Ktetaichinh’s Blog

January 16, 2010

Những nguy cơ của cơ chế tỷ giá thả nổi

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:32 pm
Tags: ,

Saturday, 16. January 2010, 07:08:29

Tỷ giá thả nổi tạo điều kiện bơm căng các bong bóng tài sản và chồng chất thêm gánh nặng nợ nần

Suốt hơn một thế kỷ kể từ năm 1870, các chính phủ và ngân hàng trung ương phải vật lộn để duy trì hệ thống tỷ giá cố định.

Khi Hiệp ước Bretton Woods sụp đổ đầu thập niên 1970, ba nền kinh tế hàng đầu khi ấy là Mỹ, Nhật và Đức phải chấp nhận thả nổi đồng tiền của mình. Từ đó đến nay, hệ thống này vẫn được giữ nguyên.

Khoảng thời gian kể từ khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ tới nay đã chứng kiến nhiều bong bóng tài sản khổng lồ, khu vực tài chính bành trướng mạnh mẽ đi kèm cho vay tiêu dùng tăng nhanh.

Không phải ngẫu nhiên mà có những bước phát triển này. Tỷ giá thả nổi và sự bùng nổ của thị trường tài sản đều đã tiếp sức cho nhau không nhỏ.

Hệ thống tỷ giá trước kia dù trực tiếp hay gián tiếp cũng được liên kết với vàng.

Mục đích là hạn chế khả năng làm mất giá đồng bản tệ của chính quyền bằng cách in thêm tiền. Hệ quả là các quốc gia khó mà bù đắp được các khoản thâm hụt thương mại trong thời gian dài

Khi tỷ giá được thả nổi, sự hạn chế này đối với thương mại cũng được dỡ bỏ. Cán cân thương mại của Hoa Kỳ có thể tiếp tục thâm hụt thêm.

Nhưng như Richard Duncan đã chỉ ra trong cuốn “Cuộc khủng hoảng đôla” xuất bản năm 2003 của ông, điều này cũng khiến các quốc gia khác có thặng dư lớn.

Tuy vậy đó không còn là một trò chơi có tổng bằng không.

Các quốc gia có thặng dự tích trữ kho dự trữ ngoại hối của mình khiến hoặc là tạo ra bong bóng ở nước đó (ví dụ như Nhật Bản trong thập niên 1980) hoặc nước ngoài (Hoa Kỳ trong thập kỷ trước).

Việc chuyển sang sử dụng đồng tiền pháp định (không được bảo đảm bằng vàng) khiến cung tiền toàn cầu mở rộng rất mạnh y như những người bi quan đã dự đoán.

Theo ông Duncan, dự trữ ngoại hối toàn cầu dưới thời Bretton Woods từ năm 1949 tới năm 1969 chỉ tăng 55% nhưng tăng tới gần 2000% trong giai đoạn 1969-2000. Chính số tiền này đã đẩy giá tài sản lên cao.

Được cởi trói khỏi nhiệm vụ bảo vệ đồng bản tệ trong khi lạm phát suốt 20 năm không đáng lo ngại, ngân hàng trung ương có thể để lãi suất xuống thấp dần.

Kể cả các quốc gia với hệ thống tỷ giá cố định như Latvia và Trung Quốc cũng “nhập khẩu” chính sách tiền tệ lỏng lẻo từ các nền kinh tế phát triển.

Chính sách này tạo ra một mức sàn cho giá tài sản và cuối cùng hình thành các điều kiện cho đợt thắt chặt tín dụng 2007-08. Chỉ bằng cách hạ lãi suất xuống gần mức 0, các cơ quan điều tiết mới lại ổn định được tình hình.

Quá trình này giải thích vì sao giá cổ phiếu và bất động sản lại leo tới đỉnh cao như vậy trong những năm gần đây, điều chưa từng xảy ra dưới cơ chế tỷ giá cố định.

Nó cũng gợi ý vì sao tỷ giá thả nổi không ngăn được luồng vốn đầu tư xuyên biên giới.

Trong nửa đầu thế kỷ 20, đầu tư nước ngoài chủ yếu dưới dạng tiền gửi ngân hàng và trái phiếu chính phủ. Một phần là do sự thận trọng của nhà đầu tư và một phần do chế độ kiểm soát luồng vốn.

Lợi suất thu về khá thấp khiến giới đầu tư rất nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi tỷ giá nào. Đột ngột phá giá đồng tiền có thể cuốn phăng lợi nhuận tích lũy nhiều năm trời.

Hơn nữa, tỷ giá nếu có thay đổi thì thường mạnh. Phá giá đồng tiền bị xem là nỗi nhục quốc thể, vì thế chỉ được sử dụng khi không còn cách nào khác.

Trong bối cảnh ấy, tỷ giá đã không còn được xem như một yếu tố cơ bản. Kể từ năm 1970, sự thay đổi tỷ giá tại các nước phát triển nhìn chung bị lu mờ trước sự thay đổi giá tài sản (trừ các nước vẫn cố neo tỷ giá).

Rủi ro tỷ giá ít được nhà đầu tư tổ chức tính tới đến mức mà họ còn không buồn tự bảo hiểm. Thực tế một chiến thuật giao dịch được ưa chuộng là “carry trade”, vay đồng tiền có lợi suất thấp để mua các đồng tiền có lợi suất (và rủi ro) cao hơn.

Lý do các quốc gia phát triển từ bỏ tỷ giá cố định không có gì bí hiểm.

Khi neo tỷ giá, chính phủ buộc nền kinh tế thực phải hấp thụ những cú sốc như cắt giảm lương hay tăng thất nghiệp, tất cả đều vì lợi ích của người cho vay.

Nhưng trong một nền dân chủ nơi cử tri lại là con nợ thì lợi ích của chủ nợ lại thường bị dẹp sang một bên.

Cuộc chiến này có lẽ sắp tái diễn tại khu vực sử dụng đồng euro, nơi các quốc gia có chi phí sản xuất cao đang tự gắn mình vào một hệ thống bản vị vàng mới do ngành xuất khẩu của Đức hoạt động quá hiệu quả.

Điều này có nghĩa là tăng lương và thâm hụt phải được kiềm chế.

Nhưng cơ chế tỷ giá thả nổi không hề cho không cái gì. Nó đi kèm với gánh nặng nợ nần sẽ phủ bóng đen lên nền kinh tế trong nhiều năm trời. Đợt thắt chặt tín dụng đã chuyển nghĩa vụ nợ từ tư nhân sang chính phủ.

Một thời kỳ khổ hạnh rút cục cũng sẽ đến. Mỉa mai là cơ chế tỷ giá thả nổi được hình thành lại để tránh chính điều ấy.

Theo Minh Tuấn

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: