Ktetaichinh’s Blog

January 10, 2010

Cấp phép xây dựng sẽ thoáng hơn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:08 pm
Tags:

Sở Xây dựng TP.HCM vừa trình UBND TP dự thảo quy định về cấp phép xây dựng trên địa bàn TP, thay thế quyết định 04 đang áp dụng.

Công nhận nhà xây dựng trái phép nhưng phù hợp quy hoạch

Ngoài các loại giấy tờ hợp pháp, hợp lệ về quyền sử dụng đất, quyết định giao, cho thuê đất… theo quy định trước đây, lần này Sở Xây dựng TP đề xuất mở rộng thêm đối tượng được cấp phép xây dựng (CPXD): nhà riêng lẻ không có các loại giấy tờ trên nhưng nằm trong khu dân cư hiện hữu, ổn định và sử dụng trước ngày 1-7-2004 (ngày Luật đất đai có hiệu lực).
Bên cạnh đó khu vực này phải được quy hoạch là đất ở, chủ đầu tư cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về ranh giới thửa đất đang sử dụng (kể cả phần tường chung với các nhà liền kề) hoặc không có tranh chấp khiếu nại và được UBND phường xã xác nhận thì được CPXD. Như vậy có thể hiểu nhà xây dựng trái phép trước ngày 1-7-2004 nhưng phù hợp quy hoạch, không tranh chấp và có xác nhận của chính quyền địa phương thì vẫn được CPXD.

Công trình có một phần phù hợp quy hoạch và đủ điều kiện CPXD, phần còn lại không phù hợp quy hoạch thì trong giấy phép xây dựng phải thể hiện thêm phần xây dựng tạm (có kết cấu tách biệt với kết cấu nhà chính) và người dân phải cam kết tháo dỡ không bồi thường phần công trình tạm này khi thực hiện quy hoạch. Công trình có nguồn gốc là biệt thự muốn xây dựng mới phải có sự đồng ý của UBND TP cho phá dỡ công trình cũ.

Người dân được tự thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ, quy mô dưới ba tầng và diện tích sàn từ 250m2 trở xuống nhưng phải phù hợp quy hoạch được duyệt và tự chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế cũng như việc ảnh hưởng đến các công trình xung quanh. Nhà ở có diện tích lớn hơn những công trình trên hoặc nằm trong các khu ảnh hưởng đến di sản văn hóa thì việc thiết kế phải do tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hành nghề thực hiện.

Xóa “treo” bằng xây dựng tạm

Lâu nay, người dân trong các khu quy hoạch “treo” than phiền rằng quyền lợi liên quan đến nhà ở, quyền sử dụng đất bị hạn chế, trong đó có CPXD. Lần này Sở Xây dựng TP đề xuất: nhà ở, công trình thuộc khu vực đã có quy hoạch được duyệt, công bố nhưng chưa thực hiện và người dân có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở thì được xem xét CPXD tạm tối đa năm tầng.

Tuy nhiên phải đảm bảo các điều kiện về tiêu chuẩn xây dựng, quy định về kiến trúc, cảnh quan… Những nơi theo quy hoạch là công trình hạ tầng kỹ thuật (nhà ga, bến xe, đường dự phóng…), các công trình công cộng (trường học, bệnh viện, công viên…) mà chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan chức năng để làm dự án thì được xem xét CPXD tạm theo thời hạn thực hiện quy hoạch nhưng phải phù hợp với mục đích, kế hoạch sử dụng đất.

Riêng nhà ở trong khu vực hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện hữu, hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… chưa có chủ trương di dời thì không cho xây dựng mới, chỉ được sửa chữa, cải tạo không làm thay đổi diện tích, kết cấu công trình. Nhà ở nằm trong quy hoạch lộ giới các tuyến đường hiện hữu nhưng chưa có kế hoạch mở rộng thì được phép sửa chữa, cải tạo theo kiến trúc, kết cấu hiện trạng cũ.

Trường hợp muốn xây dựng lại thì được CPXD tạm quy mô bán kiên cố một tầng (trệt, tường gạch, mái tôn hoặc ngói). Nếu hiện trạng là đất trống thì không được xây mới nhà ở, chỉ được cải tạo hàng rào, cổng hiện hữu.

Người dân phải cam kết tháo dỡ các công trình tạm khi Nhà nước triển khai dự án tại các khu vực trên và phần xây dựng này không được bồi thường. Nếu không thực hiện sẽ bị cưỡng chế tháo dỡ.

Theo đề xuất của Sở Xây dựng TP, thời gian CPXD nhà ở riêng lẻ không quá 15 ngày làm việc, các công trình khác không quá 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Giấy phép di dời công trình cũng thực hiện tương tự thời gian trên.

Advertisements

Ẩn số thanh khoản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:50 pm
Tags:
Những yếu tố tích cực đang xuất hiện đồng loạt khiến thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện.

Một vị lãnh đạo ngân hàng thương mại nhà nước cho biết, ngày thứ Tư (6/1), họ đã mua được 100 triệu USD đầu tiên từ PetroVietnam. Theo dự kiến tới trước ngày 13/1, họ sẽ mua thêm được ít nhất 100 triệu USD nữa từ tập đoàn này. Còn tới thời hạn chót 28/2, khoản tiền ngoại tệ họ mua được sẽ đạt khoảng 400 triệu USD.

“Chúng tôi đang dự kiến bán lại cho Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khoản ngoại tệ này để lấy tiền đồng”, ông cho biết.

Việc 7 tập đoàn/tổng công ty nhà nước bán lại ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng tất yếu làm tăng nguồn cung ngoại tệ. Việc bán lại ngoại tệ cho NHNN đương nhiên sẽ mang lại cho ngân hàng một khoản tiền đồng tương ứng. Không quá nhiều, nhưng không hề ít. 100 triệu USD tương đương với khoảng hơn 1.800 tỷ đồng.

Đảo chiều

Các biến động trên thị trường liên ngân hàng có thể cho thấy nhiều điều về hệ thống ngân hàng. Những ngày cuối năm 2009, trên thị trường liên ngân hàng đã xuất hiện những khoản chào vay với lãi suất lên tới 20%. Điều này là có thật. Một số ngân hàng quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc vay vốn trên thị trường liên ngân hàng đã “tạm quên” mức lãi suất trần 12%/năm theo quy định của NHNN để tìm mọi cách vay vốn từ các ngân hàng khác.

Qua theo dõi của một chuyên gia ngành ngân hàng, hiện tượng này mang tính quy luật bởi vào thời điểm cuối năm, ngân hàng nào cũng muốn có càng nhiều tiền mặt càng tốt để kết toán sổ sách của năm “theo cách tốt nhất có thể”. Các ngân hàng lớn do vậy cũng đều lo giữ tiền của mình mà không muốn cho vay trên thị trường liên ngân hàng.

Từ đầu tuần này, thị trường liên ngân hàng đã lập tức đảo chiều, lãi suất giảm khá mạnh. Theo thông tin của ĐTCK, nhiều ngân hàng chào vốn trên thị trường liên ngân hàng với giá hợp lý mà không có ai vay. Lãi suất cho vay kỳ hạn 1 – 4 tuần hiện chỉ còn xoay quanh mức 11%.

Khó dự đoán

Có thể nói hiện nay hệ thống ngân hàng đã dễ thở hơn rất nhiều. NHNN tiếp tục tăng cường bơm vốn qua thị trường mở (OMO). Từ đầu tuần này, mỗi ngày NHNN đều bơm ra khoảng 7.000 – 11.000 tỷ đồng. Con số này thực ra có thể tăng cao hơn tuỳ thuộc vào khối lượng giấy tờ có giá của các ngân hàng.

“Về khối lượng tiền bơm qua kênh thị trường mở, NHNN hầu như không còn giới hạn”, một vị lãnh đạo ngân hàng cổ phần cho biết. Tuy nhiên, như thường lệ, thời hạn cho vay vốn qua nghiệp vụ OMO vẫn chỉ tối đa là 2 tuần.

Ngoài kênh thị trường mở, hệ thống ngân hàng vẫn có thể trông chờ vào một nguồn vốn khác. Như đã đề cập ở đầu bài, việc có thêm ngoại tệ từ các tập đoàn/tổng công ty lớn sẽ có thể đổi lại cho hệ thống ngân hàng những khoản tiền đồng tương ứng.

Hồi tháng 12/2009, NHNN đã từng công bố số liệu tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức này tại hệ thống ngân hàng lên tới 1,9 tỷ USD.

Trên thực tế, trong khi tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng được đảm bảo đúng như cam kết của NHNN hồi tháng 12, hiện nay các ngân hàng vẫn đang phải tìm mọi cách để có thể tăng cường huy động nguồn tiền từ dân cư và doanh nghiệp.

“Huy động vốn từ dân cư vẫn tăng nhưng khá chậm”, một vị lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần cho biết.

Theo phân tích của một lãnh đạo ngân hàng thương mại nhà nước, thời gian trước dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp luôn tăng vọt. Như mọi năm, đây luôn là thời điểm hệ thống ngân hàng khó đoán nhất. “Do vậy, nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp là rất quan trọng. Mức lãi suất trần hiện nay là 12%/năm, có lẽ là chưa đủ hấp dẫn”.

Dù tới thời điểm này, NHNN vẫn chưa phát đi “tín hiệu” nào về việc điều chỉnh lãi suất cơ bản trong tháng 2/2010 nhưng trên thị trường, các chuyên gia ngân hàng đang dự đoán một kịch bản tăng lãi suất cơ bản.

TTCK năm 2010: Lạc quan thận trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:49 pm
Tags: ,

hìn chung, năm 2009 là một năm tăng trưởng rất ấn tượng của TTCK Việt Nam.

dù trong tháng cuối năm, TTCK Việt Nam đã điều chỉnh giảm do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ nhưng nhìn chung với một chu kỳ tăng điểm kéo dài hơn 8 tháng trong những tháng giữa năm, thì năm 2009 là một năm tăng trưởng rất ấn tượng của TTCK Việt Nam.
2009 – bất ngờ và ấn tượng

Nếu tính từ ngày 1/1/2009 đến 31/12/2009 thì VN-Index đã tăng thêm 171,96 điểm, từ 312,49 điểm lên đến 494,77 điểm, tương đương 58%. Nếu tính từ đáy thấp nhất trong năm khi VN-Index ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/2/2009 và đỉnh cao nhất là 633,21 điểm vào ngày 23/10/2009 thì VN-Index đã tăng 2,69 lần. Tương tự, mức tăng trưởng trong năm 2009 của HNX-Index là 60,9%; và nếu so từ đáy thấp nhất 78,06 điểm lên đỉnh cao nhất trong năm 218,38 điểm thì HNX-Index đã tăng 2,79 lần.

Theo chúng tôi, sự bùng nổ của TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 10 chủ yếu do: nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã thoát khỏi suy thoái và xác lập đáy trong quý II/2009; Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế, nên lượng tiền được bơm vào nền kinh tế khá nhiều và một số chuyên gia cho rằng, một phần số tiền từ gói hỗ trợ kích cầu đã chảy vào TTCK; các CTCK tăng cường hỗ trợ công cụ đòn bẩy tài chính cho khách hàng, thậm chí có công ty còn cho sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ 1:3, 1:5; một số CTCK cho khách VIP bán chứng khoán khi chưa đủ ngày T+4 giúp việc quay vòng đồng vốn của NĐT tăng nhanh đáng kể…

Các sự kiện tác động lớn đến TTCKVN năm 2009

Tuy nhiên, ngoài các yếu tố trên thì yếu tố nội tại là kết quả kinh doanh của các DN mới là nhân tố chính giúp TTCK hồi phục mạnh mẽ. Hầu hết công ty niêm yết đều công bố kết quả kinh doanh trong 9 tháng đầu năm khá khả quan và vượt kế hoạch đề ra, thậm chí nhiều DN đã công bố lợi nhuận vượt kế hoạch cả năm 2009.

Phần lớn lợi nhuận bất thường của các DN chủ yếu đến từ các yếu tố: chi phí lãi vay giảm nhờ gói hỗ trợ lãi suất 4%/năm của Chính phủ; một số ngành có lợi thế mua được nguyên vật liệu đầu vào giá rẻ khi nền kinh tế thế giới ở giai đoạn khủng khoảng như nhựa, săm lốp, thép…; một số DN được hưởng lợi từ hoàn nhập dự phòng hàng tồn kho; các công ty có các khoản đầu tư tài chính lỗ trong năm 2008 được hoàn nhập dự phòng; đánh giá lại tài sản thông qua việc góp vốn đầu tư bằng quyền sử dụng đất; giá hàng hóa đầu ra tăng nhưng chi phí đầu vào vẫn được giữ mức thấp như cao su tự nhiên.

Tuy nhiên, như tổng kết ở trên, hầu hết các khoản lợi nhuận của DN tăng lên chủ yếu nhờ hoạt động bất thường chứ không thuần túy đến từ tăng trưởng doanh thu. Sang năm 2010, dự kiến phần lớn các nguyên nhân này sẽ không tiếp diễn nữa.

Những hiện tượng nổi bật năm qua

Hiện tượng cạnh tranh của CTCK

Năm 2009 chứng kiến sự đổi ngôi của CTCK trong cuộc chiến giành giật thị phần, nhiều CTCK mới ra đời nhưng đã lọt vào Top 10 thị phần môi giới như Kim Eng, VIS. Phân tích của báo chí cho thấy việc một số CTCK vươn lên vị trí dẫn đầu, một phần cũng từ nguyên nhân các công ty này cho sử dụng đòn bẩy, khiến giá trị giao dịch tăng vọt. Tuy nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân khiến thị trường sau đó điều chỉnh giảm mạnh gần 30% trong những tháng cuối năm và áp lực khiến UBCK, Bộ Tài chính phải tăng cường kiểm soát.

Đòn bẩy tài chính tăng kỷ lục trong tháng 9 và 10

Mặc dù tốc tăng trưởng tín dụng mạnh nhất vào thời điểm tháng 3 đến tháng 6, nhưng có vẻ như dòng tiền chảy vào TTCK lại diễn ra chậm hơn, khoảng 3 tháng sau đó, từ tháng 9 đến tháng 10. Thời gian này, các CTCK, đặc biệt là các đơn vị có ngân hàng mẹ đứng sau đã tăng cường hỗ trợ mạnh mẽ công cụ đòn bẩy tài chính cho NĐT.

Các đợt sóng theo ngành diễn ra rất mạnh với thời gian rất ngắn

Các đợt sóng này chủ yếu xuất hiện trong tháng 9 và 10, là thời kỳ khối lượng giao dịch kỷ lục do yếu tố đòn bẩy. Lý do là các CTCK cho khách hàng VIP bán trước ngày T+4, điều nay đã tạo ra những đợt sóng siêu ngắn trên thị trường, khi mức lời đạt kỳ vọng từ 5 – 10% từ một đến hai ngày đã tạo ra những áp lực chốt lời.

Chính sách nới lỏng được mở ra mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 khi các ngân hàng bắt đầu giải ngân gói kích cầu hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Trung bình tăng trưởng dư nợ tín dụng trong các tháng giai đoạn này là 3,54%/tháng và dư nợ cho vay chứng khoán và bất động sản cũng tăng vọt. Tuy nhiên, trước lo ngại lạm phát sẽ tăng mạnh lại thì bắt đầu tư nửa cuối năm 2009, Chính phủ đã bắt đầu có những chính sách nhằm thu hẹp dư nợ tín dụng bằng các văn bản yêu cầu các NHTM kiềm chế dư nợ tín dụng, hạn chế tối đa cho vay kinh doanh chứng khoán và bất động sản, và động thái cuối cùng của NHNN là tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% kể từ ngày 01/12.

Hướng về năm mới

Với đà tăng của năm 2009, năm 2010 nhiều khả năng vẫn là năm tăng trưởng của TTCK Việt Nam, nhưng tốc độ tăng có thể thấp hơn năm 2009. Chúng tôi cho rằng, có 3 yếu tố lớn hỗ trợ và cũng có 3 yếu tố không có lợi cho thị trường trong năm 2010 so với năm 2009.

Về các yếu tố hỗ trợ…

Thứ nhất, sự phục hồi kinh tế thế giới, đặc biệt sẽ hỗ trợ cho các ngành xuất khẩu của Việt Nam như thủy sản, cao su tự nhiên, may mặc, đồ gỗ…

Thứ hai, đà phục hồi của DN Việt Nam. Năm 2009, Việt Nam duy trì được tăng trưởng GDP 5,32% là một thành tích rất ấn tượng so với rất nhiều nước khác trên thế giới. Chúng tôi tin tưởng năm 2010 Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP là 6,5%/năm.

Thứ ba, năm 2010 dự kiến sẽ là một năm có nhiều thay đổi lớn trong các quy định giao dịch, và sẽ rất tích cực với thị trường. Đó là khả năng thực hiện giao dịch ký quỹ, cho phép thanh toán và nhận chứng khoán ngày T+ sớm hơn, khả năng NĐT được mở nhiều tài khoản, được phép mua bán cùng loại chứng khoán trong phiên…

… và những hạn chế

Thứ nhất, việc tăng lãi suất và thu hẹp tiền tệ làm giảm dòng tiền vào TTCK. Tuy nhiên, thời gian này dự kiến sẽ chỉ trong quý 1 hoặc cùng lắm là trong quý II/2010.

Thứ hai, trong năm 2009, nhiều DN thu được lợi nhuận từ việc mua hàng hóa cơ bản với giá rẻ, ví dụ như cao su, thép, hóa chất, dầu… Điều này sẽ khó diễn ra trong năm 2010.

Thứ ba, trong năm 2009 có được lợi nhuận lớn từ hòa nhập dự phòng tài chính. Nguồn lợi nhuận này dự kiến sẽ giảm mạnh trong năm 2010.

Với những tác động tích cực và tiêu cực trên, chúng tôi cho rằng, nửa cuối năm 2010 thị trường sẽ thuận lợi hơn nửa đầu năm. Dự kiến, nửa đầu quý I/2010 thị trường diễn ra thuận lợi trong bối cảnh ổn định lãi suất, đón lợi nhuận quý IV và cả năm 2009 khả quan của các DN. Nửa cuối quý I và có thể sang quý II là thời kỳ điều chỉnh tăng lãi suất,đi kèm với các chính sách tài khóa thắt chặt. Do đó, đây là thời kỳ không thuận lợi cho TTCK. Cuối quý II có thể là giai đoạn cuối của thời kỳ thắt chặt tiền tệ.

Nửa cuối năm 2010 là thời kỳ thuận lợi hơn cho TTCK khi chính sách tiền tệ đã ổn định hơn.

Theo ĐTCK

Create a free website or blog at WordPress.com.