nhiều khi còn chụp mũ và mạt sát nhau thậm tệ, một hiện tượng được gọi là “quân ta đánh quân mình”.

Trở lại với nhận định ở trên là cần phải gấp rút tìm cách đối phó với những vấn đề quan tâm trước mắt được nhận diện về đối nội là tinh thần lệ thuộc Trung Quốc của phe nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, và đối ngoại là nguy cơ tổ quốc Việt Nam bị sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc và dân tộc Việt Nam bị đồng hoá trước những đợt di dân khổng lồ của người Hán. Trong khi cuộc tranh đấu của nhân dân cho tự do dân chủ vẫn có thể tiến hành dù còn bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính quyền, cuộc tranh đấu chống hiểm hoạ Trung Quốc sẽ khó khăn gấp bội vì đồng thời phải đương đầu với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Trong khi đó, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện dễ dàng hơn, tự do hơn để hỗ trợ cho nhân dân trong nước, nhất là khả năng vận động quốc tế cho một giải pháp “chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển” giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á mà chủ yếu là quan hệ bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nếu một thoả hiệp ASEAN-Trung Quốc có thể đạt được, chủ quyền Việt Nam sẽ được bảo đảm. Trước tình hình cấp bách hiện nay, cộng đồng hải ngoại cần gia tăng nỗ lực vào cuộc vận động quốc tế này. Dù thoả hiệp với Trung Quốc có đạt được hay không, sự đóng góp quan trọng của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ được ghi vào lịch sử.

Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt cần tập trung chiến dịch vận động vào Chính quyền và Quốc hội, các toà Đại sứ của các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế liên quan đến Trung Quốc và khu vực Á châu-Thái Bình Dương. Ngoài ra, cần kêu gọi sự hợp tác của giới trí thức và cộng đồng người Mỹ gốc Á, vì họ cũng rất quan tâm về tham vọng bành trướng của Trung Quốc và họ không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo của một siêu cường cộng sản độc tài. Một nhóm trí thức trẻ vùng thủ đô Washington DC đã bắt đầu mở cuộc tiếp xúc thăm dò với lãnh đạo của những tổ chức người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương để lập kế hoạch vận động chung. Tiếng nói của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu chắc chắn sẽ được các nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và các nước ASEAN trân trọng lắng nghe. Cộng đồng người Việt khắp nơi cũng cần có những hoạt động tương tự ở quốc gia sở tại và nối kết với cuộc đại vận động ở Hoa Kỳ.

Cuộc vận động của người Việt hải ngoại cho một giải pháp hoà bình ở Biển Đông chắc chắn sẽ được đồng bào trong nước vui mừng đón nhận. Đây cũng là cơ hội thuận tiện cho sự trao đổi và hợp tác giữa trí thức trong nước và trí thức ở ngoài nước về những vấn đề có lợi ích cho đất nước và dân tộc. Nhà nước sẽ không có lý do gì để ngăn cấm, trái lại còn cần phải ủng hộ vì đây cũng chính là cơ hội cho chính phủ có thể thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà vẫn có thể tồn tại. Dĩ nhiên, sự tồn tại này còn tuỳ thuộc vào những quyết định cởi mở của chính phủ về những quyền tự do, dân chủ căn bản của người dân trong một khung cảnh địa lý-kinh tế-chính trị mới của toàn vùng. Ngược lại, nếu Đảng và Nhà nước cứ tiếp tục ngăn cấm sự hợp tác chính đáng và hoà bình của người Việt Nam trong và ngoài nước thì sẽ không khỏi bị dư luận trong nước và quốc tế lên án  và sẽ không tránh khỏi sự chống đối quyết liệt của các tầng lớp nhân dân có thể dẫn đến bạo động. Đến lúc này, nhân dân đã có nhiều cơ hội hiểu biết hơn về thế giới bên ngoài và nhận rõ được nhu cầu chuyển hoá chế độ từ độc tài sang dân chủ để đất nước có thể tồn tại và phát triển trong khung cảnh hội nhập toàn cầu.

Tất nhiên cuộc vận động của người Việt hải ngoại chỉ có thể thành công nếu ASEAN, với hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các quốc gia Thái Bình Dương, có thể thuyết phục được Trung Quốc chấp nhận giải pháp chung sống hoà bình, hợp tác và phát triển. Kết quả mong ước này còn tuỳ thuộc vào vai trò cân bằng quyền lực của Hoa Kỳ và khả năng đạt được đồng thuận giữa các nước ASEAN, đặc biệt là những nước đang tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2010. Trong mười tháng còn lại, liệu Việt Nam có đủ khả năng điều động các nước thành viên tạm giải quyết những dị biệt song phương để tiến đến hợp tác đa phương hầu có đủ tư thế đối thoại với Trung Quốc hay không? Đây là cơ hội và cũng là thử thách mới cho Việt Nam trong năm nay. Lịch sử sẽ phán xét khả năng và tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam. Đây cũng là thử thách và cơ hội cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong vai trò chủ xướng cuộc vận động của cộng đồng người Mỹ gốc Á châu-Thái Bình Dương với chính phủ Mỹ và quê hương gốc của họ. Mong rằng cộng đồng sẽ không bỏ lỡ cơ hội đóng góp vào những nỗ lực xây dựng hoà bình trong khu vực và bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Nói đến cơ hội và thử thách của cộng đồng, đã đến lúc cần đề cập đến một vấn đề nhạy cảm có khi được coi như vấn đề cấm kỵ không nên đụng tới, đó là quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với chính quyền và một số thành phần nhân dân trong nước. Vấn đề này không nên và không thể né tránh vì nó là một thực tế đang diễn ra rất phức tạp, từ thái độ hồ hởi hợp tác của những người có thiện cảm với chế độ, những chương trình nhân đạo và giáo dục của các tổ chức NGO, đến thái độ thù nghịch một còn một mất với chính quyền cộng sản. Quan hệ phức tạp này cần được bình tâm thảo luận và giải quyết thích hợp vì không thể biến thái độ chống cộng cực đoan thành một mối thù truyền kiếp cho đến các thế hệ về sau. Nếu mối quan hệ này có thể giải quyết một cách hợp tình hợp lý và trở thành một đồng thuận lớn trong cộng đồng hải ngoại thì mọi thành phần nhân dân trong nước, kể cả những đảng viên cộng sản thật tình yêu nước và có đầu óc tiến bộ, sẽ vui mừng đón nhận và sẽ trở thành một khối áp lực có khả năng thay đổi chính sách và ngay cả chế độ, nếu cần.

Trong phạm vi bài này, tôi chỉ muốn nêu lên một số nhận định và đề nghị do sự hiểu biết của cá nhân để độc giả cùng xem xét và góp ý:

  1. Đa số nhân dân trong nước đều chán ghét chế độ nhưng cũng đã trở nên quen với những lề lối trong xã hội cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay, nhất là khi đời sống vật chất theo kinh tế thị trường đã dễ chịu hơn nhiều so với thời bao cấp. Họ cũng rất chán ghét chiến tranh và rất dè dặt đối với những biến động chính trị vì chưa thấy có lực lượng nào có thể chuyển hoá được chế độ; ngoài ra, họ rất hoài nghi và thờ ơ với các lực lượng “chống cộng” và những lời kêu gọi nổi dậy từ bên ngoài.
  2. Đa số nhân dân trong nước bị che giấu thông tin về những quyết định sai lầm của lãnh đạo có hậu quả nguy hại về kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng. Các cơ quan truyền thông quốc doanh chỉ trình bày những tin tức và hình ảnh có lợi cho chính phủ, chẳng hạn những thông tin về sự hợp tác và ủng hộ của quốc tế, những cuộc viếng thăm Việt Nam của nguyên thủ các cường quốc, những hội nghị APEC và ASEAN được tổ chức rầm rộ ở Hà Nội.
  3. Đối với mối lo ngại của nhân dân về mưu đồ xâm lược của Trung Quốc, Nhà nước một mặt trấn an dân chúng bằng những lời tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt đề cao quan hệ hữu hảo và bền vững giữa hai nước, che đậy những điểm nhượng bộ Trung Quốc trong các thoả hiệp song phương, và làm giảm thiểu tính nghiêm trọng của những hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông.
  4. Đối với những nỗ lực dân chủ hoá và đòi hỏi công bằng xã hội, Nhà nước thi hành các biện pháp ngăn chặn những lời khuyến cáo hay phản biện xây dựng của giới trí thức, khoa học gia, và thẳng tay đàn áp những cá nhân hay tổ chức tranh đấu cho tự do, dân chủ, những người bênh vực cho dân oan và lao động bị bóc lột. Những tội danh phi lý và những bản án quá đáng đối với những trí thức tranh đấu bất bạo động cho thấy mục đích của nhà cầm quyền là răn đe và gieo rắc sự nghi ngại trong dân chúng đối với ảnh hưởng từ bên ngoài.
  5. Đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26.3.2004 về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.” Đây là một kế hoạch toàn diện nhằm vận động ba triệu nguời Việt Nam ở nước ngoài thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc” với những đóng góp quan trọng về tài chính và trí tuệ rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước. Mặc dù mục đích này không thể đạt được chừng nào đất nước còn bị áp đặt dưới một chế độ độc tài toàn trị, những biện pháp thuận lợi hơn cho “Việt kiều” về nước du lịch, đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, hoạt động nghề nghiệp hay định cư lâu dài, cũng có khả năng hấp dẫn được một thiểu số nhất định trong cộng đồng hải ngoại.

Để vô hiệu hoá công tác tuyên vận một chiều của Nhà nước cộng sản, nhất là để có thể xoá bỏ những ý nghĩ và hình ảnh tiêu cực về số đông người Việt ở nước ngoài mà bộ máy tuyên truyền của nhà nước đã nhồi sọ nhân dân trong nước, cộng đồng hải ngoại cần phải thay đổi quan niệm và phương cách chống cộng đã lỗi thời. Qua những chuyến về thăm thân nhân và bằng hữu, những hoạt động cứu trợ nạn nhân bão lụt, những chương trình giúp đỡ y tế, giáo dục, hoặc cho vay vốn nhỏ của người Việt hải ngoại, đồng bào trong nước không cần bị tuyên truyền cũng nhận ra được thiện chí và ước vọng chính đáng của người Việt ở nước ngoài đối với quê hương nguồn cội. Niềm tin tưởng của đồng bào trong nước là điều kiện thiết yếu cho những nỗ lực tranh đấu chung cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Tình đoàn kết và hợp tác của người Việt trong và ngoài nước càng cần thiết hơn nữa cho những nỗ lực bảo vệ quê cha đất tổ, chống lại hiểm hoạ xâm lược và đồng hoá của Trung Quốc.

Đảng Cộng sản lo sợ và kết tội “diễn biến hoà bình” là chống phá chính phủ và dân tộc. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là diễn biến hoà bình chỉ chống Nhà nước độc tài để đem lại lợi ích cho dân tộc.

Đảng Cộng sản kêu gọi cán bộ và toàn dân học tập “đạo đức Hồ Chí Minh”. Người Việt hải ngoại sẽ chứng tỏ là Nhà nước độc tài chỉ mượn uy danh của “Bác Hồ” với nhân dân trong nước để duy trì chế độ, vì thực tế là họ đã làm ngược lại tất cả những lời ông đã dạy cho cán bộ cầm quyền. Ngoài ra cũng rất dễ chứng tỏ rằng chế độ cộng sản độc tài đã huỷ hoại các giá trị văn hoá và đạo đức của dân tộc, biến công dân thành công cụ của nhà nước khiến cho họ chỉ có cơ hội thăng tiến bằng những thủ đoạn gian dối để tỏ lòng tuyệt đối trung thành với chế độ.

Bằng mọi cách, cần phổ biến sâu rộng đến mọi giới nhân dân và quân đội những tin tức và tài liệu chính xác về tình hình Biển Đông, về những nguy hại của việc khai thác bô-xít Tây nguyên, khai thác rừng đầu nguồn, xây dựng đập nước ở thượng nguồn sông MeKong, những làng Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam, v.v. Đó là những thông tin bị Nhà nước bưng bít và ngăn cấm. Để có sức thuyết phục, cần sử dụng những tài liệu khách quan khoa học, nhất là những bài viết của chính những đảng viên và tướng lãnh có uy tín ở trong nước và của các quan sát viên quốc tế.

Cần tách rời những người cộng sản yêu nước ra khỏi những người cộng sản hại nước. Cần hỗ trợ cho những tài năng trẻ ở trong nước có thêm cơ hội học hỏi, phát triển khả năng sáng tạo và luôn luôn tự hào là dòng giống của con Hồng, cháu Lạc. Cần sẵn sàng tiếp xúc, trao đổi và tạo cơ hội hợp tác giữa những trí thức tiến bộ, những đảng viên sáng suốt, những nhà văn hoá và nghệ sĩ nổi danh trong và ngoài nước.

Gần đây, vì cần phải xoa dịu dư luận bất mãn của nhân dân, vì những động thái mới của Hoa Kỳ và các nước ASEAN nhằm bảo vệ an ninh và quyền lợi chung tại Biển Đông, chính quyền trong nước đã có thái độ mạnh dạn và có trách nhiệm hơn, như gia tăng lực lượng phòng thủ bằng việc mua tàu ngầm và phi cơ chiến đấu của Nga. Thủ tướng chính phủ cũng vừa lưu ý báo chí phải “lắng nghe ý kiến của người dân,” và thông tin nhanh nhạy hơn về vấn đề “bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền dân tộc.” Với kinh nghiệm về cách “nói một đàng, làm môt nẻo” của chính quyền cộng sản, mọi người Việt Nam trong và ngoài nước sẽ tiếp tục theo dõi những bước đi của Đảng và Nhà nước trong những tháng ngày sắp tới.

Tóm lại, vì nhu cầu thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì nhu cầu đại đoàn kết dân tộc trước nguy cơ bị Trung Quốc thôn tính và đồng hoá, cả chính quyền trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều cần phải có những quyết định đột phá, biến thử thách thành cơ hội, kết hợp được sức mạnh cần thiết cho sứ mệnh phát triển và cứu nguy đất nước. Trong tư thế của nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam có hai lựa chọn: dọn đường mở lối hay xây chướng ngại vật?

Trong bất cứ trường hợp nào, cộng đồng người Việt hải ngoại cũng vẫn tiếp tục hỗ trợ thích hợp cho tiến trình dân chủ hoá và những nỗ lực bảo vệ độc lập và vẹn toàn lãnh thổ của đồng bào trong nước.

© 2010 Lê Xuân Khoa

Advertisements

Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng

Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn.

“Với Việt Nam đừng tưởng mạnh mà thắng được yếu”

Nghĩ về sức mạnh cộng hưởng của dân tộc

Trách nhiệm phải lên tiếng

– Được biết ông đã có thư gửi các cấp lãnh đạo có thẩm quyền cảnh báo nguy cơ từ việc cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn. Vì sao ông không đồng tình với việc này?

Ai làm gì tôi không biết nhưng tôi thấy đây là một trách nhiệm phải lên tiếng.

Đặc điểm nước ta nhỏ hơn một tỉnh của Trung Quốc, chiều ngang hẹp, chiều dài dài, độ dốc núi đổ ra biển rất gần, các cơn lũ quét nhanh ngang tiếng động, thiên tai xảy ra liên tục, môi trường ngày càng xấu đi, đặc biệt nước biển dâng mất thêm diện tích ruộng đồng bằng. Đây là một hiểm hoạ cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia.

Ngoài chuyện chặt rừng đầu nguồn gây lũ lụt tôi còn băn khoăn ở chỗ nhiều địa điểm cho thuê có vị trí chiến lược và địa chính trị trọng yếu. Nhớ lại các thời kháng chiến, tất cả các tỉnh đều có căn cứ là các vùng rừng núi, kháng chiến chống Pháp ta có Việt Bắc, kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường sơn và vùng Tây Nam Bộ. Những đất rừng đầu nguồn này đều nằm trong đất căn cứ hoặc ở vùng biên giới. Ví dụ. Nghệ An đang cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp đây là 3 địa bàn phên dậu quốc gia. Lạng Sơn cũng vậy.

Đảng, Nhà nước ta trong thời đổi mới cần sử dụng đất cho các mục tiêu là cần thiết nhưng phải cân nhắc kỹ quy mô, địa điểm, tính từng mét đất. Trong khi dân ta còn thiếu đất, thiếu nhà, thiếu việc làm, triệt để không bán, không cho nước ngoài thuê dài hạn để kinh doanh, trồng rừng nguyên liệu, địa ốc, sân gôn, sòng bạc…

Tuy đã muộn, nhưng ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.

Nhiều ý kiến phản đối, chính quyền tỉnh vẫn ký

– Có ý kiến cho rằng kiến nghị của ông bắt nguồn từ việc thiếu thông tin chính xác, do đó phản ứng như vậy là có phần cực đoan?

Tôi có thông tin chứ không phải chỉ nghe nói đâu đó. Sở dĩ tôi có thông tin là do anh em ở bộ chỉ huy quân sự tỉnh và công an báo lên. Ngay khi nhận được tin báo tôi đã gọi về các địa phương để hỏi, lãnh đạo tỉnh cũng công nhận với tôi là có chuyện đó.

Ở một số địa phương, công an và bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã lên tiếng ngăn cản nhưng chính quyền vẫn ký. Thậm chí, có nơi Chủ tịch tỉnh kí cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn.

Hồi anh Võ Văn Kiệt làm Phó Thủ tướng, anh Kiệt có giao cho tôi làm đặc phái viên hai việc: Một là làm sao chấm dứt được việc đốt rừng; Hai là tạm thời đình chỉ việc xuất khẩu gỗ. Anh Kiệt cho đến lúc cuối đời vẫn còn trăn trở với 2 phần việc này.

Trong một văn bản ủy quyền cho tôi, anh ghi rõ giao đồng chí Đồng Sỹ Nguyên có quyền xử lí tại trận không cần báo. Gay gắt đến thế trong việc giữ rừng giữ đất. Để đồng bào có sức trồng rừng, anh Kiệt còn cho chở gạo từ phía Nam ra tiếp trợ.

Trong bảy năm được Đảng, Chính phủ giao phụ trách chương trình 327, tôi đã cùng các bộ, các địa phương lặn lội khắp mọi nẻo rừng, ven biển, các đảo; đã từng leo nhiều ngọn núi cao hàng 1000m, từ bước chân, qua ống nhòm đã tận mắt thấy cảnh tàn phá rừng để làm nương rẫy, chặt phá gỗ quý để sử dụng và xuất khẩu.

Mối nguy hại của việc tàn phá rừng đầu nguồn thế nào mọi người đều đã rõ. Bởi vậy, trồng rừng đầu nguồn là vấn đề sống còn, là sinh mệnh của người dân, chúng ta không chỉ trồng rừng mà còn phải bảo vệ rừng.

Đã cho thuê hơn 300 ngàn ha rừng

– Đến nay ông đã nhận được phản hồi nào về kiến nghị của mình chưa?

Khi tôi gửi kiến nghị lên thì có nhận được điện thoại của Thủ tướng. Thủ tướng nói với tôi là đã nhận được thư và đang giao cho Bộ Nông nghiệp đi điều tra thực tế. Bộ Nông nghiệp cũng đã thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng điều tra xong và gửi lại bằng văn bản cho tôi.

– Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp ra sao, thưa ông?

Bộ Nông nghiệp đồng ý với tôi việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn là sự thật. Bộ đã trực tiếp kiểm tra tại 2 tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Ngoài ra tổng hợp từ báo cáo của 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đó là một tầm nhìn rất ngắn!

Giới chức địa phương khi được phỏng vấn đã bác bỏ quan ngại với lý do các dự án đều đã được cân nhắc kỹ lưỡng vì lợi ích của cộng đồng dân cư. Ông nghĩ sao về lập luận này?

Nói như thế là không thuyết phục.

Ngay trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp cũng đã xác nhận một sự thật là một số nơi đã thu hồi đất của dân (đất lâm nghiệp thực tế đã có chủ) để giao cho nước ngoài thuê.

Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.

Việc lo cho dân phải là việc đặt lên hàng đầu, trước cả việc thu ngân sách. Cứ dựa vào những lập luận như tăng thu ngân sách để có những quyết định ví dụ như cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn là một tầm nhìn rất ngắn!

Sao không tự hỏi vì sao các DN nước ngoài lại chọn thuê đất chủ yếu ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, đặc biệt ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, nơi có trục đường 7, đường 8 sang Lào, đường đi lên Tây Nguyên? Rõ ràng đó là những tỉnh xung yếu biên giới, có những vị trí địa chiến lược mang tính cốt tử. Bản thân dân nước mình cũng đang thiếu việc làm.Và khi đã thuê được rồi thì liệu họ có sử dụng lao động là người Việt Nam hay là đưa người của họ sang?

Lấy ngay ví dụ việc cho nước ngoài thuê đất ở Đồ Sơn. Tôi đã trực tiếp đến kiểm tra, xung quanh khu vực đó, họ cho đóng những cột mốc to như cột mốc biên giới và không cho người Việt vào đó. Cận vệ của tôi tiếp cận xin vào họ cũng không cho, đến khi tôi trực tiếp xuống xe, làm căng quá mới vào được.

Việc một số địa phương nói rằng có những vị trí cho người nước ngoài thuê vì bao lâu nay vẫn để trống, nói như vậy là vô trách nhiệm, địa bàn anh quản lí mà để như thế tức là đã không làm tròn nhiệm vụ. Hồi tôi đi làm dự án 327, tôi rõ lắm, dân mình lúc nào cũng thiếu đất, muốn làm dự án còn không có mà làm, sao có đất để không được.

Kiến nghị đình chỉ ngay những dự án chưa ký

“Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc,
hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng”. Ảnh: Thu Hà

– Vậy theo ông, chúng ta cần phải làm gì trước hiện trạng này?

Một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, những tỉnh chưa kỷ đình chỉ ngay. Thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn chương trình 5 triệu ha rừng để thực hiện.

Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường lập ra bộ phận chuyên trách. Trong vòng một năm, chính thức giao khoán đất, khoán rừng cho từng hộ. Trong bản, trong xã cấp sổ đỏ quyền sở hữu sử dụng đất rừng vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.

Từ đây, tôi đề nghị mở rộng chương trình xoá đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp bố trí tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng.

Đất đai là thứ tài sản nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của dân tộc, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng.

Chiến lược thuê đất của Trung Quốc

<!–NGay gio Modified

–>

23/02/2010 23:44

Trên một nông trường của người Trung Quốc ở Sudan – Ảnh: ChinaDaily
Trong nhiều năm qua, người Trung Quốc đã thuê đất đai ở khắp các châu lục trên thế giới.

Theo BBC, ngày 30.1.2010, một cuộc biểu tình với hàng trăm người dân đã diễn ra tại thành phố Almaty ngay sau khi giới lãnh đạo Kazakhstan thông báo Trung Quốc muốn thuê hàng triệu héc-ta đất nông nghiệp của nước này.

Sự kiện trên chỉ là một trong vô vàn vấn đề liên quan tới chiến lược thuê đất của nước ngoài mà chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh trong nhiều năm qua.

Không ngừng mở rộng

Tờ The Finacial Times (Anh) ngày 8.5.2008 cho biết, dưới áp lực về lương thực, Trung Quốc đã phải hướng ra ngoài để thuê đất nông nghiệp, khích lệ các doanh nghiệp nông nghiệp xuất ngoại. Thực tế cho thấy Chính phủ Trung Quốc đã cổ vũ cho các doanh nghiệp ra nước ngoài thuê mua đất nông nghiệp, đặc biệt là ở châu Phi và Nam Mỹ. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đặc biệt khuyến khích các ngân hàng quốc doanh, doanh nghiệp sản xuất hoặc công ty dầu mỏ thuê đất đai ở nước ngoài.

Công ty Tân Thiên ở Tân Cương là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài. Từ năm 1996, Tân Thiên đã đầu tư 50.000 USD vào Cuba để trồng lúa nước. Hai năm sau, công ty này mua thêm 1.050 héc-ta đất ở Mexico. Tương tự, tháng 3.2004, chính quyền thành phố Trùng Khánh đã ký thỏa thuận hợp tác “Khu nông nghiệp tổng hợp Trung – Lào” với diện tích 5.000 héc-ta đất với nhiều hạng mục: lâm nghiệp, thủy lợi…

Mới đây, một quan chức Trung Quốc tiết lộ trên tờ The Finacial Times: “Bộ Nông nghiệp đang làm việc với Brazil để bàn việc mua đất trồng đậu”. Tờ báo cũng phân tích nếu Chính phủ Trung Quốc cổ vũ các doanh nghiệp mua hoặc thuê đất ở nước ngoài để kinh doanh và đưa lao động bản địa sang làm việc thì sẽ gây nên không ít vấn đề lớn cho các nước sở tại.

Thêm nữa, hoạt động nông nghiệp của Trung Quốc cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động nông nghiệp của nước sở tại. Từ hơn 10 năm trước, người Trung Quốc đã tới Mông Cổ trồng rau, chủ yếu là rau cải, kinh doanh rất phát đạt. Vài năm trở lại đây, số người Trung Quốc sang trồng rau cải ngày càng nhiều, khiến chính quyền Mông Cổ lo ngại vì sản phẩm của Trung Quốc lấn át sản phẩm nội địa.

Người Trung Quốc nói gì?

Việc Trung Quốc thuê đất ở nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ. Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã có những bước đi tương tự. Nhưng Trung Quốc có vẻ như đang thực hiện một cách ráo riết hơn.

Một câu hỏi đặt ra là mục đích chính của Trung Quốc khi mua hoặc thuê đất đai ở nước ngoài phải chăng chỉ đơn thuần nhằm phát triển nông nghiệp? Ông Lý Vỹ Tường – Phó chủ tịch Phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô thuộc Trung tâm Nghiên cứu phát triển nông thôn, trực thuộc Bộ Khoa học công nghệ Trung Quốc – trả lời tờ The Finacial Times: Kế hoạch làm nông nghiệp ở nước ngoài của Bắc Kinh mang lại hiệu quả chưa được như ý. Thông thường các doanh nghiệp nước này tự đi ra ngoài hoạt động, chủ yếu là châu Phi do đất đai ở đây dễ mua hoặc thuê. Tuy nhiên, sau khi mua hoặc thuê đất, họ lại vấp phải nhiều khó khăn như vấn đề an toàn, thiên tai, vận chuyển sản phẩm về nước. Theo ông này, việc ra nước ngoài mua hoặc thuê đất nông nghiệp nhằm bảo đảm vấn đề lương thực chỉ là một cách thử nghiệm.

Trong bài viết trên tuần báo Phương Nam hồi tháng 7.2009, ông Khổng Quốc Hoa – tiến sĩ kinh tế tại Đại học Sơn Đông – cho rằng việc “mượn đất nông nghiệp” là một phương thức có nguồn gốc lịch sử và không chỉ đơn thuần là phục vụ mục đích nông nghiệp. Thời Tây Hán, Triệu Sung Quốc đã áp dụng phương sách này. Chính sách này sau khi được áp dụng đã có hiệu quả to lớn, lương thực không những dư thừa mà đất đai còn rộng mở. Triệu Sung Quốc được coi như một nhà chính trị tài ba nhìn xa trông rộng. Kế sách mượn đất của ông được người dân nước này truyền tụng từ đời này sang đời khác, trở thành “văn hóa mượn đất”, tác động mạnh mẽ tới tận thời nay.

Tiến sĩ Khổng cũng cho rằng việc thăm dò khai phá đất biên cương cũng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kích thích mậu dịch biên cương và giao lưu dân tộc phát triển, ổn định biên giới. Như vậy thông qua việc thuê mượn đất, người Trung Quốc xưa đã thực hiện được rất nhiều mục đích chính trị, xã hội.

Cũng theo ông Khổng, ngoài “mượn đất”, nước này còn sử dụng sách lược “mượn biển” hỗ trợ cho lĩnh vực kinh tế và quân sự, đặc biệt tăng thêm tự tin và khích lệ phát triển vùng duyên hải. Tính tới năm 2008, tổng giá trị sản xuất ngành hải sản nước này đã chiếm 9,87% tổng sản phẩm quốc nội. Theo tiến sĩ Khổng Quốc Hoa, chính quyền Trung Quốc hiện tại đã sử dụng phương cách thời Tây Hán để tăng cường các hoạt động kinh tế trên biển.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên:

Cho nước ngoài thuê đất rừng là rất nguy hiểm

>> Lợi ích quốc gia

TP – “Đất rừng ở ta không phải là nhiều, trong khi có nơi còn lấy đất rừng của dân để cho nước ngoài thuê là rất nguy hiểm”, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khẳng định, khi trả lời phỏng vấn Tiền Phong.

Ông Đồng Sỹ Nguyên – Ảnh: B.K

L.T.S: Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vừa có thư gửi  Bộ Chính trị, Ban Bí thư T.Ư Đảng, Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cảnh báo về việc các tỉnh cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Tiền Phong có cuộc trò chuyện với ông, xung quanh câu chuyện này.

Ông Đồng Sỹ Nguyên nói: “Tôi có thư gửi vì một số anh em ở các tỉnh báo cáo với tôi. Các anh em ở Nghệ An không đồng ý việc cho nước ngoài thuê đất để trồng rừng ở các huyện miền núi, đầu nguồn.

Sau khi nhận được thông tin, tôi có hỏi lại Chủ tịch tỉnh và họ công nhận. Trong khi đó, tại tỉnh, Công an tỉnh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh phản đối. Mà sự phản đối ấy là đúng.

Vì sao tôi đi sâu vấn đề này? Vì tôi có 7 năm làm chương trình 327. Từ những ngọn núi cao trên 1.000 m đến các đồi núi rừng khác, đâu tôi cũng lội hết”.

Dân thiếu đất sao lại cho thuê?

Bức thư đã được ông gửi từ bao giờ?

Tôi gửi từ trước Tết.

Từ khi gửi thư đến nay ông đã nhận được hồi âm?

Sau khi tôi gửi lên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có điện thoại cho tôi nói là đã nhận được thư và giao Bộ NN&PTNT kiểm tra.

Sau khi Bộ NN&PTNT kiểm tra đã có báo cáo gửi Thủ tướng và có gửi cả cho tôi. Báo cáo có thừa nhận cho 11 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng tại 10 tỉnh.

Việc các tỉnh cho thuê đất rừng được thực hiện theo Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Đất đai. Điều gì khiến ông lo ngại và gửi thư?

Qua 7 năm làm công tác trồng, bảo vệ rừng phòng hộ, càng đi vào thực tế tôi thấy đất nước ta chiều dài rất dài trong khi chiều ngang rất hẹp. Núi với biển rất gần. Độ dốc lớn. Cho nên khi có lũ quét thì sẽ phá hủy rừng núi, đồng ruộng, nhà cửa nhanh như tiếng động.

Do đó, phải làm sao phát động đồng bào dân tộc miền núi tập trung trồng rừng. Cả ở đồng bằng và ven biển nữa. Chỉ có trồng rừng theo đặc điểm địa hình Việt Nam thì mới hạn chế được phần nào tác động của thiên tai.

Vậy mà nay mình cho nước ngoài vào thuê đất trồng rừng, liệu ta trông mong gì được ở họ? Nhà đầu tư nước ngoài họ chỉ quan tâm lợi nhuận mang về nước họ.

Kết quả kiểm tra của Bộ NN&PTNT ra sao, thưa ông?

Nội dung báo cáo của Bộ NN&PTNT cho biết, họ đã trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và tổng hợp báo cáo của 8 tỉnh về việc cho nước ngoài thuê đất rừng. Báo cáo có thừa nhận cho nước ngoài thuê, hoặc liên doanh để trồng rừng tại 10 tỉnh với diện tích trên 300.000 ha.

Các diện tích cho thuê đó cụ thể là thế nào, thưa ông?

Như tôi đã nói, đặc điểm của nước ta là dài, núi và biển cận kề, vì vậy việc trồng, bảo vệ rừng đầu nguồn ở miền núi là vấn đề cấp bách. Việc này ai làm. Phải để cho người dân Việt Nam làm.

Do đồng bào miền núi đất ruộng ít, đất rừng nhiều. Tại sao không chia đất rừng cho đồng bào miền núi làm, khắc phục cái đói cho họ để cho người cày có ruộng. Đây là yêu cầu bức bách. Cách mạng sở dĩ thành công cũng là nhờ khẩu hiệu “người cày có ruộng”.

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ở ta bình quân chỉ 0,15 ha rừng trên đầu người, thấp hơn nhiều mức bình quân thế giới 0,6 ha/đầu người. Qua kiểm tra thực tế tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, nếu chia tổng diện tích đất quy hoạch làm rừng sản xuất cho các hộ dân thì cũng chỉ 4 – 5 ha/hộ.

Diện tích này không lớn đối với sản xuất lâm nghiệp. Như vậy sao lại phải cho nước ngoài thuê?

Tôi nghĩ, nếu mỗi hộ ở miền núi được giao 4 – 5 ha đất rừng sản xuất, thì người miền núi còn dễ làm giàu hơn đồng bằng, do có thể thực hiện đa cây, đa con.

Một cây trồng đất rừng giá trị lắm. Ví dụ nếu bán một cây xà cừ như ở trước cửa nhà tôi là phải 50 triệu đồng. Nên nếu một hộ dân trồng 10 cây xà cừ thì tha hồ thế chấp, vay ngân hàng. Rồi cấp sổ đỏ cho họ thay vì cho người nước ngoài thuê.

Người nước ngoài thuê vì họ trồng rừng nguyên liệu. Quan điểm trồng rừng của tôi khi tôi phụ trách chương trình 327 cũng có người phản đối do không hiểu đặc điểm rừng Việt Nam.

Quan điểm của tôi, đã là đất rừng, cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và cả rừng kinh tế là phải kết hợp. Rừng phòng hộ thì cứ 1ha đất chỉ cần dành trồng 500 cây lim, gụ, táu, lát… Còn 1.000 cây nguyên liệu là keo.

Cứ đan xen với nhau thì lúc nào cũng có rừng khai thác và phòng hộ cho các đời con cháu. Đây cũng là điều kiện để đồng bào xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.

Lợi trước mắt, hại lâu dài

Có ý kiến cho rằng, việc các tỉnh cho nước ngoài thuê rừng cũng do  áp lực tăng trưởng, tăng thu cho ngân sách?

Tôi cũng băn khoăn nhiều nhưng nói không biết có ai nghe không. Tại sao dân mình, đất mình mà không giao làm. Sao không cho nông dân vay khá hơn thay vì cho nước ngoài vay để kinh doanh bất động sản, xây dựng cao ốc.

Cho nông dân vay để trồng rừng thì không sợ mất tí nào. Mỗi hộ chỉ cần trồng một ít cây xà cừ, một ít cây lát thì tha hồ trả tiền vay. Việc đó phải tập trung lo cho dân trước, thay vì tăng thu ngân sách.

Trên thế giới, qua từng thời kỳ, có nhiều nước, nước Mỹ cũng vấp phải bong bóng bất động sản làm cho nước Mỹ bao lần suy thoái kinh tế. Ngay Trung Quốc cũng phải thừa nhận các tỉnh thi nhau bán đất để tăng thu ngân sách, phô trương tăng GDP 13 đến 14%.

Để đạt mức tăng này nhanh nhất là bán đất. Điều đó chỉ có lợi trước mắt nhưng tương lai thì vô cùng nguy hiểm. Bán đất để tăng thu ngân sách, theo tôi là điều ngớ ngẩn, không hiểu kinh tế. Họ muốn phô trương thành tích thật nhanh mà không tính lâu dài.

Còn dưới góc nhìn về an ninh quốc phòng thì sao, thưa ông?

Kháng chiến chống Pháp ta có căn cứ Việt Bắc. Kháng chiến chống Mỹ ta có rừng Trường Sơn, rừng đước ở miền Nam…Rừng đã che chở cho cách mạng. Khi chiến tranh là phải có căn cứ để sơ tán nhân dân, đối phó với địch…

Giờ những đất đầu nguồn, đất rừng này đều thuộc về đất căn cứ cả. Nghệ An cho thuê ở Tương Dương, Quỳ Châu, Quỳ Hợp…, những vùng khi có chiến tranh thì phải lên đó.

Tại sao dân ta thiếu việc làm, phải đi làm thuê ở Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan…Ta sang họ thì làm thợ, còn họ sang ta làm thầy. Tại sao không giảm bớt phần tiền đầu tư vào bất động sản đưa sang trồng rừng, giảm lượng thất nghiệp, giúp người dân làm giàu.

Ngay như khu Ciputra ở Hà Nội, chúng ta cho thuê 50 năm rồi họ khoanh lại xây biệt thự, bán lại cho dân ta. Phần lợi nhuận hốt được thì họ mang về nước.

Không chỉ có vậy, họ còn dựng hàng rào, biến khu đất thuê này thành khu biệt lập, mà không phải ai muốn vào là vào được. Ở ngay Thủ đô còn vậy, huống chi ở miền núi xa xôi, hẻo lánh.

Nhưng thưa ông, lãnh đạo một số địa phương cho thuê đất rừng  khẳng định việc cho nước ngoài thuê đất rừng đã được cân nhắc rất kỹ về vấn đề an ninh quốc phòng rồi?

Từ báo cáo của Bộ NN&PTNT, tôi thấy có điều khá nhạy cảm là doanh nghiệp nước ngoài họ lại chọn thuê ở nhiều địa điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng.

Cụ thể, họ thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An, họ thuê ở các địa điểm gần với đường 7 và 8 sang Lào. Họ thuê ở Quảng Nam, có đường thuận tiện đi lên Tây Nguyên, qua Campuchia.

Như vậy là nắm những con đường trọng yếu của mình. Bây giờ nói như thế nhưng nay mai họ đưa người đến. Kinh nghiệm cho thấy khi làm các dự án, họ đều đưa người đến thành các làng mạc, thị trấn.

Thưa ông, trong báo cáo của Bộ NN&PTNT, quan điểm của họ về vấn đề này thế nào?

Bộ NN&PTNT kiến nghị với Chính phủ 5 vấn đề, thì trong đó có hai nội dung tôi hoàn toàn đồng ý: Một là do đất lâm nghiệp bình quân trên đầu người của ta quá ít (chỉ 0,15 ha/người), trong khi nhu cầu đất lâm nghiệp của dân rất lớn.

Vì vậy, nên hạn chế việc cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê đất lâm nghiệp, chỉ nên khuyến khích thu hút đầu tư thông qua liên doanh, liên kết với dân và doanh nghiệp trong nước;

Hai là khẩn trương giao đất, giao rừng cho người dân, đồng thời nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho dân để họ có tư liệu sản xuất và có thể liên kết với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài để trồng rừng…

Nếu làm được như trên là rất tốt. Trên cơ sở đó chỉ đạo, hướng dẫn cho dân vay vốn phát triển, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT vẫn chưa dứt khoát, họ cũng mới chỉ kiến nghị theo kiểu khuyến cáo, đề nghị hạn chế cho nước ngoài thuê.

Phải đình chỉ ngay

Ý ông là phải cấm hẳn?

Trong thư gửi Bộ Chính trị tôi đã nói rõ, với những tỉnh đã lỡ ký cho doanh nghiệp nước ngoài thuê, thì phải tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng, với những tỉnh thuộc vùng xung yếu mà chưa ký thì đình chỉ ngay.

Tôi cho rằng, phải giao đất rừng đến hộ. Sau đó, Nhà nước phải cho họ vay vốn để trồng rừng, đảm bảo kinh tế cho người dân. Điều đó là cần. Còn cho nước ngoài thuê thì họ đi theo lợi nhuận. Của mình thì lợi nhuận phải kết hợp với lợi ích lâu dài của đất nước.

Tốt nhất là để cho các doanh nghiệp trong nước làm. Điều này có thể làm được. Xóa đói giảm nghèo là phải tổ chức được sản xuất của nông dân. Nông dân phải tự đứng mà sản xuất, tự mình làm chủ thì mới xóa đói giảm nghèo bền vững được.

Thỉnh thoảng ti vi có các chương trình, các tổng công ty lên ủng hộ, tặng quà cho người nghèo 1 hay 2 tỷ đồng nhưng làm thế không ra đâu cả, vì nó như là bố thí. Như thế làm sao xoá đói giảm nghèo vững chãi được.

Tôi cũng đề nghị cấp sổ đỏ, giao đất khoán rừng cho dân, Nhà nước bớt đầu tư, cho vay không cần thiết để cho dân miền núi vay nhiều hơn, đạt một công đôi việc: Vừa làm kinh tế vừa làm rừng phòng hộ.

Quan niệm của tôi, tách rừng làm kinh tế và rừng phòng hộ riêng là một sai lầm nghiêm trọng. Phòng hộ phải kết hợp từ trên núi cho đến biển cả, làng mạc, đô thị.

Nhưng có ý kiến cho rằng, những nơi cho nước ngoài thuê lâu nay là đồi núi trọc, có giao dân cũng không mặn mà?

Lý đó không chấp nhận được. Đất mình, dân mình. Mình phải rất kiên trì giáo dục, thuyết phục. Khi tôi làm Chương trình 327, muốn mở rộng dự án nhưng không có đất. Đất không còn.

Bây giờ làm như thế này và trong báo cáo của Bộ NN&PTNT có nói, có nơi như ở Lạng Sơn giao cho nước ngoài chồng lấn lên cả đất của dân. Điều này rất nguy hiểm.

Còn họ nói các nơi đó không có ai làm thì phải hỏi họ: Anh lãnh đạo chính quyền làm gì? Đảng và chính quyền là phải lo cho dân làm. Thế tại sao anh đi xuất khẩu lao động được mà không đưa dân đến những vùng đó để làm được.

Giờ sông Mê Kông nước chặn đầu nguồn, đồng bằng sông Cửu Long ngày càng cạn kiệt trong khi nước mặn xâm lấn thì hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng là đã ở trước mắt. Không thể chủ quan. Phải thấy trước được điều đó.

Muốn giữ được an ninh lương thực thì phải giữ được đất đai. Đất đai là tài nguyên quý nhất của đất nước và là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân.

Cho thuê rừng phòng hộ: Phải bồi thường cũng nên dừng

GS TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường bàn cách giải quyết những bất cập từ việc cho nước ngoài thuê rừng, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo rà soát và ngừng cấp phép mới cho các dự án FDI trong lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản.

Ngày 10.3, Thủ tướng chỉ thị Ủy ban nhân dân các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đợi Chính phủ rà soát.

Như vậy, Chính phủ đã có phản hồi nhanh chóng và sau lá thư của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo những nguy cơ từ việc 10 tỉnh cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.

Đây là một tín hiệu tích cực từ cơ quan điều hành đất nước trước một vấn đề đang gây quan ngại sâu sắc trong dư luận.

Với tư cách một người có hiểu biết về tình hình quản lý và sử dụng đất ở nước ta, tôi cho rằng cần bàn thêm để đóng góp cho cách giải quyết tình trạng này.

Ảnh Duy Tuấn

Vi phạm cần được xử lý nghiêm

Tôi cho rằng câu chuyện xử lý này cần những biện pháp mang tính nguyên tắc hơn dựa trên cơ sở pháp luật và quy hoạch. Trước hết, 10 tỉnh đã ký hoặc đang làm thủ tục ký cho người nước thuê đất rừng phải báo cáo cụ thể các thủ tục đã thực hiện, hiện trạng vùng dự án gắn với bản đồ tỷ lệ 1/10.000.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và Môi trường áp vào quy hoạch hiện tại, đề xuất điều chỉnh hợp lý quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất (trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng).

Những diện tích đã ký cho thuê nếu thuộc vùng rừng sản xuất thì được tiếp tục triển khai, nếu thuộc vùng rừng phòng hộ thì phải rút ngay lại địa điểm thực hiện dự án và chuyển dự án sang vùng rừng sản xuất khác trên địa bàn tỉnh (nếu phải bồi thường cho nhà đầu tư thì cũng phải làm).

Những diện tích đang trong giai đoạn thực hiện thủ tục dự án (chưa ký cho thuê) hoặc đang trong kế hoạch cho thuê của lãnh đạo tỉnh thì đều phải dừng lại chờ điều chỉnh quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Một điều nữa cần làm là xử lý những sai phạm của lãnh đạo tỉnh khi ký cho người nước ngoài thuê rừng phòng hộ, nhất là những trường hợp đã có ý kiến không đồng thuận của cơ quan công an, bộ chỉ huy quân sự tỉnh.

Theo pháp luật về đất đai nước ta, dự án đầu tư phát triển rừng chỉ được thực hiện trên vùng rừng sản xuất. Công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là do các Ban quản lý rừng kết hợp với nhân dân địa phương thực hiện. Những vi phạm pháp luật cần được xử lý nghiêm, giữ kỷ cương cho hôm nay và cho mai sau.

4 giải pháp dài hơi

Khi những xử lý trước mắt đã tạm ổn thì cần thực hiện 4 giải pháp dài hơi bao gồm: một là quy hoạch lại đất rừng trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng; hai là xác lập các hàng rào kỹ thuật đối với đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trên nguyên tắc bảo đảm an ninh quốc gia song hành với bảo đảm bình đẳng về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư; ba là tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của bộ máy hành chính, công tác giám sát của hệ thống cơ quan dân cử và khuyến khích người dân tham gia quản lý; bốn là sử dụng công nghệ cao (nhất là ảnh chụp từ vệ tinh) để giám sát chặt chẽ hiện trạng rừng và các hoạt động có liên quan đến rừng.

Nhà nước ta đã nỗ lực rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Chương trình 327 trước đây và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng hiện nay là những minh chứng cho điều đó.

Chủ trương của Nhà nước thật rõ ràng về bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ thể hiện trách nhiệm cao với dân mà đó còn là trách nhiệm đóng góp giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.

Trong thực tế triển khai, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đang còn rất nhiều bức xúc. Ngay trong chính sách giao đất, giao rừng, chúng ta cũng vẫn chưa tìm ra cơ chế phù hợp để tạo động lực thực sự. Có địa phương đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, có địa phương chủ trương giao cho cộng đồng dân cư quản lý, có địa phương muốn giao cho doanh nghiệp lâm nghiệp, có địa phương lại muốn sử dụng đầu tư nước ngoài trực tiếp, có địa phương thực hiện giao cho các đơn vị quốc phòng.

Về mặt phân loại rừng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã đề xuất nên chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ ở những nơi không xung yếu sang rừng sản xuất nhằm phát triển rừng bằng động lực thị trường.

Trên thực tế, công việc quản lý còn đầy bề bộn mà lâm tặc vẫn hàng ngày phá rừng đầu nguồn, tai biến lũ lụt do mất rừng đầu nguồn ngày càng thường xuyên hơn. Cơn lũ vừa qua ở Miền Trung cuốn trôi gỗ khai thác lậu từ đầu nguồn về cửa sông mới cho ta biết rừng đầu nguồn bị phá nhiều đến thế.

Mỗi người đều không thể không suy nghĩ về những cách thức làm sao cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn. Những kinh nghiệm của hơn 20 năm thực hiện kể từ khi bắt đầu Đổi Mới cũng đủ để đưa ra những kết luận xác đáng.

Quy hoạch lại cho đúng

Thứ nhất, vấn đề bảo vệ và phát triển rừng không thể chỉ nhìn dưới góc độ kinh tế và môi trường, mà cần phải nhìn trước hết dưới góc độ quốc phòng, an ninh. Các góc độ này phải được thể hiện đầy đủ trong khâu quy hoạch không gian đối với các loại rừng sau khi phân tích cụ thể các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế.

Đối với rừng phòng hộ ở những vị trí quan trọng, cần giao cho các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang để bảo vệ và phát triển. Từ đây, có thể thấy cần xem xét lại đề xuất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy hoạch lại rừng phòng hộ và rừng sản xuất, quy hoạch lại cho đúng hơn là cần thiết nhưng phải xem xét trên nguyên tắc kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh và dự tính lực lượng chủ yếu để bảo vệ và phát triển rừng (hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư hay doanh nghiệp hay lực lượng vũ trang).

Quy hoạch này cần được xây dựng chi tiết, thẩm định cẩn thận và được Quốc hội quyết định.

Lo an ninh để Việt Nam độc lập tồn tại

Thứ hai, trong thời kỳ triển khai mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới, chúng ta phải tuân thủ “luật chơi” chung về sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Khi đã là rừng sản xuất thì nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước được quyền tiếp cận như nhau. Chúng ta không thể đặt rào cản pháp luật để hạn chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ta có thể đặt rào cản kỹ thuật (khi cần thiết) như hàng rào về quy hoạch, về môi trường, v.v.

Cách thức này đòi hỏi những tư duy dài hạn và những dự báo có độ tin cậy cao, chất lượng quản lý cần được nâng cao hơn nhiều lần.

Chúng ta cần tăng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, cần hội nhập sâu hơn với kinh tế quốc tế để phát triển, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là an ninh quốc gia để đất nước được độc lập tồn tại.

Đẩy mạnh giám sát

Thứ ba, trong quản lý hiện nay, công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hành chính cấp trên đối với cấp dưới còn yếu, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan hành chính đã được đẩy mạnh nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, việc khuyến khích người dân tham gia vào quản lý đã có nhưng chưa được nhiều.

Bằng mọi cách, các hoạt động này cần được đẩy mạnh để tạo nên hệ thống quản lý vững chắc, cấp trên luôn biết được cấp dưới làm gì và có quyết định điều chỉnh kịp thời. Phân cấp quản lý là cần thiết nhưng cũng cần có lộ trình phù hợp với tính hoàn chỉnh của hệ thống và năng lực thực hiện của từng cấp.

Thứ tư, số liệu thống kê hiện trạng rừng hiện nay vẫn được thực hiện theo quy trình dưới lên: xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo lên tỉnh, tỉnh báo cáo lên Trung ương. Độ tin cậy của cách làm này không cao, ngay kể cả trường hợp không xẩy ra gian dối số liệu.

Trên thực tế, ai cũng biết rằng rừng ở nước ta bị phá rất nhiều nhưng theo số liệu chính thức thì ta vẫn có trên 15 triệu ha rừng.

Ở các nước người ta thường sử dụng ảnh vệ tinh là một kênh kỹ thuật thứ hai để thống kê số liệu do các cơ quan kỹ thuật ở Trung ương thực hiện độc lập. Bằng kênh này có thể không chỉ kiểm tra được số liệu của các địa phương, mà còn phát hiện được những nơi rừng đang bị tàn phá, khai thác, cháy, v.v.

Năm 2008, nước ta đã hoàn thành dự án xây dựng trạm thu ảnh vệ tinh hiện đại (theo ODA của Chính phủ Pháp) đặt tại Bộ Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ tính năng kỹ thuật để giám sát hiện trạng tài nguyên và môi trường (trong đó có tài nguyên rừng). Rất tiếc, cho đến nay trạm đã vận hành được hơn 1 năm nhưng chưa thực hiện được việc kiểm kê bất kỳ loại tài nguyên nào.

Đầu tư xây dựng trạm là một việc, nhưng đầu tư để khai thác trạm vào mục đích quản lý là việc còn quan trọng hơn. Quản lý hiện trạng rừng bằng ảnh thu thường xuyên từ trạm này là một việc cần thiết cho đất nước hơn lúc nào hết.

Những suy nghĩ trên đây chỉ là những việc chúng ta có thể làm ngay, trong khả năng chúng ta làm được. Mọi cân nhắc quá phức tạp trong quản lý tài nguyên rừng đều luôn là muộn so với những lời kêu cứu của rừng.

Đấu trí trên thị trường gạo thế giới

Thứ sáu, 26/02/2010, 01:02 (GMT+7)
Trong buổi họp báo ngày 25-2 tại TPHCM do Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) tổ chức, ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch Thường trực VFA cho biết, 2 tháng đầu năm, các doanh nghiệp xuất khẩu 704.000 tấn gạo (tháng 2 là 350.000 tấn gạo), với giá trị kim ngạch là 389 triệu USD (giá CIF – giao hàng tại cảng nước ngoài), giá bình quân 473 USD/tấn, nếu so 2 tháng cùng kỳ năm 2009 thì lượng xuất giảm 25,22% và giá trị giảm 7,35% (giá CIF), nhưng giá xuất bình quân tăng 73,8 USD/tấn.

Kiểm tra chất lượng gạo xuất khẩu tại Công ty Lương thực Trà Vinh. Ảnh: Đ.C.P.

Mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo

* Theo VFA, lượng lúa hàng hóa vụ đông-xuân 2009 – 2010 quy ra gạo khoảng 3 triệu tấn cùng với lượng gạo tồn kho năm 2009 gối đầu 1,45 triệu tấn, như vậy cân đối 6 tháng đầu năm là 4,45 triệu tấn gạo để xuất khẩu. Trong đó, quý 1 là 1,15 triệu tấn, quý 2 có thể xuất khẩu 2 triệu tấn. Dự kiến cả năm xuất khẩu 5,5 – 6 triệu tấn gạo. Vấn đề hiện nay là hợp đồng ký thêm trong quý 2 khoảng 650.000 tấn.

Cũng tại buổi họp báo, Phó Chủ tịch VFA Phạm Văn Bảy cho biết, giá gạo 5% tấm của Thái Lan chỉ còn 515 USD/tấn, gạo 25% tấm là 485 USD/tấn. Gạo 5% tấm của Pakistan cũng giảm xuống còn 440 USD/tấn, gạo 25% là 350 USD tấn. Giá gạo chào bán của VFA cũng ở mức 440 USD/tấn (gạo 5%). Như vậy là giá gạo trên thị trường thế giới giảm khá mạnh so với cuối năm 2009. Giá gạo thế giới giảm, cộng với tiến độ xuất khẩu chậm đã tác động thị trường lúa gạo trong nước, khi thương nhân mua vào hạn chế làm giảm khá mạnh giá lúa những ngày qua.

Trước tình hình này, VFA cam kết mua hết lúa hàng hóa vụ đông-xuân (khoảng 6 triệu tấn) và quyết định mua ngay 1 triệu tấn gạo (gần 2 triệu tấn lúa) từ ngày 25-2 đến tháng 4. Trong đó, riêng tháng 3 là 600.000 tấn gạo nhằm giảm bớt áp lực lúa hàng hóa trên thị trường khi lúa đông-xuân vào vụ thu hoạch. Khoảng 30 doanh nghiệp (DN) hàng đầu xuất khẩu gạo (có kho tàng, nhà máy xay, kim ngạch xuất khẩu cao, tài chính lành mạnh…) được VFA giao chỉ tiêu mua gạo tạm trữ (không tính lượng gạo mua để xuất khẩu).

Để tạo điều kiện cho những DN này tích cực mua gạo tạm trữ, VFA sẽ báo cáo để Chính phủ có những giải pháp hỗ trợ cho DN sau này (lãi suất ưu đãi chẳng hạn). Trước mắt, VFA sẽ ưu tiên giải quyết việc xuất khẩu gạo theo hợp đồng tập trung đã ký được phân chia trước đó của DN để giải phóng kho tàng, có tiền mặt. VFA cũng ưu tiên phân chia cho các DN này lượng gạo hợp đồng tập trung sẽ được đấu thầu trong thời gian tới với Philippines, Malaysia…

Theo VFA, giá lúa khô đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mua tại kho DN hiện nay là 4.300– 4.400 đồng/kg (giá tại ruộng thấp hơn). Nếu diễn biến bất lợi, giá tiếp tục giảm, các DN của VFA cũng sẽ mua với giá thấp nhất là 4.000 đồng/kg (theo tham khảo các địa phương, ước tính giá thành lúa vụ đông-xuân này ở ĐBSCL bình quân khoảng 2.200 đồng/kg). Ngày 2-3, VFA cùng với các bộ ngành và địa phương ĐBSCL họp về việc triển khai các giải pháp đồng bộ trong việc thu mua lúa hàng hóa trong dân tại tỉnh An Giang.

Ông Phạm Văn Bảy nhấn mạnh, dù chưa thể gọi là hoàn thiện, nhưng những giải pháp cấp bách này nếu DN thực hiện tích cực, bài bản sẽ giải tỏa áp lực giảm giá lúa trên thị trường. Nét mới năm nay là VFA chỉ đạo công ty lương thực các tỉnh mời những thương nhân (hàng sáo, nhà máy…) trong vùng lại trong một tổ chức với cam kết mua hết lúa để thương nhân không bị lỗ, có thể ứng vốn… Qua đó sẽ hạn chế vấn nạn ép giá bà con trồng lúa trong bối cảnh hiện nay.

Nhu cầu thế giới vẫn cao

Lợi dụng giá gạo thế giới giảm khá mạnh, mới đây, có nhà nhập khẩu đưa giá tham khảo để mua thấp đến mức vô lý nhằm gây hoang mang DN và làm rối thị trường trong nước. VFA trấn an hội viên và sẽ có giải pháp nếu công ty nước ngoài này tiếp tục chào giá bất hợp lý như vậy để bảo vệ quyền lợi cộng đồng DN trong nước, nhất là bà con trồng lúa.

Thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: DƯƠNG MINH TUẤN

Dù thị trường thế giới đang giảm giá, nhưng VFA phân tích, nhu cầu mua gạo các nước thời gian tới khá lớn: Philippines sau khi đấu thầu mua gần 2 triệu tấn gạo cuối năm 2009 sẽ mua thêm 800.000 tấn gạo 25% tấm, dự kiến mở thầu cuối tháng 3 mua 600.000 tấn (số còn lại giao cho 9 công ty để mua theo hợp đồng thương mại. VFA cử 3 DN ở Tiền Giang, An Giang và Kiên Giang để đàm phán các công ty này, sau đó sẽ phân chia lại cho các thành viên khác như một dạng hợp đồng tập trung).

Với Malaysia, DN đã ký hợp đồng cung cấp 200.000 tấn gạo, Iraq đang mở thầu mua 250.000 tấn gạo (Vinafood 1 tham gia). Thị trường châu Phi bắt đầu có nhu cầu mua gạo (5% tấm) thông qua các công ty đa quốc gia với lượng khá lớn. Những nhà nhập khẩu này định chốt giá để mua, nhưng do thời gian qua khi tham khảo giá các DN Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn và biết vùng ĐBSCL đang thu hoạch lúa đông-xuân nên chần chừ chưa muốn ký.

Ngoài ra, với diễn biến thời tiết bất lợi hiện nay ảnh hưởng đến an ninh lương thực và tác động của chỉ số giá tiêu dùng nội địa, nên một số nước khác sẽ nhập khẩu gạo với số lượng lớn để cân đối cung cầu. Dự báo nhu cầu này sẽ xảy ra vào quý 2 và 3. Chỉ cần một trong những nước trên nhập khẩu gạo sẽ làm giá gạo thế giới biến động lớn. Thông tin này là khá chính xác, vì vậy, VFA nhận định, xác suất rủi ro ít hơn so với cơ hội giá cao đối với DN mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo hàng hóa.

Tình hình hiện nay khá giống thời điểm tháng 8 và 10-2009, khi Philippines mở thầu đã đẩy giá gạo trên thị trường lên cao. Do vậy, đây như là một cuộc đấu trí giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu trên thị trường vốn đầy biến động và nhạy cảm. Nếu điều chỉnh liên tục sẽ gây tâm lý nhà nhập khẩu chờ giá xuống trong khi giá xuất của Việt Nam đã thấp hơn nhiều so với Thái Lan và cả Pakistan.

Với phân tích này, VFA thống nhất cùng các DN chào giá ở mức 440 USD/tấn gạo 5% (giá FOB). Tuy nhiên, mức giá này sẽ được xử lý uyển chuyển, linh hoạt trong thời gian tới (tháng 3 và 4) nhằm tạo ra thế có lợi nhất cho bà con nông dân và DN để vừa giữ thị trường châu Phi, vừa đảm bảo giá cho việc chuẩn bị đấu thầu với Philippines. Nếu buông, giá xuất sẽ còn tiếp tục giảm, ảnh hưởng đến giá lúa trong nước, có thể dưới 3.000 đồng/kg.

EVN

cac ong nha điện chỉ bào chữa cho nhau, nào la điện tăng la đúng với nền kinh tế thị trường, khi mà demand > supply thi price increses, toàn nói phét khi mà chẳng hiêu dc cai definition Kinh te Thi Truong la cai j,  thang EVN la thang monopoly, no de xuat tang gia dien cho chinh phu the nao ma chang dc http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=187473&ChannelID=3

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_%C4%91o%C3%A0n_%C4%90i%E1%BB%87n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam

làm điện thì phải tập trung vào keep up giua san xuat voi cung cap du dien cho nguoi dan và giá cả ổn định, lai ko lo,lo nhay wa cac linh vuc khac  nhu dau tu vao tai chinh ngan hang. Nuoc minh fai co cai chinh sach quan ly may thang state-owned enterprise nay, nhu US ra quy dinh Glass-Steagall fan hoat dong giua ngan hang dau tu voi ngan hang truyen thong vay, chu ko tui no y la monopoly, lay tien profit voi subsidy ko reverse invest lai vao cong ty ma dem tien cua taxpayer ra bet on poker game the nay mai

Organisational Structure of EVN

Electricity of Vietnam (EVN) is a state-owned utility established in 1995. It is engaged in generation, transmission and distribution of electricity in the whole country.

The EVN oversees the various entities or business units engaged in generation, transmission, distribution, and associated service functions along commercial lines.  These business units are grouped as either dependent (generation and transmission entities attached to EVN accounts) or independent accounting units (distribution and supply entities detached from EVN accounts).  In spite of strong government regulation of power tariffs, the EVN is capable of raising profits out of its operations and to source external funds subject to approval of appropriate government agencies for infrastructure development, network expansion, and human resource management.

In the power industry, there are National Load Dispatch Center, fourteen main power plants, four transmission companies, and the Institute of Energy operating as dependent accounting units under EVN. The independent accounting units are seven distribution power companies, four design and engineering companies, two power equipment manufacturing companies, and one electric telecommunication company.

Generation Facilities

In 2001, the total installed capacity of Vietnam reached 8,478 MW, of which 7,878 MW are operated and owned by EVN and the remainder of 600 MW are owned by the IPPs.  Hydropower accounted for 48.6 percent, coal and oil 13.4 percent, gas turbine and diesel 30.8 percent, and the remainder of 7.2 percent came from IPPs with mixed use of fuels.

The total amount of electricity generated was 30,600 GWh, of which hydropower generation accounted for 59.5 percent, coal-fired 10.5 percent,  oil-fired 3.6 percent, gas turbine (gas) 14.4 percent, and 7 percent turbine+Diesel (DO), and  4.9 percent from IPPs. (Shown in figure of below). The growth rate power generated over the year 2000 is 14,3%.

The total new capacity added to the power system in 2001 was 2225 MW. They were: hydropower Yaly unit 3,4 (360 MW), hydropower Ham Thuan-Da Mi (475 MW), GTCC Phu My 1(1090 MW), and Coal-Fired Pha Lai (300 MW).
Averagely, the growth rate of power energy produced over the period from 1995 to 2001 is about 13,1%, reaching 30.6TWh in the year 2001: The peak load of the system has been increased from 2,774 MW in year 1995 to 5,600 MW in year 2001, the annual Load Factor (LF) of VN is about 62%.
Record of peak power demand and energy generation in period 1995-2001 shown in figure below.

In 2001, EVN’s turnover was about 18.800 billions VDN (about 1.25 Billions USD), with sales volume of 25.8 TWh. Compared to previous year, sales volume increased by 15% and number of customers by 13% (amounted to 3.8 million customers). Customer category and market segmentation construed of: industry (40.4%), residential (49.1%), Commercials and services (4.9%) and others (5.6%).
The energy sales through the figures of power sales

Since 1995, the two graphs below shown the situation of the load demand over the past seven years.

The average energy sales growth rate in period 1995 – 2001 was 15%.

Transmission and Distribution Facilities

Transmission voltages in Vietnam are 500 kV, 220 kV 110 kV. The total length and substation capacity at various voltage levels are the following:

Voltage Level,kV Length of line, km Transformer�s Capacity,MVA
500 1529 2580
220 3706 7170
110, 66 7900 9000
Medium voltage 79800 3016

The medium voltage network is planned for integration with 35 kV for the mountainous and rural areas and 22 kV for the urban areas.  In the next five years, the 6 kV network will be upgraded to 22 kV. The 10 kV and 15 kV transmission lines will be step-by-step replaced by 22 kV or 35 kV in the future

Rural electrification

As of December 2001, 97.6 percent of the total districts have been connected to the national grid, the remaining districts (2.4 percent) are provided with off-grid  local power supply. About 87 percent  of the communes, and 77.4 percent of rural households have been provided with grid electricity.

Presently, the ceiling price of 700 VND/kWh (4.67 US cents/kWh) mandated by the Government to rural households is strictly being applied to 81.4 percent of the communes.

EVN has made a great effort to support provinces in providing rural households with affordable electricity supply.

“Greenhouse Effect, Sea Level Rise, and Land Use”

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:02 pm
Tags: ,

“Việc xuất khẩu cát như vừa qua là rất nguy hiểm đối với nước ta, đặc biệt là khi nước biển dâng. Tới khoảng 20, 30 năm nữa, nhìn lại bức tranh xuất khẩu cát hiện nay con cháu sẽ lên án lãnh đạo tiền nhiệm. Do vậy chúng tôi đã kiến nghị và Chính phủ đã đi đến quyết định ngừng xuất, tức là tất cả những hợp đồng đã ký từ trước đến nay cũng ngừng không cho xuất cát nữa. Tôi cho đó là một việc làm rất tích cực trong thời gian qua”.  http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200944/20091029014110.aspx

oi, co ai nghe den viec nuoc minh xuat khau Cát chua, ko hieu ho nghi sao khi ma hieu ung nha kinh, Elnino which affects most Pacific Ocean countries depending on agriculture and fishing  cang` ngay cang nghiem trong, theo du bao thi neu temperature tang 1-2 do C thi sea level rises about 5 meteres, ma ca 2 delta song Hong va song Mekong minh chi above sea level 3 meters, lieu luc do co con dong bang song cuu long nua ko http://docs.google.com/viewer?a=v&q=cache:U30mkvvIolAJ:www.epa.gov/climate   http://en.wikipedia.org/wiki/Geography_of_Vietnam

Mê Kông suy kiệt

<!–NGay gio Modified

Cập nhật lại cách đây 2 giờ 17 phút

–>

27/02/2010 23:57

Ảnh: AFP

Các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông đang khiến ĐBSCL phì nhiêu, sông rạch chằng chịt đối mặt với khô hạn. Những tác hại đến sinh thái, môi trường, đời sống… của người dân ĐBSCL đang dần hiển hiện.

Mời nghe đọc bài

Mùa khô hạn tàn khốc

Trong tuần qua, mực nước đầu nguồn sông Cửu Long thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,1m, trong khi xâm nhập mặn sâu vào khoảng 30-40 km.

Tại thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), nước mặn đã xâm nhập sâu vào các xã Tân Tiến, Hỏa Tiến và Hỏa Lựu. Độ mặn đo được ngày 26.2 từ 3,1 – 5 phần ngàn, dự báo trong những ngày tới gặp triều cường nước mặn xâm nhập sâu hơn vào nội ô thị xã Vị Thanh và nồng độ có thể lên tới từ 6 – 8 phần ngàn.

Tại Tiền Giang, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền trên 35 km buộc cơ quan chức năng phải đóng sớm cống Vàm Giồng ngăn mặn. Ngành nông nghiệp tỉnh này đang lo ngại nước mặn sẽ đe dọa trên 6.000 ha lúa đông xuân thuộc dự án ngọt hóa Gò Công. Tại Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền trên 23 km. Xâm mặn kéo theo tình trạng thiếu nước ngọt ở các xã ven biển như Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận (huyện Bình Đại). Ông Ngô Văn Thử, Chủ tịch UBND xã Thạnh Phước cho biết, sau Tết hơn 10.400 nhân khẩu trong xã phải đi đổi hay mua nước ngọt với giá 2.000 đồng/40 lít về sử dụng. Dự báo từ nay đến tháng 5.2010, nước ngọt càng thiếu trầm trọng trong mùa hanh khô kéo dài.

Tại Cần Thơ, xâm mặn đã lấn sâu vào huyện Vĩnh Thạnh. Tại An Giang, nhiều kênh nội đồng gần như trơ đáy; người dân vùng núi Tri Tôn, Tịnh Biên phải đi mua nước sạch với giá 2.000 đồng/30 lít. Ông Trần Văn Mì, Trưởng phòng NN-PTNT H.Tri Tôn cho biết huyện đang triển khai dự án nạo vét 14 tuyến kênh nội đồng, 5 công trình cấp nước với tổng kinh phí trên 4,2 tỉ đồng nhằm cung cấp nước sạch, nước tưới tiêu ruộng đồng.

Mê Kông đang bị “sát thương”

Sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL với chiều dài khoảng 225 km, cung cấp nước và tôm cá dồi dào. Ước tính bình quân 1 ha đất trồng lúa phải tốn hơn 20.000m3 nước/vụ; bình quân mỗi

năm ĐBSCL xuống giống 3,8 triệu ha tức cần hơn 76 tỉ m3 nước. Riêng thủy sản, mỗi năm người dân hạ lưu sông Mê Kông khai thác khoảng 2,6 triệu tấn cá trị giá khoảng 2 tỉ USD. Đối với dân nghèo và nhà nông, sông Mê Kông là nguồn sống trời cho… Thế nhưng, nguồn sống ấy đang bị “sát thương” bởi hàng loạt đập thủy điện xây trên thượng nguồn sông.

Khô hạn đang đe dọa ĐBSCL – Ảnh: T.Dũng

Tại diễn đàn “Môi trường và nguồn sống trên sông Mê Kông” diễn ra ngày 3.2 ở TP Cần Thơ, các nhà khoa học đã tỏ ra lo ngại: Mê Kông là dòng sông lớn trên thế giới, tôm cá phong phú tạo sinh kế trực tiếp cho hơn 60 triệu người ở khu vực hạ lưu sông, thế nhưng dòng sông đang chết dần bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các đập thủy điện.

Giới khoa học nhận định lưu lượng dòng chảy sông Mê Kông giảm chỉ còn 2/3 so với những thập kỷ trước do bị các đập thủy điện ở thượng nguồn ngăn lại. Lượng nước sông Mê Kông giảm sút kéo theo hàng loạt tác hại khôn lường như thiếu nước vào mùa khô và nguy cơ xâm mặn đe dọa từng ngày. Tiến sĩ Chu Thái Hoành, cán bộ Viện Nghiên cứu tài nguyên nước quốc tế (IWMI) nhận định các đập thủy điện sẽ giữ đến 16% trong tổng lưu lượng nước 475 tỉ m3/năm, ảnh hưởng 50% tổng lượng nước sông Mê Kông.

Bản đồ lưu vực sông Mê Kông (Nguồn: Ủy ban sông Mê Kông VN)

Theo thống kê của Liên minh bảo vệ sông Mê Kông, có 16 đập thủy điện đã và đang xây dựng cùng hàng trăm dự án chằng chịt trên các nhánh chính và rẽ làm thay đổi dòng chảy, ngăn chặn các loài cá di cư đẻ trứng, giảm lượng phù sa hằng năm. Chỉ tính riêng tại khu vực ĐBSCL, bình quân mỗi năm vào mùa lũ sông Mê Kông cung cấp 100 – 200 triệu tấn phù sa.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về đất ngập nước, cho rằng nguồn phù sa giảm sút nên người trồng lúa ở VN phải tăng chi phí cho phân bón và giá lúa sẽ tăng lên. Còn tiến sĩ Carl Middleton (Tổ chức Sông ngòi quốc tế Mỹ) ước tính việc xây dựng các đập trên sông Mê Kông sẽ làm mất đi 700.000 – 1,6 triệu tấn thủy sản/năm. Các nhà khoa học đúc kết tổng thiệt hại về thủy sản, nông sản có thể lớn hơn tổng lợi nhuận mà các nước thu được do việc xây đập thủy điện.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An – Đại học Cần Thơ, việc xây các đập thủy điện đã kéo theo nhiều tác động như lũ về muộn hơn nhưng kết thúc sớm hơn. Tiến sĩ Ni cho rằng ngày xưa lũ lên từ từ, tôm cá theo nước lũ đẻ trứng sinh sôi nhưng nay lũ rút nhanh phá vỡ quy luật khiến tôm cá sinh sản theo không kịp con nước, phù sa theo đó cũng bị thất thoát trôi ra biển, trôi vào kênh rạch không vào ruộng đồng. Tiến sĩ Ni cho rằng việc các đập thủy điện thượng nguồn trữ nước không cho biết lúc nào xả nước lúc nào không càng gây khó khăn trong mùa khô hạn.

Hạ lưu nguy khốn

Các nước vùng hạ lưu đang lo lắng về những tác động tiêu cực xảy ra khi dòng chảy dưới này hoàn toàn phụ thuộc vào quy trình vận hành của các đập thủy điện trên thượng lưu sông Mê Kông.

Với mục đích phát điện, các hồ chứa sẽ cố gắng tích nước sớm ngay từ đầu mùa mưa. Nếu gặp năm lũ lớn, khi đỉnh lũ về gặp hồ đã đầy nước, không còn khả năng cắt lũ, có thể gây lũ lớn hơn cho hạ lưu. Còn vào những năm lũ vừa và nhỏ, phía hạ lưu – đặc biệt là ĐBSCL – sẽ có những ảnh hưởng nhất định trong cả mùa lũ và mùa kiệt.

Hằng năm, lượng phù sa sông Mê Kông xuống hạ lưu khoảng 150-170 triệu tấn (trong đó từ Trung Quốc chiếm 50%). Các đập thủy điện sẽ làm giảm lượng phù sa xuống hạ lưu và vùng ĐBSCL. Sản lượng thủy sản hằng năm của sông Mê Kông khoảng 400.000 tấn sẽ sụt giảm mạnh.

Các đập thủy điện còn ảnh hưởng tới giao thông thủy, du lịch, sự di cư của một số loài cá cũng như hệ sinh thái rất đa dạng của lưu vực, chưa kể những tác động đến chất lượng nước, sự bồi lắng, xói lở…

Biển Hồ (Campuchia) đóng vai trò rất quan trọng đối với sự điều tiết dòng chảy xuống châu thổ sông Mê Kông. Nếu lũ xuống hạ lưu giảm, Biển Hồ không tích đầy nước vào mùa lũ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy kiệt xuống hạ lưu.

Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan – Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ – cho rằng, ĐBSCL rất cần đến những trận lũ trung bình, ở mức khoảng 4,2m tại Tân Châu (An Giang). Tuy nhiên, từ năm 2003 cho tới giờ, lũ ở ĐBSCL chỉ ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm. Một nhà khoa học tại TP.HCM nhận định: ĐBSCL không mong muốn những trận lũ lớn như các năm 1961, 1978, 1991, 2000… cũng như không mong đợi những trận lũ nhỏ như những năm 1998, 2005, 2008 vừa qua.

Vì vậy, nếu như các đập thủy điện ở thượng lưu làm giảm đỉnh lũ lớn để có thể ít nhiều mang lại lợi ích cho ĐBSCL, thì việc biến những trận lũ trung bình thành lũ nhỏ, biến lũ nhỏ thành không có lũ sẽ gây hại còn nhiều hơn so với lũ lớn.

Trung Quốc đã làm gì sông Mê Kông?

Từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện, thủy lợi lớn nhỏ trên sông Mê Kông.

Theo Michael Richardson – tác giả bài viết Đập thủy lợi của Trung Quốc biến sông Mê Kông thành dòng sông đầy tranh cãi (Dams in China Turn the Mekong Into a River of Discord) đăng trên tạp chí Yale Global ngày 16.7.2009, Trung Quốc xây dựng đập thủy lợi đầu tiên trên sông Mê Kông vào năm 1986. Lúc này các nước Đông Nam Á không có nhiều phản ứng.

Nhưng tới ngày nay, ảnh hưởng của hệ thống đập thủy lợi của Trung Quốc đối với khu vực ngày càng khiến nhiều nước phải lo lắng. Cũng theo tác giả này, Trung Quốc đã lợi dụng quy mô to lớn của công trình phát điện do họ xây dựng trên sông Mê Kông làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của con sông này. Đã có nhiều cảnh báo về điều đó, đặc biệt đối với bốn nước ở khu vực sông Mê Kông là Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Lào.

Một đập nước của Trung Quốc trên sông Mê Kông – Ảnh: Sina.com

Báo cáo tháng 5.2009 của Học viện Kỹ thuật châu Á (Asian Institute of Technology) cũng cảnh báo rằng việc Trung Quốc xây 8 đập thủy lợi, thủy điện tại sông Mê Kông có thể tạo nên những hiểm họa to lớn đối với dòng chảy của sông và tài nguyên tự nhiên. Cũng trong tháng 6.2009, một lá thư đòi Trung Quốc chấm dứt việc xây đập thủy lợi trên sông Mê Kông đã được gửi tới tay Thủ tướng Thái Lan. Lá thư có 11.000 chữ ký của phần lớn nông dân, ngư dân sinh sống ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông. Lào, Campuchia, Thái Lan đã bắt đầu đối phó bằng cách thúc đẩy các kế hoạch xây dựng đập thủy lợi thuộc phạm vi nước mình.

Theo hãng AP (Mỹ) ngày 12.12.2009, Trung Quốc đã xây dựng ít nhất 8 đập thủy điện ở khu vực sông Mê Kông. Mê Kông là một trong những con sông lớn trên thế giới, cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu của khu vực. Ở Trung Quốc, Mê Kông được gọi là sông Lan Thương. Con đập thủy lợi mà Trung Quốc vừa xây dựng tại đây cao 292m – cao nhất thế giới, có khả năng tích trữ nước bằng tất cả các khu thủy vực của Đông Nam Á hợp lại.

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) được thành lập từ năm 1996 bởi Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Lào cùng phối hợp quản lý khu vực sông Mê Kông ở Đông Nam Á. MRC cho rằng các nước ở khu vực sông Mê Kông có lý do để lo ngại việc xây dựng đập thủy lợi của Trung Quốc. Chẳng hạn vào mùa mưa, đập thủy lợi của Trung Quốc sẽ tháo ra rất nhiều nước, có thể gây lũ lụt. Nhưng vào mùa khô hạn, các nước Đông Nam Á lại lo ngại thiếu nước. Tới nay, Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên của MRC.

Nguyễn Lệ Chi

Mực nước xuống thấp kỷ lục

Ủy ban sông Mê Kông (MRC) vừa cho hay mực nước ở thượng lưu sông Mê Kông đang xuống thấp kỷ lục và điều này đe dọa nguồn nước và sự sống của hàng chục triệu người.

Hãng tin AFP dẫn lời ông Jeremy Bird thuộc MRC nói miền bắc Thái Lan, bắc Lào và nam Trung Quốc đều bị ảnh hưởng. “Dòng chảy đang ở mức thấp hơn những gì chúng tôi ghi nhận được trong vòng 20 năm qua”, ông Bird nói. Vấn đề này tạo ra một mối đe dọa cho nguồn nước, giao thông đường thủy và tưới tiêu trên một khu vực rộng lớn dọc Mê Kông, con sông nuôi sống hàng chục triệu người. Ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông, 60 triệu người sống phụ thuộc vào con sông này với việc đánh bắt hải sản, trồng trọt, giao thông và các hoạt động kinh tế khác.

Dự báo mực nước tại Luang Prabang (Lào) sẽ xuống thấp hơn nữa trong tháng tới – Ảnh: MRC

Một thông cáo báo chí khác của MRC phát hôm 26.2 nói rằng mực nước của dòng chảy chính của sông Mê Kông đo được tại Chiang Saen, Chiang Khan, Luang Prabang, Vientiane, và Nong Khai (tất cả đều ở phía bắc Lào và Thái Lan) đều thấp hơn mực nước đo được trong mùa nước cạn hồi năm 1993, chỉ đứng sau mực nước thấp kỷ lục trong đợt hạn hán năm 1992. Thông cáo báo chí này nói thêm rằng mực nước của con sông này ở tây nam Trung Quốc cũng đang ở mức thấp nhất trong vòng 50 năm qua với dòng chảy chỉ bằng một nửa so với mức bình thường vào tháng 2.

Khoảng 21 tàu chở hàng đang bị mắc cạn trong khi các tour du lịch đường sông giữa Luang Prabang (Lào) và Huay Xai (gần biên giới với Thái Lan) bị hủy bỏ. Về việc mực nước sông Mê Kông tụt giảm, MRC nói khó có thể nói rằng nguyên nhân có phải là do khí hậu ấm lên hay không.

Trong khí đó, theo một bài báo của Bangkok Post, các tổ chức phi chính phủ, trong đó có Liên minh Hãy cứu sông Mê Kông, thì tin rằng mực nước thấp bất thường trên sông Mê Kông là do các đập của Trung Quốc. “Thật khó để chúng tôi khẳng định một cách tuyệt đối rằng không có sự liên quan giữa mực nước thấp và những con đập đó”, ông Bird nói. Theo ông, sẽ là không bình thường nếu như các con đập này chứa đầy nước trong suốt mùa khô.

Tờ The Nation thì cho hay Thái Lan sẽ gửi thư yêu cầu MRC đàm phán với Trung Quốc để xả thêm nước từ các con đập của họ trên sông Mê Kông. MRC nói họ chưa nhận được yêu cầu chính thức nào từ Thái Lan. Và nếu có, MRC sẽ tiến hành thảo luận với Trung Quốc. Hiện, Trung Quốc và Myanmar là các đối tác đối thoại với MRC, bao gồm Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Việt Phương (VP Bangkok)

Mai Vọng – Thanh Dũng

Giá điện mới được tính như thế nào?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 pm
Tags: ,

<!–NGay gio Modified

–>

26/02/2010 12:02

Ảnh: Lưu Quang Phổ
(TNO) Bộ Công thương vừa tổ chức cuộc họp báo thông báo việc điều chỉnh giá điện năm 2010 sẽ được áp dụng từ ngày 1.3. Giá điện mới sẽ được tính ra sao, tác động như thế nào đến các hộ gia đình, các đơn vị sản xuất, kinh doanh?

>> Tác động của giá điện
>> Vé máy bay nội địa tăng giá từ 1.3
>> Nguy cơ của tăng giá

Theo thông tư quy định giá điện vừa được Bộ Công thương ban hành, giá điện bình quân 2010 sẽ là 1.058 đ/kWh, tăng 6,8% so với giá điện bình quân thực hiện 2009. Giá than cho sản xuất điện 2010 sẽ tăng không quá 47% đối với than cám 4b, 28% đối với than cám 5 (so với giá than bán cho điện đã thực hiện năm 2009).

Ông Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết, việc tăng giá bán điện là bất khả kháng bởi các yếu tố đầu vào cho sản xuất điện (than, khí, dầu, giá nhân công…) đều tăng; thủy điện giá rẻ đã khai thác gần như hết tiềm năng, nếu không tăng giá điện sẽ không thể thu hút các nhà đầu tư, gây nguy hiểm về an ninh năng lượng trong tương lai.

Ông Trần Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, giá điện của Việt Nam hiện ở mức thấp nhất trong khu vực, do đó, nếu không tăng giá điện sẽ không thu hút được đầu tư, ngân hàng sẽ không cho nhà đầu tư vay vốn thực hiện dự án điện, điều này rất nguy hiểm cho nền kinh tế trong tương lai.

Người thuê trọ cũng được tính tiền điện như chủ nhà, những trường hợp chủ nhà cố tình lấy tiền điện của người thuê gấp 3-4 lần giá nhà nước sẽ bị phạt, thậm chí cắt điện nếu người thuê trọ làm đơn trình báo, cung cấp chứng cứ cho cơ quan điện lực và chính quyền địa phương
Ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc EVN khẳng định

“Giá điện mới không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế, giá điện cho sản xuất chỉ tăng 6,3% (thấp hơn mức tăng bình quân), các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỉ đồng tiền điện, bằng khoảng 0,36% giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp năm 2010. Một số ngành công nghiệp sản xuất ba ca chi phí tiền điện cao (chiếm 30-40% giá thành sản xuất) như cấp nước, điện phân giá thành sản phẩm sẽ tăng thêm khoảng 2,81-3,15%. Các ngành cán thép, xi măng, giá thành sẽ tăng thêm khoảng 0,2-0,69%. Chi phí tiền điện tăng thêm cho các ngành sản xuất phổ biến ở mức dưới 1% giá thành”, ông Hào cho biết.Theo thông tư mới, đối với các hộ sử dụng điện sinh hoạt, nếu hộ nào sử dụng dưới 50 kWh thì chi phí không đổi so với năm 2009, gia đình nào sử dụng từ 51-100kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 7.000đ/tháng/hộ. Các hộ sử dụng tới 200kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 16.000đ/tháng. Các hộ sử dụng 300kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm vào khoảng 26.000đ/tháng; trên 400kWh/tháng, trả thêm 36.500đ/tháng.

Không thể chốt công tơ ngay một lúc

Theo ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), việc chốt công tơ sẽ được thực hiện ngay từ ngày 1.3 đối với các hộ tiêu thụ lớn; còn đối với khoảng 15 triệu hộ gia đình, việc chốt công tơ sẽ được tiến hành dần, giá điện mới sẽ tính từ ngày 1.3 theo lượng điện tiêu thụ bình quân mà hộ đó sử dụng. Công thức tính tiền điện mới đã có tại tất cả các đơn vị phân phối bán lẻ điện.

Về áp lực tăng giá sau khi tăng giá điện, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính khẳng định, cơ quan này sẽ có những biện pháp quyết liệt để kiểm soát giá cả của các ngành mang tính độc quyền, độc quyền nhóm hoặc các doanh nghiệp chiếm thị phần chi phối như xăng dầu, than, phân bón…

“Giá cả sẽ tăng nhưng mức tăng chúng tôi sẽ kiểm soát giá cả tăng hợp lý chứ không phải doanh nghiệp muốn tăng bao nhiêu cũng được. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cố tình tát nước theo mưa, tăng giá quá mức sẽ bị xử lý nghiêm. Theo tôi, mục tiêu kiềm chế lạm phát ở dưới 7% vẫn thực hiện được, dù rất khó khăn”, ông Thỏa cho biết.

Giá bán lẻ cho các nhà sản xuất:
STT Đối tượng áp dụng giá Giá bán điện (đồng/kWh)
1 Cấp điện áp từ 110 kV trở lên
a) Giờ bình thường 898
b) Giờ thấp điểm 496
c) Giờ cao điểm 1.758
2 Cấp điện áp từ 22 kV đến dưới 110 kV
a) Giờ bình thường 935
b) Giờ thấp điểm 518
c) Giờ cao điểm 1.825
3 Cấp điện áp từ 6 kV đến dưới 22 kV
a) Giờ bình thường 986
b) Giờ thấp điểm 556
c) Giờ cao điểm 1.885
4 Cấp điện áp dưới 6 kV
a) Giờ bình thường 1.023
b) Giờ thấp điểm 589
c) Giờ cao điểm 1.938

Quy định về giờ cao điểm, giờ thấp điểm

1. Giờ bình thường:

a) Gồm các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy

– Từ 04 giờ 00 đến 9 giờ 30 (05 giờ và 30 phút);

– Từ 11 giờ 30 đến 17 giờ 00 (05 giờ và 30 phút);

– Từ 20 giờ 00 đến 22 giờ 00 (02 giờ).

b) Ngày Chủ nhật:

– Từ 04 giờ 00 đến 22 giờ 00 (18 giờ).

2. Giờ cao điểm:

a) Gồm các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy

– Từ 09 giờ 30 đến 11 giờ 30 (02 giờ);

– Từ 17 giờ 00 đến 20 giờ 00 (03 giờ).

b) Ngày Chủ nhật: không có giờ cao điểm.

3. Giờ thấp điểm

Tất cả các ngày trong tuần: từ 22 giờ 00 đến 04 giờ 00 sáng ngày hôm sau (06 giờ).

Giá bán lẻ điện sinh hoạt:

STT Mức sử dụng của
một hộ gia đình
trong tháng
Giá bán điện

(đồng/kWh)

1 Cho 50 kWh đầu tiên 600
2 Cho kWh từ 51 – 100 1.004
3 Cho kWh từ 101 – 150 1.214
4 Cho kWh từ 151 – 200 1.594
5 Cho kWh từ 201 – 300 1.722
6 Cho kWh từ 301 – 400 1.844
7 Cho kWh từ 401 trở lên 1.890

Káp Thành Long

Tăng giá điện, ai bị ảnh hưởng?

TPO – Tại cuộc họp sáng nay, Bộ Công Thương cho biết với mức tăng giá điện sinh hoạt bậc khoảng 6,8% từ 1-3 tới, các hộ sử dụng 400kWh điện mỗi tháng sẽ phải trả thêm 36.500 đồng/tháng. Việc tăng giá điện sẽ làm tăng CPI khoảng 0,16%.

Theo tính toán của Bộ Công Thương, những người có thu nhập thấp không bị ảnh hưởng bởi việc tăng giá điện. Nhưng thực ra, họ sẽ là một trong những nhóm người bị ảnh  hưởng gián tiếp nhiều nhất do chi phí hàng hóa dịch vụ tăng theo. Ảnh: Tuổi Trẻ

Người có thu nhập thấp không bị ảnh hưởng trực tiếp

Với sự điều chỉnh này, giá bán điện bình quân năm 2010 là 1.058 đồng/kWh.

Đối với tác động đến đời sống của người dân, giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt dự kiến tăng khoảng 6,8%, sẽ làm tăng tiêu dùng cuối cùng của cá nhân năm 2010 khoảng 0,19 – 0,27%.

Để thực hiện chính sách bù giá cho hộ thu nhập thấp, giá điện cho 50kWh đầu tiên vẫn được giữ nguyên, không tăng; vì vậy, tất cả các hộ thuộc diện nghèo và một số lượng lớn số hộ có thu nhập thấp, cán bộ, công nhân viên, người lao động cả ở thành phố và nông thôn sẽ không chịu ảnh hưởng của việc tăng giá điện (khi dùng điện ít hơn 50kWh/tháng).

Đối với các hộ sử dụng điện ở mức đến 100kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa của các hộ này là khoảng 7.000 đồng/tháng. Các hộ sử dụng tới 200 kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm tối đa khoảng 16.000 đồng/tháng, bằng 0,53% thu nhập hàng tháng của một hộ dân có thu nhập trung bình.

Các hộ sử dụng 300 kWh/tháng, tiền điện phải trả thêm vào khoảng 26.000 đồng/tháng còn các hộ sử dụng 400kWh/tháng số tiền phải trả thêm sẽ là 36.500 đồng/tháng.

Đối với các hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày như thực phẩm, hàng may mặc, nhiên liệu xăng dầu v.v…, thực tế, tỷ trọng chi phí tiền điện trong giá thành các mặt hàng này là rất nhỏ do đó tỷ lệ tăng giá các mặt hàng này do điều chỉnh giá điện là không đáng kể.

Tại cuộc họp về việc điều chỉnh giá điện năm 2010 tổ chức sáng nay, Bộ Công Thương cho biết giá bán điện cho các nhóm đối tượng khách hàng sẽ tính theo nguyên tắc xoá bỏ dần bù chéo từ điện sản xuất cho điện sinh hoạt. Giá bán điện bình quân cho các ngành sản xuất tăng 6,3%, thấp hơn mức tăng giá điện bình quân chung.

Giá bán lẻ điện bình quân cho sinh hoạt bậc thang tăng 6,8%, bằng tỷ lệ tăng giá điện bình quân. Giá bán lẻ điện bình quân cho cơ quan hành chính sự nghiệp và kinh doanh có tỷ lệ tăng tương ứng là 6,1% và 6,3%.

Theo đánh giá, với tỷ lệ tăng giá điện năm 2010 ở mức 6,8%, số tiền chênh lệch do tăng giá điện trong năm 2010 bằng khoảng 0,30% GDP dự kiến cho năm 2010. Do tăng giá điện, ước tính sẽ làm giảm tốc độ tăng GDP năm 2010 khoảng 0,34%; trực tiếp làm tăng CPI khoảng 0,16%.

Các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỷ đồng tiền điện

Về tác động đến các ngành sản xuất, theo Bộ Công Thương, dự kiến với giá điện cho sản xuất tăng khoảng 6,3%, năm 2010 các ngành sản xuất phải trả thêm khoảng 2.630 tỷ đồng tiền điện, bằng khoảng 0,36% giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp năm 2010.

Một số ngành công nghiệp sản xuất 3 ca với chi phí tiền điện cao (chiếm 30-40% giá thành sản xuất) như cấp nước, điện phân… giá thành sản phẩm sẽ tăng thêm khoảng 2,83% – 3,15%%; các ngành cán thép, xi măng giá thành sẽ tăng thêm khoảng 0,20% – 0,69%. Chi phí tiền điện tăng thêm cho các ngành sản xuất phổ biến ở mức dưới 1% giá thành. Như vậy, mức ảnh hưởng của tăng giá điện đến sản xuất là không lớn.

Về ảnh hưởng đến chi tiêu của nhà nước, dự kiến giá bán điện cho khối hành chính sự nghiệp năm 2009 tăng khoảng 6,1%, tổng chi phí tiền điện tăng thêm do tăng giá điện của các cơ quan hành chính sự nghiệp trong năm 2009 khoảng 280 tỷ đồng, bằng khoảng 0,29% tiêu dùng cuối cùng của nhà nước năm 2010.

Cũng theo công bố của Bộ Công Thương, Việt Nam hiện vẫn là nước có giá điện thấp nhất ở khu vực Đông Nam Á. Năm 2009, giá điện đươc bán ở mức 5,3 cent/kWh, sau khi tăng giá điện 6,8%, giá bán điện vào khoảng 5,54 cent/kWh thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Indonesia hiện bán với giá 6,77 cent/kWh, Malaysia khoảng 7,6 cent, Philippines 17,52 cent, Singapore 13,07 cent/kWh, Thái Lan 8,5 cent/kWh.

Phạm Tuyên

Cho vay theo lãi suất thỏa thuận: Bật ‘đèn xanh’ tăng lãi suất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:39 pm
Tags:

TP – Ngay sau khi giữ nguyên lãi suất cơ bản (LSCB), Ngân hàng Nhà nước đã ban hành thông tư về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng.

Trong lúc nhiều ngân hàng (NH) vui ra mặt với thông tư này thì nhiều doanh nghiệp (DN), khách hàng có nhu cầu vay vốn đang đối mặt với lãi suất tăng vọt trong thời gian tới, và lạm phát như có thêm một lực đẩy

Lãi suất sẽ tăng mạnh

Không chỉ được bật đèn xanh để tăng lãi suất huy động, cho vay mà không cần tăng LSCB, qua thông tin trên hàng loạt NH có thể sẽ hợp thức hóa được nhiều nguồn vay cao hơn lãi suất trần bằng cách thu các khoản phí như lâu nay.

Lấy lý do lãi suất trần cho vay bằng 150% LSCB (12%/năm) và lãi suất huy động không quá 10,5% khiến giá vốn vay cao hơn lãi vay, nhiều NH đã bó hẹp đối tượng được vay. DN đói vốn, khách hàng cá nhân bó tay, NH chờ NH Nhà nước nâng lãi suất và cuối cùng họ đã toại nguyện.

TS kinh tế Nguyễn Quang Hưng (Việt kiều Mỹ – hiện giảng dạy tại TPHCM) nhận định thông tư trên sẽ góp phần khơi thông dòng chảy của nguồn vốn, nhưng đồng thời sẽ gây sức ép mạnh lên lạm phát và đẩy nhiều DN vào thế phải vay vốn giá cao, kéo theo giá thành sản phẩm, chi phí sẽ tăng và giá cả nhiều mặt hàng sẽ lên theo.

Ông Nguyễn Xuân Quang, Phó Tổng GĐ Cty Xây dựng Minh Quang (Gò Vấp – TPHCM) tỏ ra lo ngại lãi suất vay cao như giữa năm 2008 sẽ lại tái diễn.

Ông Quang nói, nếu phải vay với lãi suất thỏa thuận trên 15%/năm thì làm ăn rất khó khăn và lợi nhuận sẽ giảm mạnh. Lo ngại trên không phải không có cơ sở, khi mà nhiều NH đang cho vay lãi suất thỏa thuận các khoản vay tiêu dùng với mức 16-20%/năm.

Khó khăn với lãi suất mới

Một chuyên gia kinh tế khẳng định, NH chỉ chờ thông tư này để tăng lãi suất, và họ không có lý do gì để không thực hiện ngay trong những ngày tới, khi họ đang nắm tiền còn DN thì đói vốn.

Nhiều ý kiến còn lo ngại một cuộc đua lãi suất mới sẽ nóng ngay từ đầu tuần sau, và lần này có thể còn căng thẳng hơn năm 2008 vì được thỏa thuận.

Nhiều lãnh đạo DN cho hay, mang tiếng là thỏa thuận nhưng thực tế NH đưa ra mức lãi nào, DN phải đồng ý mức lãi ấy, bởi khó có lựa chọn nào khác.

Biện minh cho lãi suất thỏa thuận, không ít người cho rằng lãi cao sẽ khiến DN cân nhắc khi vay đầu tư vào các dự án và tìm nguồn huy động vốn khác như bán trái phiếu, cổ phần, huy động từ CB CNV…

Tuy nhiên, một khi NH tăng lãi suất thì chắc chắn các nguồn trên cũng khó mà giữ mức lãi suất dễ chịu hơn hoặc chảy vào DN với giá rẻ. Chưa kể nhiều DN được hỗ trợ lãi suất trong năm 2009 nay phải vay với lãi suất mới sẽ gặp không ít khó khăn.

Trả lời PV Tiền Phong chiều 26-2 về việc khi nào NH sẽ tăng lãi suất, lãnh đạo nhiều NH từ chối cho biết thời gian cụ thể.

Phó Tổng GĐ một NH thương mại tiết lộ NH ông đã chuẩn bị kế hoạch tăng lãi suất từ ngay đầu tháng 2-2010 khi tin về dự thảo thông tư trên lan truyền, và nếu không có gì thay đổi thì lãi suất sẽ tăng từ 1-3-2010.

Từ nhiều năm nay, để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế, Nhà nước luôn lấy LSCB làm van điều chỉnh để kìm hãm các NH tăng, chạy đua lãi suất. Có NH đã bị phạt và cán bộ NH mất chức bởi dám vượt qua rào cản này.

Đổi lại, DN và khách hàng cá nhân đã dễ thở hơn. Nay thì mọi việc đã thay đổi theo hướng có lợi hơn cho các NH, còn khách hàng và nhiều DN chắc chắn sẽ rất vất vả trong thời gian tới khi lãi suất tăng vọt.

Theo Thông tư số 07 của NHNN ban hành 26-2, tổ chức tín dụng được áp dụng lãi suất thỏa thuận với việc cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển;

Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình như cho vay để sửa chữa nhà và mua nhà để ở mà nguồn trả nợ bằng tiền lương của khách hàng;

Cho vay để mua đồ dùng và trang thiết bị gia đình, cho vay để chi phí cho hoạt động văn hóa thể thao, du lịch; cho vay theo phương thức thấu chi tài khoản cá nhân; cho vay thẻ tín dụng…

Nhấp nhổm chờ mua bán ngoại tệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:19 pm
Tags: ,
Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ

Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ.

Ngay sau khi quyết định của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực, tỷ giá mua vào và bán ra của các ngân hàng thương mại đã có khoảng cách. Đến 23/2, hầu hết các ngân hàng thương mại đều niêm yết giá bán bằng nhau ở mức kịch trần 19.100 đồng/USD. Còn giá mua vào có khác nhau, tại VCB là 18.800 đồng/USD. Eximbank: 18.990 đồng/USD (tiền mặt) và 19.000 đồng/USD (chuyển khoản). ACB: 19.050 đồng/USD. EAB: 19.000 đồng/USD.

Tại thị trường tự do, tỉ giá trong ngày 23/2 trong khoảng 19.350 – 19.380 đồng/USD, giảm nhẹ khoảng 40 – 50 đồng/USD so với hai ngày trước đó. Đây có phải những dấu hiệu cho thấy cung cầu USD đã bớt căng thẳng?

Doanh nghiệp đã bán USD

Ông Phạm Văn Bảy, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang (Afiex) cho biết: “Chính sách thay đổi tỷ giá mà ngân hàng Nhà nước vừa áp dụng giúp công ty bán được ngoại tệ ở mức cao nhất là 19.100 đồng/USD. Theo tôi, với mức điều chỉnh như vậy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Từ nay sẽ không còn tâm lý găm giữ như trước, vì nếu nhốt ngoại tệ trên tài khoản thì với lãi suất USD như hiện nay (1% – PV) sẽ không có lời. Còn chờ tỷ giá tăng thêm nữa, thì khó xảy ra”.

Còn ông Trần Thiện Lĩnh, Giám đốc Công ty Thuỷ sản Thuận Phước, Đà Nẵng cũng nói rằng, thu ngoại tệ về là bán ngay. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng mua ngoại tệ ở mức giá cao nhất. “Doanh nghiệp chúng tôi phải dựa vào mối quan hệ mới bán được mức 19.100 đồng/USD”, ông Lĩnh nói như vậy.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á cũng cho biết: “Một số doanh nghiệp đã chấp nhận bán ra ngoại tệ. Nhưng mới ra Tết, giao dịch còn ít, nên chưa thể nói được gì nhiều”.

Nín thở chờ

Một doanh nghiệp vận tải biển có nguồn thu ngoại tệ khá lớn chiều 23/2 nói: “Vẫn nghỉ tết nên chưa nắm rõ tình hình”. Anh Hùng, một người dân có khoảng 10.000 USD gửi ngân hàng cười: “Mình đầu tư nhỏ lẻ. Vẫn biết bán đô lấy tiền đồng gửi ngân hàng sẽ có lãi suất cao hơn, nhưng phải chờ xem thị trường diễn biến thế nào đã”.

Ở các tiệm vàng, quầy thu đổi ngoại tệ, giới kinh doanh cho biết hai ngày qua hoạt động mua bán khá vắng lặng. Chủ tiệm vàng ở khu vực Bến Thành kể: “Chỉ có khách nước ngoài, Việt kiều đi mua sắm đổi một vài trăm Đô la lấy tiền chi tiêu. Còn lại bạn hàng trong chợ chỉ hỏi giá tham khảo liên tục chứ không mua không bán”.

Những điểm có dịch vụ thu đổi ngoại tệ tận nhà cho biết, lượng khách đầu năm chỉ bằng 30% so với trước tết. Một chủ tiệm vàng ở khu vực quận 3 cũng cho biết: “Đã có khách mối ở các công ty dọ giá, nhưng họ chưa quyết định mua hay bán. Trong giới làm ăn thì dự báo giá Đô la sẽ còn tăng nữa. Nhưng vẫn có thông tin cho rằng các ngân hàng sẽ mở rộng cửa bán đô với tỷ giá chính thức, nên các công ty, khách buôn bán có nhu cầu giao dịch tiền đô vẫn chưa đặt hàng”.

Theo phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng bạc đá quý, thị trường đầu năm đang chờ các động thái từ ngân hàng.

Bản thân các ngân hàng thương mại cũng chờ. Ông Nguyễn Đức Thái Hân, phó tổng giám đốc ACB nói: “Lượng khách thanh toán chưa quay lại quy mô bình thường sau tết. Chúng tôi cũng mới làm việc trở lại 1 – 2 ngày nên chưa thể đánh giá được cung cầu USD hiện tại.” Ông Hân cũng nhận xét rằng: “Không thể căn cứ trên giá niêm yết đã có khoảng cách giữa mua vào bán ra thay vì bằng nhau và ở mức kịch trần như trước đây để cho rằng nguồn cung USD đã dồi dào hơn”.

Một nhà nhập khẩu máy tính (đề nghị không nêu tên) cho biết, dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá gần sát với giá thị trường để chống hiện tượng làm giá, nhưng đầu năm, khi nhu cầu mua đồng USD chưa nhiều thì kiếm được lượng USD theo như mong muốn không phải dễ.

Kế toán trưởng của một doanh nghiệp nhập khẩu hàng kỹ thuật số cho biết, hiện nay, một số ngân hàng vẫn gợi ý doanh nghiệp mua ngoại tệ theo thoả thuận. Và giá niêm yết vẫn chỉ để niêm yết. “Họ (ngân hàng) yêu cầu chúng tôi nộp hồ sơ. Sau đó họ sẽ thoả thuận tỷ giá. Nếu doanh nghiệp chấp nhận, hai bên sẽ tiến hành mua bán. Trước khi nộp hồ sơ, chúng tôi có đề nghị cho biết tỷ giá cần thoả thuận nhưng họ từ chối công bố. Họ cũng không cho biết có đáp ứng đủ nhu cầu doanh nghiệp hay không”.

Create a free website or blog at WordPress.com.