Ktetaichinh’s Blog

February 24, 2010

Chát với broker

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:26 am
Tags: ,
Lương broker lành nghề 2 – 3 trăm triệu/tháng. Lậu brocker bát ngát. Chủ tịch, tổng giám đốc công ty chứng khoán chiều broker như chiều vong…

Toàn lời hay ý đẹp dành cho các môi giới viên công ty chứng khoán (broker). Nhưng, đến nghề chơi cũng lắm công phu, nữa là chứng khoán không bao giờ là nghề chơi cả. Và khuyên bảo người khác cắt lỗ, chốt lời lại càng không phải chuyện “trăm ngàn đổi một trận cười”… là xong được.

Chiều muộn Hà Nội, hơi lạnh hun hút. Ngồi trong quán cóc hồ Hale với một môi giới dăm bảy năm tuổi nghề. Thuộc hàng cựu trào trong nghề môi giới, lương lậu cũng ngót nghét đôi trăm triệu một lần ký sổ, nhưng anh vẫn giữ thói quen thời sinh viên Bách khoa: la cà đàn đúm quán cóc bia hơi.

Anh bảo: ở Hà Nội đã gần 20 chục năm, nhưng mình vẫn thấy không sao là “người Hà Nội” được. Khách sạn 4 – 5 sao chỉ bất đắc dĩ tiếp khách mới vào. Tiệc buýt-phê với dao dĩa mà ngồi ăn như cực hình.

Tuổi nghề như anh là toàn chơi với khách VIP rồi. Giữ nếp “ruộng đồng” như thế thì làm sao tiếp cận được với các cá mập?

Cũng chả hẳn. Trên mạng, mấy ông giả vờ quen biết nhóm này nhóm kia. Toàn kể, nhóm ông A mang mấy bao tải tiền đến nộp vào công ty chứng khoán S, hội bà T vứt hàng cục tiền lớn lên bàn kế toán công ty chứng khoán L. Toàn lấy hình nộm rơm dọa mấy người yếu bóng vía. Thử hỏi, nếu là đại gia thật, chú có vác mấy bao tải tiền chạy nhông nhông ngoài đường rồi ì ạch khuân vào công ty chứng khoán không? Có thì chắc đấy là “đại gia cỏ”. Căn bản là mình có duyên với các VIP hay không thôi…

Thôi quay trở lại hậu trường nghề môi giới đi anh. Chắc vô vàn chuyện thú vị nhỉ?

Hãy nói về những cơ cực đã. Sự rủi ro, cơ cực là một phần tất yếu của nghề môi giới. Và khi đã chấp nhận dấn thân vào cái nghề bạc bẽo này, các broker ai cũng phải sẵn sàng tâm lý để chấp nhận và sẵn sàng hành lý để lên đường chú ạ. Ít khách: ra đường. Ít doanh thu: sa thải. Khách phàn nàn: cắt lương thưởng. Thậm chí, ra đi vì những lý do hết sức vớ vẩn đại loại như không vừa mắt khách VIP.

Không thừa chút nào khi thông báo tuyển dụng broker hầu như đều kèm theo cụm từ “chịu được áp lực làm việc cao”. Giao dịch bây giờ xoay chuyển như chớp mắt. Cứ nhìn phiên giao dịch ngày 13/1 thì biết.

Phiên này anh nhớ như in, bởi đắng lòng với một nhà đầu tư quen biết. Từ sáng khách đã phone đến yêu cầu xả hàng cắt lỗ, vì thị trường khó đoán quá. Anh khuyên nên chịu nhiệt thêm lúc nữa. Đến đầu phiên khớp lệnh liên tục, cổ phiếu nằm sàn như ngả rạ. Cắt lỗ hết, nhà đầu tư còn gọi điện đến cám ơn. Đến cuối phiên thì thật cay đắng. Ông khách quen lại gọi đến và chỉ buông sõng một câu: Anh mù, chú cũng mù nốt!

Mà nói thật, bọn anh được coi là lâu năm, độ lỳ gần đạt cực đại rồi. Nhưng mấy tháng trước, sếp manh nha bảo mở sàn OTC rồi hỏi ông nào xung phong ra phụ trách, mấy thằng lắc đầu quầy quậy. Giao dịch OTC không thời gian, không biên độ. Nửa đêm ôm con ngủ, khách gọi đến, rằng khó ngủ quá, mai thị trường thế nào là chuyện thường!

Cuối năm rồi, mấy ông môi giới trên sàn OTC còn thuê ong ve đến rạch mặt nhau vì bị xù nợ. Đúng là “Khi mê tiền chỉ là tiền. Tỉnh rồi mới biết trong tiền có… gai” chú ạ.

Ngày xưa bọn anh có câu “Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa…, chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm”. Bây giờ, nhân sự ngành chứng khoán thì đúng là “chuột chạy cùng sào mới vào môi giới OTC”.

Nhưng, “rủi ro lắm, lợi nhuận cao” cũng là một chân lý mà anh.

Ui giời, cũng tai ương lắm. Nhiều khi như osin. Bực nhất là nhiều bà, nhiều cô ngồi phòng VIP, tiền cả bao tải mà trình độ vi tính toàn cỡ… thiên tài. Mỗi vị một máy, nhưng nhiều khi broker mất cả buổi làm chuyên gia IT hộ. Bật trình gõ tiếng Việt không biết, vào chương trình không biết thoát ra. Vậy mà năn nỉ ỉ ôi, hết em meo hộ chị, em bật cho chị cái webcam. Chương trình thì bật mấy chục cái. Xử lý không kịp thì hô máy lởm! Mình bận tối mắt tối mũi, có bà còn kêu: đừng đi, “ngồi đây giúp em”. Trông tướng mạo thì y chang con khủng long.

Nhưng hàng tháng ký sổ, thẻ ATM vọt lên  8 – 9 số 0, vợ con chỉ mỗi việc lác mắt?

Không lại đâu. Chú không nghe câu “Tuổi trẻ bán sức khỏe lấy tiền. Về già dùng tiền mua sức khỏe” à. Anh đầu bốn rồi. Có nghề nào mà sểnh ra cái là mất tiền tỷ của khách như chơi không. Anh thì cho là, hầu hết mấy vị broker có số má trên thị trường hiện nay không ít thì nhiều đều gặp may cả. Khuyến nghị chung chung, khách bảo “ông đang đọc báo tôi nghe đấy hả. Cái tôi cần là trồng cây gì, nuôi con gì”. Mà khuyến nghị cụ thể thì khác gì tung đồng xu sấp ngửa.

Thế còn góc khuất thì sao anh?

Ờ thì, nghề nào chả có Trạng nguyên. Nghiệp nào chả có Chí Phèo. Có ông “Chí Phèo” broker vừa bị ra tòa hôm giữa tháng 1 vừa rồi đấy. Ông này chắc là chơi chứng lỗ quá hóa liều, bắt cóc con gái của khách hàng đòi chuộc 3 tỷ đồng.

Âu cũng là do cái tính tham mà ra cả. Anh so sánh thế này là khập khiễng, nhưng như cái bọn thư ký đề ấy, người ta bảo nghề này rất kiếm vì thường ăn 30% tiền hồ. Nhưng không mấy kẻ giàu lên, vì từ thư ký biến thành con ma đề lúc nào không hay.

Hỏi thật, anh có đánh chứng khoán không?

Không và dám khẳng định, thành phần như anh chắc chỉ chiếm không đầy 5% trong số dân môi giới. Cưỡng lại những đam mê của khoản lời lỗ hàng trăm triệu đồng chỉ trong nháy mắt là khó lắm chú ơi. Nhiều ông “tiêu tiền hộ” đại gia cũng cứ tưởng mình đại gia là mất nghiệp đấy.

Cá mập bây giờ khủng lắm. Phao tin đánh lên con XYZ. Đích thân gọi điện cho môi giới ruột thu gom cả trăm ngàn rồi bảo giữ chặt để kiếm thêm vài chục giá nữa. Môi giới tưởng thật, hết bốc máy gọi người nhà, bạn bè, đồng nghiệp rồi thậm chí cả bộ phận tự doanh công ty lùa vào. Chứng khoán cứ lên dần dần. Đại gia kia cứ xả hàng dần dần. Bọn anh gọi đòn này là đòn “kim thiền thoát xác”. Không thiếu tự doanh công ty chứng khoán dính rồi đấy chú ạ.

Thế thì cái thời những bà bán nước, những ông trông xe ở cổng các công ty chứng khoán cũng trở thành broker chắc đã xa rồi anh nhỉ?

Anh chẳng tin, đấy là tác phẩm văn học, chứ không phải báo chí. Công ty chứng khoán giao tài khoản khách hàng vào tay môi giới cũng là giao tính mạng công ty. Giao vào tay bà bán nước thì có lúc các bà ấy bán cả công ty à.

Người ta bảo, mỗi broker cốt cán có quan hệ rộng phải nhận một vài mã chứng khoán mà công ty tự doanh để phối hợp đánh lên phải không anh?

Điều này là có thật. Cứ nhìn xem lợi nhuận của công ty chứng khoán đến từ nguồn nào nhiều nhất là xem mảng đó được ưu tiên nhất. Người ta cứ phao lên rằng, bộ phận này độc lập với bộ phận kia. Chú có tin không? Tiền từ một túi ông chủ mà ra cả. Chỉ có điều khôn khéo để đừng bị pháp luật sờ gáy thôi.

Người xưa bảo rằng, cõi đời có bốn loại người. Loại nói thật suốt, loại nói láo suốt, loại lúc thật lúc láo và loại cần thật thì thật, cần láo thì láo… Vậy broker bọn anh thuộc loại nào?

Chẳng là loại nào cả. Broker là dạng công ty muốn thật thì thật, công ty muốn láo thì láo. Hành trang nghề nghiệp của bọn anh chỉ gói gọn trong một chữ “Nhẫn” mà thôi. Chú cũng biết, hiện nay, hầu như công ty chứng khoán nào cũng dành một số phòng cho khách VIP. Bên trong cánh cửa phòng VIP cũng có muôn vàn điều phức tạp. Câu chuyện broker nữ bị khách VIP “này nọ” không phải là không có đâu chú ạ.

Tất nhiên, những môi giới gạo gội như bọn anh cũng có oai ngầm. Margin, T+1, T+2, T+60 là do tay mình cả… Nhưng cuối cùng thì cũng quyền rơm vạ đá cả thôi. May được vị nào thảo lảo tán lộc thì có tí lậu kiếm ngoài.

Sau thời gian margin năm bảy trăm phần trăm vừa rồi, về cơ bản anh đã… “đốt” được bao nhiêu tài khoản cá mập?

Nói đến chuyện đốt tài khoản. Khách đau 10, bọn anh cũng thấy khổ tâm 5. Tuy chưa đến mức đào viên kết nghĩa, nhưng cũng chén chú chén anh nhiều. Các bác ấy có lộc cũng chẳng quên mình. Giờ gọi điện đến bảo anh không nạp thêm tiền là bọn em cắt. Sau mỗi cuộc gọi cứ đần người ra cả tiếng đồng hồ. Hối hận. Bất nhẫn. Đau khổ!

Thôi, vui vẻ lên tí bác. Thị trường cần broker như sông sâu cần bác lái đò chắc tay. À mà nhân nói đến lái đò, kể bác nghe chuyện này: “Ngày xưa, Trạng Quỳnh hay đi đò ngang thường chịu tiền, lâu quá hóa nhiều, không trả được. Lúc anh lái đò đến đòi, Quỳnh bảo:

– Ừ đợi đấy, mai ta trả.

Rồi mua tre nứa, lá gồi làm một cái nhà bè ở giữa sông, trong đề một câu: “…mẹ thằng nào bảo thằng nào”! Đoạn rồi phao ầm lên rằng đó là lầu yết thơ của Trạng. Thấy nói thơ Trạng, thiên hạ nô nức kéo nhau đi xem. Đi đò ra đến nơi, thấy độc một câu như thế, chán quá liền đi đò về. Người khác gặp hỏi thì chỉ trả lời: “Ra mà xem!”. Thế là thiên hạ càng thấy lạ, càng xô nhau ra xem. Anh lái đò chở hết chuyến nọ đến chuyến kia không kịp, trong ba bốn ngày, được không biết bao nhiêu tiền. Được mấy hôm, Quỳnh dỡ nhà bè, bán lại cho anh lái đò. Anh lái đò trừ nợ. Quỳnh mắng:

– Anh còn nợ ta thì có, ai làm cho anh mấy hôm chở được bấy nhiêu tiền?

Anh lái đò mới nhận ra, liền cám ơn Quỳnh rối rít”!

Nghiệp môi giới chứng khoán cũng như anh lái đò chở khách qua sông. Khách thua thì vẫn mất “tiền hồ”, khách trúng quả có thêm vài đồng tán lộc. Cái việc kết thân với vài ba cá mập, dò la tài khoản VIP rồi ra chỗ ông này, “tôi chỉ kể với mỗi ông”; lại chỗ bà kia, “em tiết lộ với mỗi chị”, rằng cá mập này đang gom thằng XYZ, phi đội kia đang xả hàng ABC. Rồi cũng nhân cơ hội té nước theo mưa. Người thắng người thua, ta vẫn thu hoạch đều, phải không bác!?

Kể ra thì cũng có phần đúng. Nhưng nói gì thì nói, đời broker như anh “lên voi xuống chó” cũng còn oanh liệt chán. Cứ như chú, sáng 4 tiếng vàng ngọc, chiều 4 tiếng ngọc vàng, chân đút gầm bàn, tay miệt mài cạo giấy. Về nhà chăm con chờ vợ. Có khi còn tóc tai rối bù, mặt mày bạc nhược, tay cắp làn nhựa, ngực ấp cuốn 300 món ăn ngon, cun cút đi chợ nấu cơm thì… anh chịu. Đời thế là tèo đấy.

Nói xong anh cười, nụ cười ấm áp đầu tiên trong cái đêm Hà Nội cuối năm lạnh như tiền!

Trọng Hiếu (ĐTCK)

Advertisements

Hồi hộp… cáp treo

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:11 am
Tags: ,
21/02/2010 0:20

Cáp treo Chùa Hương từ khi hoạt động luôn đông khách – Ảnh: Lưu Quang Phổ
Mất điện 45 phút, hàng trăm khách lơ lửng trên cabin cáp treo. Đến chiều 20.2, hệ thống cáp treo Chùa Hương vẫn không hoạt động.

Khi cáp treo mất điện

Trong hai ngày mở hội, từ 19.2, khu di tích nổi tiếng Chùa Hương thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội đã đón gần 9 vạn du khách tới hành hương lễ Phật (ngày 19.2 có 4,5 vạn du khách, ngày 20.2 có 4,3 vạn du khách). Mọi việc đều diễn ra tốt đẹp nếu không xảy ra việc mất điện đột ngột trên hệ thống cáp treo lên động Hương Tích chiều 19.2.

Trao đổi với phóng viên Thanh Niên, ông Lê Văn Sang, Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, Hà Nội cho biết bước đầu đã xác minh được nguyên nhân sự cố nói trên là do việc lưới điện quốc gia trục trặc làm cháy biến thế điện, làm cháy thiết bị cầu dao của lưới điện cáp treo Chùa Hương. Hiện Công ty cổ phần cáp treo Chùa Hương đang tìm mua cầu dao mới về thay thế.

Trước đó, vào khoảng 15 giờ 30 chiều 19.2, toàn bộ huyện Mỹ Đức bị mất điện do sự cố tại trạm biến áp trung gian Vân Đình, Ứng Hòa. Toàn bộ khu vực di tích Chùa Hương cũng bị mất điện và hệ thống cáp treo bị tê liệt khi đang vận chuyển khách lên động Hương Tích, làm cho hàng trăm du khách (trong đó có cả phụ nữ, người già và trẻ em) bị treo lơ lửng trên các cabin nằm cách mặt đất cả trăm mét suốt 45 phút trong tâm trạng đầy lo lắng. Việc mất điện đột ngột hệ thống cáp treo đã gây nhốn nháo, ứ đọng hành khách tại ga cáp treo. Rất may, sau đó, nguồn điện lưới cho khu vực Chùa Hương được cấp lại trong vòng 1 giờ và hệ thống cáp treo hoạt động trở lại, đưa số du khách bị mắc kẹt trên không trở về ga Thiên Trù. Nhưng ngay sau đó, sự cố mất điện lại tiếp diễn trên toàn bộ huyện Mỹ Đức, và kéo dài tới 20 giờ tối 19.2 thì sự cố trạm điện Vân Đình mới được khắc phục và cấp điện trở lại.

Từ năm 2006, hệ thống cáp treo Chùa Hương được đưa vào hoạt động với 45 cabin đi qua 3 nhà ga (Thiên Trù, Giải Oan và Hương Tích). Tổng chiều dài toàn tuyến cáp là hơn 1 km. Mỗi cabin chở được 6 hành khách và mỗi giờ hệ thống này vận chuyển được chừng 1.000 khách. Đây là lần đầu tiên hành khách bị treo trên không do mất điện ở hệ thống cáp treo Chùa Hương. “Bình thường, nếu mất điện nguồn thì sau 5 phút, máy phát điện tự hành của trạm điện cáp treo sẽ hoạt động ngay để tiếp tục cung cấp điện, đảm bảo cho việc vận hành của các cabin đang chở khách trên cao. Nhưng trong sự cố này, do chập cầu chì, xung đột điện phóng vào làm cháy automat nên máy phát điện tự hành cũng bó tay” – ông Sang phân tích.

Ông Lê Văn Sang cho biết thêm, tuy điện lưới quốc gia đã được cấp lại cho khu vực Chùa Hương, nhưng đến chiều 20.2, hệ thống cáp treo Chùa Hương vẫn không hoạt động được. Do lưới điện cáp ngầm ngay tại trạm biến áp bị hở điện nên máy phát điện tự hành dự trữ cũng không thể hoạt động được vì không đảm bảo an toàn. Sự cố đang được Chi nhánh điện huyện Mỹ Đức và Công ty cổ phần cáp treo Chùa Hương tập trung kiểm tra, sửa chữa. Ông Sang đã yêu cầu công ty dừng toàn bộ hoạt động của hệ thống cáp treo Chùa Hương để khắc phục tuyệt đối an toàn mới cho tiếp tục vận hành. Do cáp treo tê liệt, nên du khách lên thăm động Hương Tích phải hành hương bằng đường bộ trong ngày 20.2. Ông Sang cho biết, có khả năng trong ngày 21.2, hệ thống cáp treo Chùa Hương mới hoạt động trở lại bình thường.

Không phải lần đầu…

Đây không phải là lần đầu tiên xảy ra sự cố liên quan đến hệ thống cáp treo tại Việt Nam. Ngày 19.3.2008, tại hệ thống cáp treo tuyến Giải Oan – Hoa Yên khu vực Yên Tử (Quảng Ninh) đã xảy ra sự cố khiến tuyến cáp treo này phải ngưng hoạt động khi cầu chì của hệ thống chống sét của cáp treo bị chập, cháy. Ông Phạm Gia Lượng, Phó cục trưởng Cục An toàn lao động (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội) cho biết thêm, trước đây, tại hệ thống cáp treo núi Bà Đen (Tây Ninh) đã xảy ra 2 sự cố liên quan đến cửa cabin. Theo ông Lượng, do việc đóng mở cabin của hệ thống cáp treo công nghệ của Trung Quốc không thật sự chắc chắn nên một người dân vì u buồn chuyện gì đó trong cuộc sống đã mở cửa cabin nhảy xuống đất. Vụ thứ 2, khi cháu bé tựa người vào cửa cabin, cửa đã bật mở và cháu bé rơi xuống đất. Rất may, không có thương vong xảy ra trong cả hai sự cố này. Tuy nhiên, người ta đã phải sửa lỗi kỹ thuật bằng cách lắp thêm hệ thống dây xích an toàn tại khu vực cửa cabin cáp treo.

Bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng 7 – 8 năm trước, đến nay, hệ thống cáp treo đã được lắp đặt ở rất nhiều khu du lịch khắp từ Bắc vào Nam như: Yên Tử, chùa Hương, Bà Nà, Vinpearl Land, núi Lớn (Vũng Tàu)… góp phần phục vụ đắc lực du khách tham quan danh lam thắng cảnh. Ông Trần Thục, nguyên Cục trưởng Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, cáp treo là một trong những hệ thống thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật an toàn, khi vận hành có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của nhiều người. Vì thế, khi triển khai các công trình xây dựng cáp treo, phải kiểm soát rất chặt chẽ từ khâu thiết kế đến tổ chức xây dựng công trình.

Theo ông Phạm Gia Lượng, hệ thống cáp treo ở nước ta được xây dựng trong vùng thung lũng, nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão; có độ dốc lớn nhưng khoảng cách giữa các trạm ga lại ngắn hơn so với các hệ thống cáp treo ở các nước khác trên thế giới. Và mặc dù, từ trước đến nay, ở VN mới chỉ xảy ra một vài sự cố nhỏ liên quan đến cáp treo nhưng nguy cơ xảy ra sự cố, mất an toàn khi vận hành cáp treo như cửa cabin bất ngờ bật mở hất du khách xuống đất, đứt cáp, rơi cabin, cabin bị treo giữa các trạm ga… vẫn luôn hiện hữu. Ông Lượng cho rằng, hiện chúng ta chưa chủ động, chưa sẵn sàng trong việc đánh giá tiêu chuẩn an toàn của các hệ thống cáp treo do các nước sản xuất với công nghệ khác nhau. “Cáp treo đã có mặt ở VN khoảng 7 – 8 năm nhưng chúng ta còn hạn chế trong việc chủ động về kỹ thuật để đảm bảo an toàn, cơ quan kiểm soát đánh giá chưa sẵn sàng”, ông Lượng nói.

Thêm vào đó, vẫn theo ông Lượng, hệ thống cáp treo hiện có ở VN được xây dựng theo những công nghệ và tiêu chuẩn khác nhau, trong đó nếu theo tiêu chuẩn châu Âu thì yên tâm, còn nếu theo tiêu chuẩn của một số nước khác thì vẫn còn những quan ngại nhất định. Việc thực hiện quy trình vận hành an toàn cũng là điều phải nghĩ tới khi mà theo quy định, cứ có gió cấp 5 – cấp 6 là phải ngừng hoạt động cáp treo, nhưng trên thực tế, vì lợi nhuận kinh tế, người ta vẫn cho chạy cáp treo.

Ông Lượng cho biết, thông tư về quản lý các công trình vui chơi công cộng, hệ thống cáp treo, máng trượt vừa mới được ban hành vào đầu năm 2010. “Thông tư có hiệu lực, chúng tôi mới có cái “gậy” để tiến hành kiểm tra đánh giá tổng thể các hệ thống cáp treo đã lắp đặt, trong đó đặc biệt lưu ý đến vấn đề an toàn trong vận hành, nhằm loại trừ các nguy cơ xảy ra sự cố, đảm bảo an toàn cho du khách”, ông Lượng nói.

Nguồn: thanhnien.com

Điều hành lúa gạo đừng quên nông dân

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:09 am
Tags: , ,
Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
2010-02-21

Điều hành xuất khẩu gạo của chính phủ Việt Nam trong nhiều năm qua để lộ những nhược điểm trầm trọng. Trước nỗi thống khổ của nông dân, sự phê phán của quốc hội và dư luận, chính phủ Việt Nam khởi động một số cải cách.

Nam Nguyên trình bày vấn đề này:

Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng nhân trao đổi với báo chí đầu năm Canh Dần kể rằng, con gái ông đã hỏi ông làm việc thế nào mà nhiều người chất vấn về điều hành lúa gạo đến thế. Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói, câu hỏi thoạt nghe tưởng rất đơn giản nhưng rất khó trả lời thật ngọn ngành và khiến ông nhiều trăn trở.

Nông dân còn chịu nhiều thiệt thòi

Ngành lương thực Việt Nam mỗi năm đều xuất khẩu trên dưới 5 triệu tấn gạo, riêng năm 2009 còn đạt kỷ lục xuất khẩu tới 6 triệu tấn gạo, kim ngạch hơn 2 tỷ đô la. Nếu nói về chỉ tiêu chính phủ đặt ra thì quả những con số vừa nêu là ấn tượng, tuy nhiên nếu hỏi người nông dân làm ra hạt lúa có được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức của họ hay không, thì đây lại là một câu hỏi khó cho những người phụ trách công tác điều hành lúa gạo.

TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội từng có nhận định:

“Xuất khẩu gạo chỉ là phần cuối. Xuất khẩu gạo và lợi nhuận của người nông dân là một vấn đề lớn hơn nhiều, bao gồm cả qui trình sản xuất, phương tiện phơi sấy, chế biến và tồn trữ; rồi thì mối quan hệ giữa người nông dân, người chế biến, người thu mua và nhà xuất khẩu; rồi vấn đề để cho nông dân tiếp cận được các thông tin thị trường thì đấy là chuyện rộng lớn hơn. Tôi nghĩ xuất khẩu gạo chỉ là một phần của cả chuỗi vấn đề mà tất cả đều cần được giải quyết.”

Trong nhiều năm liền, hoạt động điều hành xuất khẩu gạo do Bộ Công Thương chủ đạo. Tuy nhiên việc thực hiện được giao cho Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam, mà quyền lực thực sự nằm trong tay ông Trương Thanh Phong, người vừa là Chủ Tịch Hiệp Hội đồng thời là Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty Lương Thực Miền Nam. Hai Tổng Công Ty Lương Thực Miền Nam và Miền Bắc chi phối tới 60% tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam, do được đặc trách dự thầu mua bán gạo trực tiếp giữa các chính phủ, quen gọi là là hợp đồng chính phủ.

Trong những năm 2007, 2008 và đầu năm 2009, hoạt động điều hành xuất khẩu gạo gây nhiều tranh cãi.

Tình hình tồi tệ nhất xảy ra vào vụ lúa hè thu 2008, khi Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam loan báo ngừng xuất khẩu hồi tháng 4 năm ấy, dẫn tới hàng triệu tấn lúa hè thu của nông dân bị rớt giá thậm chí không có người mua.

Ngay trong những ngày đầu năm Canh Dần, một người làm lúa ở đồng bằng sông Cửu Long bày tỏ những ước mong đơn giản là giá cả ổn định thị trường điều hòa:

“Hy vọng đừng sụt giá, nhà nước ăn bằng bằng cho nhân dân được phấn khởi, bây giờ ngày nào cũng đi ra thăm đồng hết trơn để chăm sóc cây lúa đạt năng suất cao, nếu thu nhập một vụ mà thất bát thì buồn lắm.”

Cần được cơ giới hóa

Giới chuyên gia và doanh nhân nói với chúng tôi, câu hỏi của ái nữ Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng không khó đến nỗi không thể trả lời ngọn ngành được. Thật ra một quốc gia tham gia xuất khẩu gạo trên thị trường quốc tế cần hội đủ một số điều kiện, nhất là khi xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới như Việt Nam. Những điều kiện đó là doanh nghiệp xuất khẩu gạo có nguồn tài chánh lớn, có đủ hệ thống kho tồn trữ hiện đại và sau hết khâu dự báo thị trường nhạy bén.

Ngành lương thực Việt Nam hoàn toàn bị động đối với những điều kiện vừa nói. Hoạt động xuất khẩu gạo theo kiểu ăn xổi ở thì, mua vào bán ra nhanh chóng, hạt gạo không bao giờ được tồn trữ quá vài tháng, trong khi Thái Lan có đủ hệ thống kho đạt chuẩn, chính phủ nước này từng mua trữ tới 6 triệu tấn gạo chờ cơ hội giá tốt mới bán ra.

Trong năm 2008, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo không có đủ vốn để mua gạo tồn trữ, lúc ấy để chống lạm phát lãi suất cho vay lên tới 18%-20% doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay, hơn nữa dù có vốn mua gạo nhưng mua xong cũng không có nhà kho đạt tiêu chuẩn để tồn trữ dài ngày. Đối với khâu dự báo, các nhà điều hành xuất khẩu gạo cũng lạc hậu về thông tin, hơn nữa dự báo đúng thì cũng cần có hệ thống kho có thể tồn trữ lâu dài.

Năm 2010 này, hoạt động sản xuất lúa gạo có nhiều chuyển biến, nghị định kinh doanh và xuất khẩu gạo được mô tả là có chú ý tới quyền lợi nông dân sắp được công bố. Trong khi đó, các Tổng Công Ty Lương Thực khởi động nhiều dự án xây dựng các tổ hợp chế biến và tồn trữ lúa gạo tân tiến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam từng bước tham gia vào việc mua lúa trực tiếp cho nông dân, thông qua hình thức tập trung giới thương lái, hàng xáo, nhà máy xay xát thành đơn vị vệ tinh cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Chủ tịch Hiệp Hội hứa hẹn đầu tư trở lại cho người trồng lúa một đô la mỗi tấn gạo xuất khẩu, ngân khoản này giúp khuyến nông, huấn luyện canh tác đúng phương pháp cho nông dân, cũng như nghiên cứu các giống lúa thích hợp xuất khẩu.

Nguồn: RFA

Một “Đông Sài Gòn” khác

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:12 am
Tags:

* Một gợi ý về cách xác định ranh giới cho địa danh Sài Gòn

Trong khi người Sài Gòn nặng tình với bờ Đông như vậy thì bỗng một “Đông Sài Gòn” khác lại xuất hiện bên kia sông… Đồng Nai! Nghe lạ, nhưng không còn bất ngờ.

Phát triển đô thị sang phía bờ Đông sông Sài Gòn là khát khao dễ đã trăm năm của Sài Gòn. Nhưng khát khao và cả những bức xúc gần đây của thành phố liên quan đến nhiệm vụ lịch sử đối với một dự án tầm vóc quốc gia chỉ là một lẽ, Đông Sài Gòn từ xa xưa còn đó nỗi mong chờ thâm sâu trong tình cảm người Sài Gòn ở bên này Sài Gòn. Mong ước ấy nay đang dần hiện thực với sự kết nối giữa Thủ Thiêm với bờ Tây.

Trung tâm quận 1 Sài Gòn, nhìn từ bến phà Thủ Thiêm, quận 2 – Ảnh: TMB

Sự kiện Công ty cổ phần Đầu tư Nhơn Trạch khởi công dự án đô thị Đông Sài Gòn rộng 759 héc ta (tương đương diện tích Thủ Thiêm) tại Nhơn Trạch ngày 16-8-2009 có thể làm cho Thủ Thiêm phải suy nghĩ…

Thủ Thiêm có còn được gọi là đô thị Đông Sài Gòn theo đúng vị trí danh chính ngôn thuận của nó? Đông Sài Gòn có còn là một địa danh gắn kết với Sài Gòn ở phía Đông, bên bờ Đông sông Sài Gòn, hay bất cứ đô thị nào dù cách xa cũng có thể lấy đó làm thương hiệu cho mình? Có cần một “trật tự” hay nguyên tắc trong việc sử dụng tên một địa danh? Và, liệu người Sài Gòn có cảm nhận một cách tự nhiên Đông Sài Gòn là Nhơn Trạch?

Những câu hỏi mở này tuy có hơi hướm nhàn đàm, biết đâu có thể mở ra đôi điều đáng quan tâm. Vấn đề có thể lại không nằm ở “Đông Sài Gòn” mà ở chính “Sài Gòn”, ở chỗ đâu là Sài Gòn để mà có Đông, Tây, Nam, Bắc… Là vì sau khi Sài Gòn và Gia Định được sáp nhập để hình thành nên thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976, địa danh Sài Gòn mặc nhiên đã trở thành tên ẩn, không có địa giới hành chính.

Được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, với tên tuổi có bề dày và giá trị năm châu, có thể nói đây là một loại tài sản quốc gia, thế nhưng cái tên Sài Gòn lâu nay lại gần như được thả lỏng. Để có một nhìn nhận sâu hơn, việc lùi lại để làm rõ chút gốc gác Sài Gòn “312 năm” thiết nghĩ sẽ cần.

1998 là năm kỷ niệm Sài Gòn 300 năm. Do vậy, nếu cứ thế tính lùi theo phép trừ, ta dễ xác định địa danh Sài Gòn đã có từ năm 1698. Thế nhưng, có thể nói cái mốc 1698 chỉ mang ý nghĩa sử sách. Đó là năm đánh dấu sự ra đời đất Gia Định (gồm cả vùng Nam bộ ngày nay) thông qua việc Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập chính thức nền hành chính ở đây. Còn địa danh Sài Gòn (là một vùng nằm trong Gia Định) lúc đó hay trước đó đã có hay chưa thì không thể xác định, do không có một ghi nhận chính thức hay rõ ràng nào.

Lần theo các ghi chép cũ, có thể thấy địa danh Sài Gòn được ghi nhận (ghi chép) đầu tiên vào năm 1747, với tự dạng Raigon trong một báo cáo bằng chữ Pháp về số giáo dân Thiên Chúa lưu cư ở vùng này. Đến năm 1772, địa danh Sài Gòn được Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) ghi vào cuốn từ điển đối chiếu An Nam – La tinh bằng chữ quốc ngữ và chữ Nôm.

Xin mở ngoặc, cho dù có tài liệu nói trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có nhắc địa danh Sài Gòn khi đề cập đến một biến cố tại đây vào năm 1674, nhưng do sách viết vào năm 1776 nên rất khó xác định việc đề cập này chỉ là việc dùng từ Sài Gòn lúc bấy giờ (1776, lúc viết sách), hay địa danh Sài Gòn đã có từ 1674.

Về vị trí, tất cả các tài liệu đều xác định Sài Gòn xưa được hình thành dọc bờ Tây sông Sài Gòn, trên vùng đất cặp giữa rạch Bến Nghé và rạch Thị Nghè. Mặc dù quá trình lập phố từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn chỉnh có dấu ấn và chủ yếu là của người Pháp, quy hoạch Sài Gòn đầu tiên lại được ghi nhận là của người Việt, với công trình lũy Bán Bích của Nguyễn Cửu Đàm xây vào năm 1772. Công trình này (lũy) được xem là đã hình thành nên một địa giới Sài Gòn có diện tích khoảng 50 cây số vuông.

Tuy vậy, theo các bản đồ thành phố sớm nhất (được người Pháp vẽ) sau đó thì Sài Gòn có diện tích nhỏ hơn nhiều. Cụ thể như bản đồ của Coffyn vẽ năm 1862, Sài Gòn rộng 25 cây số vuông. Đến năm 1865, lại có một bản đồ khác vẽ Sài Gòn riêng và Chợ Lớn riêng.

Bản đồ Sài Gòn (chủ yếu là vùng quận 1 hiện nay) chỉ rộng 1 cây số vuông, và Chợ Lớn (vùng quận 5 hiện nay) có diện tích nhỏ hơn 1 cây số vuông. Giữa hai khu này là các vùng quê, bưng biền và đồng ruộng. Sau khi thực dân Pháp ra sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn vào năm 1877, bản đồ Sài Gòn được nới rộng hơn so với bản đồ năm 1865, phía Tây lúc bấy giờ tới cầu Ông Lãnh, phía Đông Bắc tới Đa Kao.

Năm 1887, với tầm vóc sầm uất và quy mô xây dựng đô thị ngày càng hoàn chỉnh, Sài Gòn đã được chọn làm thủ phủ của toàn Đông Dương. Sau năm 1954, Sài Gòn được chia ra làm tám quận bao gồm Chợ Lớn, về sau tăng lên 12 quận cho đến năm 1976, nhưng vị trí vài quận mang số cũ lúc đó có khác với các quận mới mang số ngày nay…

Cần nhắc lại, từ rất sớm (từ thời Pháp) hướng phát triển chủ đạo của thành phố đã được hoạch định là sang bờ Đông, phía có các bán đảo Thủ Thiêm, An Phú – Thảo Điền (quận 2), và vùng này thường được gọi thân mật là “New Saigon” (Sài Gòn Mới). Đô thị Đông Sài Gòn có lai lịch manh nha từ đó.

Đến đây ta đã rõ đâu là Sài Gòn. Khi vị trí địa lý của Sài Gòn đã được xác định thì Đông Sài Gòn hay Nam Sài Gòn mới có cái gốc quy chiếu chuẩn. Thế nhưng, việc chỉ ra cái gốc để làm điều đó thôi chưa đủ và chưa là ý lớn. Là một tài sản lịch sử quý giá, Sài Gòn cần được nhìn nhận lại một cách chính danh theo giấy mực. Nôm na, cái “danh” Sài Gòn phải cần có “địa” mới thuyết phục.

Đặt vấn đề như vậy, nếu ta xem Sài Gòn là vùng quận 1 hiện nay thì không cần dài dòng ai cũng có thể thấy điều đó đúng. Còn nếu hiểu Sài Gòn là đô thị gồm 12 quận đã được sáp nhập vào thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 2-7-1976) lại là một tiếp cận khác có thể nghiên cứu thêm (dù 12 quận “số” thời ấy có khác với ngày nay).

Vậy, để Sài Gòn có cả địa lẫn danh, nghĩa là có địa giới hành chính hẳn hoi, nên chăng thành phố sẽ chọn một trong hai cách sau: Hoặc đặt tên quận 1 là quận Sài Gòn hoặc tên Sài Gòn sẽ được đặt thêm vào 12 quận số để có các quận Sài Gòn 1, quận Sài Gòn 2… Cách đầu đạt lý, cách sau đạt tình.

Một khi Sài Gòn không còn ẩn danh thì tự nhiên sẽ có sự gìn giữ (quản lý) và tôn trọng tốt hơn. Sẽ không còn việc sử dụng hay vay mượn tùy tiện. Phong cách thị dân có thể nhờ đó mà thuận tình nảy nở…

Create a free website or blog at WordPress.com.