Ktetaichinh’s Blog

January 9, 2010

Sính hàng hiệu nhất thế giới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:33 am
Tags: ,

SGTT – Ở châu Á, danh sách những thị trường mới cho hàng hiệu nổi bật những cái tên như Trung Quốc, Ấn Độ…

Rolls Royce, nhãn hiệu xe hạng sang được nhiều người quan tâm tại triển lãm xe Dubai hồi cuối năm ngoái. Hãng này dự báo doanh số ở châu Á sẽ tăng gấp ba lần trong năm 2010. Ảnh: Reuters

Ở các thành phố lớn của châu Âu và Mỹ, Armani chỉ mở một cửa hàng lớn cho dòng sản phẩm cao cấp Giorgio Armani, còn các dòng sản phẩm thời trang cấp thấp hơn được bán trong các gian hàng đặt tại các trung tâm mua sắm cao cấp. Nhưng tại Trung Quốc, sau khi đã mở hai cửa hàng lớn ở Thượng Hải và Bắc Kinh cho dòng sản phẩm Giorgio Armani, Armani đang có kế hoạch mở thêm hai cửa hàng lớn nữa ở Thượng Hải trong vài tháng tới.

Trung Quốc: hàng hiệu thể hiện đẳng cấp

Tính cả những dòng sản phẩm khác, trong đó có dòng sản phẩm Armani Jeans và dòng sản phẩm phổ thông Armani Exchange, Armani đang có 45 cửa hàng lớn ở Trung Quốc, trong khi ở Mỹ, thị trường lớn nhất của Armani, chỉ có 25 cửa hàng dạng này.

Khu giải trí đánh bài nổi tiếng Wynn Macau có một khu mua sắm với hàng chục nhãn hiệu cao cấp như Chanel, Prada, Louis Vuitton. Theo bà Linda Switzer, quản lý khu mua sắm này, gần 90% khách hàng của nơi này là những người Trung Quốc đại lục. Cùng với Hong Kong, Macau thu hút nhiều khách mua sắm đồ hiệu từ

Trung Quốc sang vì nơi này có thuế đánh vào hàng xa xỉ thấp hơn đại lục. Khách mua sắm từ đại lục chính là những người đã giúp cửa hàng đồng hồ Thuỵ Sĩ Piaget ở Wynn Macau trở thành cửa hàng kinh doanh thành công nhất trong hệ thống cửa hàng Piaget trên toàn thế giới.

Bà Jill Telford, tổng giám đốc của hãng nghiên cứu thị trường Synovate, nhận xét rằng những người giàu mới nổi ở Trung Quốc mua sản phẩm hàng hiệu để chứng tỏ vị thế trong xã hội. Với người Trung Quốc, logo hàng hiệu gắn trên sản phẩm, biểu hiện của sự thành đạt của người dùng sản phẩm, trở nên có ý nghĩa nhiều hơn nếu được nhiều người biết đến. “Nếu họ không biết đến thương hiệu, đừng hòng mong họ gõ cửa”, bà Linda Switzer, phụ trách bán lẻ ở Wynn Macau nói.

“Tôi dùng hàng xịn, chứ không phải hàng giả”

Các thị trường khác của châu Á cũng có xu hướng chuộng dùng hàng hiệu hơn các khu vực khác trên thế giới. Năm 2009, hãng Synovate của bà Telford đã thực hiện một cuộc khảo sát trực tuyến quy mô lớn về xu hướng toàn cầu trong mua sắm hàng hiệu với 8.000 người ở 11 thị trường – trong đó có Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Canada, Mỹ, Brazil, Hong Kong, Ấn Độ, Đài Loan, và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Kết quả khảo sát công bố trong đầu năm 2010 cho thấy người châu Á sính hàng hiệu nhất thế giới.

Tại Hong Kong, 68% số người tham gia khảo sát cho biết họ chuộng các sản phẩm hàng hiệu hơn các sản phẩm khác. Cũng như ở Trung Quốc, lý do người tiêu dùng ở Hong Kong chuộng sản phẩm hàng hiệu – theo bà Telford – là vì “họ muốn những người khác biết rằng hàng họ đang dùng là hàng xịn, chứ không phải hàng giả”. Tại Ấn Độ và UAE, tỷ lệ chuộng dùng sản phẩm hàng hiệu cũng rất cao: 79% và 58%. Trong khi đó, những người tham gia khảo sát ở Mỹ và Anh lại cho rằng họ thường chọn những sản phẩm không có logo hàng hiệu hơn. Tại Mỹ, chỉ có 36% số người được hỏi cho biết họ thích dùng sản phẩm hàng hiệu, và tỷ lệ này tại Anh là 33%. Các thị trường khác ở phương Tây cũng có tỷ lệ không cao như các thị trường châu Á.

Những sự khác biệt

Cách tiếp cận người tiêu dùng mà các nhãn hiệu cao cấp triển khai ở thị trường châu Á cũng khác với các thị trường khác trên thế giới. Chẳng hạn như tại Trung Quốc, các bảng quảng cáo hàng hiệu hấp dẫn thường đặt trên các con đường đông đúc vì thị trường hàng cao cấp ở đây còn mới và đang tập trung thu hút khách hàng trẻ.

Ông John Hooks, phó chủ tịch của tập đoàn thời trang Armani, đưa ra một đặc trưng khác của người tiêu dùng châu Á: người Trung Quốc, chẳng hạn, thường tiêu tiền nhiều cho các dịp đặc biệt, nên thường chú ý đến hàng đắt tiền nhiều hơn trong các dịp này, và các nhãn hiệu cao cấp vào những dịp như thế lại có thêm khách hàng mới, trong khi ở châu Âu và Mỹ khách hàng của Armani thì luôn ổn định ở một nhóm đối tượng.

Trong kết quả khảo sát của Synovate, các nhà phân tích nhận thấy sự khác biệt trong tâm lý của người tiêu dùng khu vực châu Á và các khu vực khác. Trong khi một nửa số người tham gia khảo sát ở Mỹ cho biết họ cảm thấy áy náy khi mua hàng xa xỉ và xem những món hàng này là thứ vượt quá mức cần thiết, thì những người Ấn Độ giải thích họ mua hàng hiệu vì chất lượng của sản phẩm và vì đó là một phong cách sống. Gần 3/4 số người được hỏi ở Ấn Độ cho rằng không thấy áy náy gì khi mua một sản phẩm xa xỉ. Ở Hong Kong, theo bà Telford, một trong những lý do chủ yếu khiến người tiêu dùng chọn những sản phẩm có gắn logo của nhãn hiệu nổi tiếng là vì họ không muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay hay một chiếc túi xách hàng nhái.

Advertisements

1.001 “độc chiêu” buôn lậu

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:49 am
Tags: , ,

Được đăng bởi tmtvietnam vào lúc 12:48

Cuối năm, quốc lộ 9 nối cửa khẩu Lao Bảo với TP Đông Hà được gọi là “cung đường buôn lậu”. Theo những chuyến hàng từ Lao Bảo về, mới biết dân buôn quả là tinh vi và lắm trò để lợi dụng cơ chế, tránh né cơ quan chức năng.
>> 80 đối tượng có hung khí và vụ cướp bò “bí ẩn”

Ngược lên cửa khẩu Lao Bảo theo quốc lộ 9, không thể không giật mình trước dòng xe khách nối đuôi nhau lên xuống tấp nập. Xe khách chỉ lèo tèo dăm ba khách, mà chở cơ man hàng hóa. Từ rượu ngoại, thuốc lá, bia, nước giải khát đến nồi điện, mỹ phẩm… chất đống từ sàn xe lên tới nóc. Anh bạn đường hất hàm: “Hàng lậu cả đấy!”.

Khi buôn lậu “sống” nhờ cơ chế

Trong hằng hà sa số những món hàng lậu được chuyển về “rốn” Đông Hà và tản đi các tỉnh lân cận, ngành Hải quan Quảng Trị đau đầu nhất với mặt hàng điện thoại di động (ĐTDĐ). Theo Chi cục Hải quan Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, từ đầu năm 2009 đến nay có hơn 53.000 chiếc ĐTDĐ được nhập vào khu kinh tế – thương mại, trị giá trên 70 tỷ đồng. Theo quy định, các doanh nghiệp xuất sẽ được hoàn thuế VAT 10%, có nghĩa là trên 7 tỷ đồng đã nằm yên trong tài khoản của các doanh nghiệp này.

Thực tế, với lượng dân số ít ỏi trong khu kinh tế – thương mại, sức tiêu thụ ĐTDĐ không thể lớn đến như vậy, vì thế các cơ quan chức năng đều nhận định nạn thẩm lậu mặt hàng này vào nội địa ngay sau khi được xuất và hoàn thuế. “Việc quản lý mặt hàng này rất khó vì quá nhỏ và khi vận chuyển thường được tháo hộp, thậm chí tách rời từng loại phụ kiện rồi phân tán nhằm tránh sự kiểm tra của Hải quan” – ông Lê Anh Tuấn – Phó Chi cục trưởng cho hay.

Theo giới doanh nghiệp ở Lao Bảo, các mặt hàng này vì kích cỡ nhỏ nên thường sau khi nhập vào sẽ được các doanh nghiệp xuất bán ngay cho một số đầu nậu chuyên tìm đường vận chuyển về lại nội địa. Các đầu nậu này sẽ phân tán hàng cho các đối tượng gùi cõng qua các lối mòn từ QL14, qua các làng bản rồi xuyên ra QL9 đoạn sau Cổng B trước khi tập kết, chở về Đông Hà. Rất ít khi các đầu nậu vận chuyển qua Cổng B vì dễ bị phát hiện.

Đó là chưa kể một lượng không nhỏ những người buôn nhỏ chỉ mua vài chục cái trở xuống, nhét khắp người rồi dễ dàng vượt qua cổng kiểm soát. Có lẽ chính vì thế, trong số ĐTDĐ thẩm lậu vào nội địa, chỉ có 113 chiếc (trị giá gần 200 triệu đồng) được phá hiện, bắt giữ. Đã vài lần ngành Hải quan phát hiện được các vụ vận chuyển, nhưng các đối tượng đều trốn thoát.

Ông Tuấn cho hay, thực tế Cục Hải quan Quảng Trị đã kiến nghị UBND tỉnh đề xuất với Bộ Tài chính không đưa mặt hàng này vào danh mục được hoàn thuế vì mặt hàng này không mang lại hiệu quả thiết thực cho khu kinh tế – thương mại Lao Bảo song chưa có câu trả lời bởi quan điểm của Bộ là áp dụng thí điểm để nghiên cứu trước khi áp dụng rộng rãi. Trước đó, Bộ Tài chính cũng đã áp dụng hoàn thuế với mặt hàng sim, card điện thoại song đã rút lại vì không thể quản lý được.

Mặc dù vậy, nhiều doanh nghiệp và đầu nậu cũng đã kịp “vớ bẫm” nhờ sự thí điểm này bởi thực tế, việc quản lý sự thẩm lậu của sim, card hay ĐTDĐ hiện nay là một nhiệm vụ quá khó khăn với ngành Hải quan.

Những chiêu “ve sầu thoát xác”

Không chỉ có ĐTDĐ, QL9 mùa này thực sự “nóng từng centimet” khi những chuyến xe chở hàng lậu nối đuôi nhau túa về xuôi. Nếu các mặt hàng tiêu dùng như thuốc lá, rượu bia, nước giải khát, đường… thường được các đầu nậu thuê dân bản địa gùi cõng hoặc giấu công phu trong các hộc hàng “hai đáy” của xe để qua mặt các cơ quan chức năng thì các loại mặt hàng khác được lựa chọn hình thức tinh vi hơn.

Mới đây nhất, ngày 15/12/2009, Đội Kiểm soát Hải quan vừa bắt vụ vận chuyển 38 con bò lậu có nguồn gốc từ Lào. Nhưng con số này xem ra còn khá nhỏ so với nạn buôn lậu bò qua biên giới trong năm qua ở Quảng Trị. Giá bò ở Lào, Thái Lan rẻ chưa bằng ½ giá ở Việt Nam, nên những chú bò trở thành mặt hàng “hot” của các đầu nậu.

Bò được đưa theo các đường tiểu ngạch vào Lao Bảo, được vỗ béo trước khi “chuyển quốc tịch”.

Bò lậu thường được chuyển qua biên giới bằng các đường tiểu ngạch, được các đầu nậu giao cho “chân rết” thuê dân địa phương chăn giữ, trông coi. Mặc dù bằng mắt thường có thể thấy bò Thái Lan, Lào to hơn bò Việt Nam nhiều nhưng bằng cách này, các lực lượng chức năng rất khó chứng minh nguồn gốc bất hợp pháp của bò, bởi người dân ở đây thường nhận là bò họ nuôi từ lâu. Sau khi được vỗ béo, số bò này được người dân lùa tự do đến các điểm tập kết trong nội địa trước khi được chuyển lên các xe tải lớn đưa đi tiêu thụ.

Khi chiêu thức này dần bị lộ, nhiều đầu nậu bò còn mở các lò mổ ngay trong thị trấn Lao Bảo để giết mổ bò tại chỗ trước khi đưa các sản phẩm đi tiêu thụ. Trong cuộc họp giải quyết vấn nạn bò lậu mới đây, ông Nguyễn Ngọc Sắc – Chủ tịch UBND huyện Hướng Hóa – nhận định: mỗi đêm, hàng chục tấn thịt bò được vận chuyển về xuôi qua đường bộ. Số thịt này đều từ số bò lậu được thuê nuôi phân tán trong dân. Nguy cơ bò lậu tràn về không chỉ làm thất thu nguồn thuế của Nhà nước, mà còn kéo theo nguy cơ dịch bệnh vì chẳng có con bò lậu nào được kiểm dịch.

Không ít bò lậu được giết mổ tại cửa khẩu trước khi chuyển về xuôi theo đường bộ.

Một chiêu bài buôn lậu tinh vi khác được nhiều người cho là đã xuất hiện ở Lao Bảo trong thời gian qua là nạn “thay áo” xe ôtô, vốn đang rộ lên ở khá nhiều cửa khẩu giáp với Lào, Campuchia. Theo ông Ngô Minh Tuấn – Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo: “Đến nay, có hơn 300 chiếc xe biển Lào tạm nhập nhưng chưa tái xuất. Hàng tháng, chúng tôi đều có báo cáo gửi Tổng Cục Hải quan và Cục CSGT về tình trạng này”.

Theo giới sành xe, những chiếc xe biển Lào hay biển LB ngoài việc để chạy liều mà không đăng ký lại còn được “thay áo” bằng chiêu thức “hai nhập một” hoặc một giấy tờ dùng chung cho hai xe. “Chủ một chiếc xe đắt tiền chỉ cần báo mất giấy tờ, xin cấp lại sẽ có hai bộ đăng ký. Cứ như vậy, lái xe sang Lào, chọn một chiếc tương tự với giá chỉ bằng phân nửa xe mới ở Việt Nam (thuế ôtô ở Lào chỉ 1%), đem vào garage làm lại số khung, số máy mới thì chỉ mất khoảng 1 tuần là có hai chiếc xe giống hệt nhau, cùng một biển số” – một người thường “đánh” hàng Lao Bảo cho biết.

Cũng theo anh này, có cách khác đơn giản hơn là “săn” các chiếc xe bị tai nạn hoặc đã “hết date” vì sử dụng nhiều với giá bèo (chỉ 20-25% giá xe mới cùng loại ở VN), chạy sang Lào mua một chiếc tương tự mới cứng với giá non nửa ở VN rồi làm lại số khung, số máy xong thì lắp biển từ xe cũ vào vô tư chạy về VN mà chỉ mất khoảng 70% số tiền mua xe tương ứng ở VN. Chưa có chiếc xe nào bị phát hiện mua gian theo cách này. Và khi người viết trăn trở về tính an toàn của trò “ve sầu thoát xác” này và muốn nhờ “làm” một chiếc, anh chàng này khẳng định “an toàn tuyệt đối”.

Hai ngày ăn ở tại thị trấn Lao Bảo, chúng tôi chợt nhận ra rằng các “ngón nghề” mà dân buôn lậu ở đây sử dụng đã mới hơn rất nhiều so với vài năm về trước. Những cách đối phó như một hóa đơn nhiều lô hàng, chở thêm nhiều người để chia lẻ lô hàng, dùng “khổ nhục kế” hay mượn người đông gây áp lực với lực lượng chức năng đã được coi là “xưa”. Có nhiều đầu nậu “thế hệ mới” đã xuất hiện, có tổ chức theo dõi cả cơ quan chức năng, lợi dụng chính sách hoặc dùng công nghệ để hợp pháp hóa nguồn gốc hàng.

Cá, tôm “tranh chấp” trên sân nhà

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:41 am
Tags: ,

Khi thừa nguyên liệu phải bán đổ bán tháo với giá rẻ, lúc thiếu trầm trọng phải tính chuyện nhập khẩu để đủ cho chế biến, nhà máy đầu tư xây mới ồ ạt dẫn đến tranh mua nguyên liệu… Sự cạnh tranh không lành mạnh khá phổ biến khiến ngành cá tra, tôm Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn. Nếu không có biện pháp khắc phục, năm 2010 hai mũi nhọn xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam có thể tụt hậu.

Cá tra: Bội thực nhà máy

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) vừa có công văn gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo về tình hình xuất khẩu cá tra năm 2009 và đưa ra 5 kiến nghị về giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cá tra năm 2010. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cá tra có sự sụt giảm đáng kể so với năm trước đó; trong đó EU là thị trường nhập khẩu nhiều nhất mặt hàng cá tra (chiếm trên 40%) sụt giảm mạnh về khối lượng và giá trị. Sự suy giảm được mổ xẻ từ nhiều nguyên nhân: do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp mạnh và giá tại các thị trường chủ lực đều giảm; những thông tin không trung thực nhằm hạ uy tín con cá tra Việt Nam của báo chí một số nước như Italia, Tây Ban Nha, Na Uy, khu vực Trung Đông và Niu Dilân; những rào cản bảo hộ mậu dịch từ các nước nhập khẩu chính liên tục được đặt ra…
Tuy nhiên, trước khi trách người cũng phải nhìn lại chính mình. Với bất cứ ngành xuất khẩu nào, yếu tố nguyên liệu cũng đóng vai trò quan trọng. Nhưng hiện nay, người nuôi cá tra đang rất khó khăn và thực tế này khiến họ không gắn bó với nghề. Cụ thể, nông dân khó có thể xác định giá thành nuôi khi giá con giống, thức ăn, thuốc thú y thay đổi không theo quy luật trong suốt chu trình nuôi cá kéo dài đến 8 tháng. Con giống chưa được kiểm soát về chất lượng, giá thức ăn tăng giảm thất thường là nguyên nhân làm cho nhiều hộ nuôi bị lỗ và chất lượng nguyên liệu cá nuôi không ổn định. VASEP cho rằng, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước về việc tăng cường khâu quản lý chất lượng con giống, thức ăn từ các nhà cung cấp và phân phối, cũng như không có chính sách, biện pháp ổn định giá nhằm giúp người nuôi dự kiến được giá thành, thì tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa liên tục tái diễn.

Không chỉ ở khâu nguyên liệu, khâu chế biến cũng đang diễn ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Hiện năng lực chế biến đã vượt qua mức 600.000 tấn sản phẩm, do phong trào xây dựng nhà máy chế biến cá tra ở Đồng bằng Sông Cửu Long phát triển rất rầm rộ. Số lượng DN tham gia xuất khẩu cá tra theo thống kê lên tới 272 đơn vị trong năm 2009. Một số nhà máy mới ra đời không có khách hàng ổn định, hoạt động dưới công suất, dẫn đến việc phải nhận gia công chế biến, thậm chí không được tham gia kiểm soát chất lượng sản phẩm, để cho các công ty thương mại xuất khẩu hàng kém chất lượng, làm ảnh hưởng uy tín cá tra Việt Nam. Trước tình trạng này, VASEP khuyến nghị các địa phương cân nhắc khi cấp phép việc xây mới hoặc mở rộng các nhà máy chế biến cá tra, trong đó cần đề cao nguyên tắc nhà máy chế biến phải có vùng nguyên liệu, có thị trường ổn định.

Với 125 thị trường nhập khẩu trên khắp thế giới, mục tiêu năm 2010 đạt sản lượng cá nguyên liệu 1,5 triệu tấn, sản phẩm xuất khẩu đạt 600.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD không phải không thể thực hiện được. Tuy nhiên, để giải những bài toán trên, không thể chỉ bằng những nỗ lực đơn lẻ.

Ngành tôm: Đói nguyên liệu

Xuất khẩu tôm là ngành thuỷ sản duy nhất tăng trưởng trong năm 2009. Tuy nhiên, tương tự ngành cá tra, việc thiếu quy hoạch nguyên liệu trầm trọng trong khi quá nhiều DN chế biến quy mô nhỏ đang là thách thức lớn trong năm 2010. Năm 2007 – 2008, nhiều nông dân nuôi tôm lỗ nặng nên bỏ vuông tôm, không chăm lo nguồn nguyên liệu khiến từ đầu năm 2009, ngành tôm đã rơi vào cảnh thiếu hàng chế biến. Giá tôm sú tăng vọt lên trên 200.000 đồng/kg, DN phải tính chuyện nhập khẩu tôm nguyên liệu để chế biến. Trong khi đó, theo thống kê của VASEP, hiện có hơn 300 DN tham gia xuất khẩu tôm, trong đó 60 DN lớn chiếm hơn 80% kim ngạch, 120 DN có giá trị xuất khẩu hơn 1 triệu USD/năm, còn lại là DN quy mô rất nhỏ. Nhiều DN có xuất phát điểm từ những đầu mối thu gom nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, vì thế công nghệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến rất yếu, khi thị trường không thuận lợi, khó có thể đa dạng hóa sản phẩm.

Đơn cử như năm 2009, tôm sú vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm trên 75% giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, do thiếu nguyên liệu, nhiều nhà máy phải hoạt động dưới công suất, trong khi đó tôm thẻ chân trắng dồi dào hơn thì lại chỉ có ít DN chế biến được.

Theo dự báo của ông Trương Đình Hoè, Tổng thư ký VASEP, sang năm 2010, tôm sú vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Song do khó khăn về nguyên liệu, giá thành tôm sú sẽ đóng vai trò chính tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu chứ không phải yếu tố thị trường.

Xuất khẩu tôm chân thẻ trắng nhờ vậy có khả năng tăng kim ngạch gấp đôi lên 500 triệu USD, sản lượng đạt khoảng 150.000 tấn. Những thị trường chủ lực của ngành tôm Việt Nam như Nhật Bản, Mỹ đều gia tăng nhập khẩu tôm chân trắng. Như vậy, gây dựng vùng nguyên liệu, đào tạo lao động để thích ứng với hoàn cảnh mới có lẽ là lối đi buộc phải chọn của nhiều DN.

Tiêu dùng 2009: Người bán và những giải thích vô cảm

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:35 am
Tags:
Những khách hàng khổ của điện, nước, ATM lâm vào cảnh dùng không được, bỏ chẳng xong.

Khiếu nại của người tiêu dùng về các dịch vụ “đại chúng” như viễn thông, điện, nước, ATM… trong năm 2009 thường được giải thích bằng những câu trả lời có cũng như không.

Viễn thông 2009: Những trả lời “át vía” khách

Theo đánh giá của Bộ TT&TT, năm 2009 hoạt động viễn thông có bước phát triển lớn. Các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, đạt doanh thu ước tính trên 150.000 tỷ đồng tăng hơn 62% so với năm 2008. Nhưng trái ngược với sự phát triển đó lại là niềm tin vơi hao của người tiêu dùng Việt đối với chất lượng mạng.

Trong năm 2009, đã có hàng loạt phản ánh của bạn đọc tới báo VietNamNet về mạng Internet. 90% trong số đó là những phàn nàn về việc tính sai lưu lượng và tốc độ ADSL rùa bò. Người tiêu dùng không thể hiểu nổi lý do tại sao mình không vào mạng, vẫn bị tính cước Internet hay chỉ đọc báo phải trả đến nửa triệu đồng do lưu lượng sử dụng tăng kịch trần. Họ cũng phải chấp nhận nghịch cảnh lạ đời khi gọi điện phải trả thêm tiền Internet hay việc ký hợp đồng ADSL tốc độ cao nhưng tốc độ truy cập thực tế lại quá chậm, không đúng với cam kết ban đầu.

Trong dịch vụ điện thoại cố định, di động, người dùng nhìn tài khoản bốc hơi, cuộc gọi dài hàng tiếng đồng hồ trong khi không hề thực hiện cuộc gọi, họ không khỏi rùng mình. Kết thúc cuộc gọi, đồng hồ tính cước vẫn tiếp tục chạy, ông “thượng đế” phải cuống cuồng tháo sim, tắt máy, rút nguồn. Bên cạnh đó thuê bao di động phải sống chung với việc nghẽn mạng, lạc sóng tại thời điểm cuối năm khi nhu cầu liên lạc tăng cao.

Nhưng ở thế chông chênh khiếu nại miệng nên khi tiếp nhận tất cả những sự lạ ấy, khách hàng chỉ còn biết gõ cửa “ông nhà mạng” tìm một lời giải thích hợp lý.

Oái ăm thay, nhà cung cấp dịch vụ không hề tin khách hàng của mình mà chỉ tin vào hệ thống đo đếm của mình. Câu trả lời dành cho người tiêu dùng luôn là việc ghi cước, tính cước là chính xác, đối soát cước trùng khớp… Còn việc chỉ ra nguyên nhân của sự bất thường là những phán đoán có thể: có thể do không tắt modem, có thể do virus, có thể do lưu password, có thể do không khoá máy hay có thể có người khác sử dụng mà không biết…

Trước câu trả lời vô cảm chỉ chăm chăm khẳng định mình đúng, không đếm xỉa đến việc sai lệch so với thực tế sử dụng, niềm tin của người dùng vào nhà cung cấp dịch vụ bị bào mòn dần và họ bắt đầu quay lưng. Tuy nhiên, dẫu có băn khoăn thì khách hàng cũng vô vọng tra soát đúng sai cước điện thoại, internet do chứng lý nằm ở hệ thống đo đếm mà nhà cung cấp quản lý.

Phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cho rằng, trong 2009, mạng viễn thông Việt Nam dù đạt những con số ấn tượng nhưng chất lượng và tính ổn định còn kém.

Thứ trưởng Bộ TT& TT Lê Nam Thắng cũng nhận xét thị trường viễn thông Việt Nam dù phát triển nhanh, có lúc ở giai đoạn “nóng” nhưng chưa bền vững.

Điện, nước, ATM: Dùng không được, bỏ chẳng xong

Nếu những khách hàng viễn thông dù vô vọng tra soát cước vẫn có thể lựa chọn tẩy chay thì những khách hàng khổ của điện, nước, ATM thì lại lâm vào cảnh dùng không được, bỏ chẳng xong.

Đóng tiền điện đều đều mỗi tháng nhưng ngay giữa thủ đô, nhà điện vẫn “cho” dân tuần lễ nến. Dân mất điện cả tháng kêu than thì nhà điện chỉ ra phường. Quả bóng trách nhiệm được chuyền và lí do cắt điện muôn thuở là do thiếu điện.

Giữa tháng 3/2009, cả Hà Nội xôn xao vì thông tin nước máy nhiễm amoni. Các nhà khoa học khẳng định tại một số nhà máy nước như Pháp Vân, Hạ Đình có hàm lượng độc tố amoni cao hơn từ 6 đến 18 lần mức cho phép và ¼ dân số Hà Nội đang phải sử dụng nước nhiễm amoni cao. Còn công ty kinh doanh nước sạch khẳng định chất lượng nước máy hoàn toàn bảo đảm và kết quả nghiên cứu là không chính xác.

Vẫn là kiểu trả lời như vậy khi khách hàng tại quận Hoàn Kiếm lấy mẫu nước đi xét nghiệm thấy “quá liều” Asen … nhưng công ty nước khẳng định nồng độ Asen còn dưới tiêu chuẩn nước dùng cho sinh hoạt. Cả khu dân cư phường Yên Hòa, Cầy Giấy phải dùng nước máy trắng xóa cặn, nhà sản xuất vẫn nói đạt chuẩn.

Chất lượng nước như vậy người dùng vẫn phải “nghiến răng” dùng. Thậm chí hóa đơn tiền nước một nhà 4 người phải trả 3,5 triệu đồng/ tháng, vẫn phải bấm bụng chờ kiểm tra, không dám cắt hợp đồng vì chỉ có một đường ống. Khiếu nại chán chê, nhà cung cấp nước đem đồng hồ mới đến thay nhưng mới dùng 20 lít, đồng hồ nước đã báo gần 500 lít.

Còn khách hàng ATM đặt lệnh rút 2 triệu đồng, máy báo lỗi và trả thẻ nhưng tài khoản vẫn bị trừ 2 triệu, khiếu nại 3 lần vẫn chẳng xong. Chỉ đến khi VietNamNet vào cuộc, hai ngân hàng lớn mới chịu chia sẻ trách nhiệm, cùng bỏ ra ½ số tiền hỗ trợ khách hàng. Dù có hình ảnh camera và hệ thống công nghệ hiện đại, rốt cuộc cũng chẳng bên ngân hàng nào giải thích được vì sao khách hàng hụt két oan. Cũng vì lí do đó mà khách hàng chưa lâm trận đã đầu hàng hụt két ATM.

Chống DN vô cảm: Dùng quyền tẩy chay

Việc cả nhà cung cấp lẫn người tiêu dùng đều không tin tưởng nhau nhưng vẫn giao kết hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ là hiện tượng oái ăm chỉ có ở Việt Nam.

Thường thì các sản phẩm lỗi, dịch vụ phập phù không dễ “sống” trên thị trường nếu người mua khó tính. Chỉ có điều người tiêu dùng Việt ngại va chạm nên thiếu tự tin khi từ chối và tẩy chay hàng hóa kém chất lượng.

Đã bắt đầu lẻ tẻ có những khách hàng quay lưng khi nhà cung cấp đưa ra lời giải thích không hợp lý. Song nếu chỉ một hay vài khách hàng rời bỏ dịch vụ, nhà cung cấp vẫn ung dung bởi “vắng cô thì chợ vẫn đông”. Và cuối cùng các nhà cung cấp, nhất là DN cung cấp các dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao sẽ vẫn đưa ra những lí do “muôn năm cũ” để trả lời khiếu nại.

Một trong những quyền lực mạnh mẽ của người tiêu dùng là tẩy chay hàng hoá của nhà sản xuất vì lợi nhuận mà gây tổn hại cho xã hội.

Thập kỷ mới, người tiêu dùng Việt cần thay đổi: học cách từ chối thậm chí tẩy chay sản phẩm/dịch vụ “có vấn đề”, buộc nhà cung cấp học cách trả lời trung thực, chính xác và thực hiện các cam kết về chất lượng cũng như trách nhiệm của họ.

Theo Huyền My

Để trở thành cường quốc biển: Cảng chờ hạ tầng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:34 am
Tags: ,
Một số cảng quốc tế lớn của Việt Nam sẽ đưa vào hoạt động trong những năm tới. Nhưng chỉ có cảng lớn thôi chưa đủ. Hạ tầng cơ sở, hạ tầng dịch vụ… quanh cảng biển để giúp hàng hóa thông quan nhanh nhất, chi phí thấp nhất… là yếu tố quan trọng để VN được lựa chọn thành cảng trung chuyển của khu vực và thế giới.

Cảng “mòn mỏi” chờ đường

Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải có tổng chiều dài quy hoạch gần 30 km chạy dọc khu vực Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu) lên đến Gò Dầu (Đồng Nai), được định hướng phát triển thành khu vực cảng cửa ngõ quốc tế, nằm trong nhóm cảng biển số 5 (TP.HCM, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu), có tầm quan trọng bậc nhất trong hệ thống cảng biển VN. Thế nhưng, hiện nay việc vận chuyển hàng hóa từ TP.HCM và các tỉnh Đông Nam Bộ đi các cảng tại cụm Thị Vải – Cái Mép và ngược lại vẫn phải sử dụng quốc lộ 51. Trong khi đó, tuyến quốc lộ độc đạo này từ lâu đã trở nên quá tải với nhu cầu vận tải nói chung và vận chuyển hàng hóa ra vào các cảng nói riêng. Theo phản ánh của các tài xế, quốc lộ 51 quá hẹp nên thường xuyên xảy ra kẹt xe, đã vậy làn đường dành cho xe hai bánh lưu thông chỉ rộng khoảng 1,5m nên loại phương tiện này thường chạy luôn ra làn dành cho ô tô kéo theo kẹt xe, tai nạn liên tục.

ột cụm cảng hết sức quan trọng tại phía Nam là khu vực Hiệp Phước (Nhà Bè) cũng đang “ngắc ngoải” chờ mạng lưới đường sá kết nối. Điển hình là cảng Sài Gòn – Hiệp Phước đang trong quá trình xây dựng nhưng gần như bị cô lập vì hoàn toàn chưa có một con đường nào dẫn vào khu vực này. Do đó, việc thi công rất khó khăn và tốn kém do mọi vật tư, thiết bị đều phải vận chuyển bằng đường thủy. Nhưng đáng lo ngại nhất là khi cảng này bắt đầu vận hành vào khoảng 2011 mà tình trạng thiếu đường vẫn chưa được cải thiện thì chỉ có nước… “chết đứng”. Cảng container trung tâm Sài Gòn (SPCT) đã đi vào hoạt động từ tháng 10.2009 nhưng đường sá kết nối vẫn chưa hoàn chỉnh, trong đó mạng lưới đường sá ra vào khu công nghiệp Hiệp Phước chật hẹp, xuống cấp, không tương xứng với nhu cầu vận chuyển quá lớn tại đây.

Cảng Cát Lái (Q.2, TP.HCM) là trung tâm xuất nhập khẩu hàng hóa, tập trung đến 80% lượng container của các tỉnh phía Nam, thế nhưng liên tỉnh lộ 25B dẫn vào cảng thì xuống cấp, quá tải hằng bao nhiêu năm nay trong khi việc mở rộng đường quá chậm trễ. Cảnh thường thấy trên con đường này là container xếp hàng kéo dài nhiều km làm ách tắc việc bốc dỡ hàng hóa của doanh nghiệp vận tải. Gần đây, khi Công ty CP hạ tầng kỹ thuật TP.HCM (CII) đặt thêm quầy hoàn phí trên con đường này thì tình trạng kẹt xe trước cảng Cát Lái càng nghiêm trọng hơn…

Ông Phạm Anh Tuấn, Giám đốc dự án Công ty CP tư vấn thiết kế cảng – kỹ thuật biển (portcoast, đơn vị lập quy hoạch hệ thống cảng biển VN) – cho rằng, chỉ trong vòng 4 – 5 năm nữa, tại Cái Mép – Thị Vải sẽ hoàn thành một loạt cảng biển với quy mô hiện đại, cho tàu có trọng tải 50.000 – 80.000 DWT. Trong khi đó, hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm đường bộ, đường sắt, viễn thông, điện nước… do đi sau nên cần một thời gian dài để hoàn thiện. Điều này cũng đồng nghĩa với các cảng biển sẽ còn đơn độc và loay hoay thêm một thời gian trước khi thực sự phát huy được vai trò và quy mô đầu tư.

Quy hoạch hạ tầng theo cảng

Theo ông Cao Tiến Thụ, nguyên Tổng giám đốc Cảng Hải Phòng, ở các nước, cảng biển phải kết nối với hạ tầng. Khi đó, hàng từ tàu lên cảng phải bốc xếp nhanh rồi chuyển lên đường bộ, đường sắt, đường sông. Nhưng ở ta chủ yếu vẫn là đường bộ. Đường sắt tại VN chưa nối với cảng nên hàng muốn chuyển bằng đường sắt thì lại phải chuyển qua ô tô tải rồi mới đưa được đến điểm bốc xếp lên tàu hỏa. Vì lý do đó, lượng hàng vận chuyển từ tàu biển lên đường sắt chỉ chiếm chừng 5-10% tổng lượng hàng hóa qua cảng Hải Phòng.

Với các cảng ở miền Bắc, hàng chở qua đường sông không đáng kể vì các cầu bắc qua sông đều có tĩnh không (khoảng cách từ sàn cầu tới mặt nước) rất thấp, tàu chở container không thể đi vào được. Chính vì vậy, hàng hóa chủ yếu tập trung trên đường bộ, gây ra tình trạng quá tải của tuyến này. Đó là chưa kể đến tình trạng đường xấu khiến thời gian lưu thông tăng. Đơn cử như đường 5 mới làm đã xuống cấp, mật độ xe quá đông, thời gian chạy từ Hải Phòng về Hà Nội gần 100 km nhưng mất tới hơn 2 tiếng rưỡi đồng hồ.

Không chỉ là hạ tầng giao thông, hạ tầng dịch vụ đi kèm với cảng biển là yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí, nâng cao chất lượng hiệu quả của cảng biển. Quan trọng hơn, đây thực sự là “con gà đẻ trứng vàng” nếu biết khai thác. Tuy nhiên, đây cũng chính là hạn chế lớn khiến các chủ tàu quốc tế không muốn chọn Việt Nam làm điểm đến.

Ông Trần Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam (VNSC) nhận xét, trước đây Sài Gòn được coi là “hòn ngọc viễn đông” vì thực sự là cảng trung chuyển. Tàu từ Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc luôn ghé qua đây trả hàng, chuyển tải hàng đi các tuyến khác, lấy thêm dầu mỡ, lương thực, sửa chữa, cạo hà, sơn lườn, thủy thủ vui chơi giải trí rồi lại nhổ neo đi các cảng Âu, Mỹ khác.

Hiện nay chúng ta chưa có cảng nào thực sự là cảng trung chuyển do công tác tổ chức, quản lý, điều hành, kinh doanh cảng và cả hệ thống kinh tế, xã hội ở tỉnh thành có cảng còn bất cập. Các dịch vụ luồng lạch, phao đèn, hoa tiêu, cảng vụ, sửa chữa tàu, cung ứng vật tư, lương thực, nguyên nhiên liệu cho tàu, cũng như các dịch vụ vui chơi giải trí cho thủy thủ của các cảng chúng ta còn nhiều yếu kém. Tại các cảng lớn, đường sá, dịch vụ thuận lợi, thời gian tàu nằm bờ, thủy thủ đoàn có thể lên bờ đi chơi, mua sắm, du lịch…

Còn ở ta, việc sửa chữa phải đưa tàu đi xa, hạ tầng giao thông kém, chỗ vui chơi, du lịch, mua sắm cũng không phù hợp. Đặc biệt, khâu tổ chức điều hành dịch vụ thiếu hiệu quả, nên các chủ hàng ít muốn hàng chuyển tải ở cảng VN. Nhiều tàu ghé cảng ta hiện nay chỉ để trả hàng hay làm nhiệm vụ gom hàng từ Việt Nam qua Singapore để chuyển tải đi nơi khác. Tàu Việt Nam cũng chỉ muốn chạy tuyến gần, gom hàng đi Singapore để chuyển tải rồi lại chạy về. “Nếu hãng tàu chỉ ăn quanh quẩn sân nhà thì khó thu được lợi nhuận cao” – ông Minh kết luận.

Có cảng quốc tế lớn thôi chưa đủ. Để được lựa chọn, để thu hút được các chủ tàu, để trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần của cả khu vực và thế giới, việc phát triển đồng bộ hạ tầng cơ sở, hạ tầng dịch vụ… phải được quy hoạch đồng bộ cùng với các dự án xây dựng cảng biển.

Tại cảng Rotterdam (Hà Lan), các xe chở container trong cảng không cần đến người lái, các xe được lập trình, có bộ phận cảm biến giữa xe với đường nên tự động đưa hàng đến vị trí đã định. Tại Việt Nam, do vẫn phải dùng sức người để điều khiển trực tiếp máy cẩu nên thời gian xếp một tàu hàng 1.000 TEU phải mất 2-3 ngày, trong khi ở các cảng hiện đại, cùng thời gian họ bốc xong tàu 1 vạn TEU. Năng lực bốc xếp của ta yếu nên một con tàu 1 vạn tấn ở nước ngoài chỉ bốc mất 1 ngày thì ở ta thường phải mất 3 ngày, có khi là 5 ngày thậm chí 7 ngày hoặc hơn thế nữa. Chi phí cho một ngày tàu vạn tấn chờ làm hàng ở cảng mất chừng 2.000 – 3.000 USD. Vì vậy, các tàu rất sợ bị giam trong cảng.

Ông Ngô Khắc Lễ, chuyên gia hàng hải, Công ty cổ phần vận tải và thuê tàu (Vietfracht) cho rằng, vấn đề lớn nhất của cảng biển tại Việt Nam là con người. Thủ tục hành chính ở nhiều cảng chưa đơn giản, trong khi đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân tại nhiều cảng còn chưa tận tâm, chưa có trách nhiệm cao với công việc. Chính vì vậy, khá nhiều trường hợp các chủ tàu, đại lý hàng hải, chủ hàng phải chịu thêm chi phí để được bốc dỡ hàng tốt hơn, làm thủ tục cho tàu ra vào cảng nhanh hơn, giảm thời gian lưu kho, lưu bãi. “Nhà nước nên có cơ chế sao cho mỗi người làm việc tại cảng phải thực sự chịu sức ép về công việc, nếu làm không tốt, họ sẽ bị sa thải. Chỉ khi có sức ép như vậy, người lao động mới có thái độ coi trọng công việc mình làm, coi trọng khách hàng và làm việc hiệu quả hơn”, ông Lễ nói.

Phương Thanh – Káp Thành Long

Đô la hóa và tỷ giá hối đoái của Việt Nam

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:33 am
Tags: , ,

Bài 1: Nhận diện “đô la hoá”

1. Ở nước ta, “đô la hóa” được nhận thức là việc sử dụng USD trong giao dịch thương mại và dịch vụ song song với VND. Trên thế giới, “đô la hóa” có khái niệm rộng hơn: khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song song với đồng nội tệ hoặc thay thế đồng nội tệ. Tùy theo các trạng thái của việc sử dụng ngoại tệ, người ta chia làm 3 loại:

Thứ nhất, “đô la hóa” chính thức, còn được gọi là “đô la hóa” hoàn toàn khi một nước sử dụng ngoại tệ theo quy chế độc quyền, hay giữ vai trò khống chế ở nước đó. Một số vùng lãnh thổ như Virgin islands, Greenland và một số quốc gia độc lập như Panama sử dụng USD hoặc đồng tiền nước khác làm đồng tiền chính thức, trong đó có nước không còn đồng nội tệ, có nước vẫn duy trì đồng nội tệ, nhưng đóng vai trò phụ thuộc. Điển hình là ngày 9/1/2000, Tổng thống Ecuado công bố quyết định lấy USD làm đồng tiền chính thức của nước này.

Thứ hai, “đô la hóa” bán chính thức khi ở một nước, đồng ngoại tệ chiếm phần chi phối trong tiền gửi ngân hàng, nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếu so với đồng nội tệ trong việc trả lương, nộp thuế, mua sắm hàng hóa và dịch vụ. Khác với các nước ” đô la hóa” chính thức, ngân hàng trung ương những nước đó phát hành đồng nội tệ và điều hành chính sách tiền tệ của đất nước. Trên thế giới, có khoảng 12 nước như Bahamas, Haiti, Liberia… áp dụng ” đô la hóa” bán chính thức.

Thứ ba, “đô la hóa” không chính thức khi ở một nước người dân giao dịch hàng hóa và dịch vụ, giữ ngoại tệ làm tài sản, mặc dù ngoại tệ không được coi là đồng tiền lưu chuyển hợp pháp trên thị trường trong nước. Một số nước cho phép người dân được gửi ngoại tệ vào tài khoản ở ngân hàng trong nước, nhưng lại coi là bất hợp pháp nếu gửi ngoại tệ vào tài khoản tại ngân hàng ở nước ngoài, trừ những trường hợp ngoại lệ.

“Đô là hóa” không chính thức lúc đầu là phương tiện cất trữ (kho chứa giá trị), tiếp theo là phương tiện thanh toán (thay thế đồng nội tệ), cuối cùng được đánh giá tương quan về giá cả giữa ngoại tệ và nội tệ, được chỉ số hóa bằng tỷ giá hối đoái. Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) xếp Việt Nam vào nhóm nước “đô la hóa” không chính thức.

“Đô la hóa” không giống như Liên minh Tiền tệ châu Âu (EMU), mà là quan hệ đối tác không bình đẳng, có tính thứ bậc. Khi chính phủ một nước áp dụng “đô la hóa” chính thức thì tự đánh mất quyền hoạch định chính sách tiền tệ, quyền in tiền, mà doanh thu in tiền được coi là “thuế lạm phát”, như Keynes đã viết từ năm 1924 rằng, “một chính phủ có thể kiếm sống bằng phương tiện này (in tiền) khi nó không còn có thể dựa vào phương tiện nào khác”.

Hơn nữa, vào thời điểm có xung đột lợi ích quốc gia, thì đồng ngoại tệ được sử dụng như vũ khí kinh tế, buộc chính phủ “đô la hóa’ phải khuất phục nước sở hữu đồng ngoại tệ đó. Panama là một ví dụ điển hình về một nước ” đô la hóa”; mặc dù về kinh tế do sử dụng chính thức USD đã tạo ra môi trường kinh tế ổn định, trở thành trung tâm tài chính quan trọng trong vùng, tương phản với các nước láng giềng, nhưng về chính trị, Panama là nước dễ bị tổn thương trong quan hệ với Mỹ. Điển hình là năm 1998, Mỹ đã buộc tội và bỏ tù nhà lãnh đạo của nước này, tướng Manuel Noriega, đồng thời chính phủ Mỹ ra lệnh đóng băng tài sản của Panama tại các ngân hàng Mỹ, ngừng tất cả việc chuyển nhượng, thanh toán bằng USD.

Tóm lại, không nên coi “đô la hóa” chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chủ quyền quốc gia, phân phối lợi ích dân tộc.

Việc biến động tỷ giá hối đoái trong những tháng gần đây có nhiều nguyên nhân gắn với tình trạng “đô la hóa” không chính thức ở nước ta. Mặc dù Chính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhất quán “trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam”, nhưng thực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiện thanh toán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền, vay, trả nợ, cất trữ. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD gia tăng vai trò trên thị trường.

Chúng tôi đồng tình với một số nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận định rằng, sự biến động tỷ giá hối đoái trong thời gian vừa qua do cung cầu về ngoại tệ, nhất là USD có lúc trở nên căng thẳng, do chính sách tỷ giá và việc điều hành tỷ giá thiếu linh hoạt, không kịp thời ứng phó với biến động của thị trường.

Tuy vậy, nguyên nhân chính của thực trạng đó là tình trạng lạm phát cao trong mấy năm liền đã làm cho giá trị thực của VND giảm sút, kéo theo độ tín nhiệm của người dân với VND giảm. Giá cả trên thị trường thế giới biến động, một số hàng hóa như xăng dầu, sắt thép… tăng cao đã tác động đến giá cả trong nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng. Đó là nhân tố khách quan từ bên ngoài. Nhân tố chủ yếu là quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và lưu thông tiền tệ. Trong 2 năm 2005 và 2006, GDP của Việt Nam tăng 17%, tiền lưu thông trên thị trường và tiền gửi ngân hàng – M2 tăng 73%. Cũng trong hai năm đó, GDP của Trung Quốc tăng 22%, thì M2 chỉ tăng 36%. Quan hệ giữa tăng M2 và tăng GDP của nước ta là 4,3 lần, thì của Trung Quốc chỉ là 1,6 lần, điều đó giải thích vì sao CPI của Việt Nam cao gấp đôi Trung Quốc.

Do vậy, mặc dù kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng cũng xuất hiện mối lo ngại của các doanh nghiệp và người dân về tình trạng lạm phát cao, VND sụt giá và không ổn định.

CPI liên tục tăng, năm 2004 là 7,71%, năm 2005 là 8,29%, năm 2006 là 7,48%, năm 2007 là 8,30%, năm 2008 là 22,97% và năm 2009 là 6,88%. Thực trạng đó có liên quan đến mức chi tiêu danh nghĩa trong nước đã tăng nhanh khi các khoản viện trợ chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI), kiều hối đổ vào nước ta ngày càng nhiều. Nếu như năm 2003, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 333.809 tỷ đồng, thì năm 2008 là 983.803 tỷ đồng, bằng 2,94 lần.

Trong thời gian đó, vốn đầu tư xã hội cũng gia tăng, năm 2003, vốn đầu tư xã hội theo giá thực tế là 239.246 tỷ đồng, thì năm 2008 là 610.876 tỷ đồng, bằng 2,55 lần. Cả hai chỉ tiêu này đã tăng bình quân trên 20%/năm, trong khi lượng cung ứng thực (được đo bằng sản lượng thực+thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng bình quân dưới 10%/năm.

Tốc độ tăng cung ứng tiền khá cao, liên tục từ năm 2003 đến nay trên 25%/năm, tín dụng tăng trên 35%/năm. Tình trạng đó cũng phản ảnh trong quan hệ giữa mức huy động vốn và mức dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại.

Báo cáo gần đây của Ngân hàng Nhà nước cho biết, mức dư nợ tín dụng năm 2009 tăng 37,73%, trong khi mức huy động vốn chỉ tăng 28,7%. Vietinbank thông báo, năm 2009, mức dư nợ tín dụng tăng 35%, mức huy động vốn chỉ tăng 25%. Các ngân hàng thương mại đua nhau tăng lãi suất để hấp dẫn người gửi tiền; khi lãi suất tăng cũng có nghĩa là giá trị VND giảm.

Mặc dù Chính phủ quyết tâm theo đuổi chủ trương niêm yết giá hàng hóa và dịch vụ là VND, nhiều cuộc thanh tra đã được tiến hành và cũng đã xử lý một số vụ việc vi phạm pháp luật, nhưng trên thực tế, do lòng tin đối với VND giảm sút, nên người mua và người bán những hàng hóa có giá trị cao như ô tô, xe máy vẫn giao dịch bằng ngoại tệ, chủ yếu là USD, trong khi bất động sản lấy vàng làm phương tiện tính toán trong giao dịch.

Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 12:27 am
Tags: , , ,
Hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Trước việc Chính phủ Indonesia, dưới sức ép mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, có thể sẽ quyết định hoãn việc thi hành một số điều khoản của hiệp định Thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), vì lo sợ những ngành như dệt may, da giày, sắt thép, của mình sẽ lâm vào cảnh khốn đốn dưới sức cạnh tranh của hàng giá rẻ của Trung Quốc tràn vào, khi thuế suất được đưa về mức 0% vào đầu năm nay, theo đúng lộ trình cam kết, Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc trao đổi nhanh với các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp…

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người đã có nhiều năm theo dõi, nghiên cứu về tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam và tác động của nó đối với doanh nghiệp, đánh giá về hành động của Indonesia:

Mối lo của Indonesia rất thực tế, và chính đáng nhằm bảo vệ cho các doanh nghiệp của họ. Từ góc độ nghiên cứu, tôi nghĩ chắc chắn nhà nước họ phải xem xét. Đối với những nước đang phát triển như Indonesia, Việt Nam, hay các thành viên ASEAN khác, hễ ngành nào còn tương đối có thị trường trong nước là y như rằng chịu sức ép cạnh tranh rất mạnh từ Trung Quốc.

Việt Nam có thêm năm năm để chuẩn bị cho ACFTA, nhưng tôi vẫn thấy không yên tâm. Do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu đã khó khăn hơn nhiều, nay miếng bánh ở thị trường nội địa lại có nguy cơ bị nhỏ lại bởi những hàng hoá giá rẻ từ Trung Quốc.

Với ACFTA, ngay từ khi thực hiện ở giai đoạn thu hoạch sớm, Việt Nam thiệt nhiều hơn lợi. Hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc, vốn đã quá ít so với hàng Trung Quốc bán sang Việt Nam, lại vẫn chủ yếu là những mặt hàng nguyên liệu thô.

Bà có nghĩ rằng chính do khủng hoảng kinh tế, những thị trường lớn như Mỹ, hay EU, bị thu hẹp lại, và nền kinh tế được coi là công xưởng thế giới buộc phải quyết liệt tìm những thị trường khác, như ASEAN, để bù lại?

Đúng vậy. Và bản thân họ cũng phải tự kiềm chế xuất khẩu một số hàng sang Mỹ, hoặc EU, như sắt thép, da giày, dệt may, nhằm tránh sự cạnh tranh trực diện có thể xảy ra, bởi những mặt hàng đó quá nhạy cảm về mặt lao động trong bối cảnh suy thoái. Dư thừa công suất của Trung Quốc chắc chắn sẽ tràn sang các thị trường khác như ASEAN. Nguyên bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, khi khủng hoảng xảy ra, đã nêu rằng khoảng 50 –70 tỉ USD giá trị hàng hóa của Trung Quốc đã được chuyển sẵn xuống miền nam Trung Quốc để chuẩn bị xuất xuống ASEAN.

Tại sao các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ này lại không lên tiếng mạnh mẽ với Chính phủ, như trường hợp của Indonesia?

Có một điều rất đáng tiếc là quá trình đàm phán thương mại của Việt Nam với các đối tác liên quan, ví dụ như với Trung Quốc, hầu như giới doanh nghiệp, một trong những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất, đều không được biết, không được mời tham vấn là nên mở cửa đến đâu, và với những sản phẩm nào. Còn hoạ chăng nếu có mời tham vấn, Chính phủ chỉ mời các doanh nghiệp lớn của Nhà nước, và trong nhiều trường hợp lợi ích của họ không phản ánh lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.

Chẳng hạn, với chương trình thu hoạch sớm, với vài trăm mặt hàng giảm thuế hàng năm theo lộ trình, doanh nghiệp chỉ được biết vào đầu mỗi năm mới, khi bộ Tài chính công bố. Nếu họ được quyền tham vấn, có thể những cam kết của chúng ta đã thận trọng hơn.

Việc đàm phán ký kết, Chính phủ coi đó đó là việc riêng của mình, nên không tham vấn cộng đồng doanh nghiệp. Thậm chí, những cam kết đó còn được coi là tài liệu mật. Tôi nhớ mãi chuyện cách đây khoảng chục năm, khi Việt Nam và Mỹ hai bên hoàn tất hiệp định thương mại song phương, phía Mỹ thì đã công bố hết những cam kết lên mạng, còn ở Việt Nam trong văn bản của các bộ liên quan vẫn còn đóng dấu mật.

Ngoài chuyện bao biện của Nhà nước, tiếng nói của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam phải chăng quá yếu ớt so với các đồng nghiệp ở các nước khác…

Nếu nói nhiều hiệp hội doanh nghiệp là cánh tay nối dài của Nhà nước cũng chẳng oan cho họ đâu. Tình trạng hành chính hoá hoạt động của các hiệp hội này quá nặng nề. Các hiệp hội vẫn do các doanh nghiệp lớn, đa phần là quốc doanh, đứng chủ trò, và tiếng nói lợi ích của họ át đi tiếng nói lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hơn nữa, một loạt các vị quan chức về hưu được bổ nhiệm là chủ tịch các hiệp hội, và, ít hay nhiều, họ cũng mang theo cái phong cách hành chính của mình vào hiệp hội. Mối quan hệ quen biết với những người đương nhiệm khiến họ cũng có khi khó ăn khó nói. Rồi những gì mà doanh nghiệp thuộc hiệp hội đang phải oằn lưng ra gánh chịu có khi lại do những cam kết thiếu thận trọng của ông chủ tịch hồi đang còn làm quan chức chính phủ. Bây giờ phản bác lại nhân danh các các hội viên hoá ra lại tự phản bác lại mình à?

Ngoài hàng giá rẻ đang tràn sang Việt Nam, ngay cả đến hoa quả không an toàn mà Chính phủ Trung Quốc đã khuyến cáo dân họ không được ăn, cũng có nguy cơ tràn sang Việt Nam. Vậy, Chính phủ Việt Nam phải làm gì, chẳng hạn dùng những rào cản kỹ thuật, để bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng?

Cái khác của các nước khác so với Việt Nam là sau khi ký kết các hiệp định thương mại, bên cạnh việc mở cửa thị trường, họ cũng dựng lên các hàng rào kỹ thuật. Tự do hàng hoá càng mạnh, hàng rào kỹ thuật càng nhiều, bởi chẳng ai dại gì mở toang cửa nhà mình cho hàng hoá thiên hạ tràn vào rồi bóp chết các doanh nghiệp của mình.

Còn Việt Nam ta, khi thực hiện các cam kết mở cửa thị trường, tỏ ra khá nghiêm túc khi cắt giảm thuế quan, nhưng lại rộng lượng tới mức không dựng lên các hàng rào kỹ thuật tương ứng để bảo vệ “gà nhà” khỏi những cạnh tranh bất hợp lý và không lành mạnh từ bên ngoài. Chúng ta có pháp lệnh về quyền tự vệ, pháp lệnh về chống bán phá giá, nhưng trên thực tế những pháp lệnh đó gần như là không thiêng, chẳng ai chịu sử dụng. Theo dõi của tôi, mãi gần đây mới có hiệp hội Gốm xây dựng đang đề nghị Chính phủ điều tra về hàng vật liệu xây dựng của Trung Quốc có dấu hiệu bán phá giá trên thị trường Việt Nam.

Còn về vệ sinh an toàn thực phẩm, do hàng rào của mình quá yếu, các cơ quan có liên quan thường liếc nhau để chuyền quả bóng trách nhiệm.

Blog at WordPress.com.