Ktetaichinh’s Blog

February 9, 2010

Kinh Tế VN xuyên suốt thời đại

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:48 am
Tags: , , ,

Phá rào: “Đảng ở trong dân, từ dưới lên”

SGTT – Năm 1986, với Đại hội Đảng lần VI được coi là năm đánh dấu công cuộc đổi mới đất nước. Trước đó nhiều năm, đã có hàng loạt mũi đột phá gian nan và đầy mưu trí, vượt qua những hàng rào quy chế đã lỗi thời, góp phần mở đường cho công cuộc đổi mới. Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới (*) là cuốn sách của nhà nghiên cứu Đặng Phong đề cập đến những xoay xở của nền kinh tế trong giai đoạn này. Sài Gòn Tiếp Thị lược đăng phần nội dung nói về kinh tế ngoại thương, từ độc quyền ngoại thương, đến hàng loạt các hoạt động xuất nhập khẩu ra đời trong bóng tối…

Kỳ 1: Buôn bán tư nhân với nước ngoài

Việc xuất nhập khẩu của tư nhân vào thời kỳ cuối thập niên 70 và trong suốt thập niên 80 là điều không thể có về nguyên tắc. Kể từ năm 1959, sau khi cải tạo tư sản ở miền Bắc, Nhà nước đã thực hiện nguyên tắc độc quyền ngoại thương của trung ương. Địa phương không có quyền tự do xuất nhập khẩu, huống chi là tư nhân. Mãi đến năm 1987 – 1988, sau khi có chủ trương đổi mới và mở cửa hội nhập, xuất nhập khẩu tư nhân mới phục hồi.

Vậy mà ngay từ cuối thập niên 70 đã xuất hiện những kênh xuất nhập khẩu tư nhân rất sầm uất, với những luồng hàng khá lớn. Kênh xuất nhập khẩu này không phải là kênh chính thức, nhưng cũng không phải là kênh bất hợp pháp. Nó được thực hiện không phải bởi những thương nhân, cũng không phải bởi Chính phủ, mà bởi cá nhân người Việt Nam xuất nhập cảnh vì những lý do chính thức như đi học, đi công tác, xuất khẩu lao động, lái xe quá cảnh. Do chênh lệch cung cầu trong nước, những người đi thường tìm mọi cách đem hàng về để bán. Muốn mua được hàng thì phải đem hàng hoặc tiền đi. Như vậy, việc xuất nhập khẩu đã được thực hiện bởi bàn tay những con người không có chức năng chính thức làm nhiệm vụ xuất nhập khẩu. Đây là một hiện tượng đặc biệt và cũng là kẽ hở của mô hình quản lý cũ để kênh xuất nhập khẩu vượt qua được hệ thống quản lý của nhà nước.

Những kênh xuất nhập khẩu này rất đa dạng: buôn bán của những người đi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, buôn bán của những thuỷ thủ tàu Vosco, buôn bán của những lái xe quá cảnh đi Lào, đi Campuchia, về sau còn cả buôn bán qua biên giới Trung Quốc.

Giai đoạn “tiền sử”

Mô hình một cửa hàng bán hàng tết thời bao cấp. Hình ảnh này giờ chỉ còn trong triển lãm thời bao cấp. Ảnh: tư liệu

Cuộc buôn bán với Liên Xô và Đông Âu gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: những khó khăn của Việt Nam từ năm 1979, việc xuất khẩu lao động như một tất yếu để trả nợ cho những món tiền đã vay và giải quyết nạn thất nghiệp trong nước, sự nứt rạn trong bản thân cơ chế kinh tế của các nhà nước xã hội chủ nghĩa, những cơ chế thông thoáng trong nước từ đầu thập niên 80 cho phép có thể khai thác những nguồn hàng mang đi như một phương tiện thanh toán không thể thiếu để có hàng mang về.

Cuộc buôn bán này đã có nhiều tác dụng, cả tiêu cực lẫn tích cực, trong việc kích thích nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường, kích thích những yếu tố kinh tế tư nhân, thị trường ngầm, thị trường chợ đen phát triển sôi động, và qua đó hình thành những tích luỹ ở khu vực tư nhân. Nó vừa là tác nhân phá vỡ cơ chế quản lý tập trung của nền kinh tế kế hoạch hoá cổ truyền, đồng thời nó lại là nhân tố bổ sung rất quan trọng cho những thiếu sót mà cơ chế kế hoạch tập trung đó không “bao sân” nổi đối với những nhu cầu xã hội.

Việc mua sắm và vận chuyển những hàng hoá từ Liên Xô và các nước Đông Âu về nước thực ra cũng đã có lác đác từ rất lâu, nhưng không mang tính chất thương nghiệp. Từ năm 1955, sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, Nhà nước đã cử người đi các nước Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp, Cộng hoà dân chủ Đức, Hungary, Rumani, Ba Lan… Những người được cử đi thuộc mấy loại sau: học sinh, sinh viên, cán bộ được cử đi học đại học. Thời đó có câu:

Ăn nhanh, đi chậm, hay cười
Tìm mua đồ cũ là người Việt Nam

Ở giai đoạn này, sự hạn chế chủ yếu là sức mua của bản thân những người đi nước ngoài, tức là túi tiền của họ. Lúc này, chưa ai trong số những người này có thể kiếm ra nhiều tiền để mua sắm nhiều hàng hoá. Hàng mang đi gần như không có gì. Sức mua hoàn toàn chỉ lệ thuộc vào học bổng những người đi học, hay sinh hoạt phí của người đi công tác mà nước ngoài tài trợ theo định mức như trên đã nói.

Thời kỳ bão táp

Thời kỳ bão táp bắt đầu từ những năm 1979 – 1980 và lên đến đỉnh cao vào những năm từ 1983 – 1984 cho tới khi Liên Xô sụp đổ, thậm chí còn kéo dài thêm một số năm sau đó.

Đây là thời kỳ Việt Nam bắt đầu vào khối SEV. Bản tuyên bố Brejnev – Lê Duẩn vào năm 1980 đã khẳng định: Việt Nam “Hợp tác toàn diện và triệt để với Liên Xô”. Số chỉ tiêu cho sinh viên và người đi học tiếp tục tăng lên. Các bộ hàng năm đều cử cán bộ tham quan, học tập.

Cũng từ thời kỳ này, Việt Nam đã quyết định xuất khẩu lao động. Ngày 11.2.1980, Chính phủ đã ra quyết định đưa một bộ phận lao động kỹ thuật đi làm việc và bồi dưỡng tay nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa. Sau khi ký một loạt hiệp định về hợp tác lao động với các nước Cộng hoà dân chủ Đức, Bungary, Tiệp Khắc, Liên Xô. Trong vòng mười năm (1980 – 1990) đã có 277.183 người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. Trong đó 257.882 người sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Từ những năm 1983 – 1984, xuất khẩu lao động bắt đầu phát triển sang cả khu vực Iraq, Algeria, Congo… dưới hình thức nhận thầu xây dựng và làm chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp… Số lao động và chuyên gia sang làm việc ở khu vực này, cho đến năm 1990 là 19.301 người. Riêng Iraq có 16.400 người.

Trừ các khoản phải đóng góp và chi phí cho sinh hoạt hàng ngày, trung bình mỗi năm một người lao động còn tiết kiệm được một khoản tiền mà quy ra USD là khoảng 1.000 USD, chưa kể các khoản thu khác ngoài lương. Phần lớn số tiền đó không được chuyển trực tiếp về nước, mà chuyển về dưới hình thức các hàng hoá. Như vậy, với trên 250.000 người lao động ở các nước xã hội chủ nghĩa, hàng năm có một lượng hàng tương đương với 250 triệu USD được gửi về nước, hầu hết là hàng tiêu dùng. Con số đó có ý nghĩa rất quan trọng, nếu so sánh với tổng mức nhập khẩu hàng năm của những năm nửa đầu thập niên 80 chỉ vào khoảng 1,4 – 1,5 tỉ USD. Đây chính là nhân tố quan trọng nhất làm cho lực lượng buôn bán tư nhân với các nước xã hội chủ nghĩa đột ngột tăng lên. Không những thế, những người lao động xuất khẩu này lại có khả năng rất mạnh trong việc khai phá thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa. Vì họ làm việc trong các xí nghiệp, họ có thể mua được những thứ hàng hoá trong xí nghiệp đó. Họ lại có quan hệ trực tiếp với công nhân và các cơ sở ở nước bạn, nên họ có thể mở ra được thị trường để bán hàng. Mỗi dịp đi xuất khẩu lao động là một cuộc huy động vốn to lớn trong gia đình, họ hàng, bạn bè để thực hiện một cuộc buôn bán hai chiều. Chính họ là lực lượng cung cấp hàng hoá lớn nhất theo cả hai chiều đi và về.

Cũng từ đầu thập niên 80, Việt Nam bắt đầu nới lỏng một số thể chế kinh tế. Việc liên doanh liên kết, chế độ ba kế hoạch ra đời từ quyết định 25/CP của Chính phủ, cơ chế nhiều giá trong kinh doanh đã tạo điều kiện để huy động và khai thác hàng mang đi cũng như tiêu thụ những hàng nhập về.

(*) Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành năm 2009

Kỳ 2: Thị trường hàng xuất nhập khẩu

SGTT – Tư nhân muốn mua được hàng mang về nước thì phải có tiền rúp, mác, courrone, zloty, leva… Và, để có loại tiền này, chỉ có một con đường duy nhất là mang hàng sang bán. Như vậy, thị trường hàng xuất là tiền đề số một của thị trường hàng nhập.

Những vật dụng sinh hoạt gia đình thời bao cấp phần lớn được nhập về qua các đường dây mua bán bất hợp pháp. Ảnh: tư liệu SGTT

Tuỳ theo từng thời kỳ, mặt hàng xuất có khác nhau: quần bò Thái, áo phông Thái, đồng hồ Quartz của Hong Kong hoặc của Thái Lan; kính râm của Sài Gòn hoặc Thái Lan; son, phấn và bút chì kẻ mắt của Thái Lan; áo kimono bằng lụa tơ tằm Việt Nam…

Hành lý cá nhân qua cửa khẩu

Mức lãi suất có sức hấp dẫn ghê gớm của việc “đánh” hàng đi, có thể lấy vài ví dụ. Thử chọn thời điểm tháng 5.1990, khi đó tỷ giá là 16,5 rúp/USD và 6.100đ/USD. Một cassette mini mua ở Việt Nam giá 300.000đ, tương đương 49 USD. Sang tới Liên Xô bán được 1.700 rúp, tức trên 100 USD. Một bộ váy bò Thái Lan mua ở thị trường Hà Nội là 40.000đ tương đương 8 USD, sang Liên Xô bán buôn là 390 rúp, bán trực tiếp cho người tiêu dùng là 400 rúp, tức 31 – 32 USD. Một áo kimono mua lẻ tại Hàng Gai, Hà Nội là 22.000đ, tức khoảng 0,36 USD, sang Liên Xô được 25 rúp hay 1,5 USD…

Vào những năm đầu thập niên 80 thì Nhà nước chưa hề cho phép tư nhân được xuất khẩu hàng hoá. Do vậy, hàng hoá xuất khẩu đều phải núp dưới hình thức hành lý cá nhân: một số đồng hồ, một ít quần áo, một vài bộ trang sức để làm quà. Quy định của Nhà nước về khối lượng hàng xuất khẩu, là rất chặt chẽ. Nhưng trong thực tế thì những người đi lao động xuất khẩu thường có rất nhiều hình thức để vượt mức quy định này, tất nhiên không được vượt trội một mức quá đáng. Cụ thể người ta phải mặc 2 – 3 chiếc quần bò để làm thủ tục xuất cảnh, mặc tới 5 – 6 chiếc áo phông để làm thủ tục lên máy bay. Đồng hồ người ta có thể giấu trong túi áo, túi quần hoặc trong hành lý và đeo 4 – 5 chiếc đồng hồ trên tay, có khi đeo cả lên tận cánh tay.

Cũng có một số cá nhân đã thông đồng với một số nhân viên hải quan để đem được số lượng lớn hàng qua cửa khẩu. Đây là trường hợp những tay buôn chuyên nghiệp. Họ có thể mang đi hàng trăm chiếc quần bò, hàng trăm chiếc đồng hồ, hoặc nhãn hiệu quần bò. Còn phần lớn những người lao động xuất khẩu và cán bộ hay học sinh chỉ đem được những khối lượng như vừa kể trên, nói chung không quá 1.000 USD.

Từ giữa thập niên 80, đã dần dần hình thành những đường dây liên hệ có tổ chức ở cả hai phía. Đã có những đường dây để chuyển những lô hàng lớn từ trong nước ra nước ngoài bằng đường biển, theo những container lớn.

Mất cân đối cung cầu tại Đông Âu

Thị trường hàng nhập trái ngược với thị trường hàng xuất ở chỗ: khâu khó khăn nhất lại là khâu mua hàng. Đối với hàng xuất thì việc mua hàng như quần bò, áo phông, đồ trang sức ở Việt Nam không gặp một khó khăn nào, miễn là có tiền. Đối với hàng nhập, việc mua tại Nga, Đức, Tiệp thì không đơn giản.

Vào những năm đầu, khi số người mua không nhiều, số tiền tung ra để mua cũng không lớn, chưa đủ sức gây ra những mất cân đối giữa cung và cầu. Nhưng khi số người Việt Nam sang quá đông, họ mua vét hàng quá nhiều, thì sự mất cân đối đã phát sinh. Chẳng hạn, một cửa hàng bách hoá dù cỡ lớn như GUM hay TXUM, thì cũng được xây dựng và cung ứng hàng hoá theo kế hoạch nào có thể tính toán trước bắt đầu có phản ứng bằng cách đề ra những tấm biển ngay ở quầy hàng: không bán cho người Việt Nam. Biện pháp đó không bao lâu cũng bị huỷ bỏ.

Cuộc buôn bán này vừa góp phần bổ sung, lại vừa góp phần làm rạn nứt cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp cũ. Nó cũng là một trong những tác nhân kích thích thêm sự sống động của thị trường tự do, thúc đẩy nền kinh tế chuyển mạnh hơn nữa sang cơ chế thị trường.

Lý do rất đơn giản: người Việt Nam không cần đến đó mua, đã có những người Nga đi mua hộ. Chuyện đó không khó gì. Rốt cuộc, hàng hoá trên các quầy hàng bị vét hết, chỉ trừ những thứ mà người Việt Nam thấy không cần mua vì không được bán trên thị trường Việt Nam. Những mặt hàng phổ biến và hấp dẫn nhất mà người Việt Nam mua về là:

– Ở Liên Xô: bàn là, dây lò xo để đun bếp điện, ấm đun nước bằng điện, quạt điện, đồ nhôm các loại (xoong, chậu), phích nóng lạnh (vừa đựng được nước nóng, vừa đựng được nước lạnh), máy bơm nước các loại, biến thế và ổn áp, thuốc lá BT và NB (do Ấn Độ và Bungary sản xuất được bán rộng rãi trên thị trường Liên Xô), giấy cuốn thuốc lá, phim ảnh và thuốc làm ảnh, các loại thuốc chữa bệnh như Penicilline, Analgin, B12, kháng sinh, đồ điện các loại (dây điện, bóng đèn điện, công tắc điện, ổ cắm điện…) Các dụng cụ gia đình như máy xay sinh tố, cối xay càphê, cối xay thịt, cốc chén, bát đĩa…

– Ở Cộng hoà dân chủ Đức: áo jacket có lông ở trong, thường gọi là áo lông Đức, xe môtô Simson, xe đạp Mifa. Ngoài ra, có thuốc tây, súng hơi, một số hoá chất, thuốc nhuộm, một số phụ tùng cho máy móc như vòng bi, xích xe đạp và xích xe máy, phim ảnh và giấy ảnh hiệu Orwo, máy ảnh…

– Ở Tiệp Khắc: xe máy cỡ nhỏ hiệu Babetta, xe đạp Eska. Những đồ pha lê như cốc chén, đèn chùm. Một số hoá chất và thực phẩm như men bia, thuốc chữa bệnh…

Vào cuối thập niên 80, hàng về không còn được ưa chuộng lắm, vì giá bán tại gốc ở các nước sản xuất cũng đã nâng cao lên rồi, mang về không lãi nhiều, người bán không còn thu được lãi từ 3 – 5 lần, mà chỉ là 20 – 30% thôi.

Do đó, phát sinh một mâu thuẫn ngược lại với mâu thuẫn của thời kỳ trước. Trước đây, người dân khổ sở vì không có tiền mua hàng. Bây giờ, số tiền thu được do bán hàng từ Việt Nam sang lại lớn hơn nhiều lần so với khả năng nhập hàng về nước.

Để khắc phục sự mất cân đối này, những nhà buôn Việt Nam lại phải mở những “cửa” để chuyển tiền về nước dưới dạng đôla, vàng, bạc và bạch kim.

Công việc buôn bán này đã là động lực tập hợp vốn liếng trong nước đã bao năm nằm im dưới dạng của để dành. Có thể nói, đây là một trong những hình thức nguyên thuỷ của huy động vốn và tích luỹ vốn của kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Ngoài ra nó kích thích sự phát triển của một số lĩnh vực sản xuất trong nước, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người lao động, góp phần cải thiện nhanh chóng đời sống của các gia đình Việt Nam có con em đi nước ngoài.

Nền kinh tế ngoại thương ngoài vòng pháp luật này đã góp phần giải quyết đáng kể khó khăn về hàng hoá trong suốt thập niên 80. Một phần rất lớn những mặt hàng công nghiệp bán trên thị trường Việt Nam là những mặt hàng nhập khẩu theo con đường này: các nguyên liệu, hàng tiêu dùng từ tủ lạnh, bàn là, quần áo, xe cộ cho tới các dụng cụ gia đình thông thường. Cả thành thị lẫn nông thôn, trên các đường phố cũng như trên chợ búa trong cả nước, đâu đâu cũng thấy bày bán nhan nhản hàng hoá Liên Xô, Đức, Tiệp, v.v.

Kỳ cuối: Sứ mệnh của đội tàu viễn dương

SGTT – Vosco là tên viết tắt của đội tàu viễn dương Việt Nam (Vietnam Ocean shipping company). Ra đời từ năm 1970, ban đầu lực lượng còn rất nhỏ bé, Vosco vận tải hàng hoá chủ yếu chỉ trên các tuyến đường nối các nước xã hội chủ nghĩa phía bờ tây Thái Bình Dương với các nước thuộc thế giới thứ ba (Iraq, Indonesia, Algeria, Ai Cập…) để nhập gạo, dầu… về nước.

Tranh biếm hoạ những nguồn hàng của thị trường tự do trong thời bao cấp (báo Lao Động, 17.1.1991)

Từ cuối thập niên 70 và nhất là từ khi bước vào thập niên 80, Vosco cùng với nền kinh tế Việt Nam phải vươn ra thế giới tư bản chủ nghĩa. Ban đầu, Vosco chỉ có ở trung ương. Về sau, các tỉnh và thành phố cũng lập ra những đội tàu viễn dương của mình, mà tiên phong là Hải Phòng. Vosco từ đây là giải pháp “bung ra” về xuất nhập khẩu.

“Kế hoạch” của thị trường

Hàng xuất khẩu phần lớn là hàng của Nhà nước, hoặc Nhà nước trung ương, hoặc Nhà nước địa phương. Miền Nam và miền Trung có các nông sản như càphê, hạt điều, hạt tiêu, tôm đông lạnh, trầm hương, yến, đỗ, đậu phộng. Miền Bắc có than đá (của Quảng Ninh), thuỷ sản đông lạnh, đỗ, đậu phộng, gỗ, vừng và một số rau quả.

Từ năm 1983 – 1984, mặt hàng xuất khẩu phổ biến là sắt vụn. Khi đó, Nhật Bản bắt đầu nhập sắt vụn của Việt Nam để tái chế. Tỉnh nào cũng thu gom sắt vụn đủ các loại và xin phép Chính phủ xuất sang Nhật để nhập một số vật tư và hàng tiêu dùng cho địa phương.

Những mặt hàng xuất khẩu kể trên đều do cơ quan ngoại thương của trung ương hoặc địa phương mua theo hợp đồng kinh tế hoặc do các cơ sở kinh tế địa phương uỷ thác xuất khẩu. Ngoại tệ được Nhà nước trung ương hoặc địa phương quản lý theo kế hoạch. Tóm lại, trong hình thức xuất khẩu này, gần như không có kinh tế tư nhân. Tư nhân chỉ tham gia vào việc thu gom các nguồn hàng cho tới kho của Nhà nước. Còn từ kho đến tàu và đi ra nước ngoài thì tư thương hầu như không được nhúng tay vào.

Những tàu viễn dương sau khi chở hàng đi bán ở nước có nhiệm vụ nhập một số hàng về theo kế hoạch. Những hàng nhập khẩu chính thức về gồm có ôtô cũ, xe máy mới hoặc cũ, vải vóc, đường, thuốc men, sắt thép, ximăng, bông, sợi, chất dẻo, một số thiết bị xây dựng như kính cửa, thiết bị nội thất, phụ tùng ôtô, các phụ tùng thay thế cho máy móc như vòng bi, dây curoa…

Theo quy định của tàu viễn dương, mỗi thuỷ thủ đều được mang về một số đồ dùng cá nhân dưới hình thức hàng hoá: xe máy, tivi, tủ lạnh, máy may, máy hút bụi… Tuy nhiên, mỗi thuỷ thủ chỉ được đem một khối lượng hàng hạn chế, thường là mỗi thứ một chiếc và tổng giá trị không quá 500 USD. Nhưng trong thực tế, tất cả các thuỷ thủ và kể cả thuyền trưởng cũng thoả thuận với nhau để “vượt mức” gấp ba, bốn, năm lần hoặc nhiều hơn thế nữa. Trong dịp đi khảo sát tại Hải Phòng năm 1988, tác giả đã phỏng vấn trực tiếp một số thuỷ thủ Vosco và được xem cả những chứng từ lẫn sổ tay riêng của họ. Qua đó thấy rằng trung bình mỗi người một chuyến đi phải mang theo ít nhất là 5.000 đôla, và số hàng họ đem về bán lại có thể tăng giá trị gấp hai lần.

Khi tàu Việt Nam cập cảng Hong Kong, Nhật, Singapore…, trong thời hạn chờ đợi tại bến để bốc dỡ hàng, các thuỷ thủ được cấp giấy phép lên bờ, thường là một ngày. Nếu tàu phải ở lại cảng trong thời gian lâu hơn, thì các thuỷ thủ cũng được cấp giấy lên bờ tới lần thứ hai hoặc lần thứ ba. Khi được lên bờ, các thuỷ thủ thường đi vào các đường phố để nhặt nhạnh các đồ cũ mà các gia đình đã thải bỏ ra và đem về: tủ lạnh, máy giặt, máy may, tivi, máy cassette, máy hút bụi, máy lạnh, xe đạp cũ, quần áo và một số dụng cụ lặt vặt trong gia đình như nồi niêu, bát đĩa, bàn ủi, máy đánh chữ, máy xay sinh tố…

Hằng năm, có hàng trăm chuyến tàu viễn dương về nước, tức là có một lượng hàng hoá khoảng từ 100 – 200 triệu USD được nhập khẩu qua bàn tay thuỷ thủ và trên các tàu Vosco.

Từ những năm 1982 – 1983, tại một số cảng, do dân địa phương biết được rằng, các tàu của Việt Nam cập bến thường “ăn” những mặt hàng này, nên một số nhà kinh doanh nhỏ sở tại đã làm thay thuỷ thủ trong việc nhặt nhạnh các đồ cũ đó. Những người này thường đánh những chiếc xe tải đi các đường phố và nhặt nhạnh lên xe tất cả những gì mà họ thấy thuỷ thủ Việt Nam hay nhặt nhạnh. Sau đó, họ đưa về một bãi nào đó ở gần cảng hoặc tại một cửa hàng tự do lựa chọn. Những mặt hàng lặt vặt không có giá trị cao thì họ ghi giá đồng loạt mỗi thứ 5 USD. Còn những thứ có giá trị lớn hơn, thí dụ như xe gắn máy, thì họ cũng định giá đồng loạt là 100 USD/chiếc, thuỷ thủ lựa chọn mua theo sở thích tiêu dùng ở thị trường Việt Nam.

Đỡ khó khăn nhờ hàng lậu

Sau khi thu gom được hàng hoá và đưa xuống tàu, có hai vấn đề quan trọng là phải cất giấu hàng hoá trên tàu và phải tìm cách nào để đưa được hàng vào trong nước. Các thuỷ thủ thường cất giấu trong các hầm tàu, thùng nước ngọt, thùng dầu máy và các ngóc ngách của con tàu những mặt hàng vượt quá mức quy định. Khi tàu cập bến, cơ quan hải quan xuống tàu khám xét. Tập thể thuỷ thủ và cả thuyền trưởng cũng phải “làm luật” một cách “hợp lý”. Sau khi được hải quan kiểm tra rồi, các thuỷ thủ mới tìm cách chuyển nốt lên bờ những hàng không hợp lý còn cất giấu dưới tàu.

Vấn đề tiêu thụ hàng lậu không phải là điều khó khăn. Tại tất cả các cơ sở trong nước, nhất là ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Hòn Gai, Đà Nẵng, Cửa Lò, Nha Trang, Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu… đã hình thành những tổ chức của tư nhân, sẵn sàng tiêu thụ những mặt hàng này.

Nếu quan sát trên thị trường sẽ thấy hàng Vosco chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có lẽ, ước chừng 50% tổng số xe máy ở Việt Nam nhập theo đường Vosco là xe đã sử dụng. Tủ lạnh cũ cũng chiếm tới khoảng 50% số tủ lạnh được bán trên thị trường. Còn những mặt hàng khác thì rất nhiều, như máy cassette, đầu CD, tivi, máy hút bụi, nồi cơm điện, lò vi ba, xe đạp…

Như vậy, xét về ý nghĩa đối với thị trường và nền kinh tế, hàng Vosco là một nguồn bổ sung rất quan trọng cho sự thiếu hụt của nhập khẩu chính thức.

Tóm lại, trong suốt những năm từ cuối thập niên 70 tới hết thập niên 80, Việt Nam có nhiều nguồn bổ sung hàng hoá khác nhau thông qua những con đường không chính thức: nguồn hàng của những người Việt Nam tại Liên Xô và Đông Âu chuyển về, nguồn hàng do Việt kiều gửi về cho thân nhân, nguồn hàng từ Thái Lan “quá cảnh” qua Lào và Campuchia, nguồn hàng Vosco… Đó là một trong những lý do giải thích tại sao Việt Nam khi lâm vào những khó khăn kinh tế, thâm hụt ngoại thương, giảm sút viện trợ, thiếu thốn ngoại tệ mà vẫn không quá khó khăn về hàng hoá như ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Ngược lại, ngay vào thời kỳ mà nền kinh tế cả nước gặp khủng hoảng về nhập khẩu và cân đối ngân sách, thị trường tự do vẫn có thể phát huy vai trò của nó và đáp ứng được những yêu cầu của xã hội về hàng tiêu dùng.

1 Comment

  1. mau ban xe oto

    Kinh Tế VN xuyên suốt thời đại | Ktetaichinh’s Blog

    Trackback by mau ban xe oto — October 18, 2014 @ 4:58 am


RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: