Ktetaichinh’s Blog

February 8, 2010

Kiểm toán độc lập: Vướng vì thiếu luật

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:24 pm
Tags: , ,
Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 09:07

Lãnh đạo Bộ Tài chính, VACPA, các doanh nghiệp kiểm toán tại buổi hội thảo ngày 5/2.

Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể

Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể.

Chính vì thế, việc ban hành Luật Kiểm toán độc lập đang là đòi hỏi cấp thiết nhằm điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập cũng như việc đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm nghĩa vụ của các bên liên quan.

Tại hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo Luật Kiểm toán độc lập do Bộ Tài chính tổ chức ngày 5/2, đa số các đại biểu đều cho rằng, với những quy định chỉ dừng ở cấp độ nghị định như hiện nay, hoạt động kiểm toán độc lập đã gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là những chế tài hướng dẫn, xử lý những vấn đề nảy sinh và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm toán độc lập.

Nghị định “ôm” không xuể

Theo TS Hà Thị Thu Hà, Phó vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán – kiểm toán (Bộ Tài chính), hiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam tuy đã xuất hiện được gần 20 năm, song do trong suốt quá trình đó, nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nên các yếu tố của thị trường dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ kiểm toán vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh.

Mặt khác, thực tế thì các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chưa chú trọng công tác quản trị công ty, trong đó có việc sử dụng công cụ kiểm toán độc lập để soát xét việc tuân thủ quy định pháp luật cũng như đảm bảo khách quan, trung thực và công khai hóa thông tin.

Tuy nhiên, yếu tố có vai trò quyết định trong những tồn tại và hạn chế của hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay là vấn đề pháp luật. Nghị định về kiểm toán độc lập là văn bản pháp lý cao nhất hiện nay của hoạt động này, song nó lại chưa tương xứng với vai trò, vị trí hoạt động kiểm toán độc lập trong nền kinh tế.

Theo TS. Hà, kiểm toán độc lập là dịch vụ đặc biệt vì nó cung cấp sự “chứng thực” thông tin kinh tế, tài chính cho xã hội. Trong khi đó, chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập lại phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội ngũ kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.

Chính vì vậy, yêu cầu đòi hỏi phải quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các đối tượng trên là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng kiểm toán.

Thế nhưng, với việc chỉ có nghị định là văn bản pháp lý cao nhất để điều chỉnh các vấn đề liên quan trên, đã không đảm bảo được hiệu lực pháp lý đầy đủ để những tổ chức, cá nhân liên quan thực thi quyền và trách nhiệm của mình.

Bên cạnh đó, hiện nghị định về kiểm toán độc lập lại không quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng dịch vụ kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhâp. Chẳng hạn, nghị định quy định chưa quy định rõ về việc nghiêm cấm, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp và khách hàng kiểm toán.

“Điều này đã dẫn đến thực tế là khó quy trách nhiệm để xử lý những vi phạm nảy sinh trong quá trình kiểm toán độc lâp”, TS. Hà cho biết.

Còn theo bà Hà Thị Thu Thanh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, nghị định về kiểm toán độc lập hiện nay chưa quy định cơ quan đầu mối quản lý đối với hoạt động kiểm toán độc lập từ khi cấp phép cũng như quản lý trong quá trình hoạt động, hay việc bổ sung, thay đổi hồ sơ, điều chỉnh, thu hồi giấy phép, xử lý vi phạm… nên chưa thể đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp.

Ngay cả việc không quy định về vốn tối thiểu đối với công ty kiểm toán TNHH cũng gây nên những bất cập trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại khi có rủi ro trong quá trình kiểm toán cho khách hàng, đồng thời chưa tạo được động lực buộc doanh nghiệp kiểm toán phải rất cẩn trọng khi cung cấp dịch vụ kiểm toán cho xã hội.

Bà Thanh cho hay, trong nghị định hiện nay cũng chưa quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, ngăn cấm hành vi của những doanh nghiệp kiểm toán. Do vậy đã dẫn đến việc có nhiều doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới thành lập đã nặng về doanh thu và thị trường hơn là yếu tố chất lượng.

“Điều này đã ảnh hưởng đến nhiều trường hợp thông tin sai lệch, trong khi chúng ta lại chưa có cơ chế xử lý”, bà Thanh nói.

Bên cạnh đó, họ không đáp ứng đủ được những yêu cầu tối thiểu, chẳng hạn như số lượng kiểm toán viên hành nghề, thuê mượn chứng chỉ, sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán…

Ngoài ra, theo bà Thanh, nhiều vấn đề về kỹ thuật kiểm toán như: quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán, báo cáo kiểm toán, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán… cũng chưa được quy định trong nghị định.

“Hiện nghị định cũng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ về hoạt động kiểm toán độc lập có yếu tố nước ngoài như: điều kiện hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, về vấn đề liên doanh liên kết, cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan qua biên giới, về công nhận bằng cấp, chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài”, bà Thanh cho hay.

Cần nâng lên thành luật hóa

Theo bà Thanh, chính những bất cập trên đã dẫn tới điều đáng tiếc là, đúng vào lúc cộng đồng đang cần và tin tưởng vào hoạt động kiểm toán độc lập thì cũng là lúc nảy sinh những nghi ngờ về chất lượng, tính trung thực của các báo cáo kiểm toán.

“Những thiếu sót trên không chỉ dừng lại ở cấp độ bổ sung mà cần phải được nâng lên thành luật hóa”, bà Thanh đưa ra quan điểm.

Trong khi đó, theo ông Bùi Văn Mai, Phó chủ tịch thường trực Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), kiểm toán độc lập xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1991, trong khi thế giới có từ trên 100 năm, nên việc xây dựng luật cũng cần phải có một quá trình. Chúng ta không thể mang nguyên luật của thế giới áp dụng cho thực tiễn Việt Nam.

Trong 19 năm qua, chúng ta mới chỉ dừng lại ở cấp độ nghị định về kiểm toán độc lập. Hiện hoạt động kiểm toán độc lập đã được xã hội thừa nhận và khi thị trường chứng khoán phát triển thì nó đã có tác dụng rõ rệt.

Ông Mai cho biết, thực tế, Bộ Tài chính đã đề cập đến việc xây dựng luật kiểm toán độc lập từ 6 – 7 năm trước, nhưng khi đó chúng ta phải tập trung cho việc xây dựng Luật Kiểm toán Nhà nước, nên Quốc hội đã chỉ đạo phải căn cứ trên sự triển khai Luật Kiểm toán Nhà nước để tránh những chồng chéo và rút ra được những vướng mắc trong thực tế để xây dựng luật hoàn chỉnh.

Hơn nữa, theo ông Mai, kiểm toán độc lập trước hết vì lợi ích chung của toàn xã hội, nên mục tiêu của nó là phải xác minh tính trung thực trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi công khai, giúp cho các tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp đó.

“Chính vì vậy, nếu tự mình phát triển thì rất khó để đạt được trình độ phát triển cao. Việc mở cửa hội nhập của nền kinh tế sẽ mang lại nhiều lợi ích thông qua việc tiếp cận các cơ hội học hỏi, tiếp cận những kinh nghiệm của thế giới, giúp chúng ta hoàn thiện dần các vấn đề mang tính pháp lý của hoạt động kiểm toán độc lập”, ông Mai cho biết.

Tuy nhiên, theo ông Mai, nếu việc ban hành luật kiểm toán độc lập bị chậm trễ theo kế hoạch sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kiểm toán và các bên liên quan.

Advertisements

Con đường tạo uy tín cho đồng Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:12 pm
Tags: ,

Tạo uy tín cho đồng tiền Việt Nam là một nhiệm vụ không thể không làm để Việt Nam có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nhưng đây không phải là công việc ngày một ngày hai.

Sau khi điều chỉnh mạnh tỷ giá vào cuối tháng 11 và trước diễn biến lạm phát không thuận lợi trong tháng 11 và 12.2009, Chính phủ đã có những động thái chính sách mạnh khác như tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, chấm dứt chính sách hỗ trợ lãi suất 4%, yêu cầu bảy tập đoàn và tổng công ty nhà nước lớn bán ngoại tệ cho các ngân hàng, và sắp tới, đóng cửa các sàn vàng.

Những chính sách này đều nhằm giữ niềm tin của người dân vào đồng nội tệ. Nhưng có vẻ như niềm tin chưa dễ quay trở lại. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều gặp phải khó khăn trong việc huy động vốn ngay cả khi hầu hết các mức lãi suất đã được đẩy lên sát trần 10,5%; tỷ giá trên thị trường tự do vẫn được duy trì ở mức cao, khoảng 19.400đ/USD; và giá vàng trong nước luôn cao hơn khá nhiều so với giá vàng thế giới.

Tạo uy tín cho đồng tiền Việt Nam là một nhiệm vụ không thể không làm để Việt Nam có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nhưng đây không phải là công việc ngày một ngày hai. Việt Nam cần phải có một chính sách nhất quán và dài hạn về vấn đề này càng sớm càng tốt.

Tác hại kinh tế của việc đồng bản tệ không được tín nhiệm

Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước và Việt Nam giai đoạn 1980 – 2009.
Nguồn: http://www.indexmundi.com

Trước hết, cần lưu ý rằng một quốc gia có thể phát triển mà không cần đồng bản tệ. Các nước thuộc khối Cộng đồng chung châu Âu đã từ bỏ đồng bản tệ của mình để cùng sử dụng một đồng tiền chung. Một số nước nhỏ như Panama, El Salvador, Ecuador, và gần đây là Zimbabwe đã từ bỏ đồng bản tệ. Họ sử dụng USD làm phương tiện thanh toán.

Nhưng một khi đồng bản tệ trở thành đồng tiền bắt buộc trong các giao dịch chính thức của một quốc gia thì việc nó không được tín nhiệm sẽ gây cản trở cho sự phát triển của quốc gia đó. Khi đồng bản tệ không được tín nhiệm, nó sẽ không đáp ứng được đồng thời cả ba chức năng: phương tiện thanh toán, dự trữ giá trị và đơn vị tính toán. Một mặt, theo quy định của pháp luật, mọi người buộc phải sử dụng đồng bản tệ làm phương tiện thanh toán; mặt khác, xuất phát từ lợi ích kinh tế, người dân sẽ có xu hướng sử dụng các đồng tiền khác làm phương tiện dự trữ giá trị và đơn vị tính toán cho một phần tài sản hoặc một số các dự án kinh tế của mình.

Khi người dân sử dụng những đồng tiền khác thay vì đồng bản tệ để tiết kiệm, lãi suất huy động đồng bản tệ của các ngân hàng thương mại buộc phải duy trì ở mức cao, dẫn đến lãi suất huy động vốn của các doanh nghiệp cũng phải cao tương ứng. Chẳng hạn, trong khi hoạt động kinh doanh trên toàn thế giới vẫn còn đang rất khó khăn, thì lãi suất cơ bản của Việt Nam được thiết lập ở mức 8%, so sánh với mức lãi suất “benchmark” của hai nước láng giềng Thái Lan là 1,25% và Malaysia là 2%. Với mức lãi suất cao như vậy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp của các quốc gia mà lãi suất huy động thấp.

Thiệt hại cũng đến với cả người dân khi phải sử dụng phương tiện khác như ngoại tệ mạnh hoặc vàng để tiết kiệm. Lãi suất của những phương tiện này đều thấp. Hơn nữa, người dân lại còn phải trả các chi phí chuyển đổi khi phải chuyển qua lại giữa VND với các phương tiện dự trữ giá trị đó.

Việc đồng bản tệ không được tín nhiệm còn khiến các đơn vị kinh doanh dễ gặp phải sai lầm khi tính toán và xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Khi đồng bản tệ không được sử dụng làm đơn vị tính toán, trong khi vẫn phải dùng làm phương tiện thanh toán, các chủ thể kinh tế sẽ liên tục phải điều chỉnh giá cả đầu vào và đầu ra mỗi khi tỷ giá biến động để đảm bảo mức lợi nhuận kỳ vọng theo kế hoạch của mình. Thật khó có thể tránh được sai lầm khi ta phải làm công việc này liên tục, giống như người kỹ sư sẽ khó có thể tránh được sai lầm nếu như anh ta sử dụng cả hệ đơn vị mét và đơn vị inch cùng một lúc trong thiết kế.

Ngoài ra, đồng bản tệ không được tín nhiệm còn dẫn đến bất bình đẳng kinh tế. Khi đồng bản tệ luôn trong tình trạng mất giá, một bộ phận nhỏ dân chúng có khả năng tiếp cận nhanh chóng với các cơ hội đầu tư cũng như phương tiện dự trữ giá trị khác sẽ không những tránh được các tổn thất mà còn thu được lợi nhuận cao. Trong khi đó, bộ phận dân chúng lớn hơn, như những người làm công ăn lương, công nhân và nông dân, sẽ có ít cơ hội hoặc luôn chậm chân hơn so với các bộ phận dân chúng kia trong việc chuyển đổi tài sản tích luỹ của mình. Kết quả là nhóm người này sẽ ngày càng trở nên nghèo đi do tài sản của họ bị mất giá nhiều hơn so với tài sản của nhóm người kia.

Nguyên nhân dẫn đến VND không được tín nhiệm

Tỷ giá đồng bản tệ so với USD của một số nước và Việt Nam giai đoạn 1980 – 2008 (1991=100) (*)

Một quá khứ xấu về lạm phát và tỷ giá có thể khiến cho đồng bản tệ của một quốc gia không được tín nhiệm ngay cả khi các chính sách hiện tại là tốt đẹp. VND rơi vào trường hợp như vậy.

Lạm phát luôn là một nỗi ám ảnh trong tâm trí của người Việt. Trong khi các nước tiêu biểu hay “tấm gương” trong khu vực (Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan) liên tục duy trì được CPI dưới hoặc xấp xỉ 5% trong một khoảng thời gian rất dài thì Việt Nam chỉ có duy nhất vài năm 1989 – 2003 duy trì được CPI dưới 5%. Trong những năm khác, CPI thường xuyên ở mức 8 – 9% (xem hình 1). Quá khứ lạm phát trên hai con số, thậm chí ba con số, vẫn còn khá gần.

VND cũng mất giá nhiều so với các đồng tiền khác, thể hiện qua việc tỷ giá danh nghĩa VND/USD thường xuyên tăng. Nếu loại trừ giai đoạn đặc biệt 1980 – 1985, khi cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất USD lên rất cao để kiềm chế lạm phát dẫn đến USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền khác trên thế giới, và loại trừ giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực năm 1997 – 1998, thì bốn nước trong khu vực mà ta đang so sánh đã duy trì được tỷ giá đồng bản tệ so với USD tương đối ổn định trong suốt lịch sử phát triển của mình (xem hình 2).

Đặc biệt, sau giai đoạn khủng hoảng tài chính, các quốc gia đó đã có những thay đổi căn bản về chính sách tiền tệ, giúp đồng bản tệ của họ không những ổn định trở lại mà còn có xu hướng tăng giá trong những năm sau đó.

Trong khi đó, tuy VND không bị mất giá nhiều khi xảy ra khủng hoảng tài chính khu vực, nhưng lại liên tục bị giảm giá kể từ năm 1996. Trong giai đoạn 1996 – 2008, VND bị mất giá khoảng 45% so với USD, trong khi các đồng tiền khác chỉ mất giá trong khoảng từ 18 – 27% so với USD bất chấp một số trong đó đã có lúc mất giá đến gần 100% trong giai đoạn khủng hoảng.

Làm thế nào để tạo uy tín cho VND?

Để tạo được uy tín cho VND, Chính phủ không có cách nào khác ngoài việc theo đuổi một số chính sách nhất quán sao cho lạm phát được kiềm chế ở mức thấp (theo kinh nghiệm thế giới nên dưới 5%) và đồng nội tệ liên tục tăng giá ở mức hợp lý so với các đồng tiền mạnh khác.

Đây là một nhiệm vụ tưởng chừng khó nhưng hoàn toàn khả thi đối với một nước đang phát triển. Kinh nghiệm của các nước đi trước như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Úc, New Zealand v.v… đã chứng tỏ điều này. Tuy nhiên, để theo đuổi mục tiêu này, có hai quan niệm sai lầm cần phải vượt qua.

Xuất khẩu gạo của Việt Nam, 2005 – 2009
Nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Tổng cục Thống kê

Quan niệm sai lầm thứ nhất là về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Một số người vẫn quan niệm rằng để đạt tăng trưởng kinh tế cao thì chúng ta buộc phải chấp nhận lạm phát cao. Đây là một quan niệm sai lầm trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.

Trên phương diện lý thuyết, sự phát triển không ngừng của công nghệ và năng suất lao động bù đắp được sự khan hiếm tài nguyên cũng như sự gia tăng của cầu, khiến cho giá cả của rất nhiều loại hàng hoá tiêu dùng giảm hoặc tăng không đáng kể theo thời gian. Hay nói cách khác, một quốc gia có thể duy trì được tốc độ phát triển cao mà không phải đối mặt với sự tăng giá nếu nó liên tục cải thiện được năng suất lao động. Trong khi đó, nếu để lạm phát xảy ra, những tổn thất kinh tế như đã trình bày ở trên sẽ cản trở phát triển.

Trên phương diện thực tiễn, bốn nước trong khu vực trong minh hoạ của chúng ta đã duy trì được mức tăng trưởng rất cao trong thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990 với mức CPI thấp, chỉ xấp xỉ hoặc dưới 5%. Cụ thể, Hàn quốc đạt được tốc độ tăng trưởng GDP rất cao ở mức 8 – 11% trong giai đoạn 1986 – 1990; Đài Loan ở mức trung bình 8% trong thập kỷ 1980 và 7% trong nửa thập kỷ 1990; Thái Lan đạt khoảng 8 – 13% trong giai đoạn 1987 – 1995; và Malaysia tăng trưởng liên tục ở mức 9% trong giai đoạn 1988 – 1996.

Việt Nam chưa từng khi nào đạt được mức tăng trưởng ổn định cao như những nước “tấm gương” trong khu vực. Thời kỳ đạt tăng trưởng cao lâu nhất là giai đoạn 1992 – 1997 và gần đây nhất là giai đoạn 2005 – 2007, với mức tăng trên 8%. Trong giai đoạn tăng trưởng 1992 – 1997, đã có vài năm Việt Nam duy trì được CPI ở mức thấp. Nguyên do chính của hiện tượng này là trong nửa thập kỷ 1990, Việt Nam đã có những cải cách mạnh mẽ trong khu vực doanh nghiệp, dẫn đến năng suất lao động được cải thiện đáng kể. Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2005 – 2007 gắn với CPI tăng ở mức cao từ 7,5 – 8,4%, và năm 2008 là 23%, thể hiện tăng trưởng trong giai đoạn này không phải do sự gia tăng năng suất lao động. Nó là kết quả của chính sách tín dụng dễ dãi.

Quan niệm sai lầm thứ hai là về ổn định tỷ giá. Tỷ giá ổn định, hay chính xác hơn, dao động trong một biên độ vừa phải là điều cần thiết cho việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, đối với một nước đang phát triển, để duy trì tỷ giá ổn định thì Nhà nước cần phải can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối bao gồm quản lý nguồn cung, quản lý nguồn cầu và quản lý cả cách thức cung – cầu gặp nhau.

Thực ra điều này không cần thiết nếu không muốn nói là luôn tạo ra bất ổn tiềm tàng cho nền kinh tế. Trên nguyên tắc, một nước đang phát triển thường có tốc độ phát triển cao hơn các nước đã phát triển, chẳng hạn Mỹ. Nên nếu quốc gia đang phát triển này duy trì được CPI ở mức thấp thì giá trị đồng tiền của quốc gia này sẽ luôn có xu hướng tăng giá so với USD. Nếu để cho dân chúng và các doanh nghiệp được tự do tham gia vào thị trường ngoại hối thì người dân nước đang phát triển sẽ có xu hướng tin tưởng vào đồng tiền của họ hơn là vào ngoại tệ. Họ chỉ giữ ngoại tệ khi thực sự cần, như nhập khẩu hàng hoá, đầu tư hoặc đi du lịch ra nước ngoài. Chính phủ chỉ cần thực hiện một số các chính sách kiểm soát dòng vốn ra vào quốc gia sao cho tránh được các cú sốc lớn về cung và cầu là đủ để tạo ra một tỷ giá có xu hướng ổn định.

Thực tế chứng minh điều này: các quốc gia trong khu vực sau khủng hoảng tài chính 1997 – 1998 đều chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi (trừ Malaysia chính thức thả nổi có kiểm soát từ năm 2006). Họ không những duy trì được tỷ giá ổn định mà còn tạo ra được đồng bản tệ có giá trị tăng dần so với USD. Và để ngăn chặn đồng tiền của họ tăng giá quá nhanh so với USD, ngân hàng trung ương của các quốc gia này đã phải liên tục mua vào ngoại tệ. Kết quả là họ đều đã tích luỹ được một lượng ngoại tệ khổng lồ để đối phó với các bất ổn.

Duy trì lạm phát thấp, tỷ giá thả nổi (có kiểm soát) và quyết tâm phát triển kinh tế bằng cải thiện năng suất lao động là những điều kiện cần để tạo uy tín thực sự cho VND.

————————————————————–

(*) Số liệu được tính toán bởi tác giả từ các nguồn sau:

– Số liệu các nước từ 1990 – 2008 là tỷ giá trung bình trong tháng 1 hàng năm tại http://www.x-rates.com.

– Số liệu các nước trong hai năm 1980 và 1985 là tỷ giá trung bình năm được lấy từ http://www.wikipedia.org.

– Số liệu của Việt Nam từ 1990 – 2003 là tỷ giá trung bình trong tháng 12 được lấy từ Ohno, K. (2003) “Exchange Rate Management of Vietnam: Re-examinations of Policy Goals and Modality”.
– Số liệu của Việt Nam từ 2004 – 2008 là tỷ giá chuyển khoản ngày 1.1 hàng năm được lấy từ http://www.vietcombank.com.vn.

– Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách (www.vepr.org.vn), trường Kinh tế, đại học Quốc gia Hà Nội

Blog at WordPress.com.