Ktetaichinh’s Blog

January 28, 2010

Nhập siêu do ACFTA?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 am
Tags: , , ,

SGTT – Theo tin của nhật báo Bưu điện Jakarta hôm 21.1.2010, trong phiên điều trần giữa Chính phủ và uỷ ban Công thương thuộc Hạ viện Indonesia trước đó một ngày, bộ trưởng Thương mại Mari Elka Pangestu đã khẳng định rằng chính phủ nước này đã gửi thư lên ASEAN, yêu cầu đàm phán lại một số dòng thuế trong hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), về nguyên tắc có hiệu lực từ 1.1.2010.

Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Công thương Nguyễn Cẩm Tú, tổng thư ký uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và trưởng đoàn đàm phán chính phủ về thương mại quốc tế.

Thưa ông, việc Indonesia sẽ sớm thảo luận với Trung Quốc về việc hoãn thực thi ACFTA, liệu có gây một sức ép, hay khó khăn nào đó lên Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN?

Không hề. Thứ nhất, việc làm của Indonesia đã được dự liệu trong điều 6 của hiệp định, trong đó quy định nước tham gia có thể sửa đổi cam kết nếu được các bên nhất trí. Nước đó phải thông báo, phải tham vấn với các bên tham gia hiệp định, chủ yếu là với nước bị tác động trực tiếp. Khi sửa đổi như vậy, theo thông lệ quốc tế, phải có biện pháp đền bù, tức là đẩy nhanh lộ trình giảm thuế các mặt hàng khác.

Thứ hai, ACFTA không phải là hiệp định chung giữa khối ASEAN và Trung Quốc mà là hiệp định của 11 nước bình đẳng với nhau, quyền lợi ngang nhau. Vì vậy, việc Indonesia đề nghị hoãn giảm thuế 228 nhóm hàng và đẩy nhanh việc giảm thuế 153 nhóm hàng khác, theo như báo chí đưa tin, hoàn toàn là việc riêng của họ, chứ không phải của ASEAN, và càng không liên quan đến chủ tịch ASEAN.

Tuy là chủ tịch ASEAN, Việt Nam không phải lo giải quyết, hay làm trung gian hòa giải gì cả. Chúng ta chỉ phải hỗ trợ cho tiến trình để các bên đạt được thoả thuận tốt nhất, phù hợp với lợi ích chung của các bên và lợi ích riêng của nước là đối tượng thay đổi cam kết.

Theo nhìn nhận của một số chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh trình độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, Việt Nam tham gia vào chương trình thu hoạch sớm làm gì, để nhập siêu ngày càng tăng?

Tôi nghĩ có sự hiểu lầm trong cách đánh giá này.

Thứ nhất, chương trình thu hoạch sớm là một trong ba cấu thành của lộ trình cắt giảm thuế theo hiệp định ACFTA. Hai cấu thành còn lại là cắt giảm thuế theo danh mục thông thường, và cắt giảm thuế theo danh mục nhạy cảm.

Thứ hai, thu hoạch sớm chủ yếu động chạm đến hàng nông sản chưa chế biến. Theo số liệu căn cứ cho đàm phán lúc đó, tức là số liệu xuất nhập khẩu năm 2002, chương trình thu hoạch sớm sẽ có tác động đến 389 triệu USD giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc, và 280 triệu USD giá trị hàng hoá nhập khẩu từ họ. Trong đó, các mặt hàng được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm rất quan trọng tới Việt Nam, như hải sản (201 triệu USD) và rau quả (129 triệu USD).

Trên thực tế, riêng với các nhóm hàng thuộc chương trình thu hoạch sớm, xuất siêu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng theo từng năm. Số liệu xuất siêu từ năm 2004 đến 2008 khi kết thúc chương trình này, lần lượt là 88 triệu USD, 124 triệu USD, 186 triệu USD, 248 triệu USD, và 234 triệu USD (do khủng hoảng toàn cầu).

Nhưng đổi lại việc được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm với xuất siêu tăng nhiều chục triệu USD hàng năm, chúng ta lại chịu nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhiều tỉ USD hàng năm, trong lộ trình cắt giảm tới gần 7.000 dòng thuế theo ACFTA. Ông nghĩ sao về ý kiến cho rằng với việc tham gia ACFTA, chúng ta đã tham bát bỏ mâm?

Theo số liệu năm 2001, căn cứ để đàm phán ACFTA, thực chất 53% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc khi đó bị tác động, tức là thuộc nhóm 90% các dòng thuế trong lộ trình cắt giảm, còn 47% kim ngạch nhập khẩu thuộc về 10% hàng hoá không nằm trong lộ trình cắt giảm thuế. Đến năm 2007, các con số tương ứng là 37% và 63%. Như vậy, chưa kể tới việc lộ trình cắt giảm thuế quan của ta chậm hơn năm năm so với Trung Quốc, rõ ràng suy luận trên là thiếu cơ sở.

Tại sao nhập siêu lại tăng mạnh như vậy? Chủ yếu là từ máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, hoặc để hình thành hạ tầng cơ sở và năng lực sản xuất. Những thứ không thể thiếu trong quá trình phát triển đó, nếu không nhập của Trung Quốc, cũng phải nhập từ nước khác. Nếu nhập từ nước phát triển, tuy chất lượng có thể tốt hơn, nhưng chắc chắn giá sẽ cao hơn nhiều và tổng nhập siêu sẽ lớn hơn nhiều. Đây là sự lựa chọn của doanh nghiệp, nằm ngoài ý chí của Chính phủ và của xã hội.

Không còn cách nào khác, chúng ta chỉ có thể giải quyết tận gốc vấn đề nhập siêu bằng cách phát triển các ngành sản xuất nguyên nhiên vật liệu, thay vì xuất thô nhập thành phẩm; phát triển ngành công nghiệp cơ khí để đáp ứng nhu cầu máy móc; ngành vật liệu xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng, và công nghiệp phụ trợ để khỏi phải nhập linh kiện phụ tùng.

Trước khi ta đủ lớn mạnh để có thể cạnh tranh với cường quốc đi trước chúng ta cả chục năm, với rất nhiều ưu thế, rõ ràng việc giảm thuế đã tác động đến sản xuất trong nước. Tại sao ta không tích cực dựng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng, đối với những hàng hoá giá rẻ, kém chất lượng?

Chúng ta đã hội nhập tương đối sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực, và theo thông lệ, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Tức là không được phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, giữa hàng hoá trong nước và nước ngoài.

Không phải chúng ta không áp dụng những biện pháp kỹ thuật như vậy, nhưng kết quả lại không như mong muốn. Bởi, do trình độ công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất của ta còn tương đối thấp, hầu hết các nhà sản xuất của ta khó đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cao. Chúng ta buộc phải tiếp cận vấn đề này một cách thận trọng và có lộ trình cụ thể để giúp các nhà sản xuất trong nước, chứ không phải tạo thêm khó khăn cho họ. Trình độ họ tới đâu, quy định về chất lượng nâng tới đó.

Tại sao chúng ta chưa có chính sách ưu tiên, khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng, còn những doanh nghiệp nào không theo được thì nên loại bỏ? Như vậy, cả nền kinh tế, cả những doanh nghiệp tốt và cả người tiêu dùng đều có lợi.

Đây là một vấn đề phức tạp, và phải cân nhắc rất nhiều vấn đề mới có thể đưa ra câu trả lời. Tôi xin hẹn một dịp khác.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: