Ktetaichinh’s Blog

February 22, 2010

Trọn đời theo Đảng…

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:25 pm
Tags: ,
Thứ hai, 22/02/2010, 09:11 (GMT+7)
Đến con hẻm nhỏ ở đường Yên Thế, khu phố 4, phường 2, quận Tân Bình, TPHCM, nghe bà con tấm tắc khen bà tổ trưởng khu phố luôn tận tụy với “việc dân”, chúng tôi đã tìm gặp bà… Ngồi trước mặt chúng tôi là một phụ nữ hiền lành, giản dị tên là Phạm Thị Minh Hiền, 76 tuổi đời, 41 tuổi Đảng. Bà chính là người em gái thân thương của nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang-liệt sĩ Hoàng Ngân nổi tiếng. Câu chuyện về bà thật sự cuốn hút chúng tôi…

  • 10 tuổi đi làm giao liên…

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, chứng kiến chị Hoàng Ngân, tên thật là Phạm Thị Vân (bí danh Hồng Vân), mới 14 tuổi tham gia cách mạng, rồi bị địch bắt và kết án 12 năm tù giam, cô bé Hiền mới tròn 10 tuổi đã ngộ ra nhiều điều. Tuy chưa hiểu lắm về cách mạng, nhưng cô bé rất tin chị mình và nguyện bước tiếp con đường mà chị đã chọn.

Bà Phạm Thị Minh Hiền.

Lúc chị Hoàng Ngân bị giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), địch không cho người lớn vào thăm vì sợ cách mạng móc nối liên lạc. Tổ chức cách mạng bèn cử cô bé Hiền làm nhiệm vụ vừa thăm chị, vừa khéo léo qua mắt địch để tiếp tế lương thực, thuốc men, giấy bút cho chị và các đồng chí khác trong tù tiếp tục hoạt động… Công việc giao liên đã cuốn hút cô bé theo cách mạng từ lúc nào không biết. Kẻ địch không thể ngờ một cô bé mới 10 tuổi đầu đã làm được một nhiệm vụ cách mạng hết sức quan trọng mà không phải ai cũng làm được.

Nhờ cô bé mà mọi hoạt động trong tù như có cánh bay ra bên ngoài và ngược lại những tin tức từ bên ngoài cũng vào trong tù với anh em. Đó là chưa kể nguồn lương thực, thuốc men, giấy bút… cũng xuất hiện trong tù, mặc dù địch canh gác hết sức cẩn mật. Suốt 4 năm trời ròng rã ra vào tù thăm nuôi chị, cô bé Hiền đã trở thành một nữ giao liên xuất sắc.

Rồi cách mạng cũng tìm cách cho chị Ngân vượt ngục ra khỏi nhà tù Hỏa Lò để tiếp tục hoạt động cách mạng. Mỗi lần có tin vui chiến thắng, niềm vui của hai chị em như được nhân đôi. Suốt chặng đường cách mạng của chị Ngân luôn có Hiền là “chỗ dựa” vững chắc, kể cả lúc chị Ngân tham gia những trận đánh “xuất quỷ nhập thần”, đều có em gái sát cánh làm nhiệm vụ tiếp lương, tải đạn cho chị hoàn thành nhiệm vụ.

Rồi những ngày chị Ngân lâm trọng bệnh, Hiền chạy vạy khắp nơi lo thuốc thang cho chị, động viên tinh thần chị kịp thời. Năm 1949, Hiền còn theo chị Ngân lên chiến khu Việt Bắc hoạt động cách mạng và chứng kiến mối tình đẹp giữa chị mình và anh Hoàng Văn Thụ.

  • Còn sức khỏe, còn cống hiến…

Hoạt động tại chiến khu Việt Bắc, Hiền được vinh dự gặp Bác Hồ. Bác dặn Hiền: “Làm cách mạng là phải không ngại khó, không ngại khổ và không sợ hy sinh cháu nhé…”. Lời dặn của Bác trở thành hành trang quý giá và sức mạnh tinh thần để Hiền vượt qua bao “mưa bom, bão đạn” và đi hết chặng đường cách mạng mà mình đã chọn.

Chúng tôi hỏi: “Trong cuộc đời đi làm cách mạng, bà nhớ nhất kỷ niệm nào?”, bà Hiền xúc động đáp: “Tôi nhớ nhất kỷ niệm lúc chị Ngân hy sinh ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã chọn một ngọn đồi để đặt tên là đồi Hoàng Ngân”. Bác còn chia sẻ với gia đình tôi: “Hoàng Ngân hy sinh, gia đình đau một, cách mạng đau gấp bội phần vì khó có ai thay thế được Hoàng Ngân…”.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước cũng động viên tôi: “Em có người chị gái thật vĩ đại, em phải quyết tâm theo cách mạng đến cùng để xứng đáng với chị Ngân nhé…”. Nhớ lời căn dặn của những cán bộ cách mạng đi trước, Hiền tích cực tham gia đội quân du kích và làm công tác phụ nữ, công tác dân vận và có mặt hoạt động ở khắp các tỉnh thành, khi bí mật, lúc công khai ở khắp mọi nơi. Sau này, tổ chức cách mạng đã đặt tên cho các đội du kích nữ thành “Đội du kích Hoàng Ngân”. Chính cái tên này đã trở thành nỗi khiếp sợ cho kẻ thù và là niềm tự hào của người em gái Phạm Thị Minh Hiền.

Sau ngày giải phóng thủ đô (năm 1954), bà Hiền tham gia tiếp quản TP Hải Phòng và tham gia công tác cải tạo tư sản. Tại đây, bà gặp ông Phạm Văn Hiến, cháu ruột của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Hai người vừa là đồng chí, vừa là đồng nghiệp cùng chung chí hướng nên rất hiểu nhau. Họ kết hôn và động viên nhau tiếp tục công tác tốt.

Tháng 7-1969, bà Hiền được kết nạp vào Đảng. Bà tâm sự: “Những năm 1950, do địch ráo riết khủng bố cơ sở cách mạng nên việc kết nạp Đảng chựng lại. Do đó đến năm 1969 tôi mới vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trở thành đảng viên, tôi càng thấy trách nhiệm của mình lớn hơn…”.

Năm 1975, bà tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam. Sau ngày tiếp quản Sài Gòn, bà giữ chức Giám đốc Công ty Thiết bị thuộc Bộ Thương mại, đến năm 1990, nghỉ hưu. Cả một đời theo Đảng, theo cách mạng, giờ đây bà đang sống trong căn nhà đơn sơ của con gái, vì được tiêu chuẩn nhà nước cấp nhà thì vợ chồng bà đều nhường cho người khác khó khăn hơn. Bà đã chọn lối sống liêm khiết, quên mình vì mọi người. Phẩm chất cách mạng của người đảng viên ấy thật sự tỏa sáng như “ngọc sáng ngời” giữa đời thường.

Qua chặng đường cách mạng suốt hàng chục năm qua, bà vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng nhiều huân, huy chương các loại như: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba và nhiều bằng khen, giấy khen khác…

Về địa phương, bà tham gia công tác Đảng, góp ý xây dựng chính quyền, tham gia điều hành hoạt động tổ dân phố, làm công tác hội phụ nữ, tích cực vận động bà con chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước. Gần đây, mặc dù “tuổi cao sức yếu” nhưng bà vẫn tham gia Câu lạc bộ “Ông bà cháu”, Hội Người cao tuổi, Hội Khuyến học, công tác kế hoạch hóa gia đình…

Bà chân thành bộc bạch: “Chừng nào còn sức khỏe là chừng đó tôi còn làm việc vì không có đảng viên hưu. Hơn nữa, sống mà được làm việc có ích cho xã hội, tôi thấy mình như khỏe ra và hạnh phúc càng đong đầy…”

Advertisements

CPI tháng 3 sẽ quyết định xu thế cả năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:24 pm
Tags: , ,

TBKTSG Online) – Từ ngày 21-2, các công ty xăng dầu đã quyết định tăng giá xăng thêm 590 đồng/lít, việc này sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 và cả năm 2010 như thế nào, liệu Việt Nam có thể kềm chế lạm phát ở mức một con số trong năm nay không? Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả của Bộ Tài chính, về vấn đề này.

TBKTSG Online: Thưa ông, việc điều chỉnh tăng giá xăng ngày 21-2 liệu ảnh hưởng như thế nào đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tháng 2 và tháng 3?

TS. Vũ Đình Ánh: Theo tôi, việc tăng giá xăng thời điểm này là khá bất ngờ vì trong một thời gian dài giá dầu giảm mà giá xăng chỉ giảm rất ít gọi là khuyến mãi cho năm mới, trong khi lại tăng mạnh đến gần 600 đồng/lít.

Chỉ số CPI tháng 2 sẽ không bị ảnh hưởng vì thông thường người ta đi lấy giá từ ngày 15-2, năm nay rơi vào ngày mùng 2 tết nên có thể dời đến ngày mùng 6 tết (19-2). Như vậy, CPI tháng 2 sẽ không bị ảnh hưởng nhưng chắc chắn việc tăng giá xăng sẽ có tác động đến CPI của tháng 3, vốn được xem là tháng quyết định xu hướng giá cả của cả năm. Đây là tháng rất nhạy cảm.

Vì sao, thưa ông?

Vì theo thông lệ các năm, chúng ta chấp nhận sự tăng giá trong tháng 1, tháng 2 như một điều bình thường vì nó rơi vào dịp Tết Nguyên đán, nhưng tháng 3 là điểm chốt để quyết định xu thế cho cả năm. Nếu bình thường chỉ số giá tháng 3 giảm hoặc tăng thấp dưới 0,5% thì cả năm lạm phát có thể duy trì ở mức một con số. Còn nếu CPI tháng 3 tăng hơn 0,5% đến xấp xỉ 1% thì có khả năng lạm phát của cả năm sẽ tăng ở mức hai con số.

Theo quy luật của các năm trước thì CPI tháng 3 luôn luôn quyết định xu thế của cả năm, và là người đi phân tích các chỉ số giá, tôi rất quan tâm đến chỉ số giá của tháng 3.

Thêm một điều đặc biệt trong năm nay là sự tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ năm 2009 sẽ biểu hiện rõ vào tháng 4, tháng 5 theo đánh giá của nhiều chuyên gia. Cộng với việc chỉ số giá tháng 3 có khả năng tăng cao thì việc kiểm soát giá cả của cả năm 2010 sẽ là rất khó.

Như vậy, chính sách quản lý giá cần phải như thế nào?

Theo tôi, các chính sách quản lý giá của các mặt hàng mang tính chiến lược cần phải lưu ý đến tính chất nhạy cảm của chỉ số giá tháng 3 đối với xu hướng giá cả năm.

Thông thường, chỉ số giá tháng 3 sẽ âm do giá cả đã tăng cao vào tháng 2, nhưng việc tăng giá xăng vào cuối tháng 2 này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa khác, đặc biệt là giá lương thực thực phẩm. Sự ảnh hưởng này cũng tương tự như ảnh hưởng của đề xuất xin tăng giá điện từ ngày 1-3. Chúng ta cần đặc biệt lưu ý về tính thời điểm của việc tăng giá trong tháng 3 cũng như việc tăng giá trong tháng này sẽ tạo ra tâm lý tăng giá trong cả năm.

Giá cả trong năm nay sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chính sách điều hành và cần khẳng định một lần nữa về tính thời điểm để đưa ra các quyết sách là rất quan trọng. Và tháng 3 là một tháng rất nhạy cảm. Nếu CPI tháng 3 giảm hoặc tăng thấp thì chúng ta có thể an tâm về giá trong cả năm, nhưng với những động thái như hiện nay thì tình hình giá cả của tháng 3 sẽ khó đoán định được.

Lạm phát gia tăng liệu có ảnh hưởng gì đến tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ?

Hiện nay thì sức ép giảm giá đồng nội tệ của chúng ta vẫn có do thâm hụt của ta lớn. Việc mất giá của đồng Việt Nam thông qua lạm phát cộng hưởng với áp lực về việc cân đối cung cầu ngoại tệ chắc chắn sẽ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái và như vậy khả năng kềm giữ tỷ giá hối đoái sẽ rất khó khăn.

Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:22 pm
Tags: ,

Lao Động số 39 Ngày 22/02/2010 Cập nhật: 9:17 AM, 22/02/2010

(LĐ) – 27 Tết, khi mà mọi giao dịch của nền kinh tế được giảm thiểu đến mức tối đa để chuẩn bị đón tết cổ truyền thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đột ngột ra thông báo quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại TCTD và quyết định điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH.

TGĐ một NHTMCP thốt lên: “Tôi không ngờ NHNN lần này lại ra tay nhanh và bất ngờ như vậy”.

Ngoài dự đoán của thị trường, nhưng trong tính toán thời điểm của NHNN. Khi tỉ giá thị trường tự do đang ở mức thấp nhất trong vòng nhiều tháng qua, người dân và DN đa phần đã ngừng các giao dịch tài chính để mua sắm, những xáo động về tâm lý sẽ giảm thiểu.

Để ý thấy những quyết định quan trọng của NHNN thường được đưa ra trong hai bối cảnh. Thứ nhất trong tình thế bắt buộc phải đưa ra quyết định (như cho phép nhập khẩu vàng vừa rồi) tình thế này khá dễ đoán định.

Thứ hai chọn thời điểm tình hình có vẻ êm ả, hầu như không có những vấn đề nóng mà thị trường nghĩ rằng cần có giải pháp (như quyết định nâng mức LS tiền gửi USD và điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH hôm 10.2 vừa qua).

Chính sách ban hành trong thời gian này sẽ khiến thị trường bớt bị sốc và không có những phản ứng thái quá, nóng vội gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia thị trường. Trong tình huống này, mặc dù thị trường bị bất ngờ, nhưng những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý là khá cao.

Lần này cũng vậy, sau cơn sốt ngắn ngủi trong buổi sáng ngày 11.2, USD trên thị trường tự do nhảy lên 19.650 đồng/USD, đến trưa cùng ngày tỉ giá đã giảm dần và chiều giảm khá mạnh.

Phản ứng của giới tài chính chưa rõ rệt, còn các NĐT coi quyết định này của NHNN là tích cực cho NH và TTCK. Một NĐT nói: “NHNN điều chỉnh tỉ giá như thế là rất tốt cho thị trường tiền tệ nói chung và hệ thống NH nói riêng. Thanh khoản USD sẽ được cải thiện đáng kể. Tỉ giá tăng, LS gửi USD giảm buộc các DN sẽ phải so sánh lợi ích giữa găm giữ USD trên tài khoản hay chuyển đổi thành VND thì có lợi hơn, để từ đó tự nguyện bán USD cho NH. Khi tỉ giá trong và ngoài thị trường chính thức không chênh lệch nhiều nữa thì nguồn cung USD cho NH cũng sẽ tăng lên. Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải”.

Cơ sở ra quyết định

Theo thông tư số 03/2010/TT-NHNN, kể từ ngày 11.2.2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ TCTD) tại TCTD tối đa là 1,0%/năm (mức LS tối đa mà các NHTM đang áp dụng là 4,5%/năm). Tỉ giá bình quân liên NH giữa USD và VND áp dụng cho ngày 11.2.2010 là 18.544 VND/USD (tăng 603 đồng, tương ứng 3,3% so tỉ giá ngày hôm trước 10.2).

Mục đích của việc ban hành thông tư 03 và điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH theo NHNN là nhằm cân đối hài hoà cung – cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô.

Như chúng ta đã biết, trong năm 2009, NHNN đã thực hiện một loạt biện pháp để bình ổn thị trường như điều chỉnh tỉ giá bình quân liên NH, bán can thiệp với quy mô lớn cho tất cả các TCTD có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu 7 DN và tập đoàn nhà nước lớn bán ngoại tệ cho NHTM. Những biện pháp trên tuy đã cải thiện tình hình thị trường ngoại hối, tăng tính thanh khoản cho thị trường nhưng kết quả chưa được như mong đợi.

Lượng ngoại tệ mà các DN bán cho NHTM thấp hơn nhiều với số dư trên tài khoản tiền gửi; nhu cầu nhập khẩu ngày càng tăng mạnh do kinh tế đang phục hồi. Dự trữ ngoại hối quốc gia ở mức thấp. Hiện tượng hai tỉ giá khiến cho tâm lý kỳ vọng găm giữ USD trên tài khoản chờ hưởng chênh lệch tỉ giá không hề giảm bớt, đã tác động xấu đến tỉ giá trên thị trường tự do khiến cho niềm tin vào VND bị giảm sút…

Việc NHNN buộc quy định trần LS tiền gửi USD của các TCKT tối đa 1%/năm cho thấy hiện tượng găm giữ USD trên tài khoản của các DN còn rất nặng nề. Họ vẫn có tâm lý kỳ vọng tỉ giá VND/USD còn có sự điều chỉnh, thêm nữa DN lo bán rồi không mua được ngoại tệ từ NH khi cần.

Từ trước đến giờ DN giữ ngoại tệ vẫn lợi hơn giữ VND vì hưởng lợi kép từ tỉ giá lẫn lãi suất đó là chưa kể nguồn gốc ngoại tệ này có được của nhiều DN từ sự hưởng lợi độc quyền với nhiều ưu đãi trong khai thác tài nguyên khoáng sản của quốc gia và từ đồng vốn VND được hưởng chính sách kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Khống chế LS trần tiền gửi USD của các tổ chức 1%/năm, đi kèm với điều chỉnh mạnh tỉ giá liên NH, NHNN đã “kinh tế hoá biện pháp hành chính” buộc các tổ chức kinh tế khi nắm giữ USD sẽ phải tính toán việc găm giữ hay bán ngay ngoại tệ cho NH khi có nguồn thu.

Tỉ giá-vẫn cần giải pháp căn bản

Việc điều chỉnh mạnh tỉ giá chia thành từng đợt (lần đầu vào quý IV/2009 và mới đây) là thông điệp mà NHNN gửi đến giới DN là NHNN sẽ cương quyết làm cho mối quan hệ giữa VND và USD ở mức hợp lý hơn và các DN vay USD (kể cả vay vốn trong ngoài nước) nếu sử dụng đồng vốn có hiệu quả thì hiệu quả làm ra vẫn thừa khả năng bù cho khoản chênh lệch tỉ giá này.

Như vậy, kỳ vọng về việc tìm kiếm lợi ích tăng giá ngoại tệ trong thời gian tới là rất nhỏ, không đáng kể so với việc mau chóng biến nguồn ngoại tệ có được thành VND để đưa vào một chu trình luân chuyển vốn mới, nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh.

Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến thì việc điều chỉnh tỉ giá và LS vừa qua tuy là yếu tố tích cực cho thị trường trong thời gian tới, nhưng có tác dụng dài hạn hay không lại là một vấn đề còn chờ xem. Liệu các NHTM có nhân dịp này mà hạ LS huy động USD của các thành phần khác xuống để giảm chi phí bình quân đầu vào chung của nguồn vốn huy động? Và các NHTM là đối tượng đầu tiên được hưởng lợi từ chính sách sẽ có hành động gì để san sẻ lợi ích này thông qua lãi suất cho vay với các thành phần kinh tế khác?…

Một chuyên gia tài chính NH nói: “Quyết định điều chỉnh tỉ giá vừa rồi của NHNN chỉ giải quyết triệu chứng, chưa căn bản. Nếu vấn đề nhập siêu cao chưa được giải quyết thì cung-cầu ngoại tệ vẫn mất cân đối và đương nhiên sẽ lại tạo ra chênh lệch tỉ giá giữa hai thị trường chính thức và không chính thức”.

Việc nhập siêu này, nếu VN không có các biện pháp thích hợp cùng với một quyết tâm thực hiện cao để giảm dần, thông qua các chính sách khuyến khích sản xuất, gia tăng xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN, khai thác được nguồn lực đầu tư của toàn XH, cải cách chuyển đổi cơ cấu kinh tế và thủ tục hành chính, có những giải pháp chủ động về nguồn ngoại tệ nhằm bù đắp cho sự sụt giảm của dòng vốn đầu tư nước ngoài, của kiều hối… thì các chính sách ngoại hối mà NHNN ban hành vẫn chỉ mang tính ngắn hạn và chắp vá mà thôi.

Bài toán ngoại tệ tạm thời có lời giải

Thống đốc Ngân hàng và một năm kích cầu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:22 pm
Tags: ,

Tết Kỷ Sửu, ngành ngân hàng đón năm mới bằng một nhiệm vụ chưa ai làm để rồi cả năm quay cuồng với kích cầu và phòng chống tác dụng phụ của chính sách “bao cấp” bằng lãi suất này.

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhậm chức từ giữa năm 2007. Ảnh: PV
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhậm chức từ giữa năm 2007, từ đó đến nay ngành ngân hàng đối mặt với nhiều khó khăn. Ảnh: PV

Kinh tế thế giới bước vào năm 2009 sau hàng chục vụ phá sản đình đám trong hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ Âu, hàng nghìn tỷ đôla bốc hơi khỏi các thị trường chứng khoán, tình trạng thất nghiệp gia tăng, người dân khắp nơi thắt chặt chi tiêu và hoang mang về tương lai. Cuộc khủng hoảng thế kỷ cũng đẩy Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn: xuất khẩu ngưng trệ, sản xuất đình đốn vì không có đầu ra và thiếu vốn, vốn đầu tư gián tiếp tháo chạy khỏi thị trường, một số nhà đầu tư nước ngoài cũng xem xét dừng dự án đang triển khai để gom vốn về công ty mẹ ở chính quốc.

Gói kích cầu đã ra đời trong bối cảnh đó, chẳng giống chính sách kích thích kinh tế của bất cứ nước nào và cũng chưa có tiền lệ tại Việt Nam. “Hai phương án được đưa ra, một là tập trung đầu tư một số công trình lớn làm động lực kích thích các ngành phụ trở phát triển – giống cách làm của Trung Quốc. Và hai là chỉ hỗ trợ một số khu vực chẳng hạn doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì lúc đó anh Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra những con số bi quan như 20% phá sản, 60% khó khăn và chỉ 20% còn lại có thể trụ vững”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhớ lại.

Nhiệm vụ trọng tâm đặt vào vai ngành ngân hàng, cả 3 bộ trưởng (Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước) đều vào cuộc để xử lý. Tất cả đều xác định cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế trên thế giới đang diễn ra vô cùng phức tạp và tác động rất xấu đến Việt Nam.

Chiều thứ bảy, 17/1/2009, tức 22 tháng chạp âm lịch, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước tính toán phương án cụ thể. Ngay tối hôm đó, Thống đốc Giàu triệu tập đủ bộ máy lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và họp tới 10h đêm. Có người gợi ý giảm lãi suất tái cấp vốn cho ngân hàng để nguồn tiền này hòa chung với vốn ngân hàng đã huy động và cho ra mặt bằng lãi suất phù hợp, giảm áp lực chi phí đầu vào cho khách vay vốn.

Nhưng thật khó khăn để lựa chọn phương án cụ thể vì nếu tính toán không cẩn thận và làm đề án chặt chẽ, có thể ảnh hưởng xấu tới toàn hệ thống và con người trong ngành ngân hàng. “Ở đâu cũng thế thôi, có bao cấp là có tiêu cực”, ngay lúc đó Thống đốc và nhiều chuyên gia trong ngành đã mường tượng tới nhưng hệ lụy phát sinh từ gói kích cầu.

Hai ngày sau, Vụ Chính sách Tiền tệ đã phác thảo xong “bộ khung” và trình lên phương án kích thích kinh tế bằng cách hỗ trợ lãi suất, giải ngân qua hệ thống ngân hàng. Gói giải pháp này được ngành ngân hàng đánh giá có nhiều ưu điểm, không chỉ hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp mà còn gắn với lợi ích và trách nhiệm của từng ngân hàng thương mại. Vốn được giải ngân theo cơ chế thông thường, phần hỗ trợ lãi suất 4% từ ngân sách được trả lại ngân hàng sau khi đã cấp bù cho doanh nghiệp.

Mặc nhiên, ngân hàng thương mại được lợi vì gói hỗ trợ lãi suất sẽ kích thích nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và ngân hàng bớt áp lực cân đối chi phí đầu vào với lãi suất đầu ra. Nếu làm tốt, cả vốn lẫn lãi của ngân hàng vẫn được bảo toàn, tín dụng được khơi thông, điều mà không một hệ thống ngân hàng của quốc gia nào tại thời điểm đó làm được.

Tính toán rất căng thẳng và lường trước các tác dụng phụ, Ngân hàng Nhà nước thống nhất lựa chọn phương án này để trình Chính phủ và được thông qua ngày 23/1, tức 28 Tết Kỷ Sửu. 18h20 chiều hôm đó, toàn bộ thông tin về chính sách hỗ trợ lãi suất được công bố trên website Ngân hàng Nhà nước.

“Tự đặt mình vào địa vị một ông chủ doanh nghiệp, nếu khó khăn như vậy thì các phương án làm ăn sẽ như thế nào? Mà bất kỳ phương án nào cũng liên quan đến việc làm của người lao động. Nếu xếp xó nhà xưởng, máy móc thì liệu người lao động có công ăn việc làm? Rồi tâm lý của người lao động khi biết mình ăn Tết xong sẽ thất nghiệp, thử hỏi, cái Tết đó có ấm cúng, có còn dư vị của ba ngày Tết?”, nghĩ như vậy, Thống đốc và các cán bộ Ngân hàng Nhà nước xác định làm việc quên Tết để có thể sớm đưa chính sách vào triển khai.

Với thông tư hướng dẫn vừa được ban hành, cả ngành ngân hàng lao vào thực hiện ngay khi đi làm trở lại sau Tết. Ngân hàng lớn thì đăng ký giải ngân cả trăm nghìn tỷ đồng hỗ trợ lãi suất, ngân hàng bé cũng ngót nghét chục nghìn, nhà nhà đua nhau tổ chức chương trình tập huấn khách hàng, ai nấy đều hăm hở, náo nức như tham gia phong trào thời chiến. Kinh phí của cả chương trình – 17.000 tỷ đồng theo kế hoạch được trích từ dự trữ ngoại hối quốc gia và dự kiến cho ra khoảng 420.000 tỷ đồng vốn vay hỗ trợ lãi suất. Ngay tháng 2, tháng đầu tiên triển khai chương trình, hơn 93.000 tỷ đồng đã được giải ngân. Đến hết tháng 3, con số này tăng thêm gấp đôi.

Gói kích thích tổng trị giá 8 tỷ USD, trong đó hỗ trợ 4% lãi suất là một phần quan trọng, đã giúp vực dậy hoạt động sản xuất kinh doanh đang trong tình trạng suy giảm. Sản xuất công nghiệp ổn định trở lại và tăng 2,1% vào cuối quý I, sau khi giảm tới 4,4% trong tháng đầu năm 2009. GDP tăng trưởng 3,1% trong quý I và có khả năng tăng dần trong các tháng tiếp theo. Sức tiêu thụ trong nước dần phục hồi, thị trường chứng khoán và bất động sản cũng phát những tín hiệu tích cực. Hầu hết doanh nghiệp khó khăn đã khôi phục hoạt động sản xuất, thu hút lao động trở lại làm việc.

Tuy nhiên, khi những đồng vốn kích cầu bắt đầu ngấm vào nền kinh tế, cũng là lúc các tác dụng phụ của liều thuốc này xuất hiện. Dư luận bắt đầu lo ngại về chuyện vốn kích cầu đến không đúng địa chỉ, thậm chí làm thị trường chứng khoán và bất động sản sốt ảo.

Sức ép tăng trưởng tín dụng bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 6 đầu tháng 7. Theo kế hoạch đầu năm, nếu tăng trưởng kinh tế cả năm là 6,5% thì tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 21-23% là vừa. Nhưng chỉ trong 6 tháng đầu năm, lượng vốn cho vay ra đã tăng 17,01% so với cuối năm 2008 và tiếp tục tăng thêm 2,15% trong tháng 7. Các tháng tiếp theo, lượng vốn mà hệ thống ngân hàng cho vay với nền kinh tế luôn cao hơn vốn huy động được.

Tỷ giá cũng là vấn đề đau đầu. Chính sách hỗ trợ lãi suất chỉ áp dụng với vốn vay tiền đồng, vì thế đã nảy sinh tâm lý ngại vay đôla. Doanh nghiệp nếu có nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ thì quyết mua đôla để trả đối tác, chứ không vay ngân hàng. Thậm chí có tình trạng vay tiền đồng để gom đôla. Hệ thống ngân hàng lâm vào cảnh dư thừa đôla cho vay nhưng không có để bán. Tỷ giá chợ đen được dịp leo thang, ngay trong ngân hàng cũng xuất hiện tình trạng hai giá, niêm yết một đàng, bán một nẻo. Các cơn sốt giá vàng càng khiến thị trường ngoại tệ thêm căng thẳng, khi giới đầu cơ gom đôla nhập lậu vàng. Một quan chức cấp vụ của Ngân hàng Nhà nước tâm sự, cả năm 2009 không ngày nào không bạc mặt, bạc đầu vì tỷ giá.

“Khi mới triển khai gói kích cầu, tôi lo lắm, vì thế giới chưa ai làm, hơn nữa lại kéo cả hệ thống ngân hàng tham gia. Và nó còn liên quan nhiều đến yếu tố đạo đức nữa”, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu hồi tưởng những ngày đầu triển khai gói hỗ trợ lãi suất. Nhưng ông tâm niệm thuốc nào cũng có tác dụng phụ và nếu dùng quá liều sẽ không tốt, điều quan trọng là khi xây dựng chính sách phải lường trước được những điều đó để có phương án xử lý phù hợp.

Đầu tháng 11/2009, khi Chính phủ đánh giá lại toàn bộ gói kích thích để xem xét kết thúc đúng thời hạn, một số ý kiến cho rằng nên kéo dài thêm một thời gian để tránh sốc cho doanh nghiệp vì nền kinh tế chưa khỏe lắm, nếu cắt đột ngột thì sẽ có vấn đề; các phản ứng phụ như tăng trưởng dư nợ nhanh, sức ép tỷ giá và chuyện lợi dụng sẽ có cách xử lý khác.

Tuy nhiên, Chính phủ vừa họp xong thì giá vàng lên ào ào, đặc biệt là trong ngày 11/11, đẩy đôla chợ đen leo lên mốc 20.000 đồng. Tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ cuối tháng, Thống đốc Giàu đã nêu quan điểm, nếu kéo dài chính sách hỗ trợ lãi suất thì sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chính sách vĩ mô và một trong những thách thức lớn là chính sách tỷ giá. Chủ trương ngừng hỗ trợ 4% lãi suất ngắn hạn đúng thời điểm cũng được Quốc hội chấp thuận.

Những ngày cuối cùng của năm Kỷ Sửu, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu lại phải đặt bút ký quyết định tăng tỷ giá liên ngân hàng lần thứ hai trong vòng 3 tháng, một biện pháp mạnh tay với mong muốn trị dứt điểm tác dụng phụ của kích cầu. Tết Canh Dần, ông được thảnh thơi hơn một chút, có điều kiện về quê thăm họ hàng nội ngoại và dành thời gian thư thái cho riêng mình.

Phu nhân của ông đã sắm sẵn vài chiếc áo mới sáng màu để ông diện trong ngày Tết, những mong một năm xán lạn và thuận lợi trong công việc. Nhưng ông hiểu thách thức với ngành ngân hàng vẫn còn nặng nề, năm 2010 chính sách tiền tệ được xem là trọng tâm trong điều hành kinh tế thời hậu khủng hoảng.

Mà ngẫm lại, gần ba năm điều hành Ngân hàng Nhà nước, với ông không ngày nào không có thách thức. Phu nhân của ông vẫn ở trong Nam, khi có người hỏi tại sao không đưa bà ra Hà Nội sống cùng, ông cười: “Bả mà ra, tôi thức khuya làm việc sao được”. Ngay cả những lúc bận bịu nhất, ông vẫn cố gắng duy trì thói quen tự nấu ăn bữa tối bằng thức ăn do bà nhà chuẩn bị sẵn và gửi ra, để đảm bảo sức khỏe làm việc.

Blog at WordPress.com.