Ktetaichinh’s Blog

January 19, 2010

“Vòng kim cô” quanh lãi suất cơ bản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:56 pm
Tags:
Quyết định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản VND của Ngân hàng Nhà nước có thể xem là cực chẳng đã!…

Ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 16 xác định cơ chế điều hành lãi suất cơ bản VND, chặn đứng “phong trào” đua lãi suất khi đó.

Cũng từ đó đến nay, chiếc “vòng kim cô” này bị chỉ trích mạnh mẽ trong các hội thảo chuyên ngành, và ngày 15/1/2010 tại Tp.HCM, lãi suất cơ bản và điều 476 của Bộ luật Dân sự tiếp tục bị cày xới thêm một lần nữa.

Một quyết định cực chẳng đã!

Một đặc trưng nổi bật nhất trên thị trường tiền tệ 5 tháng đầu năm 2008 là khan hiếm VND, lãi suất tiền gửi VND liên ngân hàng tăng dữ dội, có thời điểm lên tới 30 – 40%/năm, đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc chạy đua lãi suất vô cùng khốc liệt.

Hầu hết các ngân hàng thương mại khi đó hoạt động rất khó khăn, một vài ngân hàng nhỏ bị tê liệt. Việc cho vay mới tại các ngân hàng gần như bị đình chỉ. Công việc chính của các ngân hàng lúc đó là bằng mọi cách để cân đối thanh khoản.

Chưa nói đến chuyện lời lãi ở các ngân hàng, mà khả năng vỡ nợ ở một số ngân hàng, khiến nhiều người liên tưởng đến hiệu ứng “domino” cho cả hệ thống là khó tránh khỏi. Cùng với ngân hàng, doanh nghiệp là lực lượng kinh tế hứng chịu hậu quả nặng nề nhất.

Lúc đó, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Cao Sĩ Kiêm đã công bố con số khiến những nhà quản lý phải giật mình: “20% doanh nghiệp phá sản, 60% nằm im dưới dạng “chết lâm sàng” và chỉ có 20% tiếp tục hoạt động”.

Trước tình hình đó, ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 16/QĐ – NHNN, áp dụng cơ chế lãi suất thị trường bao gồm lãi suất huy động – cho vay không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản, được Ngân hàng Nhà nước công bố từng thời kỳ. Về sau, cơ quan này cũng “nhốt” cả lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vào cùng “rọ” này.

Sự ra đời của quyết định trên cũng chấm dứt cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VND tại Quyết định 546/2002/QĐ – NHNN ngày 30/5/2002 mà chính ngành ngân hàng đã dày công xây dựng hàng chục năm ròng.

Gần như lập tức, thị trường tiền tệ được thiết lập trật tự. Lãi suất huy động – cho vay được ổn định, chuyện rồng rắn xếp hàng rút vốn ngân hàng này gửi sang ngân hàng kia để lấy lãi cao hơn cũng giảm mạnh.

Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước tăng cường giao dịch đối với nghiệp vụ thị trường mở nên lãi suất trên thị trường dịch chuyển trở lại trạng thái mong muốn của cơ quan điều hành.

Mặc dù vậy, phía ngân hàng thương mại rất “hậm hực” khi phải chấp hành quyết định này. Hầu như tại các diễn đàn chuyên ngành, những buổi trao đổi thông tin với giới truyền thông, họ đều bộc lộ bức xúc nhưng bao giờ cũng chốt lại “đừng trích dẫn tên tôi nhé” vì e ngại.

Kết thúc chuyện: Buồn ngủ gặp chiếu manh?

Khi nhìn nhận về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản tại Quyết định 16 nói trên, dù Ngân hàng Nhà nước dẫn ra nhiều căn cứ tham chiếu nhưng nổi lên trong đó là dựa vào điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”.

Thực ra, Ngân hàng Nhà nước đã nhận thấy bất cập và vào tháng 3/2007, trên cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước đã có ý kiến phản ánh vướng mắc do tổ chức tín dụng cũng bị coi là “các bên” trong Luật Dân sự 2005; kéo theo là hàng loạt hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng bị phạm luật vì: lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, đáng lẽ tổ chức tín dụng chỉ được phép cho vay 12,375%/năm thì phổ biến là hợp đồng chốt với nhau trên mức này.

Mặc dù vậy, mức độ phản ứng của Ngân hàng Nhà nước với điều 476 cũng chỉ dừng ở đó. Tuy nhiên, đến tháng 5/2008, khi thị trường tiền tệ bất ổn, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng chiếc “gậy” này để bình ổn lãi suất.

Tại hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) do Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội và Dự án Star Việt Nam tổ chức ngày 15/1/2010, bà Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng bày tỏ: “Theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997, lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh, tôi thấy còn mập mờ và phiến diện”.

“Mập mờ là vì Ngân hàng Nhà nước dựa vào cơ sở nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Hơn nữa, loại lãi suất này không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ”, bà Hương nói.

Mặt khác, lãi suất cơ bản phiến diện ở chỗ chúng đóng vai trò “làm cơ sở” cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh và không thể hiện quan hệ vay mượn trên thị trường, trong khi Ngân hàng Nhà nước cũng chính là một chủ thể trên thị trường. Thực tế, “làm cơ sở” cũng đồng nghĩa với “áp đặt” và đó là điều không dễ chấp nhận khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào thế giới.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đã và đang có các công cụ lãi suất khác như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Và theo bà Hương, đó là loại lãi suất được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ và trên quan hệ có thực, xảy ra hàng ngày giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng.

Ngay cả trong quá trình thảo luận dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) gần đây, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng nói: “…lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.

Như vậy, trong khi chưa xác định được vai trò thực sự của lãi suất cơ bản mà lại dựa vào đó để ấn định một loại lãi suất cho thị trường thì sự viển vông sẽ đến mức nào?

Và phải chăng, mục tiêu của điều 476 Luật Dân sự là tránh cho vay nặng lãi, nhưng cơ quan quản lý trong tình thế bí bách đã biến chúng thành công cụ hành chính để bình ổn lãi suất, nhưng là bình ổn theo cái cách làm cho thị trường bị méo mó thêm?

Advertisements

Cởi áo, mở điều hòa 25 độ để tiết kiệm hàng tỷ đôla

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:50 pm
Tags:

Tôi xin được chia sẻ một vài kinh nghiệm thiết thực sau về tiết kiệm năng lượng với lãnh đạo các doanh nghiệp.
Việc thứ nhất: Về tiết kiệm năng lượng chúng ta có thể làm được ngay mà không mất tiền đầu tư là việc sử dụng điều hòa nhiệt độ chỉ khi trời thực sự nóng (Ví dụ như, buổi sáng và tối khi trời mát thì chỉ cần dùng quạt thông gió đến trưa mới sử dụng điều hòa như ở bên Đức) và để điều hòa ở nhiệt độ 25 độ C. Việc này chính Thủ tướng Nhật Koizumi đã kêu gọi và làm gương cho cả nước Nhật học tập khi ông cởi comple và để điều hòa 25 độ C. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam và các doanh nhân làm gương để cả nước làm được việc này thì mỗi năm nước ta sẽ tiết kiệm hơn 1 tỷ đôla tiền điện.

Việc thứ hai: Là tất cả các công ty, các nhà máy, các dự án hãy sử dụng bóng đèn compact của Điện Quang, Rạng Đông hoặc đèn Led cho chiếu sáng thay cho bóng đèn sợi đốt, bóng halogen, bóng cao áp thủy ngân, bóng đèn huỳnh quang, vì theo tính toán của ngành điện chỉ riêng việc thay thế 20 triệu bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn compact thì mỗi năm cũng tiết kiệm được 3.600 tỷ đồng, (chỉ 5% hiệu suất của bóng sợi đốt là dùng cho chiếu sáng, 95% là dùng cho đốt nóng, bóng đèn này đã bị cấm ở châu Âu).

Việc thứ ba: Là hãy sử dụng hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời đầu tư thấp, vừa an toàn và tiết kiệm năng lương dài hạn cho việc giảm sử dụng điện, gas cho đun nấu nước nóng. Đặc biệt các dự án nhà chung cư, khách sạn, khu đô thị, khu du lịch. Sử dụng bếp Parabon đun nấu bằng năng lượng mặt trời để các hộ dân nghèo, ngư dân cũng có thể mua được với giá thấp, giảm nạn phá rừng lấy củi đun nấu. Chúng tôi đang tư vấn cho các dự án lớn như của DIC, Sunrise city đầu tư hệ thống đun nước nóng bằng NLMT và điện mặt trời dùng cho chiếu sáng để khách hàng mua căn hộ được sử dụng miễn phí vì tiền đầu tư bỏ ra cũng chỉ khoảng 1-2% mà tất cả các bên đều có lợi.

Việc thứ tư: Là sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng như biến tần, bù công suất cho các thiết bị có động cơ, máy lạnh inverter, thang máy, các loại động cơ.. Sử dụng các thiết bị tự động công nghệ cao để giảm tổn hao năng lượng trong dài hạn. Đặc biệt cần hạn chế sử dụng thiết bị điện trong giờ cao điểm vì tổ hao rất lớn.

Việc thứ năm: Là các trang trại chăn nuôi hoặc nhà máy sản xuất tinh bột sắn, cồn, có các phế phẩm sinh học, thực phẩm có thể sử dụng chất thải để sản xuất biogas dùng cho phát điện, đun cấp nhiệt cho nồi hơi, sấy tinh bột, vừa xử lý bảo vệ môi trường vừa bán được quota giảm phát thải khí CO2. Sử dụng máy phát điện chạy bằng khí gas LPG tiết kiệm hơn diesel, xăng và không gây ô nhiễm, giảm tiếng ồn.

Sử dụng điện mặt trời, điện gió ở quy mô lớn và quy mô nhỏ, cung cấp điện cục bộ cho từng khu vực dùng cho chiếu sáng, cho thông tin liên lạc, cho đèn đường, cho công viên, tòa nhà, khách sạn, biệt thự…

Nếu chúng ta thực hiện được tốt những việc trên thì sẽ tiết kiệm được ít nhất 5% trong tổng số tổn thất, tổn hao điện năng 15% của Việt Nam hiện nay. Và sử dụng 5% năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, biogas. Thì hai việc này sẽ tương đương với 2 nhà máy điện nguyên tử mà chúng ta dự định đầu tư mất 12 tỷ đôla, trong khi chi phí cho việc tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo chỉ tốn kém bằng 1/5.

Chúng tôi sẽ cùng với trung tâm tiết kiệm năng lượng Thành phố Hồ Chí Minh tư vấn và giúp các doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một số tiền không nhỏ hàng năm và tôi cũng đề nghị các doanh nghiệp hãy trích từ 1% trở lên trong số tiền tiết kiệm được đó đóng góp cho quĩ từ thiện của hội doanh nhân trẻ để góp một phần hỗ trợ cho con em các chiến sỹ biên giới và hải đảo, đồng bào bị bão lụt và hàng triệu người tàn tật, bị nhiễm chất độc da cam không có khả năng lao động. Đó là những hành động thiết thực chúng ta cần làm ngay, là lương tâm và trách nhiệm của chúng ta đối với đất nước.

Đặng Quốc Toản, Thành viên ban Quan hệ quốc tế YBA, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Năng lượng Dầu khí châu Á.

Sẽ có quỹ bình ổn giá lúa

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:47 pm
Tags: ,
Quỹ này sẽ trực tiếp bù đắp phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá sàn thu mua lúa gạo; hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp vay vốn để mua tạm trữ lúa gạo.

Tình trạng “trúng mùa rớt giá”từng xảy ra với hàng triệu hộ nông dân sẽ chấm dứt nếu Dự thảo Đề án Chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm bình ổn thị trường thóc gạo sớm được Chính phủ phê duyệt.

Thời gian qua, Chính phủ đã sử dụng nhiều công cụ tài chính để hỗ trợ người nông dân bảo đảm có lãi trong sản xuất nông nghiệp, số tiền thực chi hàng năm không phải là nhỏ.

Cụ thể, theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2007, Nhà nước đã bỏ ra 101.479 tỷ đồng, chiếm 25% tổng chi cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn; năm 2008 con số này lên đến 130.788 tỷ đồng, chiếm 32,8% tổng chi. Năm 2009, số tiền mà Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã tương đương 35,9% tổng chi ngân sách (ước khoảng 176.190 tỷ đồng).

Không chỉ đầu tư từ ngân sách, Bộ Tài chính cho biết, Chính phủ còn sử dụng nhiều giải pháp tài chính khác như miễn, giảm thuế, phí; hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo mua tạm trữ lúa gạo… Tất cả những biện pháp này đều nhằm đảm bảo cho người nông dân trồng lúa có lãi tối thiểu 30%. Chỉ riêng việc miễn thủy lợi phí cho sản xuất nông nghiệp, năm 2009, ngân sách đã phải chi 2.916 tỷ đồng, tăng rất mạnh so với con số 1.570 tỷ đồng của năm 2008.

Mặc dù Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, nhưng theo Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, trên thực tế tại nhiều địa phương, người trồng lúa vẫn không thể có lãi tối thiểu 30% như mục tiêu mà Chính phủ đặt ra (vụ hè – thu 2009, người trồng lúa tại 5/10 tỉnh sản xuất lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thu lãi dưới 30%).

Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết, ngoài việc kiến nghị Chính phủ tiếp tục cho nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi, Bộ Tài chính cùng Bộ Công thương đã đặt ra 5 phương án mang tính chiến lược, trong đó vẫn nhất quán thực hiện nguyên tắc giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo hướng Nhà nước tôn trọng quyền định giá và tự cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật, bảo đảm để giá cả vận động theo thị trường. Nhà nước chỉ can thiệp vào thị trường bằng những biện pháp hỗ trợ gián tiếp để thị trường vận động theo định hướng, ngăn ngừa giá lúa gạo giảm quá mức hoặc tăng quá cao. Ngoài ra, phương án hỗ trợ sẽ kiên quyết không quay trở lại cơ chế bao cấp thông qua việc sử dụng ngân sách nhà nước bù giá, bù lỗ cho sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. “Tất cả chính sách hỗ trợ mà Bộ Tài chính đặt ra đều phải bảo đảm nguyên tắc không trái với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam tham gia”, ông Ninh khẳng định.

Theo Đề án Chính sách hỗ trợ của Nhà nước để bình ổn giá thị trường thóc gạo đang được Bộ Tài chính xây dựng, Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ người nông dân bằng nhiều phương án khác nhau. Trong đó, Bộ Tài chính hướng theo quan điểm hỗ trợ toàn bộ lãi suất cho người sản xuất lúa vay vốn ngân hàng mua vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất. Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề nghị tiếp tục thực hiện chính sách đầu tư, ưu đãi miễn, giảm thuế, phí như hiện nay nhằm góp phần giảm chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp…

Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cho biết, Bộ Tài chính đã thảo luận với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thành lập Quỹ Bình ổn giá lúa gạo. Quỹ này sẽ trực tiếp bù đắp phần chênh lệch giữa giá thị trường và giá sàn thu mua lúa gạo theo định hướng của Bộ Tài chính; hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp vay vốn để mua tạm trữ lúa gạo; bù đắp phần chênh lệch lỗ phát sinh (nếu có) giữa giá thóc mà doanh nghiệp phải mua theo giá sàn định hướng và giá xuất khẩu gạo. Nguồn vốn của Quỹ sẽ được trích từ khoản lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp (khoảng 30%); nếu việc bù đắp bị thâm hụt thì sẽ được tạm vay từ ngân sách.

Mạnh tay với mua bán ngoại tệ trái phép

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:46 pm
Tags: ,

uesday, 19. January 2010, 14:25:09

Thị trường ngoại tệ tự do TP.HCM đang thu hẹp trước sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Tuy nhiên cần có những biện pháp khác đi kèm để giảm dần tình trạng “đô la hóa” hiện nay.

Có thể bị khởi tố hình sự

Trong những ngày đầu năm 2010, cơ quan chức năng tại TP.HCM đã ra quyết định xử phạt 2 đơn vị thu đổi ngoại tệ trái phép với số tiền phạt 57,5 triệu đồng/đơn vị.

Cơ quan chức năng cũng đang hoàn tất 2 hồ sơ mua bán ngoại tệ trái phép để ra quyết định xử phạt và hiện cũng đang tiến hành nhiều đợt kiểm tra đột xuất các cơ sở có dấu hiệu mua bán ngoại tệ trái phép cũng như niêm yết giá cả hàng hóa dịch vụ bằng ngoại tệ.

Ông Nguyễn Hoàng Minh – Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TP.HCM cho biết, khác với những năm trước, NHNN thường phối hợp với các cơ quan chức năng khác như công an, quản lý thị trường để thành lập đoàn kiểm tra các đơn vị mua bán ngoại tệ trái phép hay niêm yết giá cả hàng hóa bằng ngoại tệ thì từ cuối năm 2009, các cơ quan chức năng này tự chủ động đi kiểm tra đột xuất nhằm đảm bảo tính bảo mật, bất ngờ đối với những điểm kinh doanh ngoại tệ hay niêm yết hàng hóa dịch vụ trái phép này. Cụ thể, NHNN sẽ kiểm tra những điểm thu đổi ngoại tệ được cấp phép, công an kiểm tra những đơn vị không được cấp phép và cơ quan quản lý thị trường kiểm tra những đơn vị niêm yết giá cả hàng hóa dịch vụ bằng ngoại tệ. Trong 4 tháng cuối năm 2009, cơ quan chức năng đã xử phạt 1 doanh nghiệp và 4 cá nhân với số tiền phạt là 189,5 triệu đồng, đồng thời phạt 34 đơn vị niêm yết giá cả hàng hóa bằng ngoại tệ gồm các cửa hàng mua bán hàng tiêu dùng, máy tính, đồ thể dục thể thao… là 25 triệu đồng/đơn vị.

Ngoài các điểm giao dịch ngân hàng, trên địa bàn TP.HCM hiện nay có 83 đại lý thu đổi ngoại tệ mà người dân có thể đến để đổi. Các đại lý thu đổi ngoại tệ chủ yếu đặt tại khách sạn 3 sao trở lên, siêu thị, văn phòng bán vé hàng không nước ngoài, sân bay, các trung tâm thương mại…
Ông Nguyễn Hoàng Minh cho biết, người dân hiện nay chưa hiểu việc mua bán ngoại tệ tại các điểm trái phép khi bị phát hiện sẽ bị tạm thu số ngoại tệ này. Do đó, trong thời gian tới, ngân hàng sẽ tuyên truyền rộng rãi hơn về vấn đề này trong dân chúng.

Theo một chuyên gia về ngoại hối, sau khi cơ quan chức năng có quyết định phạt hành chính đối với hành vi mua bán ngoại tệ trái phép thì số ngoại tệ tạm thu sẽ phải thực hiện bán lại cho ngân hàng. Hành vi mua bán ngoại tệ trái phép bị xử phạt vài lần là đã có thể khởi tố hình sự.

Cùng với quy định các tập đoàn kinh tế phải bán ngoại tệ lại cho ngân hàng, những đợt kiểm tra thường xuyên của các cơ quan chức năng đã phần nào làm cho thị trường ngoại tệ tự do thu hẹp, giá USD tự do giảm nhanh, một số điểm thu đổi trái phép không còn dám công khai như trước.

Cải thiện tỷ giá để “diệt” chợ đen

Trên thực tế, nhiều năm qua việc kiểm tra thị trường ngoại tệ tự do đã được tiến hành, đặc biệt là dịp cuối năm. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn thì mọi việc lại “đâu vào đó”. Các hoạt động thu đổi, niêm yết, dùng ngoại tệ thanh toán càng diễn ra nhiều hơn. Tiến sĩ Lê Thẩm Dương (ĐH Ngân hàng TP.HCM) lý giải, chênh lệch giá ngoại tệ trong và ngoài ngân hàng, cộng với việc các ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của người dân nên mới “lòi” ra thị trường chợ đen. Chưa kể khi người dân bán ngoại tệ cho ngân hàng thì giá bán sẽ thấp hơn khoảng 1.000 đồng/USD so với thị trường tự do, như vậy thì người dân thiệt. Do đó, phải làm sao cho tỷ giá trong ngân hàng nới dần đến tự do hóa thì mới triệt được tận gốc vấn đề USD hóa. Tuy nhiên giải pháp này khó thực hiện vì tỷ giá là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô.

Trên thực tế, tình trạng khiến các ngân hàng khó thu hút được nguồn ngoại tệ trong dân chúng là do việc mua ngoại tệ trong ngân hàng quá khó khăn. Người dân mang ngoại tệ vào ngân hàng bán thì dễ nhưng khi họ cần đi du học, chữa bệnh, du lịch… thì mua ngoại tệ lại cực kỳ khó. Trong một số thời điểm, người dân cần bán ngoại tệ thì ngân hàng lại “chê” không mua. Có thể nói, chính ngân hàng đã “đẩy” khách hàng ra thị trường chợ đen nên thị trường này mới có đất hoạt động.

Bên cạnh đó, việc một số tổ chức nước ngoài dự báo giá USD cuối năm 2010 sẽ tăng lên cũng dẫn đến tình trạng găm giữ ngoại tệ trong người dân. Một chuyên gia cho rằng, để người dân không găm giữ ngoại tệ thì cần làm rõ sự kỳ vọng này là không có cơ sở.

Create a free website or blog at WordPress.com.