Ktetaichinh’s Blog

January 28, 2010

Vietnam boosts its cyber-threat protection

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:57 pm
Tags:

HANOI, Vietnam, Jan. 28 (UPI) — The government will invest more than $42 million in the coming decade to protect sensitive information from an increasing cyber threat.

The move is part of a far-reaching plan to raise the profile of the country’s Internet technology sector, both in manufacturing of hardware and software development. It is also hoped the plan will show its commitment to combating cyberattacks that might originate in Vietnam, a criticism that has dogged the sector over recent years.

A National Center for Network Security Technology will be set up in the capital Hanoi to develop indigenous protection technologies and train up to 1,000 people in Internet security skills. The center will be overseen by the Ministry of Information and Communications, according to a report on the Vietnam Internet news Web site VietNamNet Bridge.

“By 2020, 100 percent of system managers of the national information systems will be trained and granted national certificates of information security,” the report said.

The center will work closely with a new National Agency for Information Security to be established by the end of the year. The Ministry of Public Security, the Government Secrecy Committee and the Ministry of Industry and Trade will work jointly to set it up. It will focus on building cybercrime warnings, a discovery and prevention system, a verification and security system for the government’s information system and a system to ensure information security for e-commerce activities within industry and trade.

A national network of computer security incident response teams will be set up at agencies to cope with information incidents.

Laws on cybercrime will also be designed.

The announcement comes after the government acknowledged that it had detected nearly twice as many hacking attempts upon the country’s Web sites, both business and government, last year.

Hackers attacked nearly 1,050 Web sites in 2009, up from 450 in 2008 and 340 in 2007, a report on Radio Voice of Vietnam said.

Also on the rise are computer viruses. Last year there were more than 47,000 in Vietnam, a 30 percent rise from 2008, according to statistics from the Bach KHoa Internet Security Center. The most common targets of hackers include Web sites of Internet service providers, financial companies, banks and government agencies.

In November and December 2008, research and software producer BKIS found 18 Web sites of government ministries and departments attacked by hackers.

Many sites are susceptible because companies lack security knowledge and fail to communicate their needs to their Web site builders, said Nguyen Tu Quang, director general of BKIS, set up in Hanoi 2001. BKIS recently joined the Business Software Alliance, an international organization of technology manufacturers including Microsoft, Apple, Cisco and Adobe.

In February 2009 BKIS said its experts had detected mistakes in the security networks of several big computer makers, including Toshiba, Lenovo and Asus. Quang also said that Vietnamese IT experts were successful in uncovering the sources of attacks on Web sites in the United States and the Republic of Korea.

Earlier this month Australia’s Ministry of Defense said it will recruit 130 cybersecurity experts within five years on top of the 51 who work at its new operations center.

South Korea, too, announced it is setting up a cyber warfare command center manned by up to 200 specialists to ward off attacks on government and military IT networks from North Korea and other countries.

But while the Vietnamese government wishes to improve its Internet security, international human-rights organizations have heavily criticized the country for clamping down on Internet use by political dissidents and opponents of the communist regime.

Several dissidents were sentenced to long prison terms for so-called hostile use of the Internet, The New York Times said in a 2004 report. At the time Vietnam ordered local governments to closely monitor Internet use.

Internet cafe owners can be fined or jailed for allowing clients to download or send “bad information” on the Internet. They must also document what Web sites clients use and for how long, the Times report noted

Advertisements

Đổi mới: Lòng thương dân mạnh hơn nỗi sợ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:51 pm
Tags: , , ,

Đổi mới thành công khi những lãnh đạo ở cơ sở theo sát nhịp sống và mạnh dạn hành động vì dân.

Bài 1: Đổi Mới: Lắng nghe, phản tỉnh và nhận thức lại
Bài 2: Đổi Mới: nhóm tư vấn và tinh thần dân chủ

Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam những năm 1986 có điểm đặc biệt cơ bản so với một số quốc gia chuyển đổi khác. Đó là cuộc đổi mới “từ dưới lên” thay vì “từ trên xuống”.

Nhà nghiên cứu Trần Việt Phương trao đổi với VietNamNet: “Nhiều quốc gia việc phát triển từ dưới lên bị trấn áp nhưng ở Việt Nam thì không. Dần dần những người lãnh đạo cao nhất cũng nhận thức lại, khi từ dưới lên và từ trên xuống gặp nhau, lãnh đạo đóng dấu đỏ cho phép những sáng kiến của cơ sở. Đó là sự hình thành của chính sách đổi mới.”

Những sáng kiến của cơ sở và sự hậu thuẫn của những người lãnh đạo cao nhất cho những sáng kiến đó đều là những quyết định “phá rào” dũng cảm, khi “hàng rào” chính là luật pháp của nhà nước, quy định của chính phủ và cả những húy kỵ thiêng liêng của CNXH.

Nhiều trường hợp, đa số các cấp đều nhận thấy sự bất hợp lý trong cơ chế quản lý kinh tế nhưng vì “sợ nguyên tắc” nên không ai dám khởi đầu. Tác giả Đặng Phong viết trong cuốn “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi Mới”: “Thực ra thì lòng vả cũng như lòng sung. Nhưng cả huyện lẫn thành phố đều….: Sợ cấp trên. Thế là cả nước ở trong tình trạng vừa đói vừa sợ: xã sợ huyện, huyện sợ tỉnh thành, tỉnh thành sợ TW, TW thì sợ nguyên tắc và cũng sợ lẫn nhau.”

Chờ đợi mua chất đốt ở phường 17, quận 5, TP.HCM (ảnh chụp tháng 10-1984). Ảnh tư liệu báo Tuổi Trẻ

Những người đã vượt qua nỗi sợ hãi ấy chính là những người “anh hùng” của công cuộc “Đổi mới”. Tác giả Đặng Phong đã kể lại nhiều anh hùng  như vậy trong cuốn sách của ông.

“Sợ thì mặc bà con nông dân chết đói à?”

Tấm gương tiêu biểu được biết tới nhiều nhất chính là “ông khoán hộ”, nguyên Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc. Sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ở Vĩnh Phúc, đến năm 1958, quay trở lại làm Bí thư tỉnh ủy ở chính quê hương mình, vì thế, ông thấu hiểu hoàn cảnh nông thôn Vĩnh Phúc.

Càng thấu hiểu, Kim Ngọc càng thấy bức xúc trước năng suất lao động quá thấp của mô hình hợp tác hóa nông nghiệp. Chính trong một lần xuống ruộng gặt cùng bà con như thế, ông Kim Ngọc đã nghe Chủ nhiệm HTX của thôn Đại Phúc kiến nghị: “Phải khoán cho người lao động thì họ mới làm tốt được”

Kim Ngọc chợt nhận ra ánh sáng ở cuối đường hầm, ông hỏi dồn vị chủ nhiệm: “Ông có dám làm thế không?” Khi vị chủ nhiệm còn ngập ngừng thì ông đã nói: “Ông sợ là phải, nhưng nếu tôi sợ, ông sợ, mọi người đều sợ thì cứ để mặc cho bà con nông dân chết đói à?”

Quyết định 69 của Tỉnh Vĩnh Phúc cho phép Khoán nông nghiệp do Kim Ngọc khởi xướng năm 1966 đã khiến ông Bí thư bị mang tiếng là mất lập trường giai cấp, đi theo CNTB. Nhưng quyết định công khai thách thức “phép Vua” ấy của ông sau này đã được lịch sử ghi nhận là đột phá sáng tạo đầu tiên của quá trình đổi mới nông nghiệp.

Ông Kim Ngọc tháp tùng Bác Hồ đi thăm và trò chuyện với bà con nông dân. Ảnh: Tiền Phong

Một nhà lãnh đạo khác đã đi tiên phong trong mặt trận phá rào là Bí thư tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính. Thời bao cấp, việc ấn định giá nhà nước đã gây biết bao khó khăn cho các hoạt động kinh tế. An Giang không phải là ngoại lệ, giá cả không vận động theo quy luật cung cầu đã khiến cho tỉnh chìm sâu vào khủng hoảng cuối những năm 1970.

Ông Nguyễn Văn Chính đã làm chuyện tày trời khi năm 1977, phá bỏ cơ chế giá áp đặt của nhà nước và áp dụng giá thỏa thuận theo thị trường. Ngày đó, giá cả không chỉ là chuyện kinh tế mà còn là “lập trường”, là “tính Đảng”, vì thế, có người đã hỏi ông Chính rằng ông có biết sợ không khi làm những chuyện liều lĩnh như vậy.

Vị Bí thư tỉnh ủy ấy đã trả lời: “Có chứ, tôi không to gan như các anh tưởng đâu. Tôi sợ lắm chứ. Nhưng trong nhiều cái đáng sợ, tôi sợ nhất là nếu cứ để cho tiếp tục khủng hoảng như thế này thì dân chết, mà Đảng cũng chết. Tôi sợ cái đó nhất, nên tôi phải nghĩ ra cách tránh.”

Sau này, “lệ Làng” bãi bỏ giá bao cấp và tem phiếu ở Long An đã trở thành cơ sở thực tiễn để TW tổng kết và tiến tới việc bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu đó.

“…chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”

Đổi mới đã thành công không chỉ nhờ bản lĩnh của những lãnh đạo cấp cơ sở mà còn bởi những người lãnh đạo cấp cao nhất cũng mạnh dạn “bật đèn xanh”, bảo lãnh cho những phát kiến hợp lý dù chưa hợp pháp ấy.

Người lãnh đạo tiêu biểu cho việc đỡ đầu mọi nỗ lực đổi mới là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Một câu chuyện điển hình là vào năm 1979, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trăn trở làm sao có đủ gạo ăn cho người dân TP Hồ Chí Minh. Cơ chế khi ấy rất cứng nhắc: Bộ Lương thực có trách nhiệm cung cấp gạo cho thành phố nhưng chưa bao giờ cung cấp đủ và kịp thời. Sở Lương thực thì không được phép mua với giá thị trường. Dân đồng bằng sông Cửu Long thì không chịu bán với giá nghĩa vụ. Thành phố có tiền để mua với giá thỏa thuận thì không được mua.

Ông Võ Văn Kiệt khi ấy là Bí thư Thành ủy đã triệu tập cuộc họp tại nhà riêng để tìm cách tháo gỡ. Giải pháp được đưa ra là Thành phố xuất tiền cho cá nhân bà Ba Thi (khi ấy là phó Giám đốc Sở Lương thực), xuống các tỉnh mua gạo với giá thỏa thuận. Bà Ba Thi khác gì tư thương nên người ta gọi đùa Tổ mua gạo tư của bà là “Tổ buôn lậu gạo”.

Bà Ba Thi nói với Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt: “Làm cách này thì chúng tôi làm được nhưng nếu TW biết là đi tù đó.” Ông Sáu Dân vừa cười vừa nói: “Nếu do việc này mà anh chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”

Chủ trương khoán nông nghiệp cũng là ý tưởng được nhiều lãnh đạo cao nhất hậu thuẫn. Cho dù việc khoán ở Vĩnh Phúc năm 1966 của Kim Ngọc bị phê phán nhưng sau đó, thí điểm khoán ở Hải Phòng từ năm 1977 lại được hậu thuẫn. Từ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng với lời khuyên: “Các đồng chí cứ mạnh dạn tìm tòi. Tìm tòi thì có thể sai. Có sai thì sửa…” tới lời thúc giục của cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Tôi đồng ý! Làm ngay! Làm ngay! Không phải hỏi ai nữa! Cứ làm ngay đi.”

Người ủng hộ khoán với những lời lẽ mạnh mẽ nhất chính là Ủy viên Bộ Chính Trị Võ Chí Công, ông khảng khái: “Khoán là đúng quá rồi! Các đồng chí đừng sợ chi hết. Nếu khoán có làm cho trời sập thì tôi cũng sẽ xin chịu trách nhiệm cùng các đồng chí…”

Không có những người lãnh đạo dám cùng chịu trách nhiệm và bảo vệ cho cấp dưới như thế, làm sao mô hình khoán ở xã Kiến An nhỏ bé có thể lan tới huyện Đồ Sơn, tới khắp thành phố Hải Phòng rồi tỏa ra nữa trên khắp đất nước Việt Nam.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ảnh: laodong.com.vn

Đổi mới và điều luyến tiếc

Lịch sử công bằng, đã trả lại đúng công lao và vinh danh những con người thực sự thương dân, đã dũng cảm và sẵn sàng trả giá để mang lại ấm no cho dân.

“Thương dân thì dân thương lại”, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói vậy và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy. Tác giả Đặng Phong đã viết về những hình ảnh thật cảm động về tình thương của dân dành cho những người anh hùng đổi mới:

“Hôm tiễn Kim Ngọc từ văn phòng tỉnh ủy về nhà riêng (để nghỉ hưu), có rất đông nông dân trong tỉnh. Không ít người trong số họ vừa đi vừa kéo vạt áo lau nước mắt…”

“Có lần bà Ba Thi làm việc vất vả quá bị bệnh, phải vào nằm viện. Thật là kỳ lạ, nhân dân cả Thành phố đồn đại, họ biết tin bà nằm viện, họ tới thăm đông lắm. Đó chỉ là những người mua gạo, nhưng họ cảm tấm lòng của bà, họ đem quà bánh tới, săn sóc bà, có người đến ngồi bên giường bóp chân bóp tay cho bà…”

Quá trình Đổi mới và lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi dấu hình ảnh của họ, những người lãnh đạo ở cơ sở mạnh dạn “phá rào”, những người lãnh đạo cao nhất dám tự nhận thức lại để gỡ đi “hàng rào” cũ và cả đội ngũ những nhà tư vấn dám nói thẳng, nói thật.

Họ, những đảng viên ưu tú đại diện cho Đảng đã cùng với nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Đổi mới hơn 25 năm trước. Họ đã chứng minh, khi Đảng biết lắng nghe dân, biết sửa chữa những sai lầm, Đảng sẽ giành được trọn vẹn sự tin yêu của dân. Khi đó Đảng thực sự trở thành Đảng của dân tộc.

Điều luyến tiếc đọng lại là: giá như có thêm nhiều hơn nữa những con người như họ thì cuộc Đổi mới đã có thể diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn và sớm hơn…

Đó cũng là tâm sự của nhà nghiên cứu Trần Việt Phương với VietNamNet: “Hóa ra cái mới bao giờ cũng có độ trễ, bao giờ cũng phải sau một thời gian mới phát huy được tác dụng. Ở đâu cũng có độ trễ thôi nhưng ở ta lâu quá, thời gian tranh tối tranh sáng lâu quá, cái mới ló dần dần ra rồi mãi mới hình thành.”

Vietnam pays high price for fundraising

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:20 am
Tags: ,

By Tim Johnston in Bangkok

Published: January 27 2010 02:00 | Last updated: January 27 2010 02:00

However, the fact the country has been able to tap the markets with its second-ever dollar-denominated bond is part of a wider trend of increasing appetite for emerging market sovereign debt.

The Embi+, JPMorgan’s emerging market sovereign bond index, has seen spreads over US Treasuries, the international benchmark, narrow to 300 basis points, a 500bp fall since the start of the equity rally last March.

Hanoi had to pay higher rates than regional competitors Indonesia and the Philippines to sell $1bn in 10-year bonds. They sold with a yield of 6.95 per cent, at the stronger end of market predictions and 333 basis points above US Treasuries.

It is substantially more than the 228bp premium paid by Indonesia for its $2bn bonds or the 184bp premium paid by the Philippines for its $650m issue.

Vietnam posted GDP growth of 5.3 per cent last year and has targeted 6.5 per cent this year, but confidence has been hit by rising inflation, a widening trade deficit and persistent weakness of the dong.

“Vietnam has been associated in the past year with . . . less prudent macroeconomic policies than either Indonesia or the Philippines,” said Wellian Wiranto, an economist with HSBC in Singapore.

Hanoi is to use the money to fund energy and infrastructure projects.

Recent attempts to sell dong-denominated bonds into the local market have repeatedly fallen flat after the central bank declined to meet market expectations on yields. Vietnam has only once before issued dollar-denominated bonds. In 2005, it sold $750m worth of 10-year bonds which are currently yielding 327bp over comparable US Treasuries. The managers of the latest sale – Barclays Capital, Citigroup and Deutsche Bank – deferred pricing the bonds until Monday because of market turmoil over US bank restrictions.

Vietnam has been forced to pay investors higher yields to borrow in the capital markets amid fears over inflation and its weakening currency.

Nhập siêu do ACFTA?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:56 am
Tags: , , ,

SGTT – Theo tin của nhật báo Bưu điện Jakarta hôm 21.1.2010, trong phiên điều trần giữa Chính phủ và uỷ ban Công thương thuộc Hạ viện Indonesia trước đó một ngày, bộ trưởng Thương mại Mari Elka Pangestu đã khẳng định rằng chính phủ nước này đã gửi thư lên ASEAN, yêu cầu đàm phán lại một số dòng thuế trong hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), về nguyên tắc có hiệu lực từ 1.1.2010.

Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Công thương Nguyễn Cẩm Tú, tổng thư ký uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và trưởng đoàn đàm phán chính phủ về thương mại quốc tế.

Thưa ông, việc Indonesia sẽ sớm thảo luận với Trung Quốc về việc hoãn thực thi ACFTA, liệu có gây một sức ép, hay khó khăn nào đó lên Việt Nam với tư cách Chủ tịch ASEAN?

Không hề. Thứ nhất, việc làm của Indonesia đã được dự liệu trong điều 6 của hiệp định, trong đó quy định nước tham gia có thể sửa đổi cam kết nếu được các bên nhất trí. Nước đó phải thông báo, phải tham vấn với các bên tham gia hiệp định, chủ yếu là với nước bị tác động trực tiếp. Khi sửa đổi như vậy, theo thông lệ quốc tế, phải có biện pháp đền bù, tức là đẩy nhanh lộ trình giảm thuế các mặt hàng khác.

Thứ hai, ACFTA không phải là hiệp định chung giữa khối ASEAN và Trung Quốc mà là hiệp định của 11 nước bình đẳng với nhau, quyền lợi ngang nhau. Vì vậy, việc Indonesia đề nghị hoãn giảm thuế 228 nhóm hàng và đẩy nhanh việc giảm thuế 153 nhóm hàng khác, theo như báo chí đưa tin, hoàn toàn là việc riêng của họ, chứ không phải của ASEAN, và càng không liên quan đến chủ tịch ASEAN.

Tuy là chủ tịch ASEAN, Việt Nam không phải lo giải quyết, hay làm trung gian hòa giải gì cả. Chúng ta chỉ phải hỗ trợ cho tiến trình để các bên đạt được thoả thuận tốt nhất, phù hợp với lợi ích chung của các bên và lợi ích riêng của nước là đối tượng thay đổi cam kết.

Theo nhìn nhận của một số chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh trình độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, Việt Nam tham gia vào chương trình thu hoạch sớm làm gì, để nhập siêu ngày càng tăng?

Tôi nghĩ có sự hiểu lầm trong cách đánh giá này.

Thứ nhất, chương trình thu hoạch sớm là một trong ba cấu thành của lộ trình cắt giảm thuế theo hiệp định ACFTA. Hai cấu thành còn lại là cắt giảm thuế theo danh mục thông thường, và cắt giảm thuế theo danh mục nhạy cảm.

Thứ hai, thu hoạch sớm chủ yếu động chạm đến hàng nông sản chưa chế biến. Theo số liệu căn cứ cho đàm phán lúc đó, tức là số liệu xuất nhập khẩu năm 2002, chương trình thu hoạch sớm sẽ có tác động đến 389 triệu USD giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc, và 280 triệu USD giá trị hàng hoá nhập khẩu từ họ. Trong đó, các mặt hàng được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm rất quan trọng tới Việt Nam, như hải sản (201 triệu USD) và rau quả (129 triệu USD).

Trên thực tế, riêng với các nhóm hàng thuộc chương trình thu hoạch sớm, xuất siêu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng theo từng năm. Số liệu xuất siêu từ năm 2004 đến 2008 khi kết thúc chương trình này, lần lượt là 88 triệu USD, 124 triệu USD, 186 triệu USD, 248 triệu USD, và 234 triệu USD (do khủng hoảng toàn cầu).

Nhưng đổi lại việc được hưởng lợi từ chương trình thu hoạch sớm với xuất siêu tăng nhiều chục triệu USD hàng năm, chúng ta lại chịu nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhiều tỉ USD hàng năm, trong lộ trình cắt giảm tới gần 7.000 dòng thuế theo ACFTA. Ông nghĩ sao về ý kiến cho rằng với việc tham gia ACFTA, chúng ta đã tham bát bỏ mâm?

Theo số liệu năm 2001, căn cứ để đàm phán ACFTA, thực chất 53% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc khi đó bị tác động, tức là thuộc nhóm 90% các dòng thuế trong lộ trình cắt giảm, còn 47% kim ngạch nhập khẩu thuộc về 10% hàng hoá không nằm trong lộ trình cắt giảm thuế. Đến năm 2007, các con số tương ứng là 37% và 63%. Như vậy, chưa kể tới việc lộ trình cắt giảm thuế quan của ta chậm hơn năm năm so với Trung Quốc, rõ ràng suy luận trên là thiếu cơ sở.

Tại sao nhập siêu lại tăng mạnh như vậy? Chủ yếu là từ máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, hoặc để hình thành hạ tầng cơ sở và năng lực sản xuất. Những thứ không thể thiếu trong quá trình phát triển đó, nếu không nhập của Trung Quốc, cũng phải nhập từ nước khác. Nếu nhập từ nước phát triển, tuy chất lượng có thể tốt hơn, nhưng chắc chắn giá sẽ cao hơn nhiều và tổng nhập siêu sẽ lớn hơn nhiều. Đây là sự lựa chọn của doanh nghiệp, nằm ngoài ý chí của Chính phủ và của xã hội.

Không còn cách nào khác, chúng ta chỉ có thể giải quyết tận gốc vấn đề nhập siêu bằng cách phát triển các ngành sản xuất nguyên nhiên vật liệu, thay vì xuất thô nhập thành phẩm; phát triển ngành công nghiệp cơ khí để đáp ứng nhu cầu máy móc; ngành vật liệu xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng, và công nghiệp phụ trợ để khỏi phải nhập linh kiện phụ tùng.

Trước khi ta đủ lớn mạnh để có thể cạnh tranh với cường quốc đi trước chúng ta cả chục năm, với rất nhiều ưu thế, rõ ràng việc giảm thuế đã tác động đến sản xuất trong nước. Tại sao ta không tích cực dựng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng, đối với những hàng hoá giá rẻ, kém chất lượng?

Chúng ta đã hội nhập tương đối sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực, và theo thông lệ, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Tức là không được phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, giữa hàng hoá trong nước và nước ngoài.

Không phải chúng ta không áp dụng những biện pháp kỹ thuật như vậy, nhưng kết quả lại không như mong muốn. Bởi, do trình độ công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất của ta còn tương đối thấp, hầu hết các nhà sản xuất của ta khó đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cao. Chúng ta buộc phải tiếp cận vấn đề này một cách thận trọng và có lộ trình cụ thể để giúp các nhà sản xuất trong nước, chứ không phải tạo thêm khó khăn cho họ. Trình độ họ tới đâu, quy định về chất lượng nâng tới đó.

Tại sao chúng ta chưa có chính sách ưu tiên, khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng, còn những doanh nghiệp nào không theo được thì nên loại bỏ? Như vậy, cả nền kinh tế, cả những doanh nghiệp tốt và cả người tiêu dùng đều có lợi.

Đây là một vấn đề phức tạp, và phải cân nhắc rất nhiều vấn đề mới có thể đưa ra câu trả lời. Tôi xin hẹn một dịp khác.

Blog at WordPress.com.