Ktetaichinh’s Blog

February 11, 2010

Đại gia cũng khóc

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:00 am
Tags: ,

Họ cũng là con người bình thường như bao người khác. Vậy nên, khi họ “khóc” thì cũng cần có ai đó lắng nghe họ


Nền kinh tế nước ta đã vượt qua tâm bão và đang hồi phục. Đó là tin vui giúp các nhà đầu tư lạc quan hơn về tương lai của Việt Nam và về công việc làm ăn của mình.

Tuy nhiên, qua cơn bão kinh tế vừa rồi, trong họ vẫn còn đọng lại không ít nỗi niềm.

Những ngày khó khăn…

1. Ông Kim, chủ một doanh nghiệp, có nhiều xưởng ở Hàn Quốc. Ở Việt Nam, xưởng may của ông rộng gần 2ha, với hàng ngàn công nhân chuyên gia công hàng xuất khẩu. Ngày đầu tiên gặp nhau, ông gây ấn tượng mạnh bởi tài lái xe hơi rành rẽ mọi nẻo đường như người Việt. Ông hút thuốc bằng tẩu mạ vàng, nhả khói thường hay nheo mắt, vẻ hài lòng và mãn nguyện với thành quả kinh doanh của mình. Hai năm tư vấn cho công ty ông, chưa bao giờ tôi thấy một khách hàng nào đó phàn nàn về ông, dù chỉ một lần.

Vậy mà, một tối muộn, ông đến, không thấy xe, không tẩu. Ông trình bày, do khủng hoảng kinh tế, đơn hàng cũ bị huỷ, đơn hàng mới không có, đối tác nước ngoài quỵt tiền. Xưởng may tạm đóng cửa; lương công nhân: nợ; tiền điện: nợ; tiền thuê nhà ở cũng nợ. Ông xoay xở bán xe để trả tạm lương cho công nhân. Cả chiếc lắc tay, kỷ niệm của người vợ quá cố, ông cũng bán nốt. Đau nhất là cơ quan nhà nước đề xuất tạm giữ hộ chiếu, niêm phong tài sản trong xưởng may, vì sợ ông tẩu tán tài sản hoặc bỏ trốn về nước. Ông cúi đầu khóc. Đôi vai run run…

2. Ông Nguyễn, Việt kiều, về nước làm ăn hơn mười năm nay, đầu tư vào bất động sản. Thời sốt đất, những dự án công ty ông làm bán chạy như tôm tươi. Tiền thu được, lại dùng để tái đầu tư. Hàng chục dự án tập trung vào cao ốc văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp.

Làm bất động sản mấy ai không vay ngân hàng. Đùng một cái, để hạ sốt, đề phòng tình trạng “bong bóng”, ngân hàng siết chặt cho vay đầu tư bất động sản, tăng lãi suất. Thêm vào đó, chứng khoán lao dốc, nhà đầu tư trúng chứng khoán trước đây gom tiền mua căn hộ rơi vào cảnh cạn tiền, không trả nổi tiền mua căn hộ khi đến hạn, buộc lòng phải xả hàng tới tấp. Thị trường bất động sản “đóng băng”, heo hút như cảnh chợ chiều. Việc kinh doanh của ông từ chỗ đang nóng, chuyển sang lạnh toát.

Áp lực phải có tiền để trả nợ ngân hàng buộc ông Nguyễn phải chào bán nhiều mảnh đất mà ngày xưa nhiều người mơ ước. Giá chào tụt dần, lỗ đến 30% giá gốc, chưa tính lãi vay ngân hàng, thế mà người mua cứ chê ỏng chê eo. Những cuộc họp trả lời khách về tính pháp lý của các dự án cứ lặp đi lặp lại, ròng rã sáu tháng trời vẫn không ai chịu “rước”. Lắm lúc thấy ông ngồi thẫn thờ, mắt có nhìn mà không thấy, hay ngủ ngồi giữa hai cuộc họp, mới thấy thương cho nhà đầu tư thời khủng hoảng.

3. Có thể gọi John là “chúa đảo” với trên chục cái đảo ở một vịnh miền Trung mà anh đang thuê để nuôi cá xuất khẩu. Tại đại bản doanh đặt trên hòn đảo trung tâm, anh làm văn phòng bằng gỗ, khu nhà nghỉ công nhân lợp lá cọ, đồ nội thất bằng mây, cùng cát trắng, biển xanh đẹp như một khu nghỉ dưỡng cao cấp.

Cha anh, có thể xem là “công thần” của tỉnh, bởi ông là một trong những nhà đầu tư đầu tiên khai phá lĩnh vực nuôi cá xuất khẩu từ những năm 90 của thế kỷ trước. Từ ông, bao nhiêu ngư dân trong vùng học được kỹ thuật nuôi cá lồng, biết cách chọn lọc con giống tốt nhất. Đầu ra đã có ông lo.

Kế thừa sản nghiệp của cha, bằng sức trẻ của mình, John đã liên tục mở rộng sản xuất bằng cách thuê thêm nhiều diện tích mặt biển để nuôi cá. Một trong các đảo anh thuê có địa thế rất đẹp, sau lưng là núi, bãi cát chạy dài ngút mắt. Vị trí đắc địa ấy đã khiến không ít công ty làm du lịch phải thèm muốn.

Một ngày, John điếng người khi nhận được quyết định thu hồi đất của tỉnh, với lý do quá 12 tháng mà không triển khai dự án. John nói như khóc trong cuộc họp giải quyết khiếu nại: “Tôi thuê đơn vị tư vấn, mang chuyên gia từ nước ngoài sang khảo sát mặt biển, độ mặn, mới dám thả con giống thử nghiệm. Dàn lưới quây thi công ngầm dưới biển tốn cả triệu đô, có ai chịu lặn xuống đó coi giúp cho tôi nhờ không. Cha con tôi đầu tư 20 năm nay trên cái vùng biển này sao nỡ đối xử tôi như vậy…”.

Những lá đơn khiếu nại của John gửi đi, họp tới họp lui hơn hai năm chưa được giải quyết. Dàn lưới bao đặc chế mục nát theo thời gian. Đùng một cái khủng hoảng tới, ngành du lịch chững lại. Nghe đâu công ty du lịch dự kiến được giao đất kia cũng “đuối”, xin thôi không làm tiếp dự án đó nữa.

Khi nghe thông tin hành lang từ tỉnh, nếu muốn thuê nuôi cá tiếp thì gửi thư xin, sẽ được giải quyết. John lắc đầu cười mà như mếu, việc giải quyết khiếu nại chậm chạp đã gây thiệt hại cho tôi biết bao nhiêu, cộng thêm tình người như thế làm tôi nản lắm rồi.

Vì đâu nên nỗi…

Tiếp xúc, những ông chủ trên đều tỏ thái độ rất rõ ràng, trong làm ăn thắng – thua, được – mất là chuyện thường tình, mỗi doanh nghiệp đều phải chấp nhận. Xu thế chung, đã khủng hoảng, các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng. Nhưng điều họ lo lắng nhất là sự thay đổi đột ngột chính sách – kiểu như ra “toa thuốc” hạ sốt quá liều như trong thị trường bất động sản. Hay những quy định pháp luật không rõ ràng – không buộc được người giải quyết khiếu kiện phải giải quyết đúng thời hạn, như trong giải quyết khiếu nại đất đai…

Chính sách thay đổi bất thình lình, nhà đầu tư khó mà lường trước để trở tay. Quy định mập mờ tạo cơ hội cho những kẻ trục lợi ép người đầu tư. Họ cũng hy vọng cách hành xử của cơ quan quản lý cần có lý có tình hơn.

Ông Kim, sau những ngày điêu đứng tìm nguồn tiền cứu viện, đã tâm sự: “Tôi sốc vì nguy cơ phá sản đã đành, mà sốc hơn cả là người ta coi tôi như tội phạm, sợ tôi bỏ trốn, sợ tôi không trở lại nữa… Chẳng lẽ nào cơ nghiệp cả đời của tôi lại chấm dứt vì số nợ tiền lương của công nhân hay sao”. Xưởng may của ông giờ đã hoạt động trở lại, dần hồi phục, dù chưa được như xưa. Tuy vậy, không biết vết thương trong lòng ông liệu có lành?

Vậy đó, “đại gia” cũng “khóc”. Họ cũng là con người bình thường như bao người khác. Ở một góc độ nào đó, có thể xem họ là những người có công, khi góp phần làm giàu cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho người khác. Vậy nên, khi họ “khóc” thì cũng cần có ai đó lắng nghe họ. Có thể là để xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh và an toàn hơn bằng các biện pháp cải cách hành chính, các định chế pháp luật, và một cơ chế giám sát hiệu quả, tránh sự lạm quyền của cán bộ thực thi. Hoặc chỉ đơn giản là một cử chỉ chia sẻ, cách giải quyết thấu tình đạt lý, giúp họ vượt khó.

Được như vậy, sang năm mới, các đại gia nếu có khóc, là khóc vì quá hạnh phúc.

Luật sư Trịnh Thanh (SGTT)

Advertisements

Tư vấn chứng khoán và góc nhìn của Quách Mạnh Hào

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:33 am
Tags: , ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 11:16
picture

“Năm 2010, kinh tế tốt hơn 2009 nhưng thị trường chứng khoán sẽ không tốt bằng vì năm 2010 dòng tiền sẽ bị kiểm soát, nó không tốt ở tỷ lệ tăng trưởng”.

LAN HƯƠNG
03:13 (GMT+7) – Thứ Năm, 11/2/2010

Thời gian qua, cái tên Quách Mạnh Hào khá nổi trong giới đầu tư chứng khoán với những phân tích sắc sảo và một góc nhìn rất riêng

Thời gian qua, cái tên Quách Mạnh Hào khá nổi trong giới đầu tư chứng khoán với những phân tích sắc sảo và một góc nhìn rất riêng.

Đảm nhận chức danh Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Thăng Long, phụ trách trực tiếp mảng phân tích, Quách Mạnh Hào càng có cơ hội phát huy hết những gì được cho là sở trường, sở đoản.

Với một thị trường còn nặng về tâm lý đám đông như thị trường chứng khoán Việt Nam thì những phân tích, nhận định và dự đoán có vẻ trái chiều và “lạc lõng” của Quách Mạnh Hào tưởng rằng sẽ bị nhấn chìm trong những sự phấn khích hoặc hoảng loạn thái quá của số đông nhà đầu tư khi thị trường lên cơn sốt nóng lạnh. Tuy nhiên, chính những nhận định đó đã giúp không ít người đầu tư cứu được bàn thua trông thấy hoặc trúng quả đậm.

Quách Mạnh Hào cho rằng, việc kết luận thị trường lên hay xuống trong từng thời điểm cụ thể cũng không khác việc tung đồng xu là mấy và nhiệm vụ của người phân tích là tính toán được xu hướng rơi của đồng xu để giúp cho mình có được một dự báo tốt. Tư vấn chứng khoán vốn được xem như một liều thuốc đắng, dùng để giúp nhà đầu tư cắt lỗ khi thị trường lao dốc và “bán non” khi thị trường đang lên. Vì vậy, chút hài hước, dí dỏm sẽ giống như một lớp đường bọc ngoài giúp nhà đầu tư cảm thấy dễ nuốt hơn.

Quách Mạnh Hào cũng cho rằng vấn đề của thị trường chứng khoán là tâm lý và dòng tiền. Chỉ số niềm tin nhà đầu tư theo tính toán của Thăng Long đã sụt giảm mạnh trong hai tháng 10, 11 và tháng 12 nằm ở mức thấp tương đương với đầu năm 2009 và tháng 7/2009. Nhưng điều quan trọng là chỉ số này đã dừng giảm, nghĩa là tâm lý nhà đầu tư đã ổn định trở lại. Còn về dòng tiền, nhà đầu tư quan tâm tới hai vấn đề: công thức tạo tiền từ các hoạt động đòn bẩy và vấn đề tăng trưởng tín dụng đã đạt 33% cao hơn mức mục tiêu.

Sau một năm lặng lẽ “ở ẩn” tại Mỹ, từ đầu năm 2009, Quách Mạnh Hào đã quay trở lại thị trường với mô hình và Tạp chí Nhà đầu tư (The Investor Journal), đi kèm với đó là bản tin hàng ngày My Technical View – MTV với cùng một phương pháp tiếp cận định lượng. Quách Mạnh Hào cho rằng, để giữ được uy tín và sự tin cậy của nhà đầu tư thì nhà tư vấn phải cung cấp thông tin một cách có lý chứ không phải là một sự nói bừa.

Những khách hàng khi nhận bản tin hàng ngày của ông, họ chờ đợi điều gì?

Thực ra những khách hàng và người bạn nhận bản tin của tôi, thông thường đều là những người có kiến thức và có thông tin. Nhưng điều họ mong muốn ở đây là nhận về những tiếp cận khác, nghĩa là cùng một sự kiện giúp họ có cái nhìn khác.

Nhiều khách hàng nói với tôi rằng, việc nhận định đúng hay sai không quan trọng bằng việc cùng một sự kiện có cái nhìn đa chiều. Và họ nói tôi có cách nhìn hơi lạ. Đó là điều thú vị nhất và cũng làm tôi vui nhất.

Trong số nhà đầu tư muốn xin tư vấn từ ông, có bao nhiêu người đã thành công? Bao nhiêu người thất bại?

Vì không có điều tra cụ thể, nên tôi không biết được chính xác, nhưng có thể có hai khía cạnh để đánh giá sự thành công hay thất bại này. Bản thân tôi khi nhận định thì cũng có cả đúng và sai. Những cái đúng, trong năm 2009, thường gắn liền với thị trường đi lên và những cái sai, gắn liền với thị trường đi xuống. Nói theo cách của nhà đầu tư thì là thường “ra đúng đỉnh nhưng vào sớm so với đáy”.

Và vì thế, các phản hồi của nhà đầu tư cũng xoay quanh như vậy. Nhiều nhà đầu tư viết e-mail cảm ơn tôi về những nhận định đã giúp họ kiếm được tiền, họ gọi điện thoại mời đi uống café, uống bia… Nhưng khi thị trường đi xuống thì những lời mời như vậy cũng ít hơn.

Các nhà đầu tư thường hỏi ông câu gì nhất?

Các bà các cô thường hay hỏi tôi về xu hướng thị trường: hôm nay lên hay xuống? Nhưng các anh các chú thường có những quan tâm cụ thể hơn như: mua gì bán gì, mức giá nào, vào ra ra sao?

Tôi cũng hiểu rằng, họ hỏi như vậy là để có thêm thông tin để tự quyết định, nên khi trả lời tôi luôn cố gắng đưa ra những nhận định ở một mức độ hợp lý và khách quan, không mang tính thuyết phục. Có những lúc tôi nhận được e-mail của nhà đầu tư có sự hiểu biết rất sâu về lĩnh vực bất động sản, mấy tuần liền, chị ấy phân tích và chia sẻ với tôi về vấn đề này và tôi đã học được rất nhiều từ chị ấy.

Ông nghĩ cái khó nhất của tư vấn chứng khoán là gì?

Theo tôi, đó là phải kết hợp được tính chính xác của dự báo và sự hiểu biết chuyên môn. Thường thị trường sẽ quan tâm tới việc đúng sai đầu tiên.

Nếu ngẫm lại thì ông đã đáp ứng được những yêu cầu của nghề tư vấn chưa?

Trong tất cả nghiên cứu và nhận định của mình, tôi đều dựa trên sự nghiên cứu sâu và nghiêm túc chứ không võ đoán, nên về khía cạnh chuyên môn, tôi nghĩ là tôi đang cố gắng để làm tốt. Tuy nhiên, do thời gian tập trung chưa nhiều, nên cá nhân tôi thấy chưa đạt được như kỳ vọng.

Về tính chính xác, bản thân tôi cũng không cảm thấy hài lòng nhiều, mức độ chính xác như mình mong muốn thì chưa đạt được, đó là lý do mà tôi luôn trăn trở với mô hình của mình và sẽ phải hoàn thiện nhiều hơn.

Chứng khoán là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Nghề tư vấn chứng khoán càng mới hơn. Ông đánh giá thế nào về đội ngũ tư vấn chứng khoán hiện nay?

Tiếp xúc nhiều với các bạn tư vấn chứng khoán, tôi thấy các bạn khá nhanh nhẹn, cảm nhận thị trường khá tốt. Tôi đánh giá cao về xác suất dự báo thị trường đúng của đội ngũ này. Nhưng ở khía cạnh chuyên môn, tôi nghĩ rằng cần có một sự cải thiện bởi những phân tích của các bạn đó dựa khá nhiều vào những tin tức nội gián, những phân tích kỹ thuật và thêm chút tự tin thái quá.

Đây cũng là đặc trưng của nhóm tư vấn trẻ về dự báo tính chính xác thị trường. Dưới góc độ của người làm chuyên môn, theo tôi những điều đó chưa đủ. Các nhà đầu tư kinh nghiệm và tổ chức thường cần nhiều hơn những lập luận cơ bản hợp lý, xuất phát từ thực trạng nền kinh tế, doanh nghiệp, khả năng xử lý về dòng tiền, giá trị, có khả năng đưa ra các kịch bản cho các xu hướng phát triển, mặc dù đúng là cuối cùng thì những điều này cũng chỉ phục vụ cho việc xác định xu thế thị trường.

Nhưng theo tôi, các nhà đầu tư tổ chức, đôi khi không quan tâm nhiều về sự lên xuống của thị trường mà là các nguyên nhân dẫn đến sự lên xuống đó.

Một người bạn của tôi làm cho một hãng truyền thông tài chính lớn nhất thế giới trong một buổi uống bia với tôi đã nói thế này: “Hào ạ, tôi thấy người Việt Nam quả thật là rất liều vì dám nhận định thị trường tăng giảm bao nhiêu điểm. Như bọn tôi cũng không bao giờ làm điều đó mà chỉ bình luận giúp nhà đầu tư nhìn thị trường sâu hơn”.

Theo ông thì tại sao nhà đầu tư lại bị ảnh hưởng nhiều bởi các khuyến nghị của các tổ chức tài chính nước ngoài, trong khi các công ty chứng khoán trong nước có nhiều lợi thế hơn?

Bởi họ thường tin rằng các tổ chức nước ngoài có kiến thức và kinh nghiệm tốt hơn. Nhưng theo tôi, các nhà đầu tư nên tập cho mình một thói quen nghi ngờ tất cả và tin vào chính mình. Tôi có thể khẳng định rằng, hầu hết những nhận định công khai thường không phản ánh chính xác quan điểm thật của những người đưa ra nhận định. Tuy nhiên, ngay cả những nhận định thật của họ cũng không hẳn là chính xác.

Do vậy, điều tôi có thể chia sẻ với bạn là bạn hãy xem kỹ các lập luận để xem lập luận nào là có lý, lập luận nào là không. Còn việc kết luận thị trường lên hay xuống trong từng thời điểm cụ thể tôi nghĩ cũng không khác việc tung đồng xu là mấy.

Cảm nhận của ông về thị trường chứng khoán 2009 và 2010 thế nào?

Điểm nổi bật nhất của năm 2009 là sự hồi phục mạnh mẽ của thị trường chứng khoán trong khi kinh tế khó khăn. Điều đó chứng minh rằng, thị trường chứng khoán trong ngắn hạn không phải dựa trên yếu tố cơ bản của nền kinh tế mà dựa trên niềm tin của nhà đầu tư và trong tay họ có dòng tiền. Đầu họ nghĩ và tay họ có tiền.

Năm 2010, kinh tế tốt hơn 2009 nhưng thị trường chứng khoán sẽ không tốt bằng vì năm 2010 dòng tiền sẽ bị kiểm soát, nó không tốt ở tỷ lệ tăng trưởng.

Đặc trưng chung của thị trường so với trước đây là chúng ta trải qua khủng hoảng. Theo quan điểm của tôi, khủng hoảng bao giờ cũng là cơ hội, song cơ hội kiếm tiền tốt nhất có lẽ đã xảy ra trong năm 2009, và năm 2010 quay về quỹ đạo tăng trưởng bình thường và quỹ đạo tăng trưởng bình thường đó chắc chắn sẽ không còn được hỗ trợ bởi tín dụng lỏng lẻo như giai đoạn 2004 – 2007.

Cũng chính vì điều này mà tôi kỳ vọng thị trường tăng trưởng bền vững, chứ không phải là tăng nhanh giảm nhanh và tăng cao giảm sâu như hiện nay.

Trong các bản tin hàng ngày trong tháng 11, ông nhắc nhiều đến công thức tạo tiền. Và bây giờ, công thức tạo tiền đó ra sao?

Công thức tạo tiền thay đổi theo thời gian với những biến số thay đổi, gồm: tỷ lệ cho vay, các vấn đề liên quan đến cho vay chứng khoán cầm cố, vấn đề T+ và các vấn đề vĩ mô liên quan đến cung tiền, tăng trưởng tín dụng…

Tất cả những điều đó, khi đưa vào cân nhắc, nó tạo ra cái gọi là công thức tạo tiền. Mặt trái của công thức tạo tiền, tôi gọi là công thức tạo tiền ngược, tức là khi các biến đó được thổi lên quá mức, các nút gỡ theo chiều ngược lại sẽ làm nó xẹp đi. Nói một cách ngắn gọn, công thức tạo tiền sẽ làm cho thị trường lên và công thức tạo tiền ngược sẽ làm thị trường xuống.

Khi công thức tạo tiền đã đưa quá nhiều tiền vào thị trường chứng khoán và trong khi tiền thực không có nhiều, điều đó có nghĩa là tiền đầu tư trên thị trường là quá nhiều so với lượng tiền tiết kiệm của nhà đầu tư, và tạo ra sự tăng trưởng của thị trường.

Khi công thức tạo tiền “ngược” xuất hiện, nói cách khác dòng tiền đầu tư trên thị trường chứng khoán sẽ được co hẹp lại thành dòng tiền tiết kiệm và ngược lại, làm thị trường sụt giảm và sau sự sụt giảm đó sẽ xuất hiện chu kỳ mới cho công thức tạo tiền.

Theo quan sát của tôi, hiện nay, thời điểm giữa tháng 12 dòng tiền đã trở về với dòng tiền tiết kiệm. Những công thức đưa ra cho thấy rằng, từ giữa tháng 10/2009, các công thức tạo tiền cho thấy dòng tiền đã giảm và đang giảm mạnh xuống mức gần với mức tương ứng với thời điểm giữa tháng 7/2009.

Riêng tôi, đã rất kỳ vọng rằng đến giữa tháng 12 dòng tiền sẽ giảm mạnh nhất, để bắt đầu một chu kỳ mới của công thức tạo tiền, lúc đó sẽ là tiền thực tế, các vấn đề giải chấp, bán tháo, sợ hãi sẽ hết. Khi dùng tiền thật, thị trường có thể chưa lên ngay, nhưng rục rịch đi lên. Nhiều người sẽ mua vào dần chứng khoán tốt bằng tiền tiết kiệm. Sau khi cảm thấy ổn thì họ sẽ vay dần, vay dần và lúc đó công thức tạo tiền bung dần ra và tạo sóng mới.

Sóng mới xong lại sụp đổ, đi xuống và lại quay về dòng tiền tiết kiệm, và cứ thế, một chu kỳ mới lại bắt đầu.

Theo Vneconomy

TTCK đang hấp dẫn?

Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: // <![CDATA[// http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/08/799780/

– Cả hai sàn chứng khoán đã đảo chiều trong phiên giao dịch sáng 20/8 sau một chuỗi ngày tăng điểm dài nhờ khá nhiều tin tốt. Đây là sự điều chỉnh nhất thời hay là sự mở đầu cho một đợt suy giảm mới?

VietNamNet đã có cuộc trao đổi nhanh với Tiến sỹ Quách Mạnh Hào, Giám đốc Khối Phân tích Đầu tư của CTCP Chứng khoán Thăng Long về vấn đề đáng quan tâm này.

TTCK đang hấp dẫn?
TTCK đang ở thời kỳ tích luỹ và tăng trưởng trở lại. (Ảnh: LAD)


PV: Sau khi đón nhận khá nhiều tin tốt như giảm giá xăng, nới biên độ, dầu thô thế giới đứng ở mức thấp dưới 115 USD/thùng và nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô khác ổn định… thị trường chứng khoán đã tăng điểm liên tục trong 10 phiên trên HOSE và 8 phiên trên HASTC. Tuy nhiên, thị trường đã đảo chiều giảm trên cả hai sàn trong phiên sáng 20/8. Theo ông, đây là sự điều chỉnh nhất thời hay là sự mở đầu cho một đợt suy giảm mới?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi cho rằng thị trường phản ứng tích cực thời gian vừa qua không đơn giản chỉ là do những thông tin tích cực trong hai tuần vừa rồi. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, TTCK thường đi trước các yếu tố cơ bản của nền kinh tế một khoảng thời gian nhất định. Nói nôm na, đó là sự kỳ vọng.

TIN LIÊN QUAN
  • VN-Index chấm dứt chuỗi ngày tăng điểm
  • Giá dầu sẽ xuống dưới 100 USD/thùng?
  • NHNN khẳng định không nâng “room” ngoại tại ngân hàng TMCP
  • Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng vọt
  • TTCK tuần mới: Tin tốt ảnh hưởng bao lâu?
  • VN-Index sẽ vượt ngưỡng 550 điểm?

Với kết quả nghiên cứu đó, sự sụt giảm mạnh trong thời kỳ trước đó (tháng Tư, Năm) phản ánh các yếu tố tiêu cực như tăng lãi suất, cắt giảm chi tiêu, tăng giá xăng dầu (đỉnh điểm vào tháng Năm, Sáu). Sự hồi phục của thị trường từ nửa cuối tháng Sáu trở lại đây theo tôi là do những thông tin tốt của hai tuần gần đây và trong thời gian tới. Một cách nhìn đơn giản, những thông tin tốt của ngày hôm nay có thể tạo ra một sự thay đổi trong tâm lý nhà đầu tư, nhưng thực tế thì nó không có nhiều vai trò đối với diễn biến thị trường thời gian tới, mà là đã qua.

Sự điều chỉnh của thị trường là điều tất yếu sau một chu kỳ tăng trưởng do sự lạc quan được đẩy lên cao. Điều này đơn thuần phản ánh kết quả của các yếu tố kỹ thuật của thị trường.

Nhưng tôi tin rằng các nhà đầu tư đang có những kỳ vọng tốt về lạm phát – một yếu tố tôi cho là duy nhất ảnh hưởng tới hầu hết các chỉ số và chính sách vĩ mô khác – và bởi vậy tôi cho rằng các nhà đầu tư sẽ có những kỳ vọng tích cực. Điều này sẽ giúp thị trường bước vào giai đoạn tích lũy tốt và hồi phục. Trong một nghiên cứu của chúng tôi phát hành cuối tháng Sáu, chúng tôi cũng đã nhấn mạnh rằng, thị trường có thể tăng và giảm phản ánh tâm lý nhất thời, nhưng nhìn chung thị trường sẽ bước và thời kỳ tích lũy và hồi phục.

PV: Có ý kiến cho rằng, hiện tại các nhà đầu tư đang trông chờ số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8. Đây là nguyên nhân khiến cho một lượng lớn cổ phiếu được tung ra bán với suy đoán CPI trong tháng 8 sẽ cao. Trong khi đó, cũng có một lượng cầu rất lớn do các nhà đầu tư tin tưởng vào trung và dài hạn của thị trường khi mà CPI được dự báo sẽ giảm mạnh cùng với những biện pháp bình ổn của Chính phủ. Ông có nhìn nhận thế nào về hiện trạng này?

TS. Quách Mạnh Hào: Cũng tương tự như câu trả lời trên, thông tin về CPI sẽ là một nhân tố quan trọng bởi nó sẽ ảnh hưởng tới hầu hết các chỉ số vĩ mô khác và sự kỳ vọng của nhà đầu tư. Tôi tin rằng Chính phủ đang làm tốt công việc của mình trong công cuộc chống lạm phát và chỉ số CPI chung đang trong xu thế giảm. Điều này sẽ là một nhân tố tích cực với thị trường chứng khoán.

PV: Hiện cũng có ý kiến cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang có một số dấu hiệu đình trệ như là một số nguyên vật liệu xây dựng… tiêu thụ rất chậm; việc cắt giảm chi tiêu của cả người dân, nhà nước và doanh nghiệp. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới thị trưởng chứng khoán, thưa ông?

TS. Quách Mạnh Hào: Một cách khách quan, tôi cho rằng chúng ta đang trải qua giai đoạn đình trệ. Đây chính là sự đánh đổi trong cuộc chiến chống lại lạm phát. Giai đoạn này có thể sẽ kéo dài tới giữa năm 2009. Nhưng điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh là: chúng ta đang sẵn sàng để vượt qua giai đoạn khó khăn này và tôi hoàn toàn tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp.

PV: Trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng, vàng ở mức thấp nhưng vẫn cao hơn thế giới khoảng 1-1,2 triệu đồng/lượng và ít có dấu hiệu hồi phục; lãi suất tiền gửi ngân hàng không hấp dẫn (do lạm phát cao), theo ông đầu tư vào thị trường chứng khoán có là một kênh hấp dẫn?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi nghĩ các nhà đầu tư cũng đã có sự cân nhắc nhiều giữa các kênh đầu tư. Đầu tư vào cổ phiếu luôn là một kênh rủi ro so với các kênh đầu tư mang lại dòng tiền cố định khác. Tôi cho rằng thị trường trong giai đoạn hiện tại là hấp dẫn.

PV: Ông dự báo thế nào về tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam nửa cuối năm 2008 khi mà lãi suất ngân hàng vẫn được duy trì ở mức cao?

TS. Quách Mạnh Hào: Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng lãi suất kỳ vọng là biến số quan trọng ảnh hưởng tới chỉ số thị trường. Như tôi đã đề cập ở trên, lãi suất cao ở hiện tại đã giải thích cho sự sụt giảm ở thời kỳ trước. Hiện tại, người ta đang kỳ vọng vào những sự cắt giảm lãi suất trong tương lai và điều này gần như là hiện thực khi mà lạm phát đang có chuyển biến tích cực. Bởi vậy, tôi có lý do để tin rằng thị trường chứng khoán đang ở thời kỳ tích lũy và tăng trưởng trở lại.

PV: Ngành ngân hàng trong thời gian qua rơi vào tình trạng không thuận lợi và các ngân hàng sẽ phải tiếp tục giải quyết những khó khăn trong những tháng còn lại trong năm 2008. Nhưng việc đầu tư vào cổ phiếu  ngân hàng vẫn được nhiều người quan tâm và thực hiện, theo ông đó có phải là sự lựa chọn phù hợp?

TS. Quách Mạnh Hào: Tôi nhận thấy các cổ phiếu ngành tài chính thường có sự biến động mạnh hơn so với các ngành nghề khác trước diễn biến thị trường. Bởi vậy, trong giai đoạn thị trường tích lũy và hồi phục, cổ phiếu của ngành này sẽ dẫn dắt thị trường.

Điều cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh là những quan điểm của tôi không phải là để cho ngày mai, hay tuần sau. Thị trường có thể tăng hoặc giảm do những biến động của tâm lý xoay quanh xu thế chung. Và xu thế chung thì tôi đã nêu ở trên. Một điều nhỏ khác tôi cũng muốn nhắn gửi là: Ở những thời điểm như hiện tại, sử dụng phân tích kỹ thuật giản đơn (xu thế lượng – giá) sẽ là một lợi thế. Việc lạm dụng các chỉ số kỹ thuật phuc tạp hay những mô hình kỹ thuật sẽ mang lại sai lầm.

Ngân hàng Nhà nước tăng giá đô la Mỹ thêm 3,3%

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:29 am
Tags: , , , ,

(TBKTSG Online) – Ngân hàng Nhà nước chiều ngày 10-2 đã quyết định tăng mạnh tỷ giá liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ từ 17.941 lên 18.544, tương đương với mức tăng 3,3% và chính thức áp dụng mức tỷ giá này cho ngày 11-2.

>>E ngại kiều hối chảy khỏi kênh ngân hàng

Như vậy, ngày 11-2, các ngân hàng thương mại có thể tăng giá mua và bán đô la Mỹ lên mức cao nhất là 19.100 đồng/đô la Mỹ, tức cao hơn 3% so với tỷ giá liên ngân hàng. Mức giá này cũng gần với giá đô la Mỹ trên thị trường tự do, những ngày gần đây xoay quanh mức 19.150 – 19.250 đồng giá mua vào, bán ra.

Trong cùng ngày, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Hiện nay, lãi suất niêm yết cho tiền gửi bằng đô la Mỹ tại các ngân hàng dao động trong khoảng 2,3% – 4%/năm đối với ngân hàng thương mại nhà nước và 3,3% – 4,5%/năm đối với ngân hàng thương mại cổ phần.

Vị trí đặt quảng cáo

Những động thái trên của Ngân hàng Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu bình ổn giá đô la Mỹ, kéo giá đô la Mỹ trong ngân hàng và thị trường chợ đen gần nhau để giảm tình trạng ngoại tệ chảy khỏi kênh ngân hàng.

Việc quy định lãi suất tối đa bằng đô la Mỹ đối với các tổ chức kinh tế cũng nhằm hạn chế việc các công ty thu được ngoại tệ nhưng không bán lại cho ngân hàng mà để trên tài khoản hy vọng giá sẽ tăng. Việc găm giữ đã khiến các ngân hàng lâm vào cảnh khó khăn về nguồn ngoại tệ để bán cho các doanh nghiệp có nhu cầu, gián tiếp đẩy giá đô la trên thị trường chợ đen lên cao.

Theo số liệu tính đến ngày 30-11-2009 của Ngân hàng Nhà nước, số dư tiền gửi có kỳ hạn của các tập đoàn, tổng công ty lớn vào khoảng 1,2 tỉ đô la Mỹ và số dư tiền gửi không kỳ hạn là khoảng 700 triệu đô la. Tổng lượng ngoại tệ trên tài khoản của các tổ chức, doanh nghiệp gửi ngân hàng vào khoảng 10,3 tỉ đô la Mỹ. Sau khi Chính phú có yêu cầu buộc các tập đoàn kinh tế nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, hệ thống ngân hàng đã mua được 450 triệu đô la Mỹ tính đến đầu tháng 2.

Giá vàng tăng vọt sau quyết định điều chỉnh tỷ giá

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 11:15
Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh

Giá vàng trong nước sáng nay đội thêm 500.000 đồng/chỉ so với sáng qua, chủ yếu do tỷ giá USD/VND tăng mạnh trên cả hai thị trường ngân hàng và tự do sau quyết định điều chỉnh tỷ giá ngày 10/2 của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường thế giới, áp lực giảm giá vẫn đè nặng lên vàng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) bàn chuyện rút lui khỏi các kế hoạch kích thích kinh tế.

Sáng nay, 28 Tết, giá vàng trong nước đứng phổ biến ở mức 26,30-26,40 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,50-26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). So với giá sáng qua, giá vàng trong nước hiện đã tăng thêm khoảng 500.000 đồng/lượng. Như vậy, tới thời điểm này, giá vàng trong nước đã phục hồi trở lại bằng với mức giá ở thời điểm cách đây một tuần, trước khi sụt giảm chóng mặt vào ngày thứ Sáu tuần trước.

Việc giá vàng trong nước tăng mạnh trong sáng nay không bắt nguồn từ sự biến động của giá vàng thế giới, mà chủ yếu là kết quả của việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá.

Ngày 10/2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 3/2010/TT-NHNN, quy định tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 là 18.544 VND/USD, tăng 603 VND/USD (tương đương hơn 3%) so với ngày 10/2. Trước đó, mức tỷ giá bình quân liên ngân hàng 1 USD tương đương 17.941 VND đã được duy trì trong một khoảng thời gian tương đối dài.

Như vậy, với biên độ biến động tỉ giá là +/-3%, ngân hàng có thể mua/bán USD với giá trần là 19.100,32 VND/USD và giá sàn là 17.987,68 VND/USD.

Sáng nay, tại Ngân hàng Vietcombank, tỷ giá USD/VND mua vào dao động ở mức 18.495 – 18.595 đồng “ăn” 1 USD và giá niêm yết bán ra dao động ở mức từ 18.800 – 19.000 đồng đổi 1 USD. Trước đó, tỷ giá USD/VND tại ngân hàng này đã đứng yên ở mức 18.469 VND/USD (mua vào) và 18.479 USD/VND (bán ra) trong suốt thời gian tỷ giá liên ngân hàng đứng ở mức 17.941 VND/USD.

Tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do sáng nay cũng tăng lên mức 19.500 VND/USD từ mức trên 19.200 VND/USD mấy ngày gần đây.

Như một hệ quả tất yếu, giá vàng trong nước đã tăng theo tỷ giá USD/VND.Ngay từ thời điểm mở cửa, giá vàng SBJ tại hệ thống Sacombank đã được điều chỉnh lên mức 26,43 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,45 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại thị trường Hà Nội, giá vàng SJC giao dịch tại Phú Quý lúc gần 10h30 là 26,35 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,60 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại PNJ Hà Nội, giá vàng Phượng Hoàng PNJ-DongA Bank tương ứng lần lượt là 26,28 triệu đồng/lượng và 26,50 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SJC do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) công bố trên website doanh nghiệp là 26,33 triệu đồng/lượng (mua vào) và 26,48 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng thế giới lúc 10h25 sáng nay là gần 1.079 USD/oz, tăng hơn 7 USD/oz so với giá đóng cửa phiên đêm qua tại New York. Mức giá này quy đổi theo tỷ giá USD/VND thị trường tự do, cộng thêm thuế và các chi phí khác, tương ứng với khoảng 25,65 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng trong nước hiện đang đứng cao hơn giá vàng thế giới khoảng 800.000-gần 1 triệu đồng/lượng. Theo một số nhà kinh doanh vàng, giá vàng trong nước đang bị đẩy lên so với giá thế giới do lực cầu vàng vật chất trong nước mạnh ngay ở thời điểm sát Tết.

Bà Nguyễn Thị Cúc, Phó tổng giám đốc PNJ cho biết, 80% khách giao dịch tại hệ thống cửa hàng PNJ trên toàn quốc mấy ngày gần đây là khách mua, 20% là khách bán. “Vàng miếng bán rất chạy sau khi giá vàng trong nước giảm mạnh tuần trước. Mỗi ngày chúng tôi bán 3.000-4.000 lượng”, bà Cúc cho biết.

Trong đợt nhập khẩu vàng đầu năm nay, mới chỉ có SJC được cấp phép và đã nhập về 4 tấn vàng. Một số doanh nghiệp khác cho biết, họ đã xin cấp phép nhưng chưa được Ngân hàng Nhà nước cấp phép.

Giá vàng thế giới đêm qua suy yếu trở lại do đồng USD tăng giá. Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tại New York giảm 6,9 USD/oz (0,6%), còn 1.071,7 USD/oz, sau khi đã có thời điểm giảm xuống mức 1.061,4 USD/oz trong phiên.

Giá vàng tăng do đầu cơ

TTO – Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8 -25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tăng trở lại do hai nguyên nhân: giá vàng thế giới tăng trở lại và để hạn chế tình trạng đầu cơ.

Giới đầu cơ mua vàng

SJC cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng – Ảnh: Tr.Huỳnh

Trong những ngày qua người dân không mua vàng mà chủ yếu là các tiệm vàng tư nhân, công ty vàng mua, sau đó bán lại ngoài thị trường với chênh lệch vài trăm nghìn đồng/lượng. Buổi sáng 10-2, giá bán vàng miếng SJC tại các cửa hàng vàng phổ biến ở 25,8-25,9 triệu đồng/lượng trong khi tại SJC chỉ 24,45 triệu đồng/lượng, các đơn vị kinh doanh này đã cử nhiều người đến xếp hàng tại SJC để đợi mua vàng.

Tuy nhiên sau đó khi SJC tăng giá lên ngang bằng thị trường, lập tức đám đông giải tán. Như vậy có thể thấy người dân có không có nhu cầu mua vàng cất giữ mà chỉ có giới đầu cơ tranh thủ chênh lệch giá giữa SJC và thị trường để mua bán liền tay hưởng chênh lệch.

Đại diện Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) cho biết chỉ trong bốn ngày qua đã bán ra thị trường 4,3 tấn vàng, tương đương hơn 100.000 lượng, trị giá hơn 2.000 tỷ đồng. Đại diện SJC cũng cho biết trong tuần trước các đơn vị kinh doanh rất ít giao dịch, tuy nhiên khi SJC kéo giá xuống thì xảy ra tình trạng rồng rắn xếp hàng.

Thời điểm trước SJC chấp nhận cho các đơn vị kinh doanh chốt giá qua điện thoại sau đó nộp tiền vào tài khoản SJC rồi đến  khi nhận hàng. Tuy nhiên bốn ngày trở lại công ty chỉ chốt giá bán khi nhận tiền nhằm tránh nhu cầu ảo vì nhiều đơn vị chốt giá nhưng không nộp tiền tạo nhu cầu giả tạo cho thị trường nhằm đẩy giá lên.

Công ty SJC cũng khẳng định không có tình trạng thu tiền rồi ghi phiếu hẹn như phản ánh của một số đơn vị mà sau khi người mua nộp tiền xong vào tài khoản thì  SJC sẽ giao hàng ngay. Trong số nhiều người xếp hàng rồng rắn tại SJC sáng 10-2 nhiều trường hợp là chờ người nhà gom tiền chứ không phải SJC chậm giao hàng.

Trong ngày 10-2, SJC đã tung ra thị trường 150 miếng vàng 10 lượng đầu tiên, tương đương 1.500 lượng nhưng hầu hết cung ứng cho ngân hàng, các cửa hàng vàng chỉ mua miếng vàng 1 lượng để tiện bán lại.

Vì sao chỉ có SJC nhập vàng?

Do Ngân hàng Nhà nước mới chỉ cấp quota nhập vàng cho SJC, do vậy nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng cho rằng đã dẫn đến tình trạng thắt nút cổ chai. Các doanh nghiệp đặt vấn đề nếu nhiều đơn vị kinh doanh cùng được nhập vàng thì sẽ mạnh tay vay vàng bán ra thị trường sau đó nhập vàng về hoàn trả lại, như vậy sẽ giải quyết được tình trạng xếp hàng rồng rắn như những ngày qua, nguồn cung vàng thị trường sẽ dồi dào hơn.

Phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng nói rằng nếu quy về một đầu mối thì khó có thể can thiệp thị trường kéo giá vàng trong nước giảm sâu.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online chiều 10-2, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết lý do Ngân hàng Nhà nước cấp quota nhập khẩu cho SJC là do nơi này là đầu mối cung ứng vàng cho thị trường. Hiện có nhiều thương hiệu vàng nhưng thị trường chỉ chuộng vàng SJC do vậy nếu cấp phép cho nhiều đơn vị nhập vàng như cuối năm 2009 cũng khó tránh khỏi nút thắt cổ chai vì các đơn vị này đều phải nhờ SJC gia công dập thành vàng miếng SJC.

Trong chiều 10-2 giá vàng niêm yết tại thị trường vẫn cao hơn SJC khoảng 240.000 đồng/lượng, bán ra 26 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên khoảng cách giữa giá mua – bán lên đến 350.000 đồng/lượng, do vậy các tiệm vàng chỉ treo giá chứ hầu như không có khách hàng giao dịch.

Cuối ngày 10-2, giá vàng thế giới ở 1.080 USD/ounce quy theo tỉ giá ngân hàng là 24,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán trong nước 1,66 triệu đồng/lượng.

Vietnam’s central bank devalued the official VND exchange rate for the 2nd time in the past 3 months
What happened:
The State Bank of Vietnam (SBV) announced a devaluation of the Vietnamese Dong (VND) by
lowering its mid-point exchange rate to 18,544 from 17,941 previously on February 10, to be
effective February 11. This 3.4% adjustment in the value of the VND is the second time in the last
3 months, which is smaller than the previous 5.4% depreciation on November 25, 2009.
The direction of this move is in line with our long maintained view that the VND will depreciate
against the USD, but we did not expect depreciation to take place through another official
exchange rate adjustment so soon after the previous one.
What we think:
In our view, the devaluation is another attempt made by the SBV to narrow the gap between
the quoted exchange rate and the prevailing rate in the black market and relieve the
pressure on balance of payment imbalances. Vietnam’s trade deficit has remained relatively
stable at just above US$1 billion per month in December 2009 and January 2010. Compared to the
FX reserve level we heard of (well above US$15 billion, and some street talk of even above
US$30 billion), the VND devaluation does not seem to be an involuntary move, unless massive
capital outflows have occurred under the capital account recently. Given the gap between the
official exchange rate and the black market rate is only 4% or so before the announcement on
February 10, the government probably considered the devaluation as a preemptive move before
the Tet holidays to help clear the foreign exchange demand in the black market.
However, our concern is that the exchange rate gap could widen again in the near future on
the back of the expectations of a weaker VND trend. Notably, frequent downward adjustments
in the VND exchange rate may deter investors and Vietnamese citizens (who hold a large
proportion of assets in FX and gold) from holding the local currency even for the short term.
Before the central bank demonstrates a strong willingness and capability of defending and
stabilizing the exchange rate, we believe the public will find it more difficult to regain their
confidence in the VND.
In addition, we believe the devaluation will likely put further upside pressure on inflation.
The double-digit sequential mom growth rates in both industrial production and headline CPI
inflation in January suggest the emergence of overheating and inflation risks. Neither the inflation
pass through from imports nor the depreciation expectations going forward will likely help the
SBV rein in inflationary pressures. A gesture from the central bank to increase the VND interest
rate would be helpful in reinstating the credibility of the monetary authority on inflation control
and anchor the expectation of the VND exchange rate.

Đôla chợ đen tăng vọt, trong ngân hàng vượt 19.000 đồng

Rao bán đắt hơn buổi sáng 200-300 đồng, các điểm thu đổi tại Hà Nội hôm nay được dịp làm kiêu, quyết giữ giá không bớt đồng nào dù khách mua nhiều hay ít. Giao dịch tại TP HCM trầm lắng.
Phố Hà Trung – Hà Nội ngày 28 Tết nườm nượp người qua lại. Bảo vệ của các cửa hàng vàng bạc mau lẹ hướng dẫn khách để xe ngăn nắp tránh tắc đường. Bên trong các cửa hàng không thấy ai mua bán vàng, đa phần khách đến đều hỏi giá đôla.

Giá bán đôla tăng ngay sau khi tiệm mở cửa, vọt từ mức 19.300-19.350 hôm qua lên 19.600 đồng. Các cửa hàng lớn bán giá cao hơn, có nơi lên tới 19.700 thậm chí 19.800 đồng đổi một đôla. Trong khi giá mua vào tăng không đáng kể, có nơi giữ nguyên 19.300 đồng, cao hơn cũng chỉ 19.400 đồng một đôla.

Một khách hàng hỏi mua 15.000 đôla, đề nghị bớt vài giá nhưng chủ tiệm kiên quyết không hạ, có chăng chỉ lì xì khách mỗi nghìn đôla 1.000 đồng lấy may. “Đô hôm nay không có chuyện bớt. Cửa hàng đi mua còn chẳng có hàng, sao mà bớt được”, bà chủ tiệm trên phố Hà Trung lạnh lùng nói với khách.

Tuy nhiên, phần đông khách đến cửa hàng để khảo giá, nếu mua chủ yếu với số lượng nhỏ vài trăm đến một, hai nghìn đôla để trả nợ hoặc đổi để đi du lịch.

Tại TP HCM, ghi nhận của VnExpress.net trưa 28 Tết, giá USD tại các tiệm vàng khu vực chợ Bến Thành vượt ngưỡng 19.600 đồng một đôla. Ở trên hai con phố bên hông chợ Bến Thành, giá đôla giao dịch đã khác nhau. Các hiệu vàng bạc đá quý trên đường Phan Châu Trinh, cửa Tây chợ, giá USD mua vào 19.300 đồng bán ra 19.600 đồng. Trong khi đó, các hiệu vàng trên đường Phan Bội Châu – cửa Đông chợ, cả mua và bán đều cao hơn 50 đồng so với cửa Tây, ở mức 19.350 – 19.650 đồng một USD.

Giao dịch khá trầm lắng. Đa số khách hỏi mua USD đều bất ngờ khi hay tin giá bán ra tăng cao. Có nhiều người khách phải dọ giá lẫn nhau để “sang tay” lại, nếu mua số lượng lớn có thể giảm giá bán còn 19.550 đồng một USD. Các chủ tiệm vàng quanh chợ Bến Thành khuyên khách: “USD mới tăng giá trong sáng nay, nếu cần gấp với số lượng ít thì nên mua ngay vì chiều nay có thể giá lại tiếp tục nhích lên”.

Trong khi đó các tiệm vàng ở chợ Thị Nghè, Vườn Chuối sáng nay thu mua USD giữ ở mức giá 19.200 – 19.350 (mua vào – bán ra), tăng 200 đồng so với hôm qua. Một số chủ cửa hàng cho biết không dám mua cao hơn mức 19.350 đồng bởi lo ngại giá USD sẽ tuột dốc trong những ngày tới.

Theo anh Trung, chủ tiệm vàng ở quận Bình Thạnh: “Không ít khách hàng đề nghị được bán ra với giá 19.600-19.700, lý do tỷ giá USD liên ngân hàng tăng mạnh”. Tuy nhiên, do chưa đoán biết xu hướng biến động thị trường trong những ngày tới nên nhiều tiệm vàng ngả giá từng trăm đồng với khách, không dám mua giá cao.

Theo các chủ tiệm vàng, nhu cầu mua bán USD những ngày qua tại TP HCM chỉ dùng cho mục đích tiêu dùng, không có tình trạng người dân kéo nhau đi mua hay bán như các lần điều chỉnh giá đôla trước đây.

Giá USD tăng mạnh khi tỷ giá liên ngân hàng điều chỉnh sáng 11/2. Ảnh: Hoàng Hà

Giá đôla trong ngân hàng sáng nay tăng mạnh hơn so với thị trường tự do. Ngân hàng Ngoại thương hôm qua còn giao dịch với giá 18.469 – 18.479 đồng (mua vào – bán ra) thì đến sáng nay nâng lên lần lượt là 18.495 – 18.880 đồng. Lúc 11h, ngân hàng đã điều chỉnh tỷ giá lên mức mới: 18.595 – 19.000 đồng. Cùng lúc này, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam niêm yết giá mua vào – bán ra lần lượt là 18.650 – 19.050 đồng ăn một đôla.

Diễn biến thị trường ngoại tệ sáng nay chịu chi phối bởi quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm gần 3,4% và khống chế lãi suất tối đa với tiền gửi ngoại tệ của doanh nghiệp ở mức 1%. Quyết định này được đưa ra khá bất ngờ, Chính phủ duyệt phương án vào buổi chiều qua và tới 9h tối Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố.

Trao đổi với VnExpress.net sáng nay, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh vào ngày cận Tết khi thấy tín hiệu thị trường thuận lợi, nguồn cung đôla dồi dào hơn sau vài ngày doanh nghiệp tăng cường bán cho ngân hàng, lượng tiền do bà con kiều bào gửi về nước cũng nhiều hơn. Quyết định điều chỉnh biên độ và tỷ giá liên ngân hàng cuối tháng 11/2009 đã có tác dụng tích cực, song theo ông Giàu, để kiểm soát nhập siêu và kích thích xuất khẩu vẫn thêm “liều thuốc” mạnh.

Theo Tổng Cục thống kê, xuất khẩu tháng 1 tăng hơn 30%, trong khi nhập khẩu tăng gần 80%.

Nguồn: Vnexpress

Thursday, February 11, 2010

First domino

Năm cùng tháng tận mà Asia Times (qua link của GS Trần Hữu Dũng) tặng cho VN cái title Asia’s first domino mới chán chứ. Nhưng đọc bài này xong … thở phào yên tâm đi ăn Tết :-), lý thuyết domino đã không đúng 35 năm trước, lần này chắc cũng vậy.
Vậy điều gì làm Shawn Crispin của AT lo cho VN quá vậy? Bài báo khá dài dòng, rối rắm, nhưng có lẽ điều làm Crispin lo ngại là lạm phát và tỷ giá. Tác giả bài này chắc chưa biết NHNN vừa phá giá thêm 3.3%, chỉ hai ngày sau khi thống đốc Nguyễn Văn Giàu trả lời phỏng vấn VNEconomy ngụ ý NHNN không muốn tiếp tục phá giá. Thông đốc Giàu nói đúng, phá giá sẽ tạo áp lực lên lạm phát. Tuy nhiên có lẽ ông không để ý rằng không phá giá, trong hoàn cảnh đa số người dân và doanh nghiệp cho rằng VNĐ đang overvalued, cũng gây ra inflation expectation. Việc người dân và doanh nghiệp (kể cả các “đầu tàu kinh tế” SOE) hoarding USD là bằng chứng của cái expectation này. Tôi đồng ý với Crispin ở điểm này.
Nhưng lập luận của Crispin cho rằng NHNN thiếu khả năng và ý định (ability and willingness) kiểm soát lạm phát có lẽ đi quá xa. Không một ngân hàng trung ương nào không muốn kiểm soát lạm phát (và thiểu phát), NHNN VN cũng không phải ngoại lệ. Trong một vài thời điểm VN có thể đã quá chú trọng vào tăng trưỡng dẫn đến lạm phát tăng cao, hoặc có thể đã accommodate các chính sách fiscal của chính phủ nên “vô tình” bơm quá nhiều liquidity ra nền kinh tế. Nhưng đó là những trade off mà bất kỳ ngân hàng trung ương nào cũng phải đối mặt, cái chính là khả năng đánh giá/phân tích tình hình và đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời. Quan điểm của tôi là NHNN có chính sách sai lầm chứ không phải không có willingness.
Nói NHNN VN không có khả năng kiểm soát lạm phát cũng hơi quá. NHNN có đầy đủ các công cụ tiền tệ như các ngân hàng trung ương khác, thậm chí còn có khả năng “ra lệnh” cho các NHTM tăng/giảm credit growth một cách trực tiếp, điều mà Fed, ECB, BoE… không thể làm được (đúng hơn là không được phép làm). Bên cạnh NHNN, Bộ Tài chính VN còn có cơ quan quản lý giá, bất kỳ lúc nào cũng có thể đặt giá trần cho các mặt hàng thiết yếu, điều mà các nước phát triển đa phần cũng không làm được. Do đó có thể nói VN hoàn toàn có khả năng kiểm soát được lạm phát, vấn đề là chính phủ có chấp nhận các trade off về phát triển kinh tế để kiềm chế lạm phát hay không thôi.
Vấn đề tỷ giá cũng vậy, NHNN hoàn toàn có ability và willingness điều chỉnh tỷ giá. Tôi nghĩ thống đốc Giàu trả lời phỏng vấn bên trên chỉ có tính tactical thôi (tuy có thể bị credibility damage), chứ NHNN thừa hiểu phá giá là biện pháp duy nhất để phục hồi lại external balance của VN. Phá giá nhanh, quyết liệt để đưa VNĐ về đúng vị trí của nó (vd PPP equilibrium hay BEER) sẽ giúp giải tỏa risk/uncertainty cho các doanh nghiệp, kể cả các FDI investors. Capital account của VN còn đóng nên NHNN không phải lo ngại về capital flight hay currency attack.
Vấn đề original sin chắc chắn có nhưng không quá serious, nên nhớ VNĐ bị overvalued chủ yếu vì lạm phát quá cao. Trước đây vay 1 USD đổi được 15000 VNĐ, bây giờ phải trả 19000 VNĐ nhưng nếu số tiền đi vay được đầu tư hiệu quả thì sản phẩm bán ra đã tăng giá ít nhất với tốc độ tăng lạm phát, đủ để bù cho chênh lệch tỷ giá. Còn nếu đồng tiền đi vay đầu tư không hiệu quả thì đó là vấn đề khác chứ không phải original sin và không phải trách nhiệm của NHNN. Tóm lại, điều chỉnh tỷ giá hoàn toàn manageable và không phải là drama gì lớn cho nền kinh tế. Cái chính là liệu NHNN có bị các tác động non-economic khi ra quyết định điều chỉnh tỷ giá hay không, có lẽ không sau lần điều chỉnh thứ hai này. Philosophy điều hành kinh tế VN vẫn là “dò đá qua sông” hay theo như JPM’s Sriyan Pietersz nói: “learning by doing”.
Bỏ qua khả năng contagion ra các nước châu Á khác vô cùng nhỏ (domino theory), tôi cho rằng Shawn Crispin đã sai lầm khi cho rằng VN sẽ là quân domino đầu tiên sụp đổ. Rủi ro về lạm phát và tỷ giá có thật và khá lớn, nhưng tôi không nghĩ các policy makers của VN không có ability và willingness đối phó với những rủi ro đó. Có điều họ còn phải cân nhắc nhiều khía cạnh, đại hội Đảng năm tới là một trong những yế tố có ảnh hưởng lớn đến các chính sách kinh tế.
Update: Mới tìm được link này từ blog Krugman: Latvia’s GDP giảm 18% QoQ trong Q4 2009 và IMF dự báo sẽ giảm tổng cộng 30% peak-to-trough. Lý do chính theo các tác giả của bài nghiên cứu là nước này đã cố gắng bảo vệ tỷ giá overvalued của mình quá lâu. Undervaluation có thể có ích (như trường hợp TQ) còn overvaluation chưa bao giờ có lợi (eg Latvia hiện tại hay Thailand thời 97-99).

Đánh thuế nhà sẽ thiếu tính khả thi

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:00 am
Tags: , ,

Ngày 8.2 một số đoàn ĐBQH kết thúc việc lấy ý kiến đóng góp vào dự án Luật Thuế nhà, đất. Tại Bắc Ninh, các ý kiến chung thống nhất, không nên đưa nhà ở vào diện đối tượng chịu thuế vì trong điều kiện thu nhập, mức sống của đại đa số người dân còn thấp, tình hình kinh tế chưa ổn định, việc triển khai thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người dân chưa được tốt, vì vậy đánh thuế nhà sẽ thiếu tính khả thi.

Về diện tích tính thuế và giá trị tính thuế đối với nhà ở, thống nhất phương án khởi điểm tính thuế đối với diện tích từ 200m2 trở lên. Cũng nhiều ý kiến cho rằng, chỉ thu thuế từ căn nhà thứ hai trở đi vì đối tượng thuộc diện chịu thuế hẹp, phương pháp tính, thu thuế đơn giản. Mặt khác, bảo đảm cho mỗi người dân được sở hữu một căn nhà không thuộc diện chịu thuế.

Tại Kiên Giang, về vấn đề đối tượng chịu thuế, nhiều ý kiến cho rằng, nếu đưa nhà ở vào đối tượng chịu thuế để góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ nhà, từng bước kiểm soát, điều tiết hợp lý nguồn thu vào NSNN thì căn cứ tính thuế nên dựa trên giá tính thuế, thuế suất đối với diện tích đất ở theo quy mô diện tích đất chứ không nên theo hạn mức sử dụng đất và cần tính đến yếu tố vùng, miền.

Tại Vĩnh Phúc, ý kiến chung đề nghị chưa nên đưa nhà ở vào diện đối tượng chịu thuế vì việc xác định đúng giá trị nhà rất phức tạp, hơn nữa nếu đánh thuế nhà sẽ dẫn đến tình trạng thuế chồng thuế, không công bằng trong việc thu thuế, bởi thực tế nhiều tài sản có giá trị hơn nhà vẫn chưa bị đánh thuế; để chống đầu cơ tích trữ nhà, đất nên điều tiết trong Luật Kinh doanh bất động sản là đủ. Nhiều ý kiến đề nghị cần làm rõ cách tính thuế, trong đó phải phân chia nhà, đất theo vùng, miền để áp dụng mức thuế phù hợp chứ không nên áp dụng chung như trong dự thảo luật.

Đi tìm nguyên nhân thực của căng thẳng tỷ giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:58 am
Tags: ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 09:18
Thông thường, cứ mỗi đợt tỷ giá căng thẳng, lời giải thích của cơ quan quản lý bao giờ cũng là “cân đối cung cầu ngoại tệ vẫn ổn định”, “thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể không đến mức lo ngại”, “lãi suất USD trên thị trường ở mức bình thường” và vì th

Đúng lúc “năm cùng tháng tận”, thị trường ngoại tệ đón nhận một quyết định bất đắc dĩ của Chính phủ, yêu cầu 7 doanh nghiệp lớn của Nhà nước bán lại một phần ngoại tệ cho ngân hàng. Có thể nhờ đó, căng thẳng tỷ giá tạm khép lại nhưng có ý kiến cho rằng, nếu biết triệt tiêu kỳ vọng của thị trường nhằm hướng nguồn lực đó vào sản xuất mới là giải pháp có căn cơ.

Cùng với chính sách lãi suất và gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn thì tỷ giá là vấn đề nóng hổi của thị trường tiền tệ năm 2009. Để thấy rõ sự biến động của chúng, nếu so sánh ở ba góc độ của thị trường là thị trường liên ngân hàng, thị trường tự do, tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong 4 giai đoạn (tháng 1 – tháng 3; tháng 4 – tháng 9; tháng 10 – ngày 24/11 và từ 25/11 đến hết năm 2009), thật khó hình dung sự biến động của chúng lớn đến mức nào.

Và có vẻ như giữa hoạt động điều hành và thị trường, rất khó tìm thấy tiếng nói chung.

Khổ sở vì tỷ giá

Đầu tiên, xét trên thị trường liên ngân hàng. Ở giai đoạn 1, tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 đồng – 17.700 đồng, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 điểm (một điểm tương đương một đồng), lúc đó tính thanh khoản thị trường kém, nguồn cung khan hiếm, ngoại trừ thời điểm thị trường được bổ sung từ doanh thu xuất khẩu vàng.

Giai đoạn 2, tỷ giá liên ngân hàng sát giá trần của Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Nhà nước) trong khoảng 10 ngày sau khi Ngân hàng Nhà nước tăng biên độ tỷ giá (từ +/- 3% lên +/- 5% vào ngày 23/3/2009). Tuy nhiên đến 9/4, tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh và duy trì biên độ 200 – 600 điểm so với giá trần.

Giai đoạn 3, từ cuối tháng 10/2009, tỷ giá tăng mạnh và đến ngày 10/11, cao hơn giá trần 1.000 điểm. Biến động tỷ giá rất dữ dội, có ngày tăng 200 – 300 điểm và đạt đỉnh ở mức 19.750 vào 24/11. Chỉ đến khi Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập vàng trở lại, tỷ giá ở thị trường này giảm trong 2 ngày nhưng vẫn cao hơn 1.200 – 1.500 điểm so với giá trần.

Giai đoạn 4, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng giảm từ mức cao 19.800 đồng xuống 18.500 đồng, sát với giá trần.

Ở thị trường tự do, tỷ giá biến động dữ dội hơn rất nhiều. Giai đoạn 1, chúng dao động trong khoảng 17.450 đồng – 17.800 đồng, cao hơn tỷ giá trên liên ngân hàng trên 100 điểm. Giai đoạn 2, từ 18.180 đồng – 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009, tăng lên mức 18.450 đồng – 18.500 đồng.

Sang giai đoạn 2, tỷ giá thị trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000 đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi tăng trở lại và duy trì ở mức 19.000 đồng – 19.300 đồng. Đến giai đoạn 4, tỷ giá thị trường này giảm mạnh.

Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho tỷ giá thị trường biến động rất ít. ở giai đoạn 1, chúng biến động nhỏ và xoay quanh mức 16.980 đồng. Giai đoạn 2, sau khi nới biên độ, tỷ giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935 đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết tháng 5/2009. Từ tháng 6/2009, mặc dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng dần nhưng mức tăng thấp.

Giai đoạn 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn không nhiều và tính đến 19/11/2009, mức tăng của chúng so với cuối 2008 chỉ 0,3%. Ở giai đoạn 4, kể từ 26/11, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44% và so với cuối năm 2008, mức tăng của chúng chỉ 5,81%.

Cùng với USD, những ngoại tệ khác cũng tăng giá mạnh mẽ mà tỷ giá tính chéo giữa VND với một số ngoại tệ khác được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu là một ví dụ. Và những nhà đầu cơ ngoại tệ khác ngoài USD đã vớ bẫm, mặc dù đó mới chỉ là số lời lãi tính trên tỷ giá tính chéo của Ngân hàng Nhà nước, còn thực tế thì còn lớn hơn nhiều.

Giải mã ẩn số “bình ngưng”!

Thông thường, cứ mỗi đợt tỷ giá căng thẳng, lời giải thích của cơ quan quản lý bao giờ cũng là “cân đối cung cầu ngoại tệ vẫn ổn định”, “thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể không đến mức lo ngại”, “lãi suất USD trên thị trường ở mức bình thường” và vì thế, “tỷ giá vẫn trong vòng kiểm soát”…

Thế nhưng, những gì đang diễn ra trên thị trường lại không tuân theo những trấn an kia, bởi sự căng thẳng tỷ giá trong thời gian qua có phải do những nguyên nhân dài hạn như trên?

Trở lại với thực tế trong năm 2009, mặc dù ngân hàng quá dồi dào nguồn ngoại tệ cho vay tới hàng tỷ USD, khiến lãi suất giảm thấp (dĩ nhiên, lãi suất USD giảm ở Việt Nam còn có một nguyên nhân khác là đồng USD xuống giá so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác) nhưng nguồn để kinh doanh (bán ra) thì thiếu.

Khi thiếu, một mặt ngân hàng không có nguồn bán cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp tăng cường “vét” trên thị trường tự do, đẩy tỷ giá ở thị trường này tăng chóng mặt; mặt khác, họ hối thúc Ngân hàng Nhà nước phải bán ra.

Hiển nhiên như vậy nhưng ít ai tìm thấy mối liên hệ giữa câu chuyện nguồn huy động ngoại tệ thì thừa nhưng nguồn ngoại tệ kinh doanh lại thiếu. Cũng vì thế, hành động ra sao để tạo ra bình thông nhau giữa hai nguồn ngoại tệ này trong hệ thống ngân hàng không được quan tâm, mà thay vào đó là Ngân hàng Nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng thương mại.

Thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã hành động theo hướng này và mỗi lần thực hiện “bơm” ra, thị trường bình ổn trở lại nhưng khi hết đợt, tỷ giá lại tăng. Có những thời điểm, Ngân hàng Nhà nước bán ra bao nhiêu, hết bấy nhiêu, hệt như đổ vào “hố đen” không đáy.

Để rõ hơn vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia phân tích: “Nhiều người nghĩ tỷ giá là do tác động của thâm hụt thương mại, thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế nhưng đó chỉ là những tác động mang tính dài hạn. Còn trong ngắn hạn đối với Việt Nam hiện nay, câu chuyện tỷ giá liên quan nhiều đến lãi suất”.

Theo ông, ở một quốc gia bị “Đô la hóa” từ lâu như Việt Nam, khi Chính phủ có chủ trương hỗ trợ lãi suất đã làm cho lãi suất cho vay của đồng Việt Nam giảm xuống. Tuy nhiên, vì Chính phủ không song song hỗ trợ lãi suất đồng USD nên đã làm cho khoảng cách của chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND bị thu hẹp lại. Khi khoảng cách này càng gần thì nghiễm nhiên, VND trở nên mất giá và đồng USD bị tăng giá cục bộ ở Việt Nam một cách giả tạo.

Từ đó, một lượng lớn ngoại tệ bị rút khỏi lưu thông, nằm dưới dạng “tài sản để dành”, “găm giữ” của doanh nghiệp và dân chúng trên tài khoản hoặc ở két sắt, chờ tỷ giá tăng để săn tìm lợi nhuận. Và đó cũng chính là tình trạng góp phần tạo nên “bình ngưng” ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng mà Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong một văn bản kiến nghị Ngân hàng Nhà nước tháo gỡ một số vướng mắc trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đã đề cập.

Dĩ nhiên, tác động phụ này sẽ không xảy ra nếu Chính phủ đồng thời làm hai việc vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng nội tệ, vừa tài trợ lãi suất cho tín dụng ngoại tệ, nhằm phản ánh đúng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với tỷ lệ lạm phát của Mỹ cũng như uy tín của VND so với USD.

Nhìn ở góc độ khác, tình trạng trên cũng lý giải một phần câu chuyện khi cân đối cán cân thanh toán tổng thể, cơ quan chuyên môn đưa ra con số thâm hụt 3 tỷ USD nhưng số “sai sót” lên tới 5,6 tỷ USD.

Số “sai sót” trên có nghĩa như thế nào? Ông Nghĩa phân tích: ở các nước xuất khẩu tư bản thì đó là đầu tư tư bản ngầm ra nước ngoài. Còn ở Việt Nam, vốn là quốc gia “Đô la hóa” nên lượng USD nói trên không ra khỏi biên giới mà chỉ ra khỏi lưu thông và nằm lại dưới dạng “của để dành”, không có tính thanh khoản như mong đợi của thị trường và cũng không thể hiện ở đâu cả.

“Không thể hiện ở đâu cả” thì làm sao biết được “sai sót” những 5,6 tỷ USD? Ông Nghĩa giải thích: “Người ta biết được từ ước lượng kết quả thâm hụt ngoại tệ giảm đi ngần này, thu ngoại tệ ngần này, chứng tỏ có một khối lượng đang nằm đâu đó. Phương pháp này được xác định bằng cách lần mò từ con số cuối cùng đi lên”.

Điều này đồng nghĩa, số “sai sót” trên cũng không phải xuất phát từ nguyên nhân “nhập lậu” vì thực tế, nhập lậu xuất hiện đã hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ có con số thông kê, vậy thì khi xuất hiện con số “sai sót” nói trên, không thể đổ lỗi cho nhập lậu.

Có nên trách cứ kỳ vọng thị trường?

Như vậy, đến bao giờ thì triệt tiêu được kỳ vọng của thị trường? Có lẽ, trước khi trả lời câu hỏi này thì phải hiểu rằng, kỳ vọng thị trường là chuyện đương nhiên, và không nên/không thể trách cứ kẻ có tiền kỳ vọng.

Một chuyên gia cho rằng, chừng nào kỳ vọng còn tăng thì còn găm giữ và ngược lại, họ sẽ bán tống, bán tháo. Vấn đề quan trọng nhất của nhà hoạch định chính sách là đừng tạo ra kỳ vọng đó; hoặc nếu tạo ra thì phải hai chiều: ngày hôm nay bán tốt nhưng ngày mai có thể mua tốt, khiến cho không ai dám để dành bởi sự khó lường của giá cả.

Và đó là nghệ thuật của bàn tay điều hành chính sách.

Bởi vậy, bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, muốn đồng USD quay trở lại thị trường một cách bình thường thì đầu tiên, tỷ giá hối đoái phải hợp lý, khiến cho người sở hữu ngoại tệ thấy rằng, với giá này, mình có thể bán.

Mặt khác, khi lãi suất VND tăng lên, người sở hữu USD sẽ bán USD để lấy VND. Hai yếu tố này sẽ làm cho kỳ vọng thị trường giảm xuống, nhu cầu tích trữ USD như một thứ “của để dành” như vàng hay kim cương sẽ được triệt tiêu dần.

Thứ ba, còn một yếu tố nữa, khi các cơ hội đầu tư, sản xuất, tiêu dùng phục hồi thì người sở hữu đồng USD sẽ mang chúng để đầu tư với kỳ vọng lợi nhuận cao hơn tích trữ.

Một câu hỏi khác được đặt ra là cơ hội sinh lời từ đầu cơ ngoại tệ trong năm nay sẽ như thế nào?

Ông Nghĩa cho rằng, những khoản sinh lời từ đầu tư ngoại tệ có được trước đó chẳng qua là do may mắn. Bởi vì khi Chính phủ kích cầu, Ngân hàng Nhà nước không thể sử dụng các công cụ thị trường nên phải thay vào đó là các công cụ hành chính như khống chế tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu đầu tư sản xuất thực sự trở lại, Ngân hàng Nhà nước sẽ quay về với các công cụ thị trường, chính sách lãi suất, tỷ giá thực hiện theo đúng cung – cầu thị trường. Từ đó, yếu tố kỳ vọng của thị trường sẽ bị triệt tiêu dần và hành vi đầu cơ sẽ khó có cơ hội.

Đến đây, sẽ có người hỏi rằng: nếu “kỳ vọng thị trường” là “tội đồ” gây nên căng thẳng tỷ giá thì liệu có cần thiết buộc các doanh nghiệp Nhà nước bán lại một phần ngoại tệ cho ngân hàng một cách “oan uổng” như vừa qua?

Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nêu quan điểm: “Nguồn ngoại tệ mà các doanh nghiệp đang sở hữu được tạo nên từ những tài nguyên của đất nước. Trong khi thị trường bất ổn, hành động chia sẻ khó khăn với Chính phủ là việc nên làm và phải làm”. Và như vậy, giá như sự chung tay của họ xuất phát từ sự tự nguyện sẽ tốt và đáng trân trọng hơn nhiều lần từ một quyết định “cực chẳng đã”.

Mặt khác, từ việc phân tích biến động tỷ giá qua 4 giai đoạn trong năm 2009, cho thấy, mức tăng tỷ giá hai thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do đã không bám sát với mức tăng của tỷ giá bình quân do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Liệu, đó có phải là bàn tay quản lý đang dần thoát ly khỏi thị trường?

(Theo VnEconomy)

Blog at WordPress.com.