Ktetaichinh’s Blog

February 10, 2010

Khách công sở chiếm lĩnh quán nhậu dịp cuối năm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:01 pm
Tags: ,
Cập nhật lúc 06:10, Thứ Tư, 10/02/2010 (GMT+7)
,

– Cuối năm, nhiều quý anh than thở, 10 cuộc gọi đến thì có 5-6 cuộc rủ đi nhậu tất niên. “Mối nhậu” đủ cả từ bạn bè, anh em đến cơ quan, đối tác… Kết quả là những ngày này quán nhậu lúc nào cũng ken đặc người.

Những “tụ  điểm” nổi tiếng phải đặt chỗ trước vài ngày, đặc biệt là các quán có phòng riêng hoặc có không gian rộng rãi, có thể “âm thanh, ánh sáng” phụ trợ.

Đi nhậu phải thuê… phòng

Mô tả ảnh.
Các phòng nhậu riêng hầu như đã hết. (Ảnh: Thi Mai)

Suốt tuần nay, anh Hùng, nhân viên hành chính của một công ty xuất nhập khẩu mệt bở hơi tai vì đi tìm nhà hàng tổng kết cơ quan. “Các sếp báo muộn quá, tôi tìm hai ngày nay nhưng quán nào cũng báo hết chỗ”, anh Hùng than vãn.

Xu hướng chọn quán nhậu, nhà hàng làm chỗ tổ chức tiệc tất niên đang trở nên phổ biến với nhiều cơ quan. Trước Tết cả tháng, phòng hành chính các công sở đã í ới tham khảo, tìm nhà hàng, đặt chỗ trước. Chị Thức, Công ty Thuận Phát, vốn có “thâm niên” đặt chỗ nhậu nhiều năm chia sẻ “tốt nhất nên tìm chỗ trước một tháng, nhất là các công ty đông người”.

Hết chỗ sớm nhất là các địa điểm rộng rãi, có sức chứa lớn và nhất là có hệ thống âm thanh, ánh sáng tốt, phục vụ nhu cầu tổ chức vui chơi, bốc thăm trúng thưởng… của các cơ quan. Lịch đặt chỗ của các nhà hàng lớn như Vạn Tuế, Phù Đổng, Làng Ngói, Nhà hàng Sen… đều kín đặc, phần đa là khách công sở.

Điển hình là nhà hàng Vạn Tuế (136 Hồ Tùng Mậu). Tuy có thể chứa được 2.000 người nhưng đến thời điểm này, Vạn Tuế hầu như không còn nhiều chỗ. Chị Mùi quản lý nhà hàng cho biết, từ ngày 20 tháng chạp trở ra lịch đặt phòng riêng đã gần như kín chỗ.

Anh Tĩnh, quản lý nhà hàng Phù Đổng cũng cho rằng, nếu sau 15 tháng chạp mới nghĩ đến chuyện tìm quán thì chắc chắn không còn chỗ đẹp hoặc các phòng riêng biệt. Hệ  thống nhà hàng Phù Đổng hiện đã kín chỗ gần hết, chỉ còn không gian ngồi chung.

Theo các chủ nhà hàng từ 25–29 Tết là “cao điểm ăn nhậu”. Thời gian này, nhiều nhà hàng thậm chí phải áp dụng chính sách tính thêm tiền… thuê phòng. Chị Hoa, nhân viên nhà hàng Tre Việt tại Hoàng Cầu cho biết, nếu khách ngồi phòng riêng quá 2 tiếng rưỡi đã bị tính thêm chi phí do chiếm mất chỗ của lượt khách khác.

“Máy chém”

Mô tả ảnh.
Đồ uống là thứ dễ bị “chém” nhất. (Ảnh: Thi Mai)

Nói dịp  này là mùa vàng của các nhà hàng, quán nhậu cũng không sai. Ngoài việc đông khách, các “máy chém” được dịp phát huy công suất tối đa.

Chị  Huyền, nhân viên văn phòng của Công ty Hanoi Telecom đang đặt chỗ ở nhà hàng Seoul ở 33 Trần Hưng Đạo nhận xét, những ngày này, kiếm được nơi có món ăn ngon, phù hợp với túi tiền rất khó. Rút kinh nghiệm từ năm trước, ngoài việc đặt chỗ trước gần 1 tháng, năm nay chị phải đi khảo giá nhiều nơi để đảm bảo giá tiền phù hợp.

Theo tham khảo của VietNamNet tại các nhà hàng thông dụng Vạn Tuế, Phù Đổng, Làng Ngói, Nhà hàng Sen, Quán Ngon… như giá suất  ăn từ 120.000-350.000 đ/1 người. Nếu tính theo mâm, giá từ 700 đến 1,5 triệu đồng/1 mâm 6 người.

Giá những suất ăn này đều chưa bao gồm đồ uống. Hiện giá đồ uống được tính trong các nhà hàng cũng “tùy hứng” theo địa điểm nhưng có điểm chung là lên vài chục % so với giá bình thường.

Chẳng hạn, nước ngọt bên ngoài giá chỉ từ 7-10.000 đ/lon vào nhà hàng thường bị đội lên thành 15-30.000 đ/lon. Bia Hà Nội từ 12.000đ lên 20.000 đ/chai, Heniken từ 26.000đ lên 29.000-30.000 đ/chai, rượu voka Hà Nội loại nhỏ 50.000đ lên 80.000 đ/chai…

Trước sự đắt đỏ của đồ uống, cũng không ít người đề cập đến việc mang đồ uống từ bên ngoài vào. Tuy nhiên, theo thông lệ chung của các nhà hàng, tất cả đồ uống mang vào đều bị tính phí tuỳ theo từng loại.

Theo nhà hàng Vạn Tuế, phí tính theo độ nặng của rượu, với những loại rượu có nồng độ cao, phí được tính là 15% theo giá bán, cá biệt có nơi tính đến 30%. Phí của các loại bia mang vào nhà hàng khoảng 7.000 đ/chai, các loại rượu vang, rượu có nồng độ thấp giá thì dao động từ 70 đến 100.000 đ/chai.

Theo anh Ngọc ở Hoè Nhai, người đã từng làm quản lý nhà hàng Phố Biển cho biết: Phí đồ uống trong các nhà hàng chính là phí dịch vụ (mở rượu, rót rượu, mượn ly…). Có những nhà hàng, phí mang đồ uống vào tính đến 30%, thông lệ này nhằm kéo khách hàng dùng đồ uống trong nhà hàng.

Anh Thi, nhân viên của Công ty Hoàn Mỹ cho biết: Công ty anh dùng rất nhiều đồ uống trong ngày tất niên, đồ trong nhà hàng thì đội giá nhiều mà đồ mang vào thì bị tính phí. “Mình muốn tiết kiệm chi phí cho cơ quan, nhưng bị tính phí thế này thì chắc phải dùng đồ trong nhà hàng vậy”.

Chị  Thức nhân viên hành chính Công ty Hoà Phát nói: Theo kinh nghiệm của chị, đồ uống nội địa thì dùng trong nhà hàng, riêng rượu ngoại nên mua bên ngoài rồi chịu phí, vì tính cả mọi chi phí thì mang ruợu ngoại vào uống vẫn rẻ hơn trong nhà hàng.

Cuối năm là mùa để các nhà hàng làm ăn, cùng với những bữa tất niên nhỏ lẻ của bạn bè, gia đình, các công ty, cơ quan cũng đang ồ ạt đặt chỗ để cả công ty quây quần gặp mặt.

Tuy nhiên, để không bị bắt chẹt về giá cả cũng như đồ uống bị tính phí khi mang vào, theo anh Ngọc: Khách hàng nên tìm những nhà hàng mới mở, vì mới mở nên giá đồ ăn rẻ, hơn nữa, nhà hàng cũng chưa dám tính phí đồ uống

Advertisements

Đối ngoại Việt Nam với mối lo lệ thuộc trong thập kỉ mới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:56 pm
Tags: , ,

GS Carl Thayer, chuyên gia hàng đầu về Việt Nam nói về các thách thức của Việt Nam. Thách thức với Việt Nam là cần tiếp tục đảm bảo chính sách đối ngoại đa phương và ngăn khả năng bị “kéo” vào quỹ đạo của một trong các cường quốc lớn.

Bất cứ quốc gia nào, sự thành công – ở chừng mực nhất định cũng mở ra những thách thức mà nếu vượt qua được, quốc gia đó mới có thể “cất cánh”. Với Việt Nam, Tiến sĩ Carl Thayer, GS Học viện Quốc phòng Úc, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam đưa ra một số phân tích.

Cần tránh lệ thuộc

“Năm 2010, Việt Nam đã kết thúc nhiệm kỳ là thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ nhưng lại là chủ tịch của ASEAN. Trong thập kỷ tiếp theo, các quan hệ khu vực ở châu Á – Thái Bình Dương sẽ được định hình bởi sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách một cường quốc về kinh tế, chính trị và quân sự ở châu Á.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng đi liền với Ấn Độ, quốc gia có dân số đông có thể vượt cả Trung Quốc. Một số nhà phân tích xem Ấn Độ như là một ứng cử viên tiềm năng giấu mặt, có thể vượt qua Trung Quốc trong dài hạn. Bởi Ấn Độ là một quốc gia dân chủ và sự sáng tạo của mỗi cá nhân được khuyến khích hơn một nền kinh tế bị kìm giữ bởi “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Cụ thể, Ấn Độ sẽ trội hơn trong cuộc cách mạng về công nghệ thông tin.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm tại HĐBA Liên hợp quốc. Ảnh UN

Và “chú gấu” Nga có vẻ sẽ trở lại châu Á – Thái Bình Dương sau thời gian dài ngủ đông.

Về Mỹ, một số nhà phân tích cho rằng Mỹ sẽ vẫn giữ vị trí độc tôn về quân sự và tiếp tục đóng vai trò quan trọng về chính trị, quân sự và kinh tế. Số khác lại nói Mỹ sẽ giảm sút trong dài hạn, bởi vấn đề nợ, yêu cầu cải cách nền kinh tế và sự can dự của Mỹ ở Afghanistan. Những vấn đề này sẽ chiếm hầu hết thời gian của Mỹ trong thập kỷ tới để nổi lên từ những gánh nặng đó.

Thách thức với Việt Nam là cần tiếp tục đảm bảo chính sách đối ngoại đa phương và ngăn khả năng bị “kéo” vào quỹ đạo của một trong các cường quốc lớn.

Rõ ràng, Việt Nam phải đặt ưu tiên tương đối cho Trung Quốc để đảm bảo rằng mối quan hệ này vẫn được duy trì một cách hữu nghị và hòa bình. Mối nguy cho Việt Nam chính là trở nên phụ thuộc về kinh tế với Trung Quốc. Hiện Trung Quốc đã là nước thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với hơn 10 tỉ USD. Sự phụ thuộc vào kinh tế có thể sẽ “cướp” đi quyền tự do hành động của Việt Nam.

Các đối tác lớn cùng các mối đe dọa

Lợi ích của Việt Nam chính là việc Mỹ vẫn tiếp tục can dự mạnh mẽ vào khu vực. Nhưng giữ chân Mỹ tập trung vào khu vực này rất khó bởi nước này đang phải đối mặt với khó khăn về kinh tế và những cam kết tại Afghanistan. Việc muốn giữ sự can dự mạnh mẽ của Mỹ tại khu vực luôn đồng nghĩa với việc Mỹ gia tăng áp lực với các đồng minh, bạn bè, đối tác chiến lược để hành động nhiều hơn. Tuy nhiên, với Việt Nam, điều này đồng nghĩa với việc bị gia tăng áp lực đối với các vấn đề chính trị, tôn giáo.

Việt Nam có quan hệ truyền thống lâu dài với Ấn Độ nên cần tiếp tục để gặt hái những quả ngọt của mối quan hệ tròn trịa này. Tuy vậy, mối nguy hiểm của việc tiến quá gần Ấn Độ là Việt Nam có thể đẩy vào thế đối đầu chiến lược giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

Nga có thể sẽ trở lại châu Á nhưng liệu nó có thể đầy quyền lực như đã từng có trước đây? Người Nga có thể muốn thúc đẩy chính mình như là một cường quốc ở châu Á – Thái Bình Dương nhưng các lợi ích quan trọng của Nga lại nằm ở Đông Âu và Trung Á. Nga có thể quá yếu để hành động khi Việt Nam cần sự hỗ trợ. Nhưng trong thập kỷ tới, có thể Nga vẫn là nhà cung cấp thiết bị vũ khí chính cho lực lượng vũ trang của Việt Nam. Nga sẽ tham gia vào việc phát triển nguồn năng lượng và điện hạt nhân của Việt Nam.

Tiếp tục đổi mới để không tụt hậu

Trong thập kỷ tới, Việt Nam có thể đối mặt với các thách thức lớn trong nước cũng như trong chính sách đối ngoại. Về đối nội, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới và tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu. Điều này đồng nghĩa với việc chuyển đổi từ nền sản xuất hướng vào xuất khẩu sang tăng trưởng dựa vào nhu cầu trong nước.

Việt Nam cần phát triển đội ngũ các doanh nghiệp đẳng cấp quốc tế có khả năng cạnh tranh ở nước ngoài. Mối đe dọa cho Việt Nam là bị bỏ lại đằng sau do thất bại trong việc tiến hành đổi mới và tái cấu trúc kinh tế. Việt Nam có dân số đang tăng nhanh và các bạn phải giữ mức tăng trưởng cao để đảm bảo công ăn việc làm cho dân chúng và duy trì ổn định chính trị.

Một địa hạt mới cho Việt Nam là phát triển nguồn lực hàng hải để từ đó đóng góp hơn 50% GDP của Việt Nam vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21. Đây là khó khăn bởi vì Việt Nam cần thu hút đầu tư nước ngoài khổng lồ.

Bảo vệ chủ quyền

Việt Nam sẽ cần quyết liệt bảo vệ chủ quyền của mình, đặc biệt là ở các giàn khoan dầu khí ngoài khơi.

Trong thập kỷ mới, Việt Nam sẽ buộc phải tăng việc sử dụng ngân sách cho quốc phòng để chi trả cho những vũ khí quan trọng mà Việt Nam mới mua của Nga.

ASEAN là chỗ dựa cho Việt Nam.

Việt Nam sẽ cần tiếp tục đặt ưu tiên việc đàm phán với Trung Quốc để giải quyết các tuyên bố về biên giới lãnh thổ một cách hòa bình. Lưu ý: Sau năm 2030, khi Trung Quốc trở nên phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu dầu và khí để đáp ứng nhu cầu năng lượng, bất kỳ một mỏ dầu lớn nào được phát hiện ở biển Đông đều có thể dẫn tới sự va chạm giữa các bên, bao gồm cả xung đột.

ASEAN: Nền tảng cho chính sách đối ngoại

Về đối ngoại, Việt Nam sẽ nổi lên như một người chơi chiến lược ở tầm trung trong các vấn đề khu vực.

Việt Nam cần mối quan hệ đa phương tốt để cân bằng các nước lớn. ASEAN đang cho thấy mình chưa đủ mạnh. Việt Nam không đủ sức để bỏ qua ASEAN nhưng Việt Nam cũng đừng đánh giá quá cao vai trò của tổ chức này. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải dựa vào ASEAN như một nền tảng chính sách đối ngoại của mình nhưng phải thêm các công cụ bổ sung để tham gia vào các vấn đề khu vực.

Vào thời điểm này, các thể chế đa phương ASEAN đang có phần thiên vị cho Trung Quốc như ASEAN + 1. Việt Nam phải tìm cách để khiến các thể chế đa phương này hoạt động tốt hơn, như Hội nghị Thượng đỉnh hoặc APEC, hoặc ủng hộ các sáng kiến xây dựng cấu trúc để cân bằng với sức mạnh chính trị và kinh tế của Trung Quốc.

Cũng trên mặt trận đối ngoại, trong thập kỷ tới, Việt Nam sẽ là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi biến đổi khí hậu và việc nước biển dâng sẽ gây ngập lụt ở ĐB Mekong và gây tác động đến TP.HCM, gắn với những tác động tiêu cực như lũ lụt, bão và sự lan tràn dịch bệnh. Việt Nam không có các nguồn đủ để đối phó một mình. Biến đổi khí hậu đe dọa tương lai chiến lược của Việt Nam và có thể xói mòn nền tảng sức mạnh quốc gia của Việt Nam nhanh hơn cả những va chạm với các nước lớn”.

Doanh nghiệp phần mềm “ăn” Tết mất vui vì cơ quan thuế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:27 pm
Tags: ,

Sau nhiều năm ung dung hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, bỗng dưng năm nay, Công ty TNHH Phát triển điện toán Y khoa Hoàng Trung (MEDSOFT) nhận được thông báo của Chi cục Thuế Quận 4, TP.HCM cho biết không đủ điều kiện để hưởng sự ưu đãi này.

Theo biên bản mới đây của Đội Kiểm tra thuế số 1 Chi cục Thuế Quận 4 thì Công ty TNHH Hoàng Trung kinh doanh sản phẩm dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi về thuế TNDN với mức thuế suất và thời gian được hưởng theo điểm a, khoản 1, điều 3, quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2007, Công ty tự xác định tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư theo Thông tư 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính, trong đó có hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, theo khoản 1, 2, mục I phần B, với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10% và giảm 50%. Căn cứ theo Thông tư 123 hướng dẫn thực hiện ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, đối chiếu với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Hoàng Trung được cấp lần đầu ngày 10/6/2002, trước thời điểm Thông tư 123 có hiệu lực, giấy phép không ghi cụ thể mức ưu đãi, nên Đoàn Kiểm tra xác định Công ty Hoàng Trung không đủ điều kiện để tiếp tục được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư 123 mà chỉ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điểm 2, khoản 1 điều 3, điều 4 Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ, với thuế suất 25%, miễn thuế 4 năm bắt đầu từ năm 2003 đến hết năm 2006, nghĩa là kể từ năm 2007 không còn ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Phản ứng với quyết định trên, ông Phan Xuân Trung, Giám đốc Công ty Hoàng Trung cho rằng phân tích của Chi cục Thuế Quận 4 là không đúng.

Ông Trung viện dẫn Công văn số 1620/TCT-PCCS gửi Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam ngày 8/5/2006 ghi rõ: “Các doanh nghiệp phần mềm thành lập và hoạt động trong giai đoạn từ năm 2000 – 2005 thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại điểm 1, 2, 3 mục I, phần B Thông tư số 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính”. Theo đó, Công ty Hoàng Trung thành lập từ năm 2002 nên thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế quy định trong Thông tư 123.

Cũng theo phản ánh của ông Trung, hàng năm, Công ty Hoàng Trung đều khai báo quyết toán thuế đến Chi cục Thuế Quận 4 và đều không có phản hồi nào về việc tính thuế ưu đãi từ cơ quan thuế này.

Ông Trung chia sẻ: “Chúng tôi rất bất ngờ khi Chi cục Thuế Quận 4 xác định Công ty Hoàng Trung không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp”.

“Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm tại TP.HCM đang đều gặp phải tình huống tương tự như của Hoàng Trung”, ông Trung cho biết thêm.

Vụ việc này đã được Công ty TNHH Hoàng Trung khiếu nại lên Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính.

(Bình Minh)-Efinance

Phạm Chi Lan- Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc 2010-02-08

Mặc Lâm, phóng viên RFA
Chỉ riêng trong năm 2009, nhập siêu vào Việt Nam đã lên tới con số gần 7 tỷ đô la, trong đó một số đáng kể đến từ Trung Quốc.
Mặc Lâm phỏng vần bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, nguyên là thành viên của viện nghiên cứu IDS, nguyên cố vần kinh tế cho Văn Phòng Thủ Tướng để tìm hiều thêm chi tiết sau đây:Rẻ – Chất lượng thấp

Mặc Lâm: Thưa bà, Bộ Công Thương mặc dù cho biết là đã đưa ra nhiều giải pháp để đối phó với tình trạng nhập siêu, chẳng hạn như hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ô tô, hoặc hạn chế nhập hàng tiêu dùng, thế nhưng nhập siêu từ các nước, đặc biệt là từ Trung Quốc, vẫn chưa thấy dấu hiệu ngưng lại. Bà có ý kiến gì về vấn đề này, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Nhập siêu từ Trung Quốc thì thật ra tôi cũng đã nêu ra từ cách đây mấy năm khi mà người ta chưa đưa ra những con số nhập siêu cụ thể từ nước nào, thì tôi theo dõi và tôi đã lên tiếng là nhập siêu từ Trung Quốc và từ mấy nước xung quanh Việt Nam là nhiều nhất, trong khi Việt Nam lại xuất siêu sang Hoa Kỳ, sang Liên Minh Châu Âu, thì đấy là một điều không thật đúng và tôi cũng đã nêu là những cái nhập siêu như thế này thì có một thời gian các quan chức của Bộ Công Thương còn cho là không đáng ngại bởi vì nó tạo nên đầu tư cho tương lai, nhập máy móc thiết bị về là để đầu tư cho tương lai.

Nhưng lúc ấy tôi đã nói lập luận của tôi là nếu như nhập siêu máy móc thiết bị mà lại là những máy móc thiết bị không đảm bảo chất lượng cao, không có công nghệ cao thì Việt Nam cũng sẽ có thể có những ngành công nghiệp trong tương lại nhưng mà lại tiếp tục là những ngành công nghiệp lạc hậu, thấp về trình độ công nghệ, tiêu hao nhiều nguyên liệu cũng như năng lượng, và như vậy là sản phẩm làm ra vẫn không thể cạnh tranh được với ai. Thế mà con đường rồi sẽ lại tiếp tục nhập siêu từ chính các quốc gia mà đang bán máy móc thiết bị cho mình.

Mặc Lâm: Nhìn một cách tổng quát, khi Việt Nam nhập hàng của Trung Quốc thì yếu tố nào kích thích doanh nghiệp tư nhân cũng như quốc doanh quyết định chọn Trung Quốc mà không phải là nước khác, thưa bà?

Bà Phạm Chi Lan: Trong cơ cấu thị trường của Việt Nam thì thường khi nhập khẩu về phía các nước bị nhập khẩu có liên quan nhiều tới điều kiện về giá cả hơn là chất lượng, đặc biệt là của máy móc thiết bị đến công nghệ, thì đây là điều không xứng đáng vì đối với máy móc thiết bị công nghệ thì ảnh hưởng của nó là lâu dài, nó phục vụ cho việc tạo nên một dây chuyền sản xuất chẳng hạn, hoặc là đề làm ra các sản phẩm khác, như vậy nó sẽ gây những hậu quả rất là tệ cho các ngành công nghiệp. Và như vậy thì Việt Nam sẽ không thể thoát khỏi tình trạng nhập siêu được, bởi vì luôn luôn sản phẩm của mình làm ra nếu  từ những sản phẩm nhập khẩu đó thấp kém hơn các nước khác. Riêng đối với Trung Quốc, một trong những gốc của tình trạng nhập siêu hiện nay, bởi vì giữa nguyên liệu thô đem xuất khẩu và máy móc thiết bị nhập khẩu về thì cái chênh lệch về giá cả rất là lớn và nó mang lại thuận lợi chi phía nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu máy móc thiết bị nhiều hơn.

Thứ hai nữa là so với các nước ASEAN khác như Thái Lan, Malaysia, Philippines thì họ cũng buôn bán với Trung Quốc rất nhiều, chừng nào họ cũng nhập siêu từ Trung Quốc nhưng họ xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm trung gian, thành ra đây cũng là những chế phẩm công nghiệp của họ, và họ xuất sang Trung Quốc cũng lại trao đổi lại để rồi làm thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng nhiều hơn để bán ra nước ngoài hoặc là để sử dụng trong nước. Đây cũng là một cơ cấu thuận lợi hơn so với Việt Nam mà chẳng cần xuất khẩu các nguyên liệu thô và nông sản.

Mặc Lâm: Theo bà thì làm cách nào để thay đổi thói quen có điều kiện này trong tư duy của doanh nghiệp đối với vần đề nhập hàng hoá máy móc thứ phẩm của Trung Quốc?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi, cái cách để có thể thay đổi được là giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc qua nhập siêu như thế này thì trước hết một là Việt Nam phải tìm mở rộng hơn nữa thị trường của mình trong việc mua sắm máy móc thiết bị công nghệ, và điều này đặc biệt cần thiết cho Việt Nam đang muốn hướng tới một thời kỳ mới công nghiệp hoá thúc đẩy lên để có thể bật lên được, chấp nhận mua những sản phẩm có thể giá cao hơn những mà chất lượng tốt hơn và rốt cuộc cuối cùng nó sẽ rẻ hơn so với nhập khẩu với giá thấp bây giờ. Ở đây đặc biệt là những mua sắm trong các công trình đầu tư của nhà nước cũng cần phải tạo được một cơ chế mua sắm làm sao cho nó đảm bảo được hiệu quả cao hơn .

Không minh bạch?

Mặc Lâm: Thật ra thì các khoảng tiền nhập siêu lớn đều do nhà nước chủ động tạo nên khi mua lại các máy móc thiết bị từ Trung Quốc mà không có sự giám sát chặt chẽ. Theo bà thì làm sao nhà nuớc có thể rà soát lại một cách nghiêm túc tất cả các yếu tố tiêu cực này?

Bà Phạm Chi Lan: Lâu nay phần lớn các công trình của nhà nước thì do các cơ quan nhà nước đứng ra làm chủ đầu tư hoặc là các doanh nghiệp nhà nước, thông thường thì hiệu quả của họ trong hoạt động là không cao, mà tôi e là cả về nhập khẩu cũng vậy. Cái thứ hai nữa là phải tạo tính mình bạch tối đa trong việc mua sắm các sản phẩm này, bởi vì lâu nay thì thông thường khi việc mua đó là chủ động của những người đứng ra đi đàm phán chuyên môn nhiều hơn và nó thiếu cái minh bạch để giám sát được, xem xét được của các sản phẩm đó ra bao nhiêu, giá cả có hợp lý hay không.

Chúng tôi biết là cũng không thiếu trường hợp nhập thực tế là với giá rất cao mà thiết bị vẫn lạc hậu như thường, công nghệ vẫn tồi tệ, nên từ đây là vấn đề rất lớn. Cái chính là những công trình lớn hàng trăm triệu đôla hoặc là năm bảy chục triệu đôla nó mới tạo nên nhập siêu lớn, thế còn nhập hàng tiêu dùng cùng có những không phải là cái đóng góp chính cho cái nhập siêu.

Mặc Lâm: Nhưng nếu cứ để cho nhà nước tự kiểm soát lấy mình thì dư luận cho rằng kết quả sẽ rất hạn chế, theo bà thì vai trò của xã hội có thể góp được gì trong việc này?

Bà Phạm Chi Lan: Theo tôi thì phải tạo nên cái tính minh bạch cao và có sự giám sát, đặc biệt là xã hội hoặc là các tổ chức khác hay là những người bỏ tiền thuế của mình để cho nhà nước hoặc là doanh nghiệp nhà nước đi nhập khẩu từ bên ngoài thì phải có quyền giám sát vào để xem cái nhập khẩu đó có mang lại lợi ích cho đất nước hay không.

Tôi nghĩ là làm sao cho cái cơ chế về kinh doanh cho có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp khu vực tư nhân vào tất cả các hoạt động đầu tư phát triển lớn của đất nước. Khu vực tư nhân thì bao giờ họ cũng có động lực tự thân của họ là phải hiệu quả vì không hiệu quả thì họ không tồn tại được, cho nên để cho doanh nghiệp tư nhân tham gia nhiều hơn vào những đấu thầu trong các dự án lớn nhiều hơn thì họ sẽ có một tính toán khôn ngoan hơn, đầy đủ hơn để có thể đảm bảo lợi ích của Việt Nam.

Mặc Lâm: Riêng các sản phẩm thô xuất sang Trung Quốc của ta đã chiếm một tỷ trọng khá lớn và đã giữ được phần nào cán cân thương mại giữa hai nước. Bà thấy có điều gì cần phải cải thiện thêm ở lãnh vực này không ạ?

Bà Phạm Chi Lan: Về chuyện xuất khẩu của Việt Nam thì rất cần cải thiện cái chiều xuất khẩu sang Trung Quốc bằng cách chấm dứt tình trạng xuất khẩu những sản phẩm thô hoàn toàn mà không chế biến, kể cả về khai thác quặng mỏ, thì tôi nghĩ là những cái gì Việt Nam hiện đang chưa có khả năng chế biến được để tạo thêm giá trị gia tăng thì cũng không nên tiếp tục khai thác nữa.

Việt Nam không phải ở trong tình trạng cách đây hai chục năm mà cần thiết quá phải khai thác dầu thô để đem bán, mà bây giờ có thể có những sản phẩm khác và cũng có thể thu hút thêm đầu tư để tạo thêm những ngành chế biến tạo thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm này trước khi xuất khẩu đi. Vả lại xu hướng chung của thế giới hiện nay là như vậy và Việt Nam cũng đang trong tình trạng tương tự và tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt dần cho nên buộc phải tiết kiệm tài nguyên và phải xem xét lại việc khai thác tài nguyên của mình.

Cho nên trong xuất khẩu sang Trung Quốc thì tôi nghĩ là cần phải chấm dứt những sản phẩm xuất khẩu hoàn toàn màn tính chất nguyên liệu thô, không qua chế biến, mà không hợp lý thì rất cần phải chấm dứt đi; đối với các sản phẩm khác thì cố gắng tạo thêm các khả năng xuất khẩu sản phẩm tạo giá trị gia tăng nhiều hơn; nếu mà không thì Việt Nam có thể gồng lên để cố gắng xuất khẩu nhiều nhưng giá trị vẫn rất thấp và không thể nào cái thiện cái chiều xuất khẩu từ Việt Nam lên được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn bà Phạm Chi Lan đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Create a free website or blog at WordPress.com.