Ktetaichinh’s Blog

February 9, 2010

NGHĨ VỀ ĐẢNG

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:32 pm
Tags: , ,

Tương Lai

Cách đây 50 năm, trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ vui vẻ nói: “Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình. Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đây không là một định nghĩa Đảng về mặt lý luận, đây là niềm tự hào, cũng là một lời nhắc nhở. Khi nói về văn minh thì điều cần hiểu là, với Hồ Chí Minh, văn minh là sự thống nhất phẩm chất và trí tuệ. Đây chính là một nét đặc sắc của truyền thống văn hiến Việt Nam. Cũng là nét đặc sắc của cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh và của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng.

Luôn nhấn mạnh về phẩm chất, đạo đức của người đảng viên, đó là một điểm nổi bật trong nhận thức về Đảng cũng như trong việc tổ chức, rèn luyện và giáo dục đảng viên của Hồ Chí Minh. Ngay từ buổi ban đầu, trong “Đường cách mệnh”, tài liệu được soạn thảo năm 1927 để huấn luyện đảng viên và quần chúng, Bác đã đặt bài “Tư cách của người cách mệnh” làm bài mở đầu, trước cả bài “Vì sao phải viết sách này”. Và rồi trong những lời cuối cùng trước khi “từ biệt thế giới này” cũng là “trước hết nói về Đảng” để thiết tha căn dặn “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng…”1. Nỗi canh cánh của Người trước khi nằm xuống vẫn là “việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng2.

Để hiểu được sự canh cánh ấy, nên nói đôi điều về khái niệm đảng.

Theo mọi lý luận, mọi xu hướng chính trị, đảng theo ý nghĩa hiện đại, mới có chừng hơn 160 năm tuổi. Nhưng ngay từ đầu, hầu như không có đảng chỉ là đảng của một tầng lớp xã hội. Trong mọi trường hợp, ngay từ đầu, mỗi đảng đã là đảng của nhiều tầng lớp, đảng viên gồm những người thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Vì thế, đảng đại diện và được ủng hộ bởi một số tầng lớp xã hội đông hơn số tầng lớp xã hội có người là đảng viên của đảng. Tuy vậy, từ nhiều chục năm nay và hiện nay, hầu như không có ngoại lệ, các đảng đều biến chất, tha hoá, về hai vấn đề có liên quan mật thiết: Một là, đảng không còn trung thành đại diện cho những tầng lớp xã hội mà đảng sinh ra để đại diện, chỉ còn đại diện cho chính mỗi mình. Hai là, trong đảng, đông đảo đảng viên bị vô hiệu hoá, bị tha hoá thành những người chỉ chấp hành quyết định của “cấp trên”, thậm chí chỉ còn là những người bỏ phiếu cho số ít cầm quyền trong đảng. Và nếu tình hình diễn ra như thế thì về thực chất đảng chỉ còn là đảng của một nhúm người có quyền lực. Đây là điều không phải chỉ chúng ta đang quan tâm, mà là một vấn đề lý luận các đảng chính trị cũng như giới nghiên cứu đang đặt ra.

Chẳng hạn, Đại Bách khoa Toàn thư Pháp viết: “Nhìn chung, một đảng chính trị có thể được định nghĩa như thể là một tập thể xã hội tìm kiếm sự ủng hộ của nhân dân nhằm trực tiếp thực thi quyền lực, và tập thể này được tổ chức theo thời gian và không gian sao cho nó có thể vượt qua được ảnh hưởng cá nhân của người lãnh đạo. Định nghĩa này vận dụng ba yếu tố – nền tảng của đảng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của nó- mà người ta sẽ xem xét trước khi xem xét những đảng được định nghĩa như vậy được hình thành trong lịch sử như thế nào”.  Để hiểu hơn về “định nghĩa” đó, xin bắt đầu từ C.Mác, xem thử với ông, khái niệm đảng được hình thành như thế nào:

Có thể nhận ra tư duy về đảng của C.Mác có sự vận động từ “đảng-ý thức” đến “đảng-tổ chức . Đây là dấu ấn ảnh hưởng triết học Hégel về “giai cấp tự nó” phát triển thành “giai cấp cho nó” tức là Đảng. Khi giai cấp có ý thức tự giác về bản thân mình, về vị trí, thân phận và sứ mệnh lịch sử của mình, thì giai cấp trở thành Đảng. Vì thế “đảng-ý thức” là nơi các nhà cách mạng “sáng suốt” truyền bá lý luận cách mạng và giáo dục công nhân, gắn lý luận với hành động. Từ “Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844” qua “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cho đến lúc giải thể “Liên đoàn những người cộng sản” năm 1852, quan niệm của C.Mác về đảng của giai cấp vô sản ở quy mô quốc gia cũng như quy mô quốc tế chủ yếu là quan niệm về đảng-ý thức. Nhưng sau đó, nhất là từ kinh nghiệm thất bại của Công xã Paris năm 1871 thì quan niệm về đảng chuyển rõ sang “đảng-tổ chức” lúc đầu còn có phần lỏng lẻo về sau ngày càng chặt, thể hiện rõ quan điểm Đảng Cộng sản là kết quả của sự kết hợp giữa lý luận cộng sản với phong trào công nhân. Vì thế, để hiểu về đảng, phải hiểu về giai cấp trong học thuyết Mác.

Thuật ngữ giai cấp được C.Mác sử dụng lần đầu tiên vào năm 1843, song phải đến 1846 với tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, thuật ngữ này mới được ông sử dụng một cách phổ biến. Tuy nhiên, có một nghịch lý là, trong 2500 trang của bộ “Tư bản” viết về đấu tranh giai cấp, không có một câu nào định nghĩa giai cấp là gì!

Thuật ngữ “giai cấp vô sản”, một từ gốc la tinh, xuất hiện từ thời cổ La Mã, được Moses Hess sử dụng năm 1836 và phổ biến trong những người phái tả ở Đức, được C.Mác sử dụng năm 1843 và tiếp liền trong khoảng năm năm, thuật ngữ ấy mang nặng tính triết học. Bắt đầu từ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, quan niệm của C.Mác về giai cấp vô sản đã “kinh tế” hơn, “chính trị”  hơn và là sự khẳng định giai cấp vô sản xuất hiện như tác nhân chính trên sân khấu của lịch sử. Tuy nhiên, dần dần C.Mác đã thay thuật ngữ giai cấp vô sản (quyển I bộ “Tư Bản”) bằng thuật ngữ “giai cấp công nhân” (quyển II, quyển III và quyển IV bộ “Tư Bản”) để rồi dần dần thay thế thuật ngữ “giai cấp vô sản” hay “giai cấp công nhân” bằng thuật ngữ “những người làm công ăn lương” (quyển III, bộ “Tư Bản”) và về cuối đời, C.Mác  sử dụng một khái niệm đã xuất hiện trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp” viết năm 1871: khái niệm “giai cấp những người sản xuất. 3

Như vậy là, khái niệm về “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” thoạt đầu đóng khung trong thuật ngữ “giai cấp vô sản” đã không “nhất thành bất biến” mà biến đổi theo hướng mở rộng ra. Số đông, có thể nói là hầu hết các Đảng cộng sản Âu, Mỹ, đã tiếp thu sự mở rộng ấy. Đó là do sự vận động của thực tiễn. Trong những nước tư bản phát triển, “những người làm công ăn lương” cho nhà nước và cho tư nhân chiếm tỷ lệ áp đảo, đến 80% và hơn 80% trong tổng lực lượng lao động xã hội. Với nhận thức và thực tiễn về đảng-tổ chức, C.Mác đã sớm xác định Đảng là đội tiên phong có tổ chức của giai cấp công nhân và các lực lượng cách mạng. Ông cũng sớm vạch rõ rằng Đảng cần tiên phong cả về ý thức cách mạng, tinh thần cách mạng và cả về trí tuệ để lãnh đạo xoá bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Đây chính là điểm tựa để nhận thức kỹ về đảng là gìđảng của ai. Rõ ràng là trong lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân, cách hiểu khái niệm đảng cũng như khái niệm giai cấp công nhân cũng không hề “nhất thành bất biến”, cách gọi “Đảng của giai cấp công nhân” không thể được hiểu một cách máy móc

Sau khi C.Mác mất, Ph.Ăngghen là nhà lý luận đầu tiên đặt ra yêu cầu “Đảng phải từ thành phố về đồng quê”, “Đảng phải trở thành một sức mạnh lớn ở nông thôn”, “hãy dành cho người nông dân tất cả thời gian cần thiết để suy nghĩ trên luống cày cá thể của mình”…Kế tục Ph.Ăngghen, V.I Lênin xem liên minh công nông là nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản, đồng thời chỉ rõ rằng: “Đảng cách mạng của giai cấp vô sản chỉ xứng với cái tên ấy khi liên kết được đảng, giai cấp và quần chúng nhân dân thành một tổng thể gắn bó không thể chia cắt”.

Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở đi, các Đảng Cộng sản trên thế giới đều theo lý luận và chủ trương đoàn kết tất cả mọi giai cấp và tầng lớp xã hội, chống một bộ phận của giai cấp tư sản là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Rõ ràng là, trong hành trình tư duy của C.Mác, sự vận động từ giai cấp vô sản, đến giai cấp công nhân, đến những người làm công ăn lươnggiai cấp những người sản xuất , rồi từ đảng-ý thức đến đảng-tổ chức chính là hành trình tìm tòi chân lý. Về cuối đời, C.Mác nhận ra khái niệm “giai cấp vô sản” không thích hợp để chỉ lớp người cụ thể mình muốn nói, nên đã thay bằng “giai cấp những người sản xuất”!

Liệu khái niệm này đã phản ánh đúng điều mà C.Mác tìm tòi chưa? Không thể trả lời một cách đơn giản, vì sự nghiệp khoa học của C.Mác còn dang dở. Hơn nữa, C.Mác là người mà sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa hình thành đã sửa chữa. Đến V.I. Lênin thì cũng như vậy, khi chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP) Lênin đã khẳng định: “Toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi4.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, thời gian đã sàng lọc, gạt bỏ bao nhiêu ngộ nhận và sai lầm để giúp đến gần hơn với chân lý cuộc sống. Liệu có phải vì thế, cùng với những đòi hỏi của thời cuộc trong nước, tại Đại hội II của Đảng năm 1951, Hồ Chí Minh đề nghị đổi tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam để “nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”. Bác giải thích thật đơn giản: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. 5

Phải chăng câu hỏi C.Mác đặt ra cách đây 165 năm đã có lời giải: “Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử6 . Giai cấp vô sản “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”. 7 Đừng quên rằng, từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu, mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” Chính vì thế Người đề nghị “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. 8 Có hiểu rõ điều này mới thấy ý nghĩa của quyết định rất sáng suốt của Hồ Chí Minh về việc đổi tên Đảng.

Chân lý thật đơn giản, song hiểu cho ra sự đơn giản ấy lại không đơn giản! Khi bà má Miền Nam thời Chống Mỹ đào hầm nuôi cán bộ cộng sản, bà mẹ Miền Băc gửi con trai mình ra mặt trận theo lời kêu gọi ”không có gì quý hơn độc lập tự do”, chắc các mẹ không phải săm soi tìm hiểu xem Đảng là của giai cấp công nhân hay của ai. Mà quả thật có định tìm hiểu, chắc bà cũng không sao hiểu nổi “tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân là do vị trí khách quan của giai cấp ấy trong phương thức sản xuất xã hội quy định!

Tuyệt đại bộ phận những người Việt Nam yêu nước thương nòi, không cam chịu nhục nô lệ đã “giác ngộ”, đi theo tiếng gọi cứu nước và trở thành đảng viên cộng sản, hoặc những người cưu mang, giúp đỡ, sống chết với Đảng thì tuyệt đại bộ phận những người “giác ngộ” ấy cũng chỉ xoay quanh nội dung yêu nước, ghét áp bức bất công. Đây là điều mà trong bài viết “Con đường dẫn tôi tới chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh gọi là “theo cảm tính tự nhiên”! Có sự thật ấy là vì, sâu thẳm trong đạo lý và tình cảm của dân tộc ta, cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng. Chạm đến vấn đề này là chạm đến khu vực nhạy cảm nhất trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam, trong tâm thế dân tộc, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, tín ngưỡng, tôn giáo. Đảng đứng ra nhận lãnh sứ mệnh cứu nước, đảng viên của Đảng đi đầu trong gian khổ, hy sinh vì nhiệm vụ cao cả đó. Bằng chính hành động ấy, dân tin Đảng, xem Đảng là Đảng của mình.

Vì thế, ở vào những thời điểm lịch sử của cách mạng và kháng chiến, khi mà người cộng sản luôn đứng ở vị trí nguy hiểm nhất, hiên ngang đương đầu với tù đày, sống chết, thì bộ phận những người Việt Nam ưu tú nhất trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân, mà người ta gọi là “bộ phận tinh hoa” của dân tộc, đều thấy rõ nghĩa vụ và vinh dự được đứng trong đội ngũ của những người cộng sản, được làm người đảng viên của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, rèn luyện và lãnh đaọ.

Sẽ hiểu hơn về điều này khi nhắc lại lời tự bạch của Bác Hồ trong bài viết đã nhắc ở trên: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên. Tôi chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó. … Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy-(hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế)– đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu”. Với “chủ nghĩa Lênin” cũng như vậy thôi: “…một đồng chí đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên  báo Nhân đạo. Trong Luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi cũng hiểu được phần chính. …Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba9.

Tin theo vì vào lúc ấy, chỉ có Lênin là đáp ứng đòi hỏi cháy bỏng trong lòng“người yêu nước” ấy, người Việt Nam tham gia vào việc sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, với một lý do cũng thật đơn giản “Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì ”?10

Thật ra thì từ  những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã xác định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước11.  Suốt đời, Hồ Chí Minh nhất quán với nhận thức ấy trong mọi chủ trương, đường lối. Đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoàĐộc lập, Tụ do, Hạnh phúc là nội dung, thể hiện rất rõ sự nhất quán đó. Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thấm sâu vào tâm hồn Việt Nam, đã thành biểu tượng của dân tộc. Cần phải nhắc lại rằng, dân tộc nói đây không chỉ là độc lập dân tộc, mà rộng hơn, còn là ý thức dân tộc, quyền lợi dân tộc, truyền thống dân tộc, đặc điểm dân tộc. Cho nên khi Hồ Chí Minh nói Đảng “phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” thì đó là sự thể hiện rất logic sự nhất quán của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, về sứ mệnh của Đảng. Với Hồ Chí Minh, chính dân tộc sinh ra Đảng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng, rồi tin yêu Đảng khi Đảng đã trưởng thành lên. Cho nên, có thể nói quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng là quan điểm dân . Trong khái niệm này, cần hiểu dândân tộc. Một Đảng dân, một Nhà nước dân chính là sáng tạo của Hồ Chí Minh. Nhà nước dân ấy thể hiện rõ tư tưởng mà phương Tây đã từng nêu về nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Và vì Đảng “phải là Đảng của dân tộc”, cho nên, Đảng phải là Đảng của trí tuệ. Đây không là một áp đặt của suy đoán chủ quan hay là sự biểu đạt một ước vọng. Đây chỉ là sự diễn dịch cái tất yếu logic của vận động thực tiễn và cũng là của chính nhu cầu tồn tại và phát triển của Đảng, nếu Đảng muốn làm trọn sứ mệnh cao quý của mình, sứ mệnh “soi đường chỉ lối cho nhân dân ta vững bước trên con đường thắng lợi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.  Ánh sáng của ngọn đuốc “soi đường, chỉ lối đó không thể là gì khác ánh sáng của trí tuệ.

Về điều này, xin nhắc lại lời của V.I Lênin: “ Lịch sử tất cả các nước chứng tỏ rằng chỉ do lực lượng độc của bản thân mà thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa…Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh từ các lý luận triết học, lịch sử kinh tế, do những người có học thức trong các giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng nên. Mác và Ăngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại, do địa vị của các ông, nên chính bản thân các ông cũng thuộc lớp trí thức tư sản”. 12

Hồ Chí Minh đã có lần nói về việc bồi đắp trí tuệ của mình bằng cách học ở Khổng Tử “sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”, ở Giêsu “lòng nhân ái cao cả”, ở Chủ nghĩa Mác “phương pháp biện chứng”, ở chủ nghĩa Tôn Dật Tiên “chính sách phù hợp với điều kiện nước ta”. Theo Hồ Chí Minh, họ gặp nhau ở điểm chung là “muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, phúc lợi cho xã hội”. Chính vì thế mà Người “cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.13 Làm thế vì Khổng Tử, Giêsu, Các Mác, Tôn Dật Tiên…chính là những người có học thức nhất của thời đại họ đã sống. Họ vừa là sản phẩm của nền văn minh mà thời đại của họ đạt được, vừa là những đồng tác giả góp phần tạo ra nền văn minh đó.

Trong thời đại của thế kỷ XXI, thời đại của nền kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ, thì để thực thi được sứ mệnh soi đường chỉ lối lại càng đòi hỏi Đảng, người đảng viên của Đảng, đặc biệt là những người đảm đương những trọng trách của Đảng và của Nhà nước, nhất thiết phải là người có trí tuệ tương thích với vai trò và nhiệm vụ của họ. Vả chăng, thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có thể sáng tạo và linh hoạt thì cùng với nhiệt tình và ý chí kiên cường của người cách mạng, trí tuệ là nhân tố quyết định.

Phải chăng cần hiểu ý nghĩa của lời nhắn nhủ, cũng như sự kỳ vọng của Hồ Chí Minh về “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” chính là một Đảng của dân tộc, có tầm cao trí tuệ của thời đại là bức xúc đến nhường nào!

Quả thật đây là một kỳ vọng, nhưng là một kỳ vọng khởi nguồn từ mảnh đất hiện thực đã từng thấm đẫm máu, nước mắt và mồ hôi của bao nhiêu thế hệ Việt Nam. Chính sự vận động tự thân của dân tộc, của nhân dân quần chúng trên mảnh đất ấy sẽ là nguồn sức mạnh vô tận làm cho lời nhắn nhủ ấy của Bác Hồ trở thành một tác nhân quyết định thúc đẩy Đảng phải tự chỉnh đốn” để thực hiện được “điều mong muốn cuối cùng” của Bác.

Chú thích:

1, 2. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 12. NXBCTQG. 1995, tr. 510, tr. .50

4..C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 19. NXBCTQG Hà Nội .1995; tr.353

5. V.I Lênin Toàn tập., Tập 45, NXB Tiến bộ Matxcơva. 1980 tr. 428

6. Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 6 .NXBCTQG Hà Nội .1995, tr. 175, tr.172

7. C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 2. NXBCTQG Hà Nội .1995; tr. 56

8. C.Mác & Ph.Ăngghen Toàn tập. Tập 4. NXBCTQG Hà Nội .1995; tr.624

9, 10 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 10.  NXBCTQG Hà Nội .1996, tr.3 và tr. 126

11. . Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 1.  NXBCTQG Hà Nội .1996, tr. 466

12. Lênin Toàn tập. Tập 18. NXB Tiền bộ Matxcơva. rr.167

13. Chương trình Nghiên cứu tư tưởng Hò chí minh:”Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” NXBKHXH.1993, tr.84

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: