Ktetaichinh’s Blog

January 24, 2010

Trái phiếu vàng đặt ra nhiều vấn nạn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:56 pm
Tags: , ,

Như vậy, liệu chính phủ có nên phát hành trái phiếu chính phủ bằng vàng nhằm huy động vốn vàng trong dân? Để trả lời câu hỏi này, trước hết, cần phải hiểu rõ ràng nội dung của thuật ngữ. Trái phiếu chính phủ bằng vàng phải chăng là một loại trái phiếu đặc biệt vẫn có mệnh giá bằng đồng nội tệ nhưng được chỉ số hóa (indexed) theo giá vàng, tại các thời điểm phát hành và đáo hạn của trái phiếu? Nếu như thế, thì nó chỉ là loại trái phiếu được đảm bảo theo giá vàng, không khác gì các loại trái phiếu được đảm bảo không bị mất giá do lạm phát như đã nói trên.

Việc phát hành loại trái phiếu này về mặt kỹ thuật là có thể thực hiện được, tuy nhiên về mặt chính sách là không nên, vì có thể làm cho người dân và doanh nghiệp bị tác động bởi một tâm lý kỳ vọng là đồng bạc sẽ ngày càng bị mất giá, một não trạng có thể khiến đồng bạc trượt giá nhanh hơn. Ngược lại, nếu hiểu rằng trái phiếu chính phủ bằng vàng là loại trái phiếu được mua bằng vàng, được hoàn trả vào lúc đáo hạn bằng vàng và có thể được tính lãi cũng bằng vàng là một chuyện hoàn toàn khác, đặt ra nhiều vấn nạn nan giải về mặt kỹ thuật, về mục đích phát hành trái phiếu cũng như về nguyên tắc quản lý ngân sách và điều hành kinh tế vĩ mô.

Về mặt kỹ thuật, phát hành trái phiếu để thu vàng về là một quy trình không dễ dàng và đặc biệt tốn kém.Trước hết, ấn định đơn vị mệnh giá trái phiếu cho phù hợp cũng là một việc đau đầu, là phân, là chỉ hay là lượng, cho phù hợp với khả năng mua trái phiếu vàng của người dân? Việc bán trái phiếu vàng để thu vàng về đòi hỏi chính phủ phải tổ chức rất nhiều điểm bán được bảo vệ an ninh chặt chẽ, có trang bị đầy đủ các thiết bị để thử độ tuổi của vàng, phương tiện đo lường và nhân viên kỹ thuật. Và phải tiêu tốn bao nhiêu thời gian, nhân lực và tiền bạc để huy động một số vàng, ví dụ, tương đương 50 ngàn tỉ đồng, tức khoảng 2 triệu lượng vàng ta (37,5 gam), bằng 75 tấn vàng?

Chưa hết, khi thu số vàng về, chính phủ cũng không thể sử dụng được ngay cho các dự án đầu tư công mà hoặc phải bán ra trên thị trường trong nước để thu tiền đồng hoặc xuất khẩu để thu ngoại tệ. Bán một số lượng vàng lớn như thế chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian và điều quan trọng là nó sẽ ảnh hưởng lập tức đến việc giảm giá vàng. Hậu quả là số tiền thu được sẽ thấp hơn số tiền kỳ vọng qua việc phát hành trái phiếu, khoản ngân sách nào sẽ gánh chịu lỗ lã của việc kinh doanh này?

Phải chăng chúng ta đang đi lệch mục đích phát hành trái phiếu tài trợ dự án. Người ta có thể cho rằng, để tiết kiệm thời gian đồng thời để đảm bảo vàng không bị mất giá, chính phủ có thể bán số vàng này cho Ngân hàng Nhà nước hoặc cho các ngân hàng thương mại. Đây có thể là một biện pháp khôn ngoan nhằm chuyển lỗ về cho hệ thống ngân hàng, nhưng về mặt điều hành vĩ mô, nó lại tạo ra một áp lực lạm phát mới.

Bản chất tiền tệ của việc phát hành trái phiếu, như đã nói trong phần trên, là thu hút một lượng tiền trong lưu thông về và sử dụng chúng cho các dự án mang lại hiệu quả kinh tế, từ đó làm giảm áp lực gây lạm phát của các khoản đầu tư công. Với việc phát hành trái phiếu vàng, chính phủ đã thu về một lượng hàng hóa lớn, đồng thời lại tung ra một lượng tiền lớn tương đương, như thế áp lực lạm phát có thể sẽ tăng gấp đôi.

Cuối cùng, việc gì sẽ xảy ra khi các trái phiếu vàng đáo hạn? Chúng ta có thể hình dung rằng đến lúc đó, do cần vàng thanh toán để bảo vệ uy tín, chính phủ sẽ phải nhập khẩu một lượng vàng lớn, giá vàng trên thị trường tăng vọt và một lần nữa, các khoản lỗ mang tính chất kinh doanh này sẽ lại do ngân sách quốc gia đài thọ!

Việc các chính phủ, và cả doanh nghiệp tư nhân, phát hành trái phiếu huy động vàng đã đi vào lịch sử khi vàng kết thúc sứ mệnh pháp lý của nó như một đồng tiền đầy uy lực tại hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Ngày nay, các trái phiếu vàng (gold bond) được phát hành đâu đó vào những năm 20, 30 của thế kỷ trước nếu còn sót lại chỉ có giá trị sưu tập đơn thuần. Ánh hào quang của vàng có thể vẫn còn chói lọi khi nền kinh tế thế giới sa vào khủng hoảng tài chính tiền tệ và người tiêu dùng mất niềm tin, nhưng vì nó nóng như lửa nên sẽ không có chính phủ thận trọng nào sẵn sàng đùa với nó. Ta về ta tắm ao ta, phát hành trái phiếu bằng đồng nội tệ vẫn luôn là một sự lựa chọn khôn ngoan và an toàn nhất.

Huỳnh Bửu Sơn – Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

http://my.opera.com/smalldreams/blog/show.dml/6829691

Advertisements

Chả cốm Hà Nội

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:02 pm
Tags:

Khi tiết trời chuyển từ hạ sang thu, cũng là lúc người dân thủ đô được thưởng thức hương vị của cốm, món quà quê dân dã, chỉ xuất hiện một lần trong năm, mỗi lần kéo dài 2-3 tháng.

Món ngon đặc sản Hà Nội (P.3)

Khoảng vào đầu tháng 8 âm lịch, những người nông dân ở ven đô, lại cho cốm vào 2 cái thúng và gánh tỏa đi khắp phố phường Hà Nội với tiếng rao “Cốm ơ…ơ…!”. Người dân mua cốm về ăn hoặc chế biến các món ăn mang hương vị cốm. Ngày nay đã có nhiều món ăn được làm từ cốm như chè cốm, xôi cốm, kem cốm, kẹo cốm, chả cốm…

Chả cốm là món ăn rất khác so với chè cốm, xôi cốm ở hương vị và cách chế biến. Nguyên liệu để làm món ăn này có cốm, thịt, giò sống. Cốm thô (cốm sống) gồm 3 loại: cốm đầu mùa (cốm lá me), hạt mỏng, mềm, dẻo thích hợp cho ăn chay hoặc ăn kèm chuối. Cốm giữa mùa dùng để làm chả cốm và cốm cuối nia hạt thường to, dầy, ăn hơi cứng, chỉ phù hợp cho việc nấu chè. Chọn cốm để làm món ăn là thao tác quan trọng, vì nếu chọn loại cốm không thích hợp sẽ làm chả cốm trở nên quá nát hoặc quá cứng. Thịt trộn cốm nên dùng nạc vai vì trong loại thịt này có mỡ giắt đảm bảo cho chả không bị khô hay bị hao khi rán. Nhiều bà nội trợ còn cẩn thận để 10 phút cho gia vị ngấm. Làm như vậy cũng được song nếu để quá lâu sẽ làm cốm nát, mất ngon. Nặn chả thành những miếng to bằng miệng chén uống nước. Ðem miếng chả vừa nặn, hấp cách thủy 15- 20 phút.

Sau khi hấp cách thủy cho chả vào chảo mỡ nóng già, vừa rán vừa lật đến khi vàng đều 2 mặt gắp, bỏ vào lá sen non, không bỏ vào đĩa. Ðể giữ nguyên hương vị cốm, món chả không cho gia vị hành tỏi… Nhiều gia đình cho thêm phẩm hoa hiên để có màu sắc. Như vậy cũng được, nhưng để màu xanh của cốm vẫn hấp dẫn hơn. lúc nóng sẽ cảm nhận được cái giòn tan của vỏ bên ngoài, cái dẻo đến dính răng của nhân bên trong, đậm đà của gia vị. Người ăn không chỉ ăn chả mà còn thưởng thức cả hương vị cốm, thoang thoảng hương vị sen. Ăn chả cốm nóng trong thời tiết se lạnh thật là thú vị.

Bánh tôm Hồ Tây – Món ngon Hà Nội

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:01 pm
Tags:
Chẳng biết bánh tôm Hồ Tây có từ bao giờ. Chỉ biết có người Hà Nội phiêu bạt làm ăn mãi tận Sài Gòn hay tận Australia, tận Pháp, ngày về thăm quê vẫn tìm đến hỏi “bánh tôm Cổ Ngư”.
Món ngon đặc sản Hà Nội (P.2)
Bánh tôm Hồ Tây – Món ngon Hà Nội
Gọi là bánh tôm Hồ Tây, nhưng nơi làm và bán thứ bánh độc đáo này lại nằm trên bờ hồ Trúc Bạch, cách biệt hẳn với Hồ Tây bằng đường Thanh Niên rộng thoáng. Nghe nói ngày trước, ở đây chỉ có vài cái quầy lụp xụp, đơn sơ vừa bán bánh tôm vừa bán bia hơi, trời mưa khách chả biết chạy đâu, đành chịu đứng giữa trời cho mưa xối. Nay bánh tôm Hồ Tây được phục vụ trong một nhà hàng bề thế mấy trăm chỗ ngồi, thấp thoáng trong những tán cây si, cây đa râm mát lộng gió.

Cách thức làm ra cái bánh tôm có vẻ như đơn giản. Bột mỳ, thêm ít bột ủ chua, ít bột nở, ít bột ca-ri nghệ, hòa với nước cho sền sệt. Tôm tươi cắt râu, rửa sạch. Chảo mỡ nóng già, quệt bột lên khuôn, gắn một hai con tôm, thả vào. Cái bột, cái mỡ gặp nhau, chỉ sau mấy phút reo hò mừng rỡ trong chảo là cái bánh tôm đã nổi lên, chờ một lúc cho bánh già, vớt ra để ráo mỡ rồi đem ra phục vụ khách ngay. Nói thì đơn giản thế, nhưng nghề này cũng có lắm công phu. Nào lượng bột bao nhiêu, lượng nước ít nhiều, giữ tôm tươi, lửa lò nóng sao cho bánh không non quá cũng không bị cháy đen… Ấy là bí quyết của nhà hàng. Có thế mới giữ được khách, mới bán được hàng. Cũng cần kể đến nước chấm bánh tôm, nó cũng gần giống nước chấm bún chả vậy, phải đủ các vị chua, cay, mặn, ngọt. Nhưng chỉ vừa đủ, để chúng hòa vào nhau, thành một thứ nước chấm ngon lành đến độ uống suông cũng hết cả bát. Nhà hàng cũng phải có công thức nước chấm riêng, bao nhiêu năm trời vẫn pha một cách ấy.

Bánh tôm được bán theo suất. Một suất mấy cái cũng được tính cả. Có người khen cái suất ở đây khéo quá, ăn hết miếng cuối cùng là không muốn ăn thêm nữa. Thường thì người ta cắt hai suất vào một đĩa (vì khách cũng thường đi có đôi). Một đĩa bánh, kèm một đĩa rau sống đặt giữa bàn ăn, mỗi người một bát nước chấm riêng để trước mặt. Nhìn vào bàn ăn món bánh tôm thấy được sự hài hòa của mầu sắc. Cái bánh vàng rộm điểm con tôm đỏ tươi nổi bật trên nền men sứ trắng. Rau xà lách xanh nõn nà, rau thơm xanh thẫm. Trong bát nước chấm nổi những miếng đu đủ thái mỏng trắng xanh chen với dăm lát ớt đỏ mọng. Cái cách người sành ăn là thế.
Lại nói đến cách ăn. Khách cầm đũa gắp một miếng bánh tôm, kèm mấy lá rau xanh thả vào bát nước chấm. Ðừng mải chuyện, cái bánh dầm lâu trong nước chấm nhũn ra, mất ngon. Bây giờ gắp cái bánh lên, bỏ cho gọn vào mồm đừng để giây nước chấm ra mép. Thế… và bạn sẽ cảm thấy được cái giòn tan của bột, cái béo của mỡ, cái bùi của tôm, cái mát của rau, cái giòn ngọt của đu đủ, thấy được sự hài hòa chua-cay-mặn-ngọt đang tan trên đầu lưỡi. Và bạn sẽ chỉ nói được một lời, rằng: – Ngon!

Bánh tôm Hồ Tây – một thứ quà giản dị – cũng góp phần làm nên bản sắc riêng cho đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.

Món ốc nguội Hà Nội

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:00 pm
Tags:

Những năm 50, 60 ai từng ghé Hà Nội đều biết món bún ốc gánh của hầu hết dân làng 7, chùa Sét toả khắp phố phường Hà Nội. Nước canh ốc Bắc nguội ăn kèm bún Phú Đô vị thơm mát, không tanh.

Món bún ốc nguội không hành, không rau ngày nay không được biết đến nhiều như trước mà thay bằng nước canh nóng hổi, thêm vị ngọt của xương lợn, thơm mùi hành, mùi rau tía tô, vị cay của ớt chưng mới hít thôi đã xộc lên tận mũi.
Từ đầu năm 1990, phố Nguyễn Cao, cạnh chợ Lê Quý Đôn có hàng bún ốc nguội. Suốt 12 năm, món ốc nguội của chị Thảo chủ hàng không hề thay đổi so với gánh bún ốc rong của bà ngoại, mẹ chị mấy chục năm trước. Hơn 10 tuổi chị đã theo mẹ bán hàng.

Món ốc ngội Hà Nội
Ảnh: Quê hương online

Ngày ấy một bên đòn gánh là can nước nguội và ốc, bên kia là gánh bún xếp cạnh rổ bát đũa. Đến đầu cổng chùa chỉ việc đổ nước nguội ra hũ bên ngọt, bên chua. Bên ngọt là nước canh lấy từ ốc luộc, bên chua là bỗng đã đun chín để nguội. Khi khách gọi ăn dùng gáo tre múc bên ngọt, bên chua cho vừa, thêm mấy con ốc vừa khêu trông như những đốm đen vàng nổi trên nước màu hồng trong suốt. Một đĩa bún nữa là đủ. Nước canh ốc nguội nhưng không tanh. Người bán không có kỹ thuật nào cả, chỉ là nước luộc ốc lọc sạch, cho vừa gia vị, có chút phẩm tạo màu hồng, rồi cũng không có mỳ chính, ăn vào vẫn ngọt, vẫn ngon.

Vốn cầu kỳ, chị Thảo đặt mua ốc quen ở các vùng Hải Hậu, Bình Lục, Hà Nam Ninh… Bởi thế, hàng ốc của chị bán đến chiều 30 Tết vẫn đắt hàng.

Theo: VnExpress

Tiếp theo >

Google translate
// English Chinese (Simplified) French German Hindi Italian Japanese Korean Thai Vietnamese
Tiếp nhận
thông tin nhà hàng
Yahoo! Messenger


Liên hệ quảng cáo
Yahoo! Messenger


Tuyển dụng, tuyển dụng



nhà hàng nổi tiếng, nhà hàng, nổi tiếng

Các trang cùng hệ thống

Vụ chào mua cổ phiếu công khai đầu tiên ở Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:35 pm
Tags:
Nếu HVG mua đủ 25% số cổ phiếu của AGF, đây là lần đầu có vụ sáp nhập trên sàn thông qua chào mua công khai.

Đề nghị chào mua công khai để nắm giữ 51% cổ phần công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang (AGF) của công ty cổ phần thuỷ sản Hùng Vương (HVG) đã được hội đồng quản trị AGF thông qua.

Lý do, theo nghị quyết của hội đồng quản trị AGF là “tạo sự hợp nhất về vấn đề thị phần trong phân phối thị trường mang lại lợi ích cho cả hai công ty và ngành cá Việt Nam”.

Nắm giữ 26% cổ phần trong AGF, HVG đã đưa ra đề nghị chào mua công khai vào ngày 4.1.2010 theo quy định trong thông tư 194 của bộ Tài chính.

Cũng theo thông tư này, giá chào mua không được thấp hơn bình quân giá tham chiếu cổ phiếu của công ty AGF do sở Giao dịch chứng khoán công bố trong thời hạn sáu mươi (60) ngày liền trước ngày gửi bản đăng ký chào mua.

Thời gian thực hiện đợt chào mua không ngắn hơn 30 ngày. Trong thời gian này, HVG chỉ được phép tăng giá chào mua.

Ông Ngô Phước Hậu, chủ tịch hội đồng quản trị AGF cho biết, ông không ngạc nhiên khi biết tin AGF bị chào mua do từ năm 2009 HVG nói rõ mục tiêu trở thành đối tác chiến lược. Do cả hai doanh nghiệp đều là nhà xuất khẩu cá tra hàng đầu, ông Hậu cho rằng việc kết hợp sẽ giúp hai doanh nghiệp phát triển tốt.

Ông nói: “AGF có bề dày kinh nghiệm, thế mạnh là thị trường Mỹ, HVG có lực lượng trẻ, xông xáo, nhiều hoạt động đột phá về mặt đầu tư tài chính… có thể đẩy mạnh hơn nữa. HVG chi phối hai nhà máy thức ăn chăn nuôi và cả hai nhà máy này cung cấp cho liên hợp chăn nuôi cá theo hướng sạch của AGF. Là bạn, đồng nghiệp của nhau, tôi xem đây là sự hợp tác tốt để hỗ trợ, bổ sung cho nhau, cộng hưởng để có sức mạnh tổng hợp bảo vệ thương hiệu, thị trường, uy tín… Chúng tôi tin đến đại hội cổ đông, mọi người sẽ hài lòng”.

Ông Hậu cho biết, sau khi nghe tin AGF bị chào mua, cá nhân ông nhận thấy cổ đông có dao động. Gần 30 năm lãnh đạo AGF, ông Hậu nói: “Tôi đã rời vị trí điều hành, chỉ giữ vai trò chủ tịch hội đồng quản trị, thấy rằng cần phải tạo luồng gió mới, cần cải tổ vì một số hoạt động có hiện tượng lão hoá rồi”.

Nếu HVG mua đủ 25% số cổ phiếu của AGF, đây là lần đầu có vụ sáp nhập trên sàn thông qua chào mua công khai.

Hộ khẩu và quyền lao động

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:49 pm
Tags: ,

Hộ khẩu và quyền lao động

Lao Động Cuối tuần số 4 Ngày 24/01/2010 Cập nhật: 7:21 AM, 24/01/2010
Rất nhiều người lao động ở Thủ đô là người nhập cư. Ảnh: Hoàng Hà.
(LĐCT) – Năm 2006 khi thảo luận về Luật Cư trú, nhiều người trong đó có người viết những dòng này, đã đề nghị bãi bỏ chế độ hộ khẩu vì nó ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động, gây ra sự phân biệt đối xử, vi phạm Hiến pháp, vi phạm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã long trọng ký kết, nhưng các quy định hạn chế quyền cư trú phổ quát mà cụ thể là chế độ hộ khẩu vẫn được thông qua.

Theo đó, để được đăng ký thường trú ở thành phố công dân phải chứng minh mình có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Ngay cả quy định trên của Luật Cư trú cũng nên được xem xét lại theo hướng huỷ bỏ, thế mà Dự thảo Luật Thủ đô dự kiến sẽ được trình Quốc hội trong năm nay lại đi ngược lại hướng đó, thậm chí còn quy định khắt khe hơn: thay cho “1 năm trở lên” dự thảo lại quy định thời gian tạm trú là “5 năm trở lên”. Dự thảo đã dấy lên nhiều ý kiến phản đối.

Đây là điều không thể chấp nhận được, không chỉ vì nó vi phạm các quyền cơ bản của con người, vi phạm Hiến pháp, vi phạm bản thân Luật Cư trú (hay những người soạn thảo hiểu “từ 1 năm trở lên” có thể là 5, 10 hay 50 năm trở lên cũng hợp luật?)  mà cũng bởi vì nó không phục vụ cho sự phát triển của chính Thủ đô, nó cản trở sự linh động của thị trường lao động, cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô và đất nước.

Tuy nhiên, nó tạo quyền cho những người quản lý. Đừng thấy khó quản lý thì tìm cách cấm. Đó là cách hành xử của những người không có năng lực, hay của những người bị lợi ích nhóm chi phối.

Người ta thường hay vin cớ “an ninh” để giữ chế độ hộ khẩu, chế độ khai báo. Việc đó cũng chẳng khác gì việc: vì một số người mắc bệnh hiểm nghèo mà bắt toàn dân phải uống thuốc đặc trị, vừa tốn phí nguồn lực quốc gia, vừa gây phiền hà cho người dân và thậm chí gây nguy hiểm cho họ. Có các cách quản lý khác hữu hiệu hơn nhiều.

Có một điểm rất nguy hiểm là nó tạo cớ để bẫy người dân và trừng trị họ theo ý muốn của nhà chức trách. Cách làm đó không có lợi cho dân, cho đất nước cả về mặt xã hội, kinh tế lẫn an ninh, nó làm hoen ố hình ảnh của đất nước. Thủ đô càng không thể như vậy.

Nghiêm trọng hơn, dự thảo còn quy định về điều kiện làm việc tại Thủ đô, người không thường trú hoặc tạm trú muốn làm việc tại Thủ đô phải có giấy phép lao động do Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội cấp. Điều này vi phạm nghiêm trọng các quyền con người, vi phạm hiến pháp, vi phạm các quyền công dân tạo ra sự phân biệt đối xử, bất công.

Và cũng như chế độ tạm trú, thường trú, hộ khẩu nó sẽ cản trở sự phát triển của Thủ đô, làm méo mó thị trường lao động, hạn chế nghiêm trọng tính linh động của thị trường này, nó mâu thuẫn với chủ trương hay lời nói “chiêu hiền đãi sĩ” (trong số những người nhập cư lúc đầu “vô danh tiểu tốt” sẽ có bao nhiêu nhân tài thực sự nảy sinh),…

Hai quy định này của dự thảo nếu được thông qua sẽ làm xói mòn lòng tin của người dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, sẽ tạo ra các loại công dân thủ đô khác nhau. Không tạo điều kiện để cho người nhập cư có thể tiếp cận đến các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, v.v. Nhưng tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà chức trách liên quan để sách nhiễu, tham nhũng.

Thủ đô Hà Nội vừa được mở rộng thành một trong những thủ đô lớn nhất thế giới, thì quy định như vậy càng không thể hiểu được. Hà Nội muốn trở thành thủ đô có danh tiếng trong khu vực và thế giới, muốn có sự phát triển hài hoà. Nếu để cho người nhập cư tự do, thì dân số sẽ phình lên vô độ, vượt khỏi tầm kiểm soát, nên phải siết lại các quy chế về hộ khẩu, tạm trú, thường trú và lao động. Đấy có thể là lập luận của các quan và những người soạn thảo. Song đấy là cách nhìn thiển cận.

Đó không phải là giải pháp để giải quyết các vấn đề rất khó khăn đó, mà chỉ có thể làm cho chúng trầm trọng thêm. Để giải quyết các vấn đề đó cần có tầm nhìn cả nước, tầm nhìn vùng thủ đô, nhằm xây dựng và tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn, nhiều đô thị vệ tinh hơn, nhiều nhà ở hơn, chứ không phải bằng hạn chế một cách vi hiến các quyền sơ đẳng của con người.

Phát triển thủ đô là trách nhiệm của cả nước, của mọi người dân Việt, của mọi công dân Việt Nam và mọi địa phương, nó không thể chỉ là của người Hà Nội càng không thể chỉ là “quyền” của các cơ quan hữu trách Hà Nội. Chính vì thế, tiếng nói của người dân, của các chuyên gia phải được khuyến khích cất lên, và nghĩa vụ của các nhà hữu trách là phải lắng nghe.

Không thể phát triển thủ đô bằng vi phạm nhân quyền, vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Rất mong những người có quyền thông qua luật, các đại biểu Quốc hội, hãy gương mẫu và tìm mọi cách ngăn chặn các quy định như thế. Chỉ có thế mới có thể góp phần cho Hà Nội xứng đáng là thủ đô.

Vietcombank chỉ muốn được… bình thường?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:32 pm
Tags: ,

Yêu cầu thí điểm cổ phần hóa khiến Vietcombank không thể tăng vốn và phát triển… bình thường như các ngân hàng khác.

Ngày 19/11/2009, Đại hội đồng cổ đông Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có nghị quyết thông qua phương án phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ trong năm 2009.

Mức vốn hiện tại của ngân hàng này là 12.100 tỷ đồng, số vốn tăng thêm dự kiến là gần 1.123 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ phát hành thêm là 9,28%. Đối tượng tham gia tăng vốn điều lệ là toàn bộ các cổ đông hiện hữu có tên trong danh sách cổ đông tại thời điểm Vietcombank chốt danh sách thực hiện quyền (thay vì giả thiết chỉ phát hành cho các cổ đông nhỏ được giới đầu tư bàn luận trước đó).

Tuy nhiên, kế hoạch tăng vốn nói trên của Vietcombank bị cơ quan chức năng bác bỏ.

Từ sự kiện trên, một lần nữa, câu hỏi “Ai quản lý vốn Nhà nước tại Vietcombank?” được đặt ra, bởi có sự trái chiều giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (chi nhánh Hà Nội) trong kế hoạch tăng vốn này. Mặc khác, sự kiện này cũng cho thấy Vietcombank vẫn chưa thể vận động một cách bình thường như các ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Vì sao kế hoạch tăng vốn bị từ chối?

Cổ phần hóa Vietcombank là sự kiện nổi bật thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong năm 2007. Đây là một mô hình thí điểm cổ phần hóa, gắn với các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các bước thực hiện cụ thể.

Ngày 9/11/2007, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng có văn bản số 1693/TTg-ĐMDN về việc lựa chọn đối tác chiến lược của Vietcombank, trong đó có một số nội dung đáng chú ý: thứ nhất, việc bán cổ phần lần đầu của Vietcombank thực hiện trong năm 2007; thứ hai, việc công bố giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định 109/QĐ-CP này 26/6/2007 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Theo đó, Chính phủ đã chỉ rõ việc chọn đối tác chiến lược của Vietcombank được thực hiện theo Nghị định 109. Tuy nhiên, không hiểu sao Công văn 2307 ngày 16/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội truyền đạt nội dung văn bản số 9798/NHNN-TTGSNH ngày 11/12/2009 của Ngân hàng Nhà nước cho rằng việc tăng vốn của ngân hàng này trong khi chưa bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược là không phù hợp với nội dung cổ phần hóa giai đoạn I tại Khoản 6 Điều I Quyết định 1289 (ban hành ngày 26/9/2007).

Với lý do trên, Văn bản số 2307 của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội yêu cầu Vietcombank khẩn trương lựa chọn nhà đầu tư chiến lược để hoàn thành việc bán cổ phần theo giai đoạn I theo Quyết định 1289.

Việc từ chối trên làm nảy sinh một số vấn đề cần xem xét lại.

Thứ nhất, liệu việc xác định các văn bản chỉ đạo cổ phần hóa Vietcombank và việc tham mưu, vận dụng của Ngân hàng Nhà nước trong xét duyệt kế hoạch tăng vốn có hợp lý?

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước có đại diện thành viên Hội đồng Quản trị tại Vietcombank nhưng đại diện này đã thực sự phát huy vai trò của mình để yêu cầu xin tăng vốn điều lệ của Vietcombank bị “tuýt còi” bẽ bàng như vậy?

Thứ ba, Bộ Tài chính thì đồng ý còn Ngân hàng Nhà nước “tuýt còi”. Sự trái chiều trong ý kiến của hai cơ quan quản lý về kế hoạch tăng vốn của Vietcombank cần được hiểu như thế nào? Phía sau câu hỏi này vẫn là câu hỏi cũ: “Ai quản lý vốn Nhà nước tại Vietcombank?”. Và liệu Chính phủ sẽ là người quyết định cuối cùng?

Vietcombank chỉ muốn được… bình thường?

Trong câu chuyện này, một số cổ đông của Vietcombank cho rằng những vướng mắc thời gian qua chủ yếu là do “di chứng” của yêu cầu thí điểm cổ phần hóa; trong khi đó họ muốn đây là một ngân hàng thương mại cổ phần bình thường sau khi đã chuyển đổi mô hình, được tăng vốn đáp ứng yêu cầu phát triển và đảm bảo lợi ích các cổ đông như các ngân hàng khác.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước hết ngân hàng này phải tìm và chọn cho được đối tác chiến lược, để mô hình cổ phần hóa thí điểm trọn vẹn.

Suốt từ năm 2008 và 2009, Vietcombank trải qua hàng chục cuộc họp bàn, đàm phán… để xúc tiến việc lựa chọn và chốt lại yêu cầu có nhà đầu tư chiến lược. Bản thân lãnh đạo Vietcombank nhiều lần bày tỏ mong muốn đẩy nhanh và thực hiện thành công yêu cầu này. Nhưng đến nay kết quả cuối cùng vẫn chưa được xác định. Có nhiều khó khăn và nguyên do ở đây lại là một câu chuyện khác. Nhưng nếu khó khăn này tiếp tục kéo dài, kế hoạch tăng vốn của Vietcombank vẫn chưa biết đến bao giờ mới hiện thực, theo như viện dẫn mà Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Nội đưa ra.

Còn thực tế, ngoài yêu cầu phát triển kinh doanh, ngân hàng này cho biết với mức vốn điều lệ hiện nay, Vietcombank đang đứng trước nguy cơ tỷ lệ an toàn vốn (CAR) giảm xuống dưới mốc 8% (mốc định hướng của Ngân hàng Nhà nước, cũng như theo tiêu chuẩn quốc tế).

Một số ý kiến cho rằng Vietcombank là ngân hàng “đặc biệt” vì gắn với yêu cầu thí điểm cổ phần hóa mà Chính phủ đề ra. Nay, sau khi đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mô hình cổ phần, yêu cầu thí điểm đó vẫn đeo đẳng khiến Vietcombank vẫn chưa thể được bình thường như các ngân hàng cổ phần khác. Cổ đông của Vietcombank cũng “khác” với các ngân hàng khác, khi không được hưởng các quyền lợi trong các đợt phát hành thêm…

Mặt khác, có thể thấy trong hai năm gần đây, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần đều đồng loạt tăng mạnh vốn điều lệ để phát triển kinh doanh. Trong khi đó, sau khi IPO với gần 10.000 tỷ đồng thặng dư mang về cho Nhà nước, Vietcombank vẫn chưa thể tăng vốn.

Create a free website or blog at WordPress.com.