Ktetaichinh’s Blog

February 27, 2010

Hà Nội năm 2010 Còn chút gì của nền văn hiến nghìn năm? Năm 2010 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng: 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Hà Nội xưa nổi tiếng là đất kinh kỳ với những giá trị truyền thống quý báu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Trải qua những năm tháng loạn lạc, chiến tranh, giờ đây Hà Nội lại đứng trước quá trình Toàn cầu hóa ồ ạt. Đâu là hình ảnh Hà Nội năm 2010 ?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:01 pm
Tags: , , ,

Nền tảng nghìn năm văn hiến
T ừ khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư tới thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long, đất nước ta bước vào một thời kỳ lịch sử mới, phồn vinh, vững mạnh. Sự kiện ấy bắt đầu cho một nền văn hiến Đại Việt. Trong “Thiên đô chiếu”, Thái Tổ cũng đã khẳng định: “Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”
Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thành nào có được chọn là thủ đô lâu năm như Hà Nội. Đinh – Tiền Lê chọn Hoa Lư (Ninh Bình), cha con Hồ Qúy Ly dời về Tây Đô (Thanh Hóa), Quang Trung xây dựng Phượng Hoàng trung đô (Nghệ An), triều Nguyễn di dời về Thừa Thiên Huế… nhưng tất cả những kinh đô ấy đều không kéo dài đến quá 200 năm. Trong khi ấy, thành Đại La được chọn làm thủ phủ từ trước năm 1010. Từ thời Thuc Phán An Dương Vương đã xây thành Cổ Loa chính ở Đông Anh, ngoại thành Hà Nội hiện nay. Cao Biền khi làm Tiết độ sứ ở An Nam đã cho xây thành Đại La và chọn nơi đây làm thủ phủ. Cho đến sau này, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đều chọn mảnh đất này làm đô thành.
Trải qua ba triều đại Lý – Trần – Lê, Thăng Long đã tạo dựng được cho mình một nền tảng văn hiến khó có thành phố nào trên đất nước này có thể sánh nổi, thậm chí đã trở thành đại diện cho hình ảnh đất nước Việt Nam. Khi hình dung về người Hà Nội, người ta thường mường tượng chung một hình mẫu: thanh lịch, trang nhã và hiếu khách, không phân biệt đó là quan chức, học trò hay đơn giản chỉ là người buôn bán nhỏ lẻ nơi đầu đường xó chợ. Khắp chốn đô thành đều bao trùm một không khí học thức. Tinh thần hiếu học thể hiện rõ qua kiến trúc Hà Nội: Từ Văn Miếu – Quốc Tử Giám với những con rùa đội bia đá, đến đền Ngọc Sơn thờ Văn Vương, rồi Đài Nghiên-Tháp Bút… Những biểu hiện ấy ở các đô thành khác đều không hề thấy.
Chính vì hiếu học nên người Hà Nội dường như không đặt nặng chuyện làm giàu. Dân Hà Thành gốc không có gia đình nào là quá giàu, họ hiểu được giá trị cuộc sống nên với họ, cái thú ăn chơi chiếm một phần quan trọng. Thú ăn chơi ở chốn kinh đô này đã được nâng lên thành văn hóa. Mỗi tầng lớp người ở Hà Nội đều có một cách ăn chơi riêng nhưng đều có một điểm chung đó là tính trang nhã. Người Hà Nội ăn chơi không lấy sự xa xỉ, phô trương làm trọng mà trái lại, rất giản đơn và tinh tế.
Nếu thử so sánh giữa bát bún riêu Hà Nội và bún riêu Nam Bộ thì sẽ thấy rõ sự khác biệt. Bát bún riêu Nam Bộ có lượng lớn, bún nhiều, nước lèo nhiều, thực phẩm thì đủ loại: nào thì cua được viên tròn, nào thì giò tai, thịt bò rồi cả đậu phụ… nhưng bát bún riêu Hà Nội thì đơn giản lắm. Bát bún riêu nho nhỏ, chỉ đơn giản là riêu cua được chưng mỡ rưới đều trên ít bún, nước dùng chua chua đỏ màu cà chua và một ít hành, ăn kèm với rau sống, rau thơm thái chỉ. Không rõ là bún riêu Nam Bộ với bún riêu Hà Nội, món nào được ưa chuộng hơn nhưng rõ ràng người Hà Nội không thích lẫn lộn, tổng hợp.
Còn thú chơi tuy không phô trương nhưng lại rất cầu kỳ. Chỉ riêng chuyện uống trà của dân Hà Nội cũng đã có thể chép lại thành cả cuốn sách. Miền Bắc có nhiều loại trà nổi tiếng: trà Thái Nguyên, trà Suối Giàng, trà Phìn Hồ… và phải kể đến cả trà sen Hồ Tây. Để ướp được thứ trà này, thật kỳ công. Loại chè ngon được ướp cùng với nhụy sen hái ở Hồ Tây. Để có mùi thơm tươi mát, người ta để từng dúm chè vào những bông sen trên hồ rồi buộc lại. Thứ nước pha trà phải là thứ sương hứng ở trên lá sen vào buổi sáng tinh mơ. Đó thực sự là chơi trà chứ không đơn thuần là uống trà. Chính bởi tính cầu kỳ, kỹ tính ấy của dân Hà Thành, nghệ sĩ nào muốn hành nghề ở đất Kinh Kỳ không phải chỉ cần trau dồi cho mình tài năng xuất chúng mà còn phải tạo cho mình một phong thái lịch lãm và cao quý. Vì rõ ràng sự xa hoa mà thô lỗ không thể nào chinh phục được những khán giả Hà Nội tinh tế và khó tính.
Nét đẹp xƣa của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội… còn đâu?
Những người xa Hà Nội lâu năm quay trở về đều không thể nhận ra thành phố. Một nghìn năm văn hiến dù trải qua biết bao biến thiên lịch sử, thậm chí là cả qua thời kỳ Âu hóa, cho đến trước năm 1954, Hà Nội vẫn là Hà Nội. Nhưng từ đó đến giờ, Hà Nội dường như đã biến thành một nơi hỗn tạp, xô bồ.
Biểu hiện rõ nhất là ở kiến trúc. Không rõ trước thời kỳ Pháp thuộc Hà Nội như thế nào, nhưng qua những bức ảnh thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thì ta thấy rõ chúng ta đã từng có một thành phố với những ngôi nhà trang nhã, lịch sự được quy hoạch hợp lý. Còn bây giờ thì sao? Nếu bị lạc vào khu 36 phố phường, ta sẽ không thể hình dung được đây là trung tâm của thành phố. Đó là những dãy phố nhỏ hẹp, đông đúc, vỉa hè bị lấn chiếm làm chỗ buôn bán, nhà cửa thì chen chúc; cái cao – cái thấp, cái thò ra – cái thụt vào. Ngôi nhà cổ ngày trước từng là căn nhà khang trang thì giờ trở nên xộc xệch: tầng 1 cho thuê làm cửa hàng buôn bán, các tầng trên để mặc lớp vôi cũ đã lên màu rêu phong, mấy hộ gia đình ở chung một căn nhà và sử dụng chung một nhà vệ sinh.
Dân cư Hà Nội ngày một đông đúc và hệ quả tất yếu là các ngôi nhà cứ thế đua nhau mọc lên như cỏ hoang chẳng ai quy hoạch. Nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử bị xâm phạm nghiêm trọng. Hồ Hoàn Kiếm ngày một nhỏ đi, giờ chỉ như một cái ao giữa trung tâm thủ đô. Ấy là còn chưa kể biết bao đình chùa, đền miếu, lăng tẩm… bị nhà dân xâm lấn. Lấy ví dụ là lăng mộ của Thần Siêu (Nguyễn Văn Siêu), người cho xây dựng Đài Nghiên – Tháp Bút, hiện đang nằm ở làng Kim Lũ. Lăng mộ của ông nằm trong sân một nhà máy quốc doanh đã cũ kỹ, cỏ hoang mọc xung quanh, chẳng có đường vào. Thảm thương hơn một Thần Siêu phải kể đến lăng mộ của nhà văn hóa Đặng Trần Côn – tác giả “Chinh phụ ngâm khúc”. Sau khi chiến tranh kết thúc, phần mộ của ông nằm trên phần đất được phân cho một thương binh có công với Cách mạng. Vị “anh hùng” này cần phải xây nhà và phần mộ ấy choán mất phần không gian xây nhà vệ sinh của gia đình, vậy là ông ta quyết định đào mộ lên, vứt hài cốt của Đặng Trần Côn bao gồm cả quan quách xuống sông Tô Lịch. Đến giờ, hài cốt của vị danh nhân văn hóa này vẫn chưa được tìm thấy.
Dòng sông Tô Lịch chảy xuyên suốt thành Thăng Long, nổi tiếng là một dòng sông đẹp:“Sông Tô nước chảy trong ngần- Có thuyền bướm trắng chạy gần chạy xa”. Vậy mà giờ đây, sông Tô Lịch chỉ còn là một cái cống thoát nước đen ngòm của cả thành phố với đủ các loại rác rưởi, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, rồi thì người ta giết người cũng đem vứt xuống sông. Sông Tô đã đổi màu, Hà Thành cũng đổi màu!
Những người sinh sống ở Hà Nội không có được cái vẻ lịch lãm đã từng được ca ngợi nữa mà trái lại, có đủ các tật xấu như: nói tục chửi bậy, xả rác bừa bãi, coi thường pháp luật… Bát bún riêu giờ cũng bắt đầu hổ lốn, có thêm đậu phụ, thịt bò, cũng chẳng ai đi hứng sương ở lá sen nữa vì giờ không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng do khói thải từ các nhà máy công nghiệp…
Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nét đẹp của thành phố này cứ lần lượt biến mất. Các làng nghề truyền thống bị mai một, các món ăn ngon bị lai tạp và bị công nghiệp hóa làm mất đi hương vị nguyên bản. Các thú chơi như ca trù, thư pháp, sinh vật cảnh… bị lãng quên nhiều năm đến giờ mới bước đầu khôi phục. Nghiêm trọng hơn cả nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh bị quá trình đô thị hóa hủy hoại… Điển hình là các khu vườn đào. Hoa đào là loại hoa đặc trưng của chốn kinh kỳ mỗi khi năm hết Tết đến. Từ ngàn xưa, làng Nhật Tân đã nhận sứ mạng quan trọng là cung cấp đào cho cả Hà Nội. Giống bích đào Nhật Tân nổi tiếng đẹp với sắc hồng thắm, dáng dấp tao nhã không đâu sánh được. Quá trình đô thị hóa với các dự án khu đô thị mới đã cướp mất mảnh đất trồng đào của người dân nơi đây. Họ dạt ra phía lưu vực sông Hồng nhưng đất ở đây màu mỡ quá khiến đào không có được màu sắc tươi tắn và dáng cây trở nên mập mạp. Sau đó, những nông dân trồng đào phát hiện ra đặc tính của đất La Cả – Hà Đông giống với đất Nhật Tân khi xưa. Bà con bèn khăn gói, mang theo giống bích đào quý báu, kéo nhau chuyển về đất La Cả. Nhưng rồi mảnh đất này cũng Nhưng rồi mảnh đất này cũng bị thu hồi để xây dựng khu chung cư cao cấp. Năm 2010 này có ai ngờ là năm cuối cùng của làng đào La Cả. Bắt đầu từ năm sau nơi đây sẽ là công trường ngổn ngang gạch ngói.
“Xe Lexus” hay “cây olive”?
Vấn đề của Hà Nội hiện nay chính là vấn đề lựa chọn “xe Lexus” (Toàn cầu hóa) hay “cây olive” (văn hóa phương Tây) mà nhà báo Thomas Friedman đã đề cập đến khi viết về quá trình Toàn cầu hóa. Chiếc xe Lexus hiện đại có đủ tốc độ và sức mạnh để nghiền nát bất cứ cánh đồng olive nào. Vậy các giá trị truyền thống của Hà Nội liệu có đương đầu nổi với cuộc Toàn cầu hóa đang diễn ra trên khắp thế giới hay không?
Các nét đẹp của Hà Nội xưa vốn dĩ đã bị mai một nhiều từ sau năm 1954 do Nhà nước không nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hiến. Thêm vào đó, sự di dân bất hợp lý đã làm đảo lộn các giá trị. Nhiều người dân Hà Nội vì nhiều lý do (do bất đồng quan điểm chính trị, do bị bắt đi cải tạo hoặc do bị ép lên các vùng kinh tế mới…) đã phải nhường thành phố cho người dân tỉnh lẻ để lưu lạc ở nơi khác. Đó có lẽ là nguyên nhân chính khiến các nét đẹp của Hà Nội bị lai tạp và sự thanh lịch của người dân nơi đây không còn nữa.
Đúng lúc người ta bắt đầu ý thức được giá trị của một Hà Nội văn hiến thì Hà Nội lại phải đối mặt với “những chiếc xe olive”. Vào thế kỷ 19, khi làn sóng Âu hóa tác động tới thành phố này, “chất Hà Nội” vẫn giữ được ít nhiều vẹn nguyên. Ấy là bởi bề dày văn hóa vững chắc từ ngàn xưa. Nhưng sau năm 1954, bề dày ấy đã bị mài mòn đến mức lung lay, e rằng làn sóng mới của « những chiếc xe olive » này sẽ quật đổ tất cả các nền tảng cũ còn rơi rớt lại.
Lời kết
Không phải chờ đến năm 2010 chúng ta mới nhận thấy những mất mát văn hóa đang đe dọa nền tảng nghìn năm văn hiến của Hà Nội và trăn trở về nó. Nhưng tầm quan trọng của sự kiện 1000 năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội càng day dứt lòng trắc ẩn của những người con Đất việt, của những người yêu, tin và muốn Hà Nội thanh lịch như xưa kia. Còn những người lãnh đạo đang ra sức hô hào cho lễ kỉ niệm này thì nghĩ gì ? Họ có nhận ra được những mất mát ấy không ? Hay lễ kỉ niệm đối với họ chỉ để khoe thành tích, khoe với thế giới những giá trị truyền thống mà thực tế đang chết dần bởi sự vô trách nhiệm của chính họ ?
Khuê Đăng

Advertisements

Thăng Long hay Hà Hội?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:58 pm
Tags: , , ,

Gần đây ông Hoàng Tiến, tác giả ―Thư gửi Ban tổ chức lễ hội ngàn năm Thăng Long-Hà Nội‖, đã viết thư cho ban tổ chức lễ hội Ngàn năm Thăng Long-Hà Nội để đề nghị đổi tên Hà Nội thành Thăng Long. Ông cho rằng Thăng Long có nghĩa là rồng bay và tên gọi này đã giúp nước Đại Việt hưng thịnh. Trong khi đó, đất nước đã trải qua nhiều đau hương dưới tên gọi Hà Nội. Trước khi bàn về sự cần thiết của việc đổi tên thủ đô Hà Nội, thiết nghĩ cũng nên luận giải các chi tiết trong bức thư của ông Hoàng Tiến.
Lặp lại sai lầm
Thưa ông Hoàng Tiến, ở những nước văn minh người ta rất ít đổi tên, rất ít nhập vào, tách ra. Những cái tên Thành Đô, Tứ Xuyên là những địa danh có từ khoảng trên 2000 năm. Các thành phố khác trên thế giới như Moscơva, Paris, London, Oslo đều là các thành phố có tuổi rất cao với cùng tên một gọi. Mỗi một địa danh trong quá trình tồn tại và phát triển đã mang trên mình tất cả các dấu ấn lịch sử và văn hóa gắn với địa danh ấy. Hà Nội tuy mới tồn tại ngót hai trăm năm nhưng đã có biết bao sự kiện lịch sử bi hùng gắn liền. Những cái tên Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu chiến đấu đến chết để bảo vệ Hà nội chứ không chịu trao thành cho giặc, những chiến sĩ trong kháng chiến cống Pháp “Quyết tử cho Hà Nội quyết sinh”; những sự kiện đó gắn với Hà Nội chứ không phải với Thăng Long. Gỉa sử Hà Nội đổi thành Thăng Long thì câu nói trên sẽ điễn đạt như thế nào?
Trước đây, có bài hát “Đi tìm người hát câu hát lý thương nhau” của Vĩnh An trong đó có những câu:
Để lòng anh mong, để lòng anh nhớ ai thương em như thế… Hỡi cô gái Nghĩa Bình!
Bài hát rất hay đượm chất dân ca phù hợp với tình cảm và tâm sự của người dân Việt, khiến mỗi lần hát người nghe cảm thấy rung động lạ thường. Tiếc thay, thoắt một cái Nghĩa Bình không còn! Ấy là chưa kể một số tên đường bị đổi đã gây không ít phiền hà. Đơn cử đường Hàng Bột đổi thành đường Tôn Đức Thắng, đường Láng Hạ đổi thành đường Nguyễn Chí Thanh, đường Nam Bộ đổi thành đường Lê Duẩn, đường Tàu Bay thành đường Trường Chinh. Điều này khiến một người chỉ xa Hà Nội vài năm phải ngỡ ngàng, phải hỏi thăm đường khi về Hà Nội. Một bản đồ Hà Nội xuất bản trước sau một vài năm đã khác nhau mà không phải là do có những đường mới, phố mới, công trình mới xuất hiện mà chỉ do các phố, các đường đã bị đổi tên!
Năm xưa khi Vua Minh Mệnh đặt tên Hà Nội, nhà vua có lẽ cũng mắc sai lầm là không chú ý đến tính chất lịch sử của cái tên Thăng Long và truyền thống văn hóa lâu dài của nó. Tuy nhiên, điều này có thể cũng thông cảm được vì dưới triều Nguyễn, Hà Nội không phải là thủ đô. Hơn nữa, dấu ấn Thăng Long của các triều đại Lý, Trần, Lê không còn gì và đã bị tàn phá nặng nề bởi các cuộc chiến tranh xâm lược liên miên qua nhiều thế kỷ của phong kiến phương Bắc. Các cuộc chinh biến của Tống, Nguyên, Minh, Thanh và ngay cả Chiêm Thành cũng đã nhiều lần kéo quân đến Thăng Long đốt phá. Cung điện, đền đài, lăng tẩm, thành quách được xây dựng qua các triều đại Lý, Trần, Lê không còn nếu có cũng chỉ là các phế tích. Thăng Long chỉ còn là cái tên không, một cái vỏ mà phần ruột–phần quan trọng nhất đã mất. Chúng ta có thể nhận ra điều này khi đọc thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Chính vì thế, việc đổi tên Hà Nội thành Thăng Long có khác nào lập lại sai lầm thêm một sai lầm nữa.
Phúc và họa của đất Thăng Long – Hà Nội
Trong thư ông Hoàng Tiến đã liệt kê những sự kiện lịch sử, những tiến bộ về các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục. Những sự kiện này có thực nhưng đã gây cho người đọc cảm giác rằng cái tên Thăng Long đã mang lại nhiều may mắn hơn Hà Nội. Thực tế trong cả chiều dài lịch sử, điều này không hoàn toàn đúng. Hơn nữa, những sự cố xảy ra cho Hà Nội đều có sự tác động của con người thậm chí đều do con người gây ra và rất cần luận giải chi tiết thì dường như lại không được chú ý.
Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi xem xét các triều đại đến thế kỷ XVI đã rút ra lời kết như sau:
Muốn bình thì phải ở nhân
Muốn yên thì phải dạy dân cấy cày
Về các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa-giáo dục, Lý Thái Tổ và triều Lý đã có những cải cách lấy dân làm gốc, chẳng hạn như “Đại xá thiên hạ, miễn giảm sưu thuế trong ba năm”. Rõ ràng nhà Lý đã đem nhân nghĩa tưới khắp bá tánh nên xã hội dưới thời nhà Lý thịnh trị. Và vì vậy, triều đại Lý cũng kéo dài đến 215 năm.
Trong khi đó, Hà Nội lại không thịng vượng dưới triều Nguyễn. Mặc dù các vua chúa Nguyễn có rất nhiều công lao trong việc mở mang bờ cõi và thống nhất đất nước. Nhờ lẽ đó mà nước Việt ta mới trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau như ngày nay. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng nhà Nguyễn đã cai trị dân không phải bằng nhân nghĩa mà bằng bạo lực. Nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách cấm đạo, sát Gia Tô một thời gian dài, đặc biệt trong hai đời vua Minh Mệnh và Tự Đức. Thêm vào đó, nhà Nguyễn lại dùng nhiều cực hình man rợ đối với cựu thù như Tây Sơn, và thậm chí với các công thần mà mới hôm nào còn vào sinh ra tử để có được chiến thắng.
Nhà Nguyễn vào đất Thuận Hóa, thành công trong việc mở mang bờ cõi và cuối cùng có được thiên hạ trong tay một phần là nhờ vào lời chỉ dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông từng nói “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Thế nhưng vua tôi nhà Nguyễn dường như bỏ ngoài tai lời giáo huấn ấy nên việc trị dân trị nước của nhà Nguyễn gặp nhiều trắc trở và không hanh thông. Cái phúc và cái họa của đất Thăng Long – Hà Nội là do vậy ông Hoàng Tiến ạ.
Thay đổi quan trọng hiện nay
Tôi thiết nghĩ cái thay đổi quan trọng nhất là ở chỗ thay đổi dân yếu nước hèn thành ra dân giàu nước mạnh và thực sự công bằng văn minh; làm sao cho đất nước không bị ngoại bang khinh nhờn lấn át. Theo đó, thay đổi làm sao cho đất nước không còn các “quốc nạn và quốc loạn” như tham nhũng, hối lộ, buôn lậu, mua quan bán tước; thay đổi để những người có tài năng đức độ được trọng dụng, những kẻ bất tài cơ hội bị loại bỏ. Đấy mới là thay đổi căn bản và cần thiết mới đáng gọi là thay đổi, thưa ông Hoàng Tiến.
Những thay đổi đại loại như: đổi tên, tách ra, nhập vào chỉ là những thay đổi dẫn đến lãng phí tốn kém. Thậm chí còn tạo cơ hội cho những bọn xấu xa ở các cấp chính quyền lợi dụng để trục lợi, mà chẳng mang lại điều lợi lộc gì cơ bản cho nhân dân và cho đất nước. Việc sát nhập Hà Tây vào Hà Nội chỉ tính riêng việc liên quan đến hoàn thiện con dấu cho các cấp ban ngành từ địa phương đến thành phố đã tốn kém hàng trăm tỷ đồng. Nay lại đổi Hà Nội thành Thăng Long thì vài trăm tỷ sẽ đội nón ra đi cho một việc vô bổ.
Những ai còn có tấm lòng yêu nước hẳn uất ức đến ứa nước mắt khi đọc những câu thơ:
Có nơi đâu trên thế giới này Như Viêt Nam hôm nay Yêu nước là tội ác Biểu tình chống ngoại xâm bị “Nhà Nước’’ bắt? Các anh hùng dân tộc ơi! Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo ơi! Nếu sống lại các ngài sẽ bị bắt! Ai cho phép các Ngài đánh giặc phương Bắc? (Trần Mạnh Hảo – Sài Gòn, 20-01-2008)
Đất nước này máu và nước mắt chảy triền miên. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chẳng được bao lâu lại tiếp ngay đến tháng 2 năm 1979; rồi máu chảy ở biên giới phía Bắc, máu chảy ở Lão Sơn, máu chảy ở Trường Sa. Hãy so sánh với Angiê-ri, một nước Bắc Phi, cũng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam nhưng họ chẳng hề có “Điện Biên chấn động địa cầu” hay chẳng có ngày “30 tháng 4 lịch sử”. Thế mà đất nước họ đã độc lập thống nhất lại chẳng bị kẻ ngoại xâm nào nhòm ngó, coi thường.
Thưa ông Hoàng Tiến, Việt Nam đang bị lân bang dòm ngó, thác Bản Giốc nay đã mất đi, dân chúng không được mưu sinh trên phần biển cha ông để lại. Vậy thì việc đổi tên như ông đề nghị phỏng có ích gì?!
Vũ Đình Tiêu Ngày 20/12/2009

Kinh Đô của Việt Nam qua các Triều Đại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:56 pm
Tags: , ,

Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của Việt Nam mở đầu cho thời kỳ thống nhất và tự chủ qua việc đánh Tống bình Chiêm của nhà Đinh. Kinh thành Hoa Lư tồn tại 42 năm (968 – 1010). Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Thăng Long (Hà Nội) an định Kinh Đô cho các triều vua Lý, Trần, Hậu Lê sau đó, kéo dài 779 năm.
Đầu năm 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu và kết thúc triều đại Hậu Lê. Quang Trung định đô ở Phú Xuân, Thăng Long được gọi là Bắc thành. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế, vẫn định đô ở Phú Xuân. Thăng Long vẫn được gọi là Thăng Long nhưng có nghĩa là thịnh vượng, không còn là rồng bay nữa. Sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỷ 18, các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt tài sản của Thăng Long vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới, chỉ giữ lại điện Kính Thiên và Hậu Lâu làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành.
Năm 1805, vua Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì diện tích quá rộng lớn, xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp nhỏ hơn thành cũ rất nhiều. Năm 1831, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội, tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp. Người Pháp đổi lại là thành phố . Đến khi chiếm xong Việt-Miên-Lào, họ lại chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương, thuộc Pháp. Một lần nữa thành Hà Nội bị phá hoàn toàn để lấy đất làm công sở và trại lính Pháp. Thành Hà Nội đến hôm nay chỉ còn sót lại cửa Bắc và cột cờ là di chỉ khảo cổ và phục dựng.
Kinh đô Huế (Phú Xuân) được vua Gia Long khai sinh năm 1802 mở đầu cho triều Nguyễn, và kết thúc vào năm 1945, kéo dài được 143 năm, vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt nhà Nguyễn. Kể từ đó Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1954, Việt Nam chia đôi, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30-4-1975, Hà Nội là thủ đô của CHXHCN Việt Nam cho tới nay.
―Thiên Đô Chiếu‖ – thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Thiên đô chiếu tức chiếu chỉ dời đô là văn bản bằng Hán Tự được cho rằng do vua Lý Thái Tổ tự tay viết và ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay) ra thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Lý Thái Tổ lên ngôi tháng mười năm Kỷ Dậu (1009) đến tháng 7 năm Canh Tuất (1010) thì ban chiếu chỉ thiên đô.
Thiên đô chiếu đề cao yếu tố thiên thời qua biểu tượng rồng bay, lại kết hợp thế “long chầu hổ phục‟ của khoa địa lý để củng cố ngôi vị Thiên Tử. Việc “trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân‖ ắt sẽ mưu cầu sự bền vững cho triều đại.
Về mặt địa lợi sử gia Ngô Sỹ Liên viết: “Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu vững bền, hình thể Việt Nam không nơi nào hơn được nơi này”. Về mặt kinh tế, đồng bằng sông Hồng là vựa lúa, Vịnh Bắc Việt là vựa cá, giao lưu thủy bộ đều tiện lợi. Ngày nay, chúng ta không ngạc nhiên khi giá đất ở đây đang cao nhất nước.
Về mặt chiến lược quốc phòng của thời ấy, Hoa Lư có núi non hiểm trở, thuận tiện cho việc hùng cứ để vừa phòng ngự vừa phản công. Nhờ vậy, nhà Tiền Lê đã thành công trong việc dánh Tống ở phương Bắc, lại tiện xuất quân chinh phạt Chiêm Thành ở phía Nam. Nhưng địa thế hiểm trở ấy cũng chính là nơi ẩn náu an toàn của nhiều lực lượng võ trang, liên kết với các châu mục của các dân tộc miền núi chống lại quân đội của triều đình. Vì vậy, khó giữ yên bá tánh và tính bền vững của mỗi triều đại do có địa lợi mà không duy trì được nhân hòa.
Thăng Long tuy không hiểm trở bằng Hoa Lư, nhưng lại ở giữa vùng châu thổ sông Hồng trù phú, đông dân lại thấm nhuần Phật giáo qua nhiều thế kỷ. Dĩ nhiên nhân tâm rất hãnh diện đối với một ông vua xuất thân từ cửa Phật, lại được bảo hộ bởi Quốc Sư Vạn Hạnh, một người mà sử gia cho là “có kiến thức cao siêu, thần toán, biết trước mọi sự việc”. Quân sư thì như thế; vua lại nhân từ, đức độ thì việc dời đô chắc chắn hội đủ điều kiện nhân hòa Thời đại ngày nay đã đổi thay nhanh chóng chưa từng thấy. Thiên thời phải được đặt dưới bóng râm của kinh tế toàn cầu, an ninh quốc tế và cân bằng thế lực giữa các siêu cường bằng ngoại giao đa phương. Địa lợi là vị thế trung tâm của vòng tròn Đông Nam Á, quang đãng giữa biển Thái Bình, phong cảnh xinh đẹp và trù phú không kém gì Thăng Long của Việt Nam, lại là đường giao lưu huyết mạch của thế giới. Hai điều kiện này đang sáng dần trên khúc quanh lịch sử của Việt Nam. Nhân Đại Lễ Kỷ Niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, bằng “ôn cố tri tân”, toàn dân Việt hãy dùng ánh sáng từ Chiếu Thiên Đô của vua Lý Thái Tổ, vận dụng quan năng biến cải để đạt được nhân hòa của nước “Đại Cồ Việt” cách nay đúng 1000 năm. Được vậy thì rồng Việt Nam sẽ lại bay cao mà không còn sợ kẻ thù nào uy hiếp nữa.

Thuế TNCN: Nhiều khoản thu nhập được giảm trừ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:59 pm
Tags: ,

Nhân viên Cục Thuế TPHCM hướng dẫn thủ tục quyết toán thuế TNCN. Ảnh: H.THÚY Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009 có nhiều điểm khác biệt so với những năm trước. Phóng viên Báo NLĐ đã trao đổi với ông Nguyễn Đình Tấn, Cục trưởng Cục Thuế TPHCM, xung quanh vấn đề này.

. Phóng viên: Đơn vị chi trả thu nhập nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) như thế nào, thưa ông?

– Ông Nguyễn Đình Tấn: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập; cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, tạm nộp; cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau thuộc đối tượng phải quyết toán thuế TNCN. Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính 2009, tức 31/3/2010.

Đối với đơn vị trả thu nhập là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sẽ nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý. Trường hợp cơ quan thuế có thực hiện ủy nhiệm thu thì đơn vị chi trả thu nhập nộp hồ sơ cho đơn vị được ủy nhiệm.

Đối với các trường hợp khác như: Cơ quan Trung ương; cơ quan thuộc, trực thuộc bộ, ngành; UBND TP; cơ quan cấp TP; cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài nộp hồ sơ khai thuế tại cục thuế. Cơ quan thuộc, trực thuộc UBND quận/huyện, cơ quan cấp UBND quận/huyện nộp hồ sơ khai thuế tại chi cục thuế.

. Tiền lương, tiền công của năm 2008 nhưng chi trả trong năm 2009 có phải kê khai quyết toán thuế năm 2009 hay không?

– Đối với tiền lương, tiền công của năm 2008 trở về trước nhưng chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009 thì vẫn thuộc thu nhập được miễn thuế, đơn vị chi trả thu nhập không phải kê khai quyết toán thuế. Tuy nhiên, nếu chi trả vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải kê khai vào thu nhập chịu thuế để quyết toán thuế năm 2009.

. Đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán, từ bản quyền, nhượng quyền thương mại thì kê khai quyết toán thuế như thế nào?

– Các khoản thu nhập nêu trên của năm 2009 nếu chi trả trước ngày 1/7/2010 thì được miễn thuế, đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế; nếu chi trả sau ngày 30/6/2010 thì phải tính thuế. Trường hợp ứng trước các khoản thu nhập này có nguồn gốc của năm 2010 và những năm tiếp theo trong năm 2009 thì phải tính thuế và kê khai quyết toán thuế năm 2009 đối với phần thu nhập chi trả ứng trước.

Đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán… từ năm 2008 trở về trước nhưng năm 2009 mới được chi trả thì cũng thuộc thu nhập được miễn thuế; đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 đối với các khoản này.

. Việc tính các khoản giảm trừ gia cảnh, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… khi quyết toán thực hiện ra sao?

– Cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công chỉ phải khai quyết toán phần thu nhập và số thuế phải nộp của 6 tháng cuối năm 2009 và các khoản giảm trừ tương ứng với thu nhập phải nộp thuế của 6 tháng cuối năm 2009.

Cụ thể: đối với các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc đã đóng một lần cho cả năm thì kê khai giảm trừ bằng 50% tổng số tiền đã đóng; đối với khoản bảo hiểm đóng theo tháng thì kê khai giảm trừ theo số thực đóng của 6 tháng cuối năm 2009.

Đối với giảm trừ gia cảnh: số tiền giảm trừ được tính theo thực tế giảm trừ gia cảnh của 6 tháng cuối năm 2009 (giảm trừ cho bản thân 24 triệu đồng; giảm trừ cho người phụ thuộc tính theo số người phụ thuộc, số tháng được tính giảm trừ và mức tiền được trừ cho một người một tháng).

Đối với giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học thì mức giảm trừ tính theo số chi thực tế trong 6 tháng cuối năm 2009.

Để việc quyết toán thuế thuận tiện, dễ dàng hơn, Tổng cục Thuế đã xây dựng nhiều hướng dẫn và phần mềm ứng dụng để hỗ trợ các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế, bao gồm: hướng dẫn thủ tục, hồ sơ và cách lập các tờ khai quyết toán thuế TNCN… Các phần mềm này được cung cấp miễn phí tại địa chỉ http://www.tncnonline.com.vn.

Hạn chót được miễn thuế của các khoản thu nhập

. Các khoản tiền lương, tiền công:

Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công đã trả trong 6 tháng đầu năm 2009, hạn chót chi trả được miễn thuế (gọi tắt là hạn chót) là ngày 30/6/2009; nếu đã hạch toán và ra quyết định nhưng chưa trả trong 6 tháng đầu năm thì hạn chót là ngày 31/12/2009.

Tiền thưởng của cả năm 2009 trả một lần, được miễn 50% và hạn chót là ngày 31/3/2010; tiền thưởng của quý I, quý II/2009 thì hạn chót là ngày 31/12/2009; thu nhập từ nghỉ lễ, trang phục, lợi ích khác… trả trong 6 tháng đầu năm, được miễn hạn chót ngày 30/6/2009; tiền lương, thưởng năm 2008 về trước chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009, hạn chót là ngày 30/6/2009.

. Các khoản đầu tư vốn:

Đối với thu nhập từ lợi tức, cổ phiếu được chia trong năm 2009, hạn chót là ngày 30/6/2009, đối với lãi tiền cho vay, hạn chót là ngày 31/12/2009. Trường hợp cá nhân nhận trước thu nhập cho nhiều năm thì phần thu nhập tương ứng của năm 2009 được miễn thuế TNCN.

(Nguồn: Thông tư 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009)

Ưu tiên hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 pm
Tags: , ,


Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 12:36
Bộ Tài chính đã có công văn yêu cầu cơ quan thuế các địa phương phải có biện pháp thực hiện giải quyết hoàn thuế nhanh, đặc biệt là hồ sơ đề nghị tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá thực xuất khẩu nhưng chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Bộ Tài chính cũng yêu cầu xử lý nghiêm đối với các bộ phận và cán bộ công chức vi phạm quy trình hoàn thuế dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp.

Trong khi chờ Bộ sửa đổi, bổ sung Thông tư 04 về việc hướng dẫn hoàn thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế các địa phương vẫn tiếp tục giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp theo Thông tư này.

Nếu doanh nghiệp vừa đề nghị tạm hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, vừa đề nghị tạm hoàn thuế đối với hàng hoá bán trong nước trong cùng một hồ sơ, thì cơ quan thuế phải có trách nhiệm tách số liệu liên quan đến thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá xuất khẩu chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng để giải quyết hoàn thuế ngay, số thuế còn lại sẽ thực hiện hoàn thuế theo quy định.

(Theo VnEconomy)

Tham nhũng đất đai: Do cơ chế giám sát chưa mạnh

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:38 pm
Tags: , , , ,

TT – Hàng loạt quan chức bị kỷ luật do vi phạm về đất đai, kèm theo đó là những vụ khiếu kiện kéo dài, theo TS Vương Quân Hoàng, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ, phần lớn là do người ta vẫn bưng bít được thông tin và không nghĩ có thể bị phát hiện. Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Hoàng nói:

TS Vương Quân Hoàng – Ảnh: X.LONG

– Đất đai cần được nhận diện như một đối tượng của tham nhũng để có biện pháp phòng chống tương xứng. Ai được hỏi tính hợp lý của dự án? Ai được hỏi giá đất đền bù bao nhiêu là hợp lý, rồi việc thu hồi, mua bán có làm lợi cho quan chức nào? Khi từng thông tin trên phải được công bố, cơ chế giám sát rõ thì nguồn lực của nhà nước được bảo toàn và người dân cũng được lợi.

* Thưa ông, hiện quyền phân, giao, cho thuê đất đều nằm trong tay các chủ tịch UBND tỉnh, huyện… Phải chăng đó là điều khiến những người có quyền lực rất dễ tham nhũng đất đai?

Tiến sĩ Vương Quân Hoàng – nghiên cứu viên cấp cao của Trung tâm Emile Bernheim, Đại học Tổng hợp Brussels, Bỉ. Ông Hoàng nguyên là cán bộ Ngân hàng Thế giới tại VN từ 1996-2002; bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Brussels năm 2004 về đề tài thống kê kinh tế lượng về chuỗi thời gian tài chính. Hiện TS Hoàng đang tham gia nhiều chương trình, dự án nghiên cứu về kinh tế VN của Trung tâm Emile Bernheim.

– Có nhiều loại quyền lực khác nhau, các ông chủ tịch có quyền lực hành chính, đó chỉ là một trong 12 quyền lực được định nghĩa, trong đó có quyền lực thông tin, quyền lực cưỡng chế, quyền can thiệp, quyền lực chuyên gia, quyền lực tiền bạc, quyền lực do quan hệ…

Tất cả quyền lực trên đều có thể kiếm lợi bất chính từ đất đai. Ông chủ tịch có thể ký, một ông chuyên gia, với quyền góp ý, cũng có thể thu lợi lớn. Nguy hiểm nhất là các quyền lực trên cấu kết với nhau hòng trục lợi.

Vấn đề là khi có những người hưởng lợi thì sẽ có người bị hại. Khi một khu đất từ giá vài trăm ngàn đồng/m2, sau khi chuyển từ tay người nông dân sang người khác bỗng tăng lên vài chục triệu đồng/m2 thì rõ ràng người dân chịu thiệt.

* Sự không sòng phẳng với người dân đang là nguyên nhân chính khiến các quan chức dễ tham nhũng đất đai, như vậy quyền của người dân cần thay đổi?

– Nếu người ta cố tình trục lợi thì thực tế các quan chức có thể tạo bất công ở mọi khâu liên quan đến đất đai. Một mặt, việc thu hồi đất đang mang vóc dáng thị trường là sẽ trả bằng tiền, nhưng mặt khác nó hoàn toàn mang tính chất hành chính, qua quyết định hành chính.

Theo tôi, cần hiểu rõ và hiểu đúng hơn về quyền sở hữu của người dân. Đất đai là của Nhà nước nhưng khi đã trao quyền sử dụng cho một người, Nhà nước đã bắt đầu đấu giá đất theo giá thị trường thì khi thu hồi anh cũng phải có cơ chế thật sự thị trường. Nhưng thực tế hiện nay, chúng ta lại áp dụng hoàn toàn lối tư duy cũ, cách làm không thị trường khi thu hồi đất. Một người đến mua nhà của ông A, nếu cần quá thì phải tăng giá lên để mua được.

Nhưng một quyết định thu hồi đất thì không phải làm như vậy. Nếu chính quyền cần mảnh đất của ông A để cung cấp một dịch vụ công nào đó, thì phải hiểu hàng triệu người đóng thuế phải chấp nhận bù cho ông A một khoản tương xứng để được cung cấp một dịch vụ công đang cần đất kia. Khi công bằng, áp dụng cơ chế thị trường cho mọi loại hình giao dịch đất đai thì quan chức hay ai đó có mua, nhà nước cũng thu được nguồn lợi tương tự.

Đất do người dân khai phá ở An Nhơn, Châu Thành (Đồng Tháp) bị UBND huyện Châu Thành thu hồi giao cho cán bộ nuôi cá  – Ảnh: Đ.VỊNH

* Từ thực tế tham nhũng đất đai cho thấy cơ chế giám sát nguồn lực đất đai chưa đủ mạnh?

– Chính xác là như thế. Muốn giám sát, đầu tiên phải biết thông tin. Nhiều người đã có tài sản cực kỳ lớn nhờ tiếp cận được thông tin sớm. Thế thì mặt trái của nó là đã có người sử dụng quyền chặn luồng thông tin đó. Nếu chuyện lình xình nào được báo chí nhắc đến thì chuyện đó về cơ bản sẽ được giải quyết khá nhanh. Nhưng chỉ thi thoảng mới có những thông tin ra báo chí nên hệ quả là các thiết chế xử lý chỉ được lập để xử khoảng 30-40 vụ/năm. Nó cũng giống chuyện thiết chế để có cuộc ra quân làm đẹp thành phố trong ba ngày, trong khi để sạch trong 365 ngày nó phải rất khác. Nó không thể xuất phát từ việc ra một chỉ thị, hô một quyết tâm.

* Tham nhũng đất đai có xu hướng tăng một phần vì xử lý đôi khi rất khó?

– Đất đai bao giờ cũng tác động đến rất nhiều người nên cần được xử lý một cách nghiêm khắc. Gần đây ở bên Mỹ có một thị trưởng không ra quyết định nhưng bằng ảnh hưởng của mình, ra đề nghị tác động khiến một con đường vòng qua một khu casino. Chỉ cần chứng minh có quan hệ đủ gần để có thể nghi ngờ anh có động cơ mờ ám, ông thị trưởng đã ngay lập tức bị mất chức. Cơ chế giải quyết của họ khắt khe đến như vậy nhưng cũng chưa chắc đã đảm bảo 100% ngăn ngừa được tham nhũng liên quan đến đất đai. Nhưng ít nhất cơ chế giải quyết những bất minh về đất đai của những công chức VN, theo tôi, cũng cần được giải quyết mạnh mẽ như thế.

CẦM VĂN KÌNH – XUÂN LONG thực hiện

Giá đắt

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:25 pm
Tags: , ,
Cái giá của sự can thiệp vào thị trường vàng của NHNN là khá đắt, nó đang được trả bằng lượng ngoại tệ mà chúng ta phải bỏ ra để nhập vàng.

Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) đã nhập cả thảy sáu tấn vàng kể từ ngày 5-2-2010, thời điểm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chính thức can thiệp vào thị trường vàng nhằm đưa giá vàng trong nước ngang bằng với giá quốc tế.

Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu tuyên bố cho phép SJC nhập vàng không hạn chế nếu cần thiết và sẵn sàng cung ứng ngoại tệ cho SJC để nhập. SJC cho biết có thể còn nhập thêm trong trường hợp Nhà nước yêu cầu.

Ai là người mua vàng khi Nhà nước can thiệp và vì sao phải đưa giá vàng nội địa ngang bằng với giá quốc tế? Bà Nguyễn Thị Cúc, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), nhận xét tuần trước Tết Nguyên đán đối tượng mua vàng nhiều nhất là các ngân hàng và doanh nghiệp. Người dân có mua, nhưng không nhiều. Còn theo SJC, đến ngày đóng cửa nghỉ Tết, doanh nghiệp này bán ra bình quân khoảng 2.500-3.000 lượng/ngày, chủ yếu bán lẻ cho doanh nghiệp.

Hiện nay công suất chế tác của SJC khoảng 15.000 lượng/ngày, tương đương chừng 550-600 ki lô gam vàng/ngày. Xí nghiệp dập vàng miếng của SJC chạy ba ca, hết công suất, nhưng nhiều khách hàng cho biết vẫn phải chờ, không thể cứ giao vàng nguyên liệu là có vàng miếng ngay. Sức dân liệu có tiêu thụ hết lượng vàng lớn như vậy hàng ngày? Nhu cầu đầu tư, tích trữ vàng của dân cư là có, nhưng chắc chắn không thể liên tục ở mức cao và thường xuyên.

Một số ngân hàng và doanh nghiệp mua vàng mạnh xuất phát từ nhu cầu cân bằng trạng thái vàng trong nước và vàng tài khoản ở nước ngoài. Bây giờ, các doanh nghiệp và ngân hàng chỉ có thể bán vàng trên tài khoản ở nước ngoài, đưa trạng thái về bằng không và đóng tài khoản trước ngày 30-3-2010.

Tuy nhiên, đối tượng này chỉ bán vàng ở tài khoản nước ngoài nếu giá vàng nội và ngoại bằng nhau. Giá vàng trong nước thấp hơn giá quốc tế, họ lời, ngược lại họ lỗ. Cho đến trước ngày 5-2-2010, theo NHNN, phần lớn trạng thái vàng trong nước của các ngân hàng là âm và tổng mức âm chung ước khoảng 25 tấn.

Chính vì thế khi Nhà nước can thiệp và SJC bán vàng ra với mức giá thấp nhất trong nhiều tháng qua là 25 triệu đồng/lượng (giá chiều ngày 5-2-2010 tại TPHCM), các ngân hàng và doanh nghiệp đã không bỏ lỡ cơ hội mua vào. Đấy là thời điểm mua vào thuận lợi vì giá quốc tế giảm xuống dưới 1.080 đô la Mỹ, thậm chí có lúc còn 1.065 đô la Mỹ/ounce. Sau đó giá quốc tế lên lại rất nhanh, khiến giá vàng trong nước tăng theo và sức mua chậm lại. Ngoài ra việc NHNN điều chỉnh tỷ giá hối đoái, đẩy tiền đồng rớt giá 3,36% vào ngày 11-2-2010 cũng khiến giá vàng tăng lên.

Động thái can thiệp của Nhà nước không bất ngờ vì trước đó, trong cuộc họp với các ngân hàng tại TPHCM cuối tháng 1-2010 Thống đốc Nguyễn Văn Giàu đã phát đi những tín hiệu mở cho thanh khoản của các tổ chức tín dụng, trong đó nhấn mạnh sẽ tiến hành giải pháp bình ổn giá vàng. Nhưng các ngân hàng và doanh nghiệp đã bất ngờ có lẽ vì họ không tin NHNN lại “ra tay” nhanh như vậy. NHNN đã chọn đúng thời điểm can thiệp khi giá vàng quốc tế giảm nhiều.

Vấn đề còn lại sau Tết là Nhà nước sẽ tiếp tục can thiệp mạnh đến mức độ nào nhằm giải quyết dứt điểm vấn nạn giá vàng nội cao hơn giá quốc tế, qua đó xóa bỏ nhập vàng lậu, đồng thời tạo nền tảng để bình ổn tỷ giá, rút ngắn khoảng cách giữa tỷ giá niêm yết của ngân hàng và tỷ giá thị trường tự do. Ngay cả thời điểm SJC bán ra cấp tập, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá quốc tế khoảng 500.000 đồng/lượng.

Việc bình ổn thị trường vàng đang đòi hỏi những giải pháp đồng bộ xuất phát từ hai nút chính.

Thứ nhất là khi ngân hàng và một số doanh nghiệp mua vàng để bù trạng thái, họ đưa số vàng này vào kho cất giữ, trở thành “bất động”.

Thứ hai, chúng ta đang thiếu những quy định cụ thể về huy động, cho vay vàng phù hợp, cập nhật tình hình hiện tại. Nói cách khác đầu cơ vàng vẫn bị buông lỏng. Chưa có khung pháp lý nào chế tài đầu cơ vàng.

Thí dụ nếu một doanh nghiệp nào đó nhận định giá vàng quốc tế tháng 3-2010 sẽ lên đến 1.200 đô la Mỹ/ounce, trong khi giá hiện tại xoay quanh 1.115-1.120 đô la Mỹ/ounce, thì họ sẽ mua vàng trong nước để nắm giữ (nếu họ không có hạn ngạch nhập vàng). Nhà nước không thể ngăn cản doanh nghiệp ấy mua vàng vì đó là quyền kinh doanh của họ.

Để giúp các ngân hàng và doanh nghiệp cân bằng trạng thái vàng trong và ngoài nước, nguồn tin từ giới tài chính cho biết, có thể trong tuần này NHNN sẽ cho phép các đơn vị âm trạng thái vàng trong nước nhập khẩu vàng. Số lượng nhập phụ thuộc vào nhu cầu cân bằng trạng thái của từng ngân hàng, doanh nghiệp.

Cái giá của sự can thiệp vào thị trường vàng của NHNN là khá đắt, nó đang được trả bằng lượng ngoại tệ mà chúng ta phải bỏ ra để nhập vàng. Sự can thiệp đó đã có thể không xảy ra nếu từ hai, ba năm trước NHNN quản lý và kiểm soát chặt việc cho vay vàng trong nước cũng như kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài.

Theo Hải Lý
TBKTSG

Taxi, xe buýt phải niêm yết giá cước ở ngoài thành xe

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:20 pm
Tags: , ,

Đơn vị kinh doanh vận tải khách theo tuyến cố định, vận tải khách bằng taxi, vận tải khách bằng xe buýt bắt buộc phải thực hiện hình thức niêm yết giá cước.

Cụ thể, đối với vận tải khách theo tuyến cố định thì niêm yết tại nơi bán vé và ở mặt ngoài thành xe phía dưới cánh cửa trước; với xe buýt thì niêm yết ở mặt ngoài thành xe phía dưới cánh cửa trước; với taxi thì niêm yết ở mặt ngoài cánh cửa xe.

Đối với giá cước do đơn vị kinh doanh vận tải quy định, các đơn vị kinh doanh vận tải không được thu cao hơn giá cước niêm yết. Đối với giá cước vận tải ô tô do Nhà nước quy định, đơn vị kinh doanh vận tải niêm yết đúng mức giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và phải thu cước theo đúng mức giá cước niêm yết.

Bảng niêm yết mặt ngoài thành xe có diện tích tối thiểu là 500cm2. Ngoài những thông tin nêu trên, đơn vị niêm yết giá cước có thể bổ sung các thông tin cần thiết khác.

Những quy định trên có tại Dự thảo Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn về kê khai giá, niêm yết giá cước vận tải bằng xe ô tô và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

Cũng theo Dự thảo, trước khi đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ theo giá mới thì phải thực hiện lập Hồ sơ kê khai giá gửi tới cơ quan tiếp nhận hồ sơ kê khai giá. Kê khai giá cước lần đầu được thực hiện khi đơn vị kinh doanh vận tải bắt đầu tham gia kinh doanh vận tải bằng ô tô hoặc lần đầu thực hiện kê khai giá cước theo quy định. Kê khai lại giá cước được thực hiện khi Nhà nước hoặc đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh tăng hoặc giảm giá cước so với mức của lần kê khai trước liền kề. Giá cước kê khai là giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (trừ vận tải khách bằng xe buýt).

Đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện niêm yết giá cước vận tải bằng cách thông báo công khai trên bảng, trên giấy hoặc bằng các hình thức khác được đặt, để, treo, dán tại nơi bán vé, nơi giao dịch, mặt ngoài hoặc bên trong phương tiện để thuận tiện cho việc quan sát của khách hàng sử dụng dịch vụ. Khuyến khích đơn vị thông báo công khai giá cước vận tải các phương tiện thông tin đại chúng.

Trường hợp đơn vị kinh doanh vận tải ký hợp đồng ủy thác cho đơn vị kinh doanh dịch vụ bến xe bán vé vận tải khách đi xe của đơn vị mình thì đơn vị kinh doanh dịch vụ bến xe phải thực hiện niêm yết giá cước vận tải ô tô tại nơi bán vé theo quy định.

Trường hợp đơn vị kinh doanh vận tải tự tổ chức bán vé thì phải thực hiện niêm yết giá cước vận tải bằng xe ô tô theo quy định tại bến xe.

Về nội dung kê khai giá cước: Vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định phải kê khai giá cước bình quân (đồng/HKKm) theo từng loại cự ly vận chuyển, giá cước trên các tuyến vận chuyển cố định của đơn vị (đồng/HK), giá cước vận chuyển hàng hóa theo xe khách (đồng/100kg); Vận tải hành khách bằng xe buýt kê khai giá cước (đồng/lượt HK) trên các tuyến vận tải xe buýt của đơn vị theo quy định; Vận tải hành khách bằng xe taxi kê khai theo hình thức quy định giá cước của đơn vị (giá cước ki lô mét đầu, giá cước của từng cự ly hay ki lô mét tiếp theo, giá cước theo chuyến, giá cước thời gian chờ đợi…); Vận tải hành khách theo hợp đồng và vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô kê khai giá cước theo ki lô mét lăn bánh (đồng/km) của từng loại xe và giá cước thời gian chờ đợi (đồng/ngày xe hoặc đồng/giờ xe…); Vận tải hàng hóa bằng xe ô tô kê khai giá cước bình quân (đồng/TKm), giá cước vận chuyển Container (đồng/cont 20’.Km /40’.Km), giá cước trên một số tuyến vận chuyển chủ yếu của đơn vị theo loại hàng và cự ly vận chuyển (đồng/Tấn), giá cước vận chuyển Container (đồng/cont 20’ /40’).

Dự thảo Thông tư liên tịch cũng đã quy định khá chi tiết về dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

Cụ thể, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ bao gồm: dịch vụ tại bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, đại lý vận tải, đại lý bán vé, dịch vụ thu gom hàng, dịch vụ chuyển tải, dịch vụ kho hàng, dịch vụ cứu hộ vận tải đường bộ.

Còn dịch vụ tại bến xe ô tô gồm: dịch vụ xe ra, vào bến xe ô tô; dịch vụ hoa hồng bán vé; dịch vụ trông giữ xe ô tô qua đêm; dịch vụ trông giữ xe đạp, xe máy; dịch vụ cho thuê nhà trọ; dịch vụ cho thuê mặt bằng kinh doanh trong bến xe; dịch vụ cho thuê vị trí quảng cáo tại bến xe; dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.

Đơn vị kinh doanh dịch vụ thực hiện niêm yết giá dịch vụ bằng cách thông báo công khai trên bảng, trên giấy hoặc bằng các hình thức khác được đặt, để, treo, dán tại nơi bán vé, nơi giao dịch, để đảm bảo thuận tiện cho việc quan sát của khách hàng sử dụng dịch vụ.

Vào tháng 12 hàng năm, các Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm cung cấp danh sách các đơn vị kinh doanh vận tải đã đăng ký kinh doanh vận tải bằng ô tô có trụ sở (hoặc trụ sở chi nhánh) đóng trên địa bàn địa phương đến Sở Tài chính, Cục Thuế địa phương để phối hợp quản lý và theo dõi việc kê khai giá cước.

Định kỳ vào tháng 1 hàng năm hoặc trường hợp đột xuất khi có biến động về giá cước vận tải và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ tại địa phương, các Sở Tài chính có trách nhiệm tổng hợp mức giá kê khai của các đơn vị thuộc địa phương quản lý báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) và Bộ Giao thông vận tải (Tổng cục Đường bộ Việt Nam).

Hy vọng với những quy định chi tiết, cụ thể của cơ quan hữu quan, tình trạng “loạn” giá cước vận tải sẽ được xử lý triệt để.

(Bình Minh)-Efinance

Nhều sàn vàng tìm cách tồn tại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:18 pm
Tags: ,

Còn hơn một tháng nữa là các sàn vàng phải chính thức đóng cửa.

Đến thời điểm này đã có một vài sàn vàng ngưng hoạt động, chủ yếu là các sàn trực thuộc ngân hàng. Một số sàn khác cũng chuẩn bị giải tán. Trong khi đó, nhiều sàn thuộc các doanh nghiệp phi ngân hàng hiện đang tìm cách… tồn tại.

Một số công ty kinh doanh vàng hiện đã công bố việc ra mắt sản phẩm đầu tư vàng vật chất thay vì vàng tài khoản ngay tại sàn, từ sau khi Ngân hàng Nhà nước tuyên bố sẽ đóng cửa sàn vàng vào ngày 30-3, và ra thông báo các ngân hàng phải ngừng cho vay đầu tư vàng.

Một nhà đầu tư vàng cho biết tuy các thông báo đưa ra là đầu tư vàng vật chất, tức là nhà đầu tư ký quỹ 100% để mua vàng, nhưng trên thực tế thông tin cụ thể đến nhà đầu tư thì chỉ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định (phổ biến ở mức 5%), sau đó vẫn mua được số vàng với giá trị 100%.

Khi mua xong, thay vì lấy vàng nhà đầu tư ký gửi vàng nhờ công ty bán hộ, và nhà đầu tư sẽ chịu lãi suất ký gửi qua đêm đối với công ty vàng. Sau khi bán xong, nhà đầu tư sẽ nhận phần vốn của mình (ví dụ là 5%) và tiền chênh lệch.

Một số công ty khác lại dùng hình thức cho khách hàng mua vàng vật chất, nhưng là vàng giao sau, nhà đầu tư chỉ phải đặt cọc một số tiền nhất định (khoảng từ 2 đến 5%), giống như tiền ký quỹ của vàng tài khoản, nhưng chưa lấy hàng. Đến hạn phải lấy hàng mà nhà đầu tư chưa có đủ tiền để lấy thì sẽ phải chịu lãi suất ký gửi đối với công ty. Khi tìm được đối tác mua số vàng trên, nhà đầu tư bán ra, trừ các khoản lãi suất và thu lại khoản tiền đặt cọc, khoản chênh lệch về cho mình.

Ngoài sản phẩm đầu tư vàng vật chất, hiện nay một số công ty đang mở ra sản phẩm đầu tư vàng nữ trang, nhà đầu tư thay vì đặt cọc mua vàng vật chất thì có thể đặt cọc để mua vàng nữ trang 24k. Phương thức thực hiện cũng như trên.

Nhìn nhận vấn đề này, một chuyên gia trong ngành vàng cho rằng về bản chất đây vẫn giống giao dịch vàng tài khoản như từ trước đến nay các công ty vẫn thực hiện, nhưng được gọi là đầu tư vàng vật chất hay ký quỹ 100% vì bản thân các ngân hàng không cho vay như các giao dịch từ trước đến hết tháng 1 vừa rồi theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Đứng ra hỗ trợ nhà đầu tư trong trường hợp này là các công ty kinh doanh vàng và giao dịch trên vẫn thực hiện thông qua sàn, nhà đầu tư có thể đặt lệnh trực tuyến, cũng có giá khớp lệnh và dựa theo giá thế giới.

Một cách thức khác nữa theo chuyên gia này là một công ty vàng chuẩn bị đóng cửa tại Việt Nam nhưng lại mở một công ty khác ở Campuchia, sau đó sẽ mở chi nhánh tại Tp.HCM. Các nhà đầu tư sẽ kinh doanh vàng bình thường như từ trước đến nay, chỉ khác là hợp đồng sẽ có hai thứ tiếng là tiếng Việt và tiếng Campuchia.

Nhà đầu tư sẽ trực tiếp đóng tiền ở Việt Nam, và bên Campuchia sẽ ứng ra, tránh được việc phải chuyển tiền qua nước này. Vì không mở công ty trong phạm vi Việt Nam nên công ty này sẽ không chịu các quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, sau khi thời hạn đóng cửa sàn vàng kết thúc, các công ty kinh doanh nào vẫn tiếp tục kinh doanh, bị cơ quan nhà nước phát hiện sai phạm thì sẽ bị xử lý theo pháp luật. Và ông Giàu cũng cho rằng nhà đầu tư nên cẩn trọng trước các hình thức này, vì nếu công ty bị xử lý thì nhà đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng quyền lợi.

Than thở vì không được nhập vàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:07 pm
Tags: , ,
Nhiều doanh nghiệp kim hoàn đang nhấp nhổm không yên vì đã nộp đơn xin nhập khẩu vàng, nhưng chưa được cấp phép

Đã ba tuần kể từ khi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) tăng cường bán vàng miếng ra thị trường để đưa giá vàng trong nước về ngang giá thế giới, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 600.000 – 700.000 đồng/lượng.

Nhiều doanh nghiệp kim hoàn đang nhấp nhổm không yên vì đã nộp đơn xin nhập khẩu vàng, nhưng chưa được cấp phép.

Mức chênh lệch “khó chấp nhận”

Ngày 5/2, Ngân hàng Nhà nước thực hiện can thiệp vào thị trường vàng vật chất bằng cách yêu cầu SJC bán vàng ra thị trường. Cùng với đó, SJC cũng là doanh nghiệp duy nhất được cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng trong đợt nhập khẩu đầu năm nay. Hiện chưa có con số chính xác về khối lượng vàng được công ty này nhập về, nhưng ước tính có ít nhất 8 tấn vàng đã được SJC nhập trong tháng 2/2010.

Song song với việc nhập vàng, SJC cũng tăng cường bán vàng miếng ra thị trường để bình ổn giá. Theo ông Nguyễn Công Tường, Phó phòng kinh doanh của SJC, vào ngày 5/2, ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, SJC đã tung ra 30.000 lượng vàng, từ khối lượng bán ra chỉ vài ba ngàn lượng mỗi ngày trước đó. Từ thời điểm đó tới nay, SJC đã bán ra cho người dân và các đối tác là doanh nghiệp trên 150.000 lượng vàng, phục vụ mục đích bình ổn thị trường.

Một lãnh đạo doanh nghiệp kim hoàn phía Nam cho hay, cùng với SJC, hai ngân hàng thương mại lớn nữa có hoạt động kinh doanh vàng là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) và Ngân hàng Thương mại Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng được Ngân hàng Nhà nước yêu cầu (không chính thức) bán ra hàng chục ngàn lượng vàng để can thiệp thị trường vào ngày 5/2.

Tuy nhiên, tới thời điểm này, có thể nói biện pháp can thiệp thị trường của Ngân hàng Nhà nước thông qua SJC vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

Cụ thể, nếu lấy tỷ giá USD/VND của Ngân hàng Vietcombank ở mức 19.100 VND/USD để quy đổi giá vàng thế giới lúc 11h40 ngày 26/2 là 1.110 USD/oz, cộng thêm 1% thuế nhập khẩu và 30.000 phí gia công mỗi lượng vàng, thì mức giá này tương ứng với 25,85 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm, SJC công bố giá vàng miếng thương hiệu này bán ra cho thị trường Tp.HCM ở mức 26,43 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng thế giới quy đổi 580.000 đồng/lượng.

Thậm chí, ngay trước thời điểm nghỉ Tết Nguyên đán, khi người dân tăng mua vào nhằm tranh thủ giá vàng thế giới có sự điều chỉnh giảm mạnh, giá vàng trong nước đã có lúc cao hơn giá vàng trong nước cả triệu đồng mỗi lượng.

Trong khi đó, theo đại diện của Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), giá vàng trong nước chỉ cao hơn giá vàng thế giới quy đổi 80.000-100.000 đồng/lượng là hợp lý. “Mức chênh lệch cao hơn mức này là khó chấp nhận”, đại diện này nói.

Nguồn cung vẫn căng?

Một số ý kiến cho rằng, nếu mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới đủ hấp dẫn, thì hoạt động nhập khẩu vàng sẽ lại gia tăng sau một thời gian lắng xuống. Một khi hoạt động nhập lậu vàng diễn ra, thì giá USD thị trường tự do sẽ lại được đẩy lên, kéo giãn khoảng cách với tỷ giá USD ngân hàng. Trong khi đó, mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước khi can thiệp bình ổn giá vàng là nhằm hạ nhiệt giá USD tự do, đưa giá USD tại thị trường này về sát hơn với giá USD ngân hàng.

Lý giải về việc giá vàng trong nước đã được can thiệp, vàng nhập về đã nhiều, mà giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá thế giới, ông Tường cho biết, ba ngày đầu tuần này, giá vàng thế giới liên tục giảm, giá vàng trong nước chưa thể theo kịp vì có độ trễ nhất định.

Trong khi đó, theo một số ý kiến, đây là kết quả của tình trạng mất cân đối cung cầu vẫn còn tồn tại. Thậm chí, có người còn cho rằng, đang xảy ra tình trạng “làm” giá!

Lãnh đạo một doanh nghiệp kim hoàn tại Hà Nội thì cho rằng, việc kinh doanh vàng trước đây có 4 “mặt trận”, gồm vàng vật chất trong nước và nước ngoài, sàn vàng trong nước và vàng tài khoản ở nước ngoài. Đến nay hai “mặt trận” là kinh doanh sàn vàng và vàng tài khoản ở nước ngoài đã bị đóng, nhiều doanh nghiệp lại chưa được cấp kim ngạch nhập vàng, nên tất cả bị dồn vào “mặt trận” còn lại, gây tình trạng căng thẳng.

Có chuyên gia nhận định, ngoài nhu cầu của người dân, các ngân hàng và công ty có hoạt động kinh doanh sàn vàng cũng đang có nhu cầu mua vàng để cân đối trạng thái vàng và giải quyết việc đóng cửa sàn vàng trước ngày 30/3/2010. Bởi vậy, giá vàng trong nước đang cao hơn thế giới có thể là do cung cầu vẫn mất cân đối, bất chấp sức mua vàng vật chất của người dân hiện không cao.

“Nhiều ngân hàng trước đây thu hút vàng gửi của dân và bán ra nay phải mua lại để trả cho dân. Ngoài ra, nhiều tổ chức cũng phải mua vàng để cân đối trạng thái sau khi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu chấm dứt kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài”, ông Huỳnh Trung Khánh, Phó tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, đại diện của Hiệp hội Vàng Thế giới tại Việt Nam, nói.

Doanh nghiệp kim hoàn bức xúc

Trao đổi với VnEconomy, đại diện nhiều doanh nghiệp vàng đang tỏ ra khá bức xúc vì chưa được cấp phép nhập khẩu vàng.

“Do không được nhập khẩu vàng và không được kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài, chúng tôi phải mua bán đối ứng vàng tại thị trường trong nước. Hiện nay, SJC phát giá bao nhiêu thì chúng tôi phải mua với giá bấy nhiêu và bán ra ở mức cao hơn chút đỉnh để kiếm lời”, đại diện của PNJ nói.

Cũng theo đại diện của PNJ, để giá vàng hạ, giải pháp là không nên để việc nhập khẩu vàng tập trung vào một đầu mối duy nhất là SJC như hiện nay. “Không ai có thể dự báo chính xác được giá vàng thế giới nên các doanh nghiệp kim hoàn bán bao nhiêu vàng trong ngày là phải mua vào bấy nhiêu để cân đối trạng thái. Nếu được phép nhập vàng thì chúng tôi sẽ chủ động hơn trong việc mua bán và yên tâm khi bán vàng ra thị trường sát với giá thế giới”, đại diện này nói.

Ông Khánh cho rằng, việc Ngân hàng Nhà nước hiện đang chỉ để một đầu mối là SJC được nhập vàng có thể xuất phát từ chỉ đạo của Chính phủ. Theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 369/TB-VPCP ban hành ngày 30/12/2009, để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh vàng, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm rà soát lại tất cả các quy định hiện hành về quản lý vàng để trình Chính phủ ban hành thành một nghị định quản lý đối với vàng, theo hướng Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với loại hàng hóa đặc biệt này.

“Vì vàng được xem là hàng hóa đặc biệt nên có lẽ Ngân hàng Nhà nước không cho nhập đại trà mà muốn có sự tập trung để thuận tiện cho việc quản lý”, ông Khánh nói.

Tuy nhiên, theo ông Khánh, sự chênh lệch giá vẫn còn tồn tại giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới là một bằng chứng cho thấy, nguồn vàng mà SJC được nhập về từ đầu năm tới nay vẫn chưa đủ sức bình ổn thị trường như mong muốn của Ngân hàng Nhà nước. “Để giá vàng trong nước về ngang giá thế giới như mục tiêu thì cần có thêm một số đơn vị nữa được nhập vàng. Như thế, sẽ tránh được tình trạng dư luận cho rằng thị trường vàng đang xảy ra tình trạng độc quyền hay làm giá”, ông Khánh đề xuất.

Create a free website or blog at WordPress.com.