Ktetaichinh’s Blog

January 15, 2010

Sợ rủi ro nhưng liều lĩnh hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:49 pm
Tags: ,

TBKTSG) – Trước thời điểm Lý thuyết triển vọng ra đời, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đều cho rằng con người “lý trí” trong các hành vi liên quan đến kinh tế. Nghĩa là khi phải chọn, họ luôn chọn phương án nào tối đa hóa lợi ích.

Lợi ích theo ngôn ngữ kinh tế được tính là phép nhân giữa điều mong muốn (có thể là tiền) và xác suất điều đó xảy ra. Kahneman và Tversky, hai nhà tâm lý học nổi tiếng, không tin con người lại máy móc như vậy.

Ngược lại, có rất nhiều tình huống cảm xúc và tâm lý có ảnh hưởng lớn và làm cho con người hành xử không hợp lý. Hai ông, bằng rất nhiều thí nghiệm, đã chứng minh rằng trong những tình huống phải chọn lựa và sự chọn lựa có dính đến các yếu tố rủi ro thì hành vi của con người bị tác động bởi những thành kiến tâm lý. Hệ quả là phương án mà họ chọn nhiều khi không phải là phương án tối ưu.

Có khuynh hướng sợ rủi ro, nhưng liều lĩnh hơn nếu đối mặt với mất mát

Vị trí đặt quảng cáo

Phát hiện quan trọng đầu tiên của Lý thuyết triển vọng là trước viễn cảnh được một lợi ích nào đó, con người có khuynh hướng sợ rủi ro (tạm dịch từ thuật ngữ risk-averse), nhưng sẽ có khuynh hướng liều lĩnh (tạm dịch từ thuật ngữ risk-seeking) nếu phải đối mặt với mất mát.

Để dễ hiểu, thử tưởng tượng bạn có hai sự lựa chọn, một là chắc chắn sẽ lời 1 triệu đồng, hai là ném một đồng xu, nếu sấp thì lời 2,2 triệu, nếu ngửa thì không được đồng nào. Bạn sẽ chọn lựa phương án nào? Kahneman và Tversky đã phát hiện ra rằng phần đông số người được hỏi lựa chọn phương án một.

Kết quả này khá bất ngờ. Nếu chiếu theo kinh tế học truyền thống thì người chơi sẽ phải “lý trí” mà chọn phương án hai vì lợi ích của phương án hai sau khi tính toán xác suất là cao hơn phương án một (1,1 triệu so với 1 triệu).  Việc người chơi chọn phương án “ăn chắc mặc bền” thể hiện khuynh hướng căn bản của con người: sợ rủi ro.

Tuy nhiên không phải hoàn cảnh nào con người cũng luôn sợ rủi ro. Kahneman và Tversky thực hiện một khảo sát khác về hành vi của con người khi phải đối mặt với sự mất mát. Lựa chọn một chắc chắn 100% mất 1 triệu đồng, lựa chọn hai lại ném đồng xu, sấp thì mất 2 triệu, ngửa thì không mất đồng nào. Kết quả cho thấy đa số người được hỏi chọn phương án hai.

Bản chất con người là rất khó khăn khi phải thừa nhận sai lầm, nhất là thừa nhận với người khác. Bán cổ phiếu lỗ coi như thừa nhận mình đã sai. Đây chính là một trong những sai lầm của những nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm, là bán cổ phiếu lúc giá đang lên và giữ cổ phiếu đang xuống giá.

Xét về giá trị xác suất thì 50% khả năng mất 2 triệu cũng tương đương việc chắc chắn mất 1 triệu. Tuy nhiên, xét về giá trị tuyệt đối thì phương án hai rủi ro hơn vì nếu xảy ra, tổng số tiền mất gấp đôi phương án một. Kahneman và Tversky gọi cách ứng xử trên là khuynh hướng liều lĩnh hơn nhằm tránh đối mặt với mất mát.

Sợ mất mát là ám ảnh lớn của con người. Đây cũng là chủ đề thứ hai của Lý thuyết triển vọng. Bằng nhiều thí nghiệm, Kahneman và Tversky đã chứng minh rằng việc thua lỗ sẽ gây hậu quả tâm lý nặng nề hơn niềm vui mang lại do thành công dù là thua hoặc được cùng một món tiền. Một nhà đầu tư mua cổ phiếu, bán đi, có lời 10 triệu chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn một nhà đầu tư khác cũng chơi cổ phiếu, đầu tiên được 50 triệu, sau đó thua lại 40 triệu dù khi tổng kết cả hai người đều lời một số tiền như nhau.

Điểm tham chiếu

Kahneman và Tversky đã liên hệ hai cách ứng xử trên vào lĩnh vực tài chính hành vi. Khi đánh giá hiệu quả một hoạt động đầu tư, nhà đầu tư thường dựa trên một điểm tham chiếu. Tính từ điểm tham chiếu, nếu lỗ thì nhà đầu tư thất vọng nhiều hơn là niềm vui mang lại từ món lời, dù lời lỗ cùng một số tiền. Nói cách khác, cái đau của lỗ 10 triệu lớn hơn cái vui của lời 10 triệu.

Dù là một nhánh của kinh tế học, cơ sở lý luận của lý thuyết tài chính hành vi là từ môn tâm lý học và được hai nhà tâm lý học nổi tiếng là Daniel Kahneman và Amos Tversky khởi xướng với Lý thuyết triển vọng vào năm 1979. Bằng các công trình tiên phong ứng dụng tâm lý con người trong kinh tế học, Kahneman và Tversky đã mở ra hướng nghiên cứu mới trong kinh tế học nhằm lý giải những hành vi tưởng chừng phi lý của con người. Với những đóng góp như vậy, Kahneman đã được trao giải Nobel kinh tế năm 2002 và là nhà tâm lý học đầu tiên được giải thưởng danh giá này (Tversky mất năm 1996 và giải Nobel không trao cho những người quá cố).

Đối với người đầu tư cổ phiếu, điểm tham chiếu thường là giá mua cổ phiếu và họ khá ám ảnh bởi yếu tố này. Hành động bán hay tiếp tục giữ cổ phiếu của nhà đầu tư thường phụ thuộc vào thực tế lời lỗ của cổ phiếu đó. Khi giá cổ phiếu lên so với điểm tham chiếu, nhà đầu tư thường nhanh chóng bán lấy lời, chứ ít khi chờ giá lên đến đỉnh.

Ngược lại, khi giá cổ phiếu rớt dưới điểm tham chiếu, nhà đầu tư thường không bán, mà cứ giữ để chờ giá lên lại. Nhiều nghiên cứu đã thống kê cho thấy khi cổ phiếu lên giá khoảng 50%, thì đa số các nhà đầu tư đều dễ dàng quyết định bán, nhưng nếu lỗ 50% thì ít người chịu bán hơn. Khuynh hướng “sợ mất mát” của con người giải thích tại sao nhà đầu tư, kể cả những quỹ đầu tư tổ chức, ngại cắt lỗ vì khi cắt lỗ thì các khoản lỗ trên giấy tờ trở thành lỗ thật.

Bản chất con người là rất khó khăn khi phải thừa nhận sai lầm, nhất là thừa nhận với người khác. Bán cổ phiếu lỗ coi như thừa nhận mình đã sai. Đây chính là một trong những sai lầm của những nhà đầu tư chưa có kinh nghiệm, là bán cổ phiếu lúc giá đang lên và giữ cổ phiếu đang xuống giá.

Trong trường hợp giá xuống so với giá mua, khuynh hướng liều lĩnh khi đối mặt với mất mát đã giải thích tại sao nhà đầu tư, không những không bán cắt lỗ, mà còn có xu hướng mua thêm cổ phiếu đang xuống giá. Nhà đầu tư làm như vậy thường với suy nghĩ là để bình quân giá, nhằm tăng khả năng hòa vốn khi cổ phiếu phục hồi. Trong khi sự thật là họ đang tự đưa mình vào hoàn cảnh rủi ro (lỗ) hơn: biết bao giờ giá ngừng giảm? Nếu giá tiếp tục xuống thì liệu nhà đầu tư có đủ vốn để tiếp tục mua vào bình quân giá đến cùng không? Có chắc là cổ phiếu đó sẽ phục hồi trong thời hạn ngắn hơn thời hạn đầu tư dự kiến không?

Điểm tham chiếu và thế nào là cổ phiếu rẻ!

Khái niệm điểm tham chiếu thật ra đã được Tversky và Kahneman đề cập trong một nghiên cứu sớm hơn vào năm 1974. Hai ông đề xuất rằng con người có khuynh hướng dựa vào một điểm tham chiếu khi phải giải quyết một vấn đề khó khăn. Hai ông có một thí nghiệm như sau: Khi được hỏi “Có phải khoảng 45% các quốc gia châu Phi là thành viên Liên hiệp quốc”, người được hỏi thường cho con số phần trăm thấp hơn là nếu được hỏi “Có phải khoảng 65% các quốc gia châu Phi là thành viên Liên hiệp quốc?”. Như vậy người trả lời đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi số phần trăm được đưa ra trong câu hỏi, nói cách khác họ đã có khuynh hướng dùng con số đó làm tham chiếu. Thí nghiệm này cho kết quả tương tự ở những lĩnh vực khác.

Liên hệ đến chứng khoán, vì việc xác định giá cổ phiếu thế nào là hợp lý là một việc khá phức tạp, nên các nhà đầu tư thường có khuynh hướng lấy giá gần đây của một cổ phiếu làm giá tham chiếu. Giả sử giá gần đây của cổ phiếu A là 80.000 đồng, nếu bây giờ là 50.000 đồng thì các nhà đầu tư thường nghĩ là rẻ. Thật ra rẻ đây là rẻ so với giá trước kia. Còn so với giá tương lai thì rõ ràng là không thể kết luận gì. Có người ví mua cổ phiếu dựa trên giá quá khứ của nó thì cũng giống như khi đi mua xe hơi cũ mà lấy năm sản xuất và kiểm tra công tơ met làm tiêu chuẩn cơ bản để định giá, thay vì phải xem xét tình trạng thực tế của máy móc thế nào.

______________________________________________

(*) Công ty Tư vấn và hỗ trợ chiến lược Win-Win

Advertisements

Có nên bỏ lãi suất cơ bản?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:40 pm
Tags: ,

Trong những ngày gần đây, nhất là sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% đầu tháng 12 vừa qua, đã có những cuộc bàn cãi sôi nổi trong giới tài chính ngân hàng liên quan đến việc có nên bãi bỏ lãi suất cơ bản và thay vào đó một cơ chế lãi suất thích hợp hơn.

Về vấn đề này, Báo Lao Động đã có bài phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu – là Giáo sư môn tài chính ngân hàng (NH) cho các chương trình MBA tại Georgetown University, Polytechnic University Pomona và University of the West (Mỹ).
– Ông có nhận xét gì về việc thực hiện lãi suất cơ bản (LSCB) ở VN?

– Trước hết, chúng ta phải ghi nhận tác dụng thực tế của LSCB từ giữa năm 2008 đến nay là bất cứ khi nào NHNN VN thay đổi LSCB, thị trường tín dụng và những thị trường vốn như vốn huy động, CK đều tức thì và thường theo hướng mà NHNN mong muốn. Vấn đề đặt ra là liệu những tác dụng trên thị trường do phản ứng tức thời đó có tồn tại lâu và giữ sự ổn định của thị trường không và nếu không thì có nên hay không thay thế LSCB bằng mồt cơ chế lãi suất khác hữu hiệu hơn để thực hiện chính sách tiền tệ trong khung cảnh của một nền kinh tế thị trường?

Trong lần nâng LSCB vừa qua của NHNN từ 7% lên 8% và do đó lãi suất cho vay tăng từ 10,5% lên 12%, tác dụng tức thời và trực tiếp của biện pháp này là thị trường tín dụng bị thắt chặt tức thì. Chi phí lãi tăng làm các DN giảm thiểu vay mượn từ NH. Ngoài ra, các NH cũng đồng loạt tăng lãi suất huy động vốn và do đó tăng cao chi phí lãi đầu vào và vì thế lựa chọn kỹ càng hơn những đối tượng cho vay có khả năng trả lãi suất cho vay và khả năng trả nợ cao.

Mục đích của việc tăng LSCB là thắt chặt sự tăng trưởng cung tiền, kềm chế lạm phát và do đó ổn định vĩ mô. Kinh nghiệm trong những năm qua đã chứng tỏ việc điều chỉnh lãi suất là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) của NHNN.

– Nhưng có ý kiến cho rằng, nếu cố giữ lại LSCB như hiện này là không phù hợp vì nó có những mặt tiêu cực?

– Đúng thế, ở đây tôi không nói là mặt tiêu cực mà chỉ đề cập đến tác dụng phụ của việc điều chỉnh LSCB trong kỳ vừa qua. Nhiều NH đã lách lãi suất trần 12% bằng cách thu phí dịch vụ từ các DN đi vay.

Đối với các NH đó việc thu phí phụ trội này là mức lãi suất trần 12%/năm quá thấp không đủ để bảo đảm mức lợi nhuận chênh lệch (interest rate spread) cần thiết cho khả năng sinh lời của ngân hàng, trung bình phải khoảng 2,5- 3%/năm (lãi suất đầu ra – lãi suất đầu vào, liên quan đến món vay), trong khi chi phí nguồn vốn huy động tăng nhanh vì lãi suất tiền gửi của khách hàng tăng cùng chiều với lãi suất cho vay trên thị trường NH.

Tất cả những phí phụ trội này cộng với lãi suất trên sổ sách đã làm cho mức lãi suất thực tăng cao hơn nhiều so với LSCB. Đấy là chưa kể việc rất nhiều những thành phần kinh tế không có khả năng vay vốn NH như nhiều DN nhỏ trong giới tiểu thương phải đi vào thị trường vay vốn chợ đen vay với lãi suất cắt cổ.

Cũng cùng một nhịp độ với lãi suất cho vay, lãi suất trả cho tiền gửi khách hàng tăng cao. Nhiều NH đã sẵn sàng trả cho khách hàng gửi tiền một mức lãi suất cao hơn nhiều mức trần 10,5%/năm do NHNN chỉ đạo. Nhiều NH khác tuy vẫn trả khách hàng gửi tiền với lãi suất trên sổ sách là 10,49%, nhưng trên thực tế lại có những chương trình khuyến mãi rất hấp dẫn, chẳng hạn trả trước tiền lãi, tặng tiền và tặng quà cho những món tiền gửi lớn. Trong những tuần lễ cuối năm 2009, ngay cả lãi suất qua đêm trên thì trường liên NH có lúc lên trên 20%/năm, vượt quá xa với mức 12% do NHNN quy định.

Những hiện tượng và tác dụng phụ liên quan đến việc điều chỉnh LSCB thể hiện một sự kiện rõ ràng là LSCB không phản ánh một mức lãi suất thực của thị trường, mà là một mức lãi suất được ấn định dựa vào chủ trương của NHNN vào một thời điểm nhất định khi thực hiện CSTT vào giai đoạn đó.

Việc áp đặt LSCB là một biện pháp hành chính không dựa vào cơ sở vận hành cung và cầu của kinh tế thị trường. Ở đây tôi không bàn đến khía cạnh luật pháp của việc những thành phần kinh tế (ngân hàng, người đi vay, người gửi tiền) chấp nhận/đòi hỏi những mức lãi suất vượt xa LSCB do NHTƯ áp đặt, tôi chỉ đưa ra sự kiện là LSCB không dựa trên cơ sở kinh tế thị trường mà là những quyết định đơn phương của NHNN và từ đó gây ra những sự tự điều chỉnh của các thành phần kinh tế sau những quyết định về LSCB của NHNN

– Vậy có nên bỏ LSCB và tìm cơ chế khác thích hợp hơn? Theo chúng tôi được biết thì NHTƯ Mỹ có cách điều hành lãi suất khá hiệu quả. Ông có thể cho bạn đọc biết rõ hơn về lãi suất (Federal Funds Rate) của NHTƯ Mỹ?

– Việc VN có nên bỏ LSCB hay không tôi xin dành câu trả lời cho các nhà làm chính sách. Ở đây, tôi xin bàn đến một loại lãi suất tương tự đươc NHTƯ Mỹ áp dụng, được gọi là “Federal Funds Rate” (tạm dịch là lãi suất vốn liên bang), hay gọi tắt là “Fed Fund Rate” (từ đây gọi là “FFR”). FFR có chức năng giống như LSCB, vì FFR là một công cụ của chính sách tiền tệ của NHTƯ Mỹ (Federal Reserve Bank, hay gọi tắt là “Fed”). Theo định nghĩa, FFR là lãi suất mà các định chế tài chính (chủ yếu là NHTM) trả cho nhau trên số dư cho nhau vay tại Fed.

Dĩ nhiên, hệ thống tài chính của Mỹ và cơ cấu tổ chức NHTƯ của Mỹ khác biệt với VN, nhưng chúng ta có thể đi tìm một mô hình trên cơ sở cơ chế thị trường để xây dựng LSCB, mà mô hình của Federeal Reserve Bank là một mô hình đáng nghiên cứu.

– Xin cảm ơn tiến sĩ!

Theo bà Dương Thu Hương – Tổng thư ký Hiệp hội NHVN – thì cụm từ LSCB được sử dụng khi xây dựng Luật NHNN năm 1997. Đây là một loại lãi suất do NHNN công bố để giúp các TCTD sử dụng làm cơ sở cho việc hình thành lãi suất kinh doanh, nhưng vai trò của LSCB cho đến năm 2008 rất mờ nhạt, thậm chí có những thời gian còn hơi bị lạc lõng, không có tác dụng gì đến thị trường, kể cả vai trò định hướng. Lãi suất này chỉ phát huy tác dụng khi NHNN sử dụng LSCB và quy định của Luật Dân sự để ổn định thị trường từ tháng 5.2008.

Trường Giang thực hiện

Mua hàng ở cửa khẩu lại được miễn thuế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:30 pm
Tags:

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 12:16
Tiếp tục miễn thuế cho khách du lịch đến khu kinh tế cửa khẩu. (Ảnh: Laocai)

Khách du lịch mua hàng tại khu phi thuế quan tại các cửa khẩu sẽ được miễn thuế đến hết ngày 31/12/2012. Đây là hướng dẫn mới nhất của Bộ Tài chính.

Theo đó, khách tham quan du lịch được mua hàng miễn thuế với giá trị không quá 500.000 đồng/người/ngày.

Trường hợp trị giá hàng hoá vượt quá 500.000 đồng thì người mua phải nộp đủ thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với phần vượt quá định mức.

Bộ Tài chính cũng quy định, thuốc lá điếu và bia rượu các loại thuộc danh mục hàng hoá hạn chế bán miễn thuế. Các hàng hóa này không bán cho người dưới 18 tuổi. Với người từ 18 tuổi trở lên, chỉ bán tối đa không quá 500.000 đồng/người/tháng.

Các khu kinh tế cửa khẩu bao gồm: Bờ Y (Kon Tum), Mộc Bài (Tây Ninh), Lào Cai, A Đớt (Thừa Thiên Huế), Đồng Đăng – Lạng Sơn…

Điều chỉnh này vốn được các khu kinh tế cửa khẩu mong đợi. Trước đây, các khu vực này thu hút đông khách du lịch nhờ được mua hàng miễn thuế. Tuy nhiên, theo quy định cũ, từ 1/7/2009 là chấm dứt ưu đãi, khiến cho nhiều nơi trở nên vắng khách.

(Theo VietNamNet)

Blog at WordPress.com.