Ktetaichinh’s Blog

January 7, 2010

Chặn mọi ngả đường kinh doanh vàng ảo

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:51 pm
Tags: , , ,

Kể từ 31/3, các ngân hàng và doanh nghiệp đã được cấp phép phải dừng ngay mọi hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài, theo lệnh mới công bố của Ngân hàng Nhà nước.
> Sàn vàng ngưng mở tài khoản mới, chuẩn bị đóng cửa

Hôm 6/1, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành Thông tư số 01/2010 bãi bỏ các quyết định hiện hành liên quan tới việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài. Với động thái mới của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đang kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài phải chấm dứt hoạt động này ngay từ 6/1, ngày thông tư có hiệu lực. Với các giao dịch để tất toán, đóng tài khoản phải thực hiện trước 30/3. Cùng ngày này, giấy phép kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài Ngân hàng Nhà nước đã cấp cho các ngân hàng và doanh nghiệp trước đây cũng sẽ hết hiệu lực

Quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước gây bất ngờ với giới kinh doanh vàng. Ông Đỗ Minh Phú, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh Vàng, cho biết các cuộc họp bàn của Ngân hàng Nhà nước với hiệp hội và các thành viên gần đây chỉ bàn tới hoạt động sàn vàng và kinh doanh trên tài khoản trong nước, chưa đề cập tới việc kinh doanh tài khoản nước ngoài. Ông Phú hiện là Tổng giám đốc Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji – một đơn vị có giấy phép kinh doanh trên tài khoản nước ngoài.

Theo ông Phú, kinh doanh trên tài khoản ở nước ngoài là một nghiệp vụ quan trọng với các doanh nghiệp kinh doanh vàng. Hầu hết các công ty đều coi đây là công cụ phòng ngừa rủi ro, giúp cân bằng trạng thái khi mua bán vàng vật chất trong nước. Công cụ này, theo ông Phú, cũng hỗ trợ cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu trong điều kiện thị trường thế giới thuận lợi.

Tuy nhiên, phía Ngân hàng Nhà nước tỏ ra quyết tâm làm lành mạnh thị trường vàng trong nước sau thời gian dài không rõ người quản lý. Một quan chức Ngân hàng Nhà nước cho rằng kinh doanh tài khoản nước ngoài đúng rất quan trọng với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vàng, tuy nhiên đã có trường hợp lợi dụng nghiệp vụ này để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước và sàn vàng.

Đại diện một doanh nghiệp đầu mối lớn tại Hà Nội cho biết không ảnh hưởng nhiều bởi quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước, bởi kinh doanh vàng trên tài khoản (kể cả trong nước và nước ngoài) hiện chỉ chiếm 5% tổng doanh thu của công ty. Tuy nhiên, theo ông, quyết định này sẽ gây khó khăn cho những đơn vị mà nghiệp vụ này đang mang lại 70-80% doanh thu trong mảng kinh doanh vàng.

Trước đó, Thủ tướng đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước ban hành các quyết định chấm dứt hoạt động sàn vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản trong nước kể từ 30/3. Với việc ngừng kinh doanh tài khoản ở nước ngoài, giới đầu tư trong nước không còn cơ hội chơi vàng ảo.

Mua vàng thu dọn “chiến trường”

Friday, 8. January 2010, 07:21:40

TT – Gần đây, lượng vàng do Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) bán ra tăng ba lần nhưng không phải do người dân mua mà là giới đầu cơ, các ngân hàng (NH) nhằm thu dọn “chiến trường” sau khi NH Nhà nước bắt tay chấn chỉnh thị trường vàng.

Một lãnh đạo công ty vàng nói rằng cần phải giải mã sức mua vàng, nếu không những con số về lượng vàng bán ra tăng vọt này sẽ bị lợi dụng để kích nhu cầu mua vàng trong dân như từng diễn ra trong cơn sốt giá trước ngày 11-11-2009.

Quy trình hoạt động mua/bán vàng đối ứng cũng là lý do NH liên tục mua vàng trong những ngày qua

Ai mua vàng?

Lượng vàng bán ra tại SJC một tháng trở lại đây tăng đột biến, trung bình đạt trên 10.000 lượng/ngày. Những thời điểm giá vàng trong nước xuống thấp doanh số bán ra trên thị trường đạt 15.000-16.000 lượng/ngày.

Trước kia lượng vàng mua vào thường xấp xỉ so với bán ra, tuy nhiên một tháng gần đây hầu hết chỉ có chiều bán ra, còn lượng vàng mua vào không đáng kể.

So với thời điểm bình thường khác thì lượng vàng bán ra thị trường của SJC tăng ba lần.

Đại diện SJC cho biết mua chủ yếu trong những ngày qua là NH và các đơn vị kinh doanh vàng. Tuy nhiên, những ngày gần đây do khan hiếm VND nên các NH không còn mua nhiều như trước. Trong ngày 7-1 lực mua có dấu hiệu chựng lại so với những ngày trước, đến đầu giờ chiều 7-1, cân đối mua cao hơn bán khoảng 10.000 lượng.

Cũng có người dân đi mua vàng nhưng chủ yếu là để trả nợ cho số vàng đã vay để đầu cơ trước đây. Giới đầu cơ vàng nhận định NH Nhà nước sẽ siết hoạt động đầu cơ vàng vì thế tranh thủ “ngày rộng tháng dài” để có thể tính toán mua/bán sao cho có lợi nhất nhằm kết thúc quá trình đầu cơ.

Ghi nhận tại các cửa hàng bán lẻ cho thấy sức mua những ngày qua không tăng. Chủ một tiệm vàng tại chợ Tân Định (Q.1, TP.HCM) cho biết chủ yếu là bán nữ trang, người dân không mua vàng để đầu cơ như trong tháng 10, 11. Nhiều tiệm vàng cho biết thường đóng cửa nghỉ sớm do ế ẩm.

Tổng giám đốc một công ty đầu tư kinh doanh vàng cho biết nhu cầu mua vàng của người dân rất yếu, vì thế dù giá vàng thế giới tăng liên tục, từ 1.085 USD/ounce lên gần 1.140 USD/ounce nhưng giá vàng trong nước tăng rất ít. Nếu dân mua vàng nhiều thì giá vàng trong nước phải vượt 27 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, lượng vàng bán ra tại các công ty khác không tăng nhiều như ở SJC. Bà Nguyễn Thị Cúc, phó tổng giám đốc Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), cho biết mỗi ngày công ty bán khoảng 2.700 lượng vàng, trước kia từ 1.500-1.800 lượng/ngày, trong đó phần nhiều vẫn là vàng miếng SJC.

NH mua nhiều vàng

Nhiều NH xác nhận họ đã và sẽ tiếp tục mua vàng, chủ yếu là vàng SJC, để cân đối lại số vàng đã bán trước đây. Việc này có liên quan đến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đóng cửa sàn vàng cũng như bãi bỏ quy định của NH Nhà nước về tài khoản vàng ở nước ngoài.

Lãnh đạo một NH cho biết do lượng trước tình hình nên ngay từ cuối năm 2009 đã thực hiện mua vàng để cân đối lại số vàng đã bán trước đây. Hầu hết các NH đã tính toán mua rải ra, không mua tập trung, chỉ mua khi giá vàng ở mức thấp. Các NH cũng cho rằng việc mua vàng này không ảnh hưởng lớn đến sức cầu về vàng ở trong nước vì họ có thời gian khá dài để thu xếp đóng tài khoản vàng ở nước ngoài.

Các NH đồng loạt mua vàng nhằm giải quyết các hoạt động mua bán vàng đối ứng đã thực hiện trong thời gian qua. NH huy động vàng của dân theo nguyên tắc vay vốn vàng phải trả lại bằng vàng. Để sử dụng số vàng đã huy động, NH có nhiều cách: bán một phần vàng đã huy động để lấy VND cho vay, bán vàng khi giá trên thị trường tăng cao và mua lại khi giá giảm, cho vay vàng để đầu cơ…

Do giá vàng liên tục biến động, NH có thể bị lỗ khi mua lại số vàng đã bán để trả cho dân. Vì thế, các NH đều thực hiện một động tác đó là cùng lúc bán vàng miếng ở trong nước phải mua ở nước ngoài tương ứng với số vàng đã bán (còn gọi là mua/bán đối ứng). Vàng mua ở nước ngoài là vàng trên tài khoản, còn gọi là vàng ảo, trong khi vàng NH đã bán và phải mua lại để trả cho dân là vàng miếng. Nhờ mua/bán đối ứng liên tục nên NH không bị rủi ro và vẫn có đủ vàng miếng để chi trả cho dân.

Tuy nhiên, tới đây các NH sẽ phải đóng tài khoản vàng. Để có thể đóng tài khoản, các NH phải bán vàng ở nước ngoài và song song đó là mua vàng ở trong nước để tránh biến động về giá. Do người dân chỉ gửi vàng SJC vì thế số vàng mà NH đã bán và nay phải mua lại cũng chủ yếu là vàng SJC. Đó cũng là lý do lượng vàng SJC bán ra trong những ngày qua tăng cao.

T.TU. – T.SƠN – A.HỒNG

Đơn đặt hàng cho NH Nhà nước

Giá vàng trong nước đang cao hơn giá thế giới 1,5 triệu đồng/lượng. Đưa giá vàng trong nước về ngang với giá thế giới là trách nhiệm của NH Nhà nước. Đặt ra yêu cầu này là bởi vì Thủ tướng đã giao NH Nhà nước phải quản lý thị trường vàng. Cũng tương tự như các bộ ngành khác, nếu giá thuốc tăng cao trách nhiệm thuộc Bộ Y tế, giá ximăng thuộc Bộ Xây dựng…

Trước đây, vai trò của NH Nhà nước với thị trường vàng còn mờ nhạt thì nay đã rõ ràng. Thủ tướng đã giao NH Nhà nước xây dựng một nghị định mới, trong đó sửa hàng loạt nghị định liên quan để thống nhất một đầu mối là NH Nhà nước quản lý thị trường vàng.

NH Nhà nước đã bắt tay vào việc chấn chỉnh thị trường vàng. Các sàn vàng sẽ đóng cửa vào cuối tháng 3-2010. Tiếp sau đó, NH Nhà nước sẽ ban hành quy định mới về quản lý vàng, huy động, cho vay vàng miếng. NH Nhà nước sẽ phải tách bạch nhu cầu mua vàng, phần nào là do dân mua để cất trữ, làm nữ trang, phần nào là do hoạt động đầu cơ…

Chắc chắn NH Nhà nước sẽ mạnh tay siết lại đầu cơ để loại bớt nhu cầu mua vàng phát sinh từ hoạt động này. Sự bất ổn của thị trường vàng trong nhiều năm qua xuất phát từ đây. Hàng chục, thậm chí hàng trăm ngàn lượng vàng đã được cho vay để đầu cơ nhằm hưởng chênh lệch giá, từ đó tạo ra nhu cầu lớn về vàng, đẩy giá vàng liên tục tăng bất thường.

Nhu cầu mua vàng của dân là không lớn. Lúc này, ít ai mua hàng trăm lượng vàng để cất giữ. Nhiều chuyên gia vàng khẳng định nếu chỉ là mua sắm nữ trang, một số ít người dân mua vàng làm của thì chỉ cần lượng vàng có sẵn trong nước cũng đã đáp ứng. Dẹp được nạn đầu cơ gây bất ổn cho giá vàng cũng sẽ kéo giá USD tiền mặt tại thị trường tự do dịu lại.

Vì vậy, lúc này giới kinh doanh vàng và ngân hàng đang nghĩ đến một thị trường vàng và USD bình lặng hơn. Không ít đơn vị đang xoay xở để có thêm nguồn thu thay thế cho nguồn thu nhờ các hoạt động đầu cơ vàng.

Người dân quan tâm đến vàng cũng mong muốn giá vàng sẽ thôi nóng, theo sát giá thế giới. Đó là đơn đặt hàng cho NH Nhà nước với tư cách là nơi chịu trách nhiệm quản lý thị trường vàng.

T.TUYỀN

* Từ 6-1, chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài

– Việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài sẽ chấm dứt từ 6-1, theo thông tư 01 vừa được NH Nhà nước ban hành. Các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đang kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài phải tất toán, đóng các tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài trước ngày 30-3-2010 vì sau ngày này các giấy phép kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài do NH Nhà nước đã cấp trước đây sẽ hết hiệu lực. Trước đó Chính phủ cũng đã quyết định chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước từ cuối tháng 3.

* Lãi suất vàng giảm mạnh

– Ngày 7-1-2010, Ngân hàng Á Châu đã giảm lãi suất huy động vàng ở tất cả các kỳ hạn, trong đó kỳ hạn phổ biến 3 tháng chỉ còn 2,5%/năm, 6 tháng 2,6%/năm, 9 tháng 2,7%/năm. Trước đó, một số NH cũng đã giảm mạnh lãi suất huy động vàng, thấp nhất chỉ còn 1,7%/năm. Trước đây có lúc lãi suất huy động vàng lên đến 7%/năm. Theo các NH, lãi suất vàng sẽ tiếp tục giảm vì nhu cầu vay vàng đã giảm mạnh do nhiều nhà đầu cơ vàng bị thua lỗ nặng chưa có vốn để tiếp tục hoạt động đầu cơ.

– Một số NH đã tăng mạnh tiền ký quỹ khi vay vàng với mục đích đầu cơ. Cũng có NH đã dừng cho vay vàng để đầu cơ với lý do tới đây không còn được mua vàng tài khoản ở nước ngoài vì thế dễ bị rủi ro

Dọn sàn vàng đừng làm sốc thị trường

Với quyết định đưa ra ngày 6-1, việc thu dọn hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản đã diễn ra sớm hơn mong muốn của giới kinh doanh. Vì thế các đơn vị này lo ngại nếu Ngân hàng (NH) Nhà nước không có biện pháp hỗ trợ, có thể ảnh hưởng thị trường vàng ở trong nước.

NH Nhà nước đã quyết định kể từ 6-1 các NH và doanh nghiệp phải chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài, trừ các giao dịch tất toán và đóng tài khoản để đến ngày 30-3 là hoàn tất.

Trước đó, nhiều đơn vị mong muốn sẽ chấm dứt kinh doanh vàng tài khoản ở trong nước vào cuối tháng 3-2010, với kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài có thể chậm hơn để có ngày rộng tháng dài xử lý số vàng đã mua/bán có lợi nhất. Nay các đơn vị này chỉ có chưa đầy ba tháng để đóng tài khoản ở nước ngoài.

Muốn đóng tài khoản vàng ở nước ngoài, NH phải giải quyết hai vấn đề: mua lại số vàng miếng đã bán và lựa chọn thời điểm thích hợp để bán số vàng trên tài khoản đã mua ở nước ngoài. NH phải cân nhắc vì việc mua vàng miếng nếu diễn ra trong cùng một thời điểm có thể đẩy lực cầu về vàng trong nước lên cao, ảnh hưởng đến giá vàng.

Để giải tỏa áp lực này, một số đơn vị đã đề nghị NH Nhà nước nên có lộ trình, có thể kéo dài thời gian đóng tài khoản vàng ở nước ngoài để các đơn vị chọn được giá mua/bán tốt nhất; công bố cho nhập khẩu thêm vàng để tăng thêm nguồn cung giúp các đơn vị mua lại số vàng đã bán mà không ảnh hưởng đến thị trường cũng như giá vàng trong nước…

Chủ trương đóng cửa sàn vàng và dừng các hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản nhằm ổn định thị trường vàng trong nước sẽ hoàn hảo, nếu không có những cú sốc cho thị trường gây ra bởi quá trình thu dọn.

Advertisements

Hàng triệu thẻ ngân hàng sẽ phải thay mới

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:44 pm
Tags: , ,

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) công bố kế hoạch làm mới toàn bộ 4 triệu thẻ Connect24 từ 6/1/2010 đến hết 30/6/2011, mở màn cho đợt thay mới thẻ trong toàn hệ thống ngân hàng với chi phí có thể lên tới cả trăm tỷ đồng.

Kể từ 6/1, khách hàng đang sử dụng thẻ Vietcombank Connect24 (một sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa của ngân hàng chiếm thị phần lớn nhất Việt Nam về thanh toán thẻ), sẽ phải làm lại thẻ (miễn phí) với số BIN mới là 970436. Trong thời chuyển đổi, khách hàng vẫn có thể sử dụng thẻ với BIN cũ, nhưng kể từ ngày 1/7/2011, tất cả các thẻ Vietcombank Connect24 chưa chuyển đổi mã BIN mới sẽ tự động chấm dứt hiệu lực.

Theo giải thích của Vietcombank, chương trình chuyển đổi được thực hiện theo quy chuẩn của Ngân hàng Nhà nước, nhằm chuẩn hóa hệ thống phát hành thẻ tại Việt Nam trước bối cảnh ngày càng nhiều ngân hàng tham gia phát hành với nhiều sản phẩm thẻ khác nhau.

Các ngân hàng mới thành lập, đã sử dụng BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp, sẽ không phải làm lại thẻ. Ảnh: Hoàng Hà
Các ngân hàng mới thành lập, đã sử dụng BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp, sẽ không phải làm lại thẻ. Vietcombank và những ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ sẽ phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Ảnh: Hoàng Hà

Trao đổi với VnExpress.net trưa nay, Phó tổng giám đốc Vietcombank Đào Minh Tuấn cho hay, trước đây do chưa có quy định nên khi phát hành thẻ nội địa, mỗi ngân hàng tự chọn cho mình một mã định dạng (BIN – Bank Identification Number) theo ý muốn của riêng mình. Chẳng hạn, BIN của thẻ Vietcombank Connect24 là dãy số rất đẹp 686868. Tuy nhiên, khi nhiều ngân hàng tham gia phát hành thẻ với nhiều sản phẩm khác nhau, việc chọn trùng BIN có thể xảy ra. Rắc rối sẽ phát sinh trong các giao dịch liên ngân hàng, nếu có những BIN trùng nhau, hệ thống sẽ không nhận ra đâu là thẻ của ngân hàng nào.

Đến 2007, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 38 trong đó yêu cầu thống nhất đầu mối quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành thẻ, và ứng dụng các hệ thống quy chuẩn cho dịch vụ thẻ của các ngân hàng. Với quyết định này, Ngân hàng Nhà nước là đầu mối cấp BIN cho từng ngân hàng, đảm bảo tránh trùng lẫn. BIN của các ngân hàng gồm 6 chữ số, bắt đầu bằng 9704, hai số cuối sẽ lần lượt cấp cho từng đơn vị.

Ông Tuấn cho biết thêm, thuộc đối thượng đổi lần này chỉ là các loại thẻ ghi nợ (debit) nội địa, với các thẻ thanh toán quốc tế ngân hàng Việt Nam ngay từ đầu đã thống nhất sử dụng BIN do các tổ chức thẻ quốc tế cấp.

Khoảng 30 ngân hàng đã được cấp BIN mới và buộc phải dùng theo số mà Ngân hàng Nhà nước cấp. Lộ trình chuyển đổi sẽ do từng ngân hàng lựa chọn. Những ngân hàng nào mới thành lập và dùng BIN do ngân hàng nhà nước cấp ngay từ đầu sẽ không phải thay mới.

Ước tính toàn thị trường Việt Nam hiện có 17 triệu thẻ ghi nợ nội địa. Chiếm đại đa số là các thẻ do các ngân hàng phát hành theo số BIN tự mình đưa ra, vì vậy sẽ phải thay mới. Theo tính toán của các ngân hàng, các chi phí liên quan đến việc đổi thẻ ước tính khoảng 10.000 đồng, tính chung toàn thị trường có thể tốn hơn 100 tỷ đồng cho việc thay mới BIN.

Chi phí tốn kém, các ngân hàng xác định đây là việc phải làm, song cũng lo ngại về cách ghi BIN mới. Theo quy định, đầu mã BIN quốc gia dành cho Việt Nam là 9704. Các ngân hàng sẽ được cấp trong dải từ 970400 đến 970499. Thị trường có nguy cơ đứng trước ít nhất một lần đổi thẻ nữa nếu có trên 100 đơn vị tham gia phát hành thẻ.

Bà Dương Thị Thuỷ, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank) cho biết, hiện ngân hàng chưa có kế hoạch đổi mới toàn bộ số thẻ cũ đang lưu hành mà chỉ triển khai sử dụng song song. Những thẻ cũ đang dùng BIN cũ vẫn có giá trị sử dụng, chỉ đổi lại một số thẻ gần hết hạn. Còn những thẻ phát hành mới thì sẽ dùng BIN mới do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Theo bà Thuỷ, việc chuyển đổi số BIN theo đúng quy chuẩn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một việc làm hết sức cần thiết để chuẩn hóa hệ thống phát hành thẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, không thể chuyển đổi một cách đồng loạt, rất tốn kém và dễ gây ra quá tải. Vì thế, Ngân hàng ABBank đã làm theo cách cuốn chiếu phù hợp với thực tế. Đối với thẻ mới phát hành sẽ theo BIN mới của ngân hàng Nhà nước, thẻ cần đổi sẽ được đổi dần. Đồng thời, sẽ dùng song song hai loại thẻ trong một thời gian.

Ông Đàm Thế Thái, Giám đốc khối khách hàng cá nhân Ngân hàng An Bình (ABBank) thì cho rằng, vì hơn một năm qua, ngân hàng đã đổi dần một số thẻ gần hết hạn. Do đó, hiện giờ số thẻ còn dùng BIN cũ tại ABBank chỉ khoảng 10.000 thẻ. Ông Thái cho biết, dự kiến từ nay đến cuối năm, ngân hàng An Bình sẽ làm lại toàn bộ số thẻ cũ này (miễn phí) với số BIN mới theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong thời gian chuyển đổi, khách hàng vẫn có thể sử dụng thẻ với BIN cũ nhằm tránh gây nên sự gián đoạn cho khách hàng.

Chứng khoán đang trong xu thế tăng giá

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:53 pm
Tags: , ,
Sau một vài lần điều chỉnh, chỉ số VN-Index có thể sẽ lên mức 580-600 điểm trong quý này.

Sau vài phiên tăng bùng nổ, phiên giao dịch ngày 6/1/2010 sàn chứng khoán TP.HCM đã chùng lại, trong khi sàn Hà Nội quay đầu giảm khá mạnh. Ông có đánh giá thế nào về diễn biến này?

TS. Nguyễn Trọng Nghĩa: Giao dịch ngày 6/1 khá tích cực. Khối lượng giao dịch vài phiên gần đây tăng mạnh. Thị trường đã tăng hơn 30% so với đáy hồi giữa tháng 12/2009 do vậy hiện tượng chốt lãi là một điều rất bình thường. Thị trường điều chỉnh giảm là hợp lý.

Với tình hình hiện nay, nhiều khả năng thị trường sẽ điều chỉnh nhẹ thêm 1-2 phiên nữa rồi quay đầu tăng trở lại.

Áp lực chốt lời và kỳ vọng vĩ mô tốt cũng như kết quả kinh doanh khả quan của các doanh nghiệp niêm yết, cùng với dòng tiền lớn sẽ khiến khối lượng giao dịch tiếp tục đứng ở mức cao.

Đợt điều chỉnh giảm lần này có thể là cơ hội để cho những nhà đầu tư bảo thủ hơn – những người chưa tham gia vào đợt sóng vừa rồi sẽ vào thị trường.

Hiện tại, các tổ chức phần lớn đang quan sát và đẩy mạnh mua vào mỗi khi thị trường giảm.

Phân tích kỹ thuật cũng cho thấy, các chỉ số đang lên trong trung hạn. Xu hướng tăng vẫn khá rõ nét. Những người theo trường phái phân tích cơ bản có thể cũng sẽ vào đợt này.

Khối lượng giao dịch tăng mạnh trở lại không thể không nhắc đến yếu tố thị trường có thêm lượng vốn đổ vào. Theo ông, lượng vốn đó chủ yếu là từ những nguồn nào?

TS. Nguyễn Trọng Nghĩa: Có thể nói, hiện tại thị trường đang khá thuận lợi. Tính thanh khoản sẽ được cải thiện do thị trường đang đón nhận thêm các dòng tiền mới, từ các kênh khác vào.

Trước hết, đó là dòng tiền từ sàn vàng. Theo quyết định của Chính phủ, các sàn vàng giao dịch qua tài khoản sẽ phải đóng cửa trước ngày 30/3/2010. Dòng tiền từ đây đã, đang và sẽ chảy sang các kênh khác, trong đó có chứng khoán.

Mặc dù thực tế là sau quyết định đóng cửa sàn vàng, số lượng tài khoản chứng khoán mở mới tại các công ty chứng khoán không tăng nhiều. Nhưng điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi có tới 99% số người chơi vàng là có chơi chứng khoán. Chỉ có tiền chảy vào tài khoản chứng khoán, chứ số lượng mở mới sẽ không nhiều.

Bên cạnh đó, sẽ có thêm một lượng tiền khá lớn nữa vào thị trường, từ các nguồn như: kết hối ngoại tệ mà các tổng công ty bán cho các tổ chức tín dụng, gói hỗ trợ lãi suất thứ hai và hạn mức tín dụng cho năm mới 2010.

Theo một quyết định đây, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản yêu cầu 7 doanh nghiệp nhà nước lớn bán ngay số ngoại tệ dưới dạng tiền gửi và các nguồn thu vãng lai, trị giá hàng tỷ USD cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối.

Hơn thế nữa, hầu hết các công ty chứng khoán đang cho vay trở lại. Vừa rồi thị trường tăng là do dòng tiền thật của các nhà đầu tư. Trong thời gian tới, tiền đòn bẩy sẽ được sử dụng nhiều hơn và thị trường sẽ sôi đông hơn.

Theo ông những yếu tố nào sẽ tác động lớn tới thị trường chứng khoán trong 1-2 tháng tới?

TS. Nguyễn Trọng Nghĩa: Hết tháng 1, các doanh nghiệp niêm yết sẽ công bố kết quả kinh doanh. Kết quả này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá cổ phiếu.

Sau Tết Nguyên đán, lượng tiền nhàn rỗi sẽ nhiều hơn và thị trường sẽ tốt lên.

Về lạm phát, tháng này chỉ số CPI nhiều khả năng sẽ cao. Tuy nhiên, đây là chu kỳ, là điều thường thấy vào các tháng 12-1-2 hằng năm. Và như vậy, nó có thể chưa ảnh hưởng tới quyết định về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Việc điều chỉnh lãi suất cơ bản phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như ngoại hối, tỷ giá… chứ không chỉ lạm phát.

Thông thường quý I là thời điểm các nhà làm chính sách quan sát diễn biến là chính do vậy có thể lãi suất sẽ chưa được điều chỉnh trong quý này mà nhiều khả năng là quý II.

Hơn thế nữa, nếu có điều chỉnh thì ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán sẽ không lớn như mọi người lo ngại. Nhìn vào chu kỳ của thị trường chứng khoán thì lãi suất đứng ở mức thấp nhất khi thị trường từ đáy đi lên. Khi kinh tế phục hồi, lãi suất sẽ về mức bình thường.

Sau một vài lần điều chỉnh, chỉ số VN-Index có thể sẽ lên mức 580-600 điểm trong quý này.

Thị trường đang có dấu hiệu phân hoá. Ông có đánh giá gì về cổ phiếu các ngành?

TS. Nguyễn Trọng Nghĩa: Thị trường đã tăng khá mạnh trong thời gian vừa qua. Gần như tất cả các mã đã đồng loạt tăng nhưng sau đó tất yếu sẽ phân hoá, phụ thuộc theo ngành và từng doanh nghiệp.

Theo quan điểm của tôi, cổ phiếu các ngành như bất động sản, vật liệu xây dựng, ngân hàng và bán lẻ vẫn sẽ có sức bật khá tốt khi thị trường chùng lại.

Bất động sản, vật liệu xây dựng và bán lẻ (bao gồm các doanh nghiệp bánh kẹo, thực phẩm…) thường có kết quả kinh doanh tốt vào quý cuối năm.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng vẫn đang dưới giá trị thật. Trong năm 2009 khi mà thị trường đồng loạt tăng mạnh thì nhóm này tăng chậm. Thời gian vừa qua nhóm này cũng giảm mạnh và phục hồi cũng chỉ bằng thị trường. Xét về mặt hiệu quả kinh doanh, thì hạn mức tín dụng mới 25% là khá cao nếu so với các năm trước và nó sẽ giúp các ngân hàng có kết quả kinh doanh tốt. Ngân hàng còn nhiều “room” để phát triển.

Ông có dự báo như thế nào về kết quả kinh doanh 2010 của một số doanh nghiệp có lợi nhuận đột biến trong năm 2009 như cao su, thép…

TS. Nguyễn Trọng Nghĩa: Lợi nhuận của các doanh nghiệp này sẽ giảm do chi phí đầu vào của các doanh nghiệp này sẽ cao hơn, trong khi hỗ trợ không còn nữa. Mặc dù vậy, mức độ giảm sẽ không mạnh.

Lạm phát năm 2010 – Dự báo hai kịch bản lớn

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:35 pm
Tags: ,

Thursday, 7. January 2010, 07:51:43

Dự báo của nhiều chuyên gia rằng lạm phát năm 2010 nhiều khả năng sẽ cao hơn năm 2009 không gây bất ngờ khi năm 2010 được “kế thừa” những yếu tố gây lạm phát từ năm trước.

“Thế nhưng, lạm phát cao đến mức nào lại phụ thuộc nhiều vào việc điều hành chính sách của Chính phủ, hơn là phụ thuộc vào tác động bên ngoài”, tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường giá cả (Bộ Tài chính) nhận định như vậy.

Không quá lo giá bên ngoài

Gói kích cầu trong năm 2009 thể hiện độ trễ, cộng với xu thế tăng giá trên thế giới, sẽ tác động đến giá tiêu dùng năm 2010.

“Một số yếu tố khác như sức mua trong dịp Tết tăng cao, tăng lương tối thiểu cho công chức, viên chức theo lộ trình tăng lương tối thiểu 2008-2012 làm tăng sức mua, việc tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường với một số hàng hóa, dịch vụ… cũng làm cho giá tiêu dùng năm 2010 tăng lên”, ông Nguyễn Đức Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Thương mại và Giá cả (Tổng cục Thống kê) lưu ý.

Về giá cả, năm 2009, diễn biến giá các mặt hàng không tạo thành cú sốc như năm 2008, kể cả gạo. Diễn biến giá tiêu dùng hàng tháng trong năm 2009 đã được phục hồi lại sau những những bất thường của hai năm 2007 và 2008.

Năm nay, giá cả được dự báo là sẽ có tăng nhưng không tạo yếu tố gây sốc lớn, nếu không có gì quá bất thường.

Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi và nhập khẩu đầu vào sẽ tăng giá nhưng kinh tế thế giới cũng không thể phục hồi nhanh được.

“Hơn nữa, năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu kiềm chế nhập siêu, kiềm chế nhập khẩu, mà như thế thì tác động từ giá cả thế giới đến mặt bằng giá trong nước sẽ đỡ hơn”, Tiến sĩ Ánh lưu ý.

Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), có thể kiểm soát nhập khẩu thông qua việc rà soát cơ cấu lại danh mục các mặt hàng nhập khẩu để kiềm chế nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ chưa thiết yếu như ôtô, xe máy, rượu, hóa mỹ phẩm… thông qua các giải pháp như hạn chế quyền tiếp cận ngoại tệ, xây dựng các chuẩn hàng rào kỹ thuật về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Việt Nam cũng tính đến cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo nhu cầu thị trường, nâng chất lượng hàng Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế – việc không mới nhưng phải làm mạnh hơn – để giữ thương hiệu và uy tín với bạn hàng.

Việt Nam cũng cần đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, nhất là thực phẩm, đồ uống, hàng dệt may, thuốc chữa bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế để khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn hàng Việt…

Tất nhiên, những định hướng chuyển dịch cơ cấu này chưa thể hiện rõ rệt ngay trong ngắn hạn, đặc biệt là ngay trong năm 2010, nhưng sẽ có tác động đến giá cả thị trường hàng hóa theo hướng tích cực hơn.

Phụ thuộc nhiều hơn ở chính sách điều hành

Nhiều phân tích đã cho rằng mối lo lớn nhất tác động đến lạm phát năm 2010 là từ chính sách tiền tệ nới lỏng. Tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng đều rất cao trong khi tăng trưởng GDP thực tế lại chỉ có 11,4%.

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh cũng thừa nhận “ngại nhất là tốc độ tăng tín dụng vì lượng tiền trong lưu thông tăng”. Thế nhưng, cuối năm vừa rồi, Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất cơ bản nhằm rút bớt tiền trong lưu thông về.

Ông Nguyễn Tiến Thỏa cũng cho rằng để thực hiện được mục tiêu mà Quốc hội đề ra, đó là CPI năm 2010 tăng 7% cần làm tốt chính sách điều hành về giá cũng như có sự linh hoạt, thận trọng trong điều hành chính sách tiền tệ; thực hiện tốt chính sách tài khóa…

Cụ thể hơn, ông Thỏa nói điều hành lãi suất thị trường phải phù hợp với diễn biến của lạm phát, cung cầu vốn trên thị trường. Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng phải được kiểm soát chặt chẽ, tối đa ở mức 25%.

Thực hiện nhanh có hiệu quả các biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa… nhưng đi đôi với nó, “phải đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng”, ông Thỏa lưu ý.

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh nhận định có thể nhìn thấy hai kịch bản lớn cho lạm phát 2010. Nếu tính quy luật của diễn biến thị trường giá cả được duy trì trong năm 2010 kết hợp với những chính sách kinh tế vĩ mô và quản lý giá cả thị trường hợp lý, ứng phó tốt với tình hình biến động của kinh tế thế giới, cân đối giữa ổn định và tăng trưởng thì CPI cả năm có thể ở mức 1 con số, khoảng từ 7-10%.

“Khả năng giữ ở mức 1 con số là cao, theo những căn cứ về tình hình trong và ngoài nước. Còn nếu một hoặc một số các điều kiện trên không đảm bảo thì CPI có thể lên tới 12-15%”, Tiến sĩ Ánh nói.

Nguyễn Huyền

Vẫn cần phải thận trọng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:30 pm
Tags: , ,
(TBKTSG) – Phát biểu tại buổi họp mặt các doanh nghiệp ĐBSCL do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ tổ chức hồi tuần rồi, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng năm 2010 vẫn còn nhiều thách thức đối với nền kinh tế.

Chưa hy vọng nhiều từ ngoại lực!

Chỉ tiêu xuất khẩu tăng 6% vào năm 2010, nhìn tổng thể, là có cơ sở bởi nhu cầu nhập khẩu từ các nước sẽ khá hơn, khi kinh tế bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, theo ông Doanh, mọi chuyện sẽ khó như mong muốn vì chắc chắn các nước nhập khẩu sẽ tạo ra những rào cản để bảo hộ hàng sản xuất nội địa.

“Bằng chứng là Liên hiệp châu Âu (EU) đã tiếp tục gia hạn thuế chống phá giá đối với giày da của Việt Nam dù trước đó, chính đại diện một số nước nhập khẩu cũng phản đối quyết định này. Vì sao? Ý, Tây Ban Nha… cũng sản xuất giày”, ông nói và cho biết thêm việc tăng bảo hộ mậu dịch dù bất công nhưng là vấn đề sống còn của nhiều nước.

Vị trí đặt quảng cáo

Mới đây nhất, việc EU áp dụng luật IUU từ ngày 1-1-2010, buộc các lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam phải có giấy chứng nhận về nguồn gốc và tính hợp pháp của sản phẩm, xét về góc độ nào đó, cũng chính là một rào cản.

Cơ sở của nhận định này là, như tại Mỹ hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 10%, thiếu việc làm là 10%. Kinh tế nước Anh vẫn tăng trưởng âm, còn kinh tế Đức sau khi tăng trưởng mạnh trong quí 2-2009 đã sụt giảm trở lại…

Dĩ nhiên, việc kích thích tiêu dùng nội địa, bảo vệ nền sản xuất trong nước để giảm tỷ lệ thất nghiệp là ưu tiên hàng đầu mà nhiều nước sẽ thực hiện.

Cũng theo ông Doanh, các nhà xuất khẩu của Việt Nam sẽ vất vả hơn và không loại trừ khả năng sẽ phải đối phó với một số vụ kiện phá giá mới. Do đó chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu cho năm 2010 không dễ thực hiện. Nhất là trong bối cảnh hiện nay Trung Quốc đang “gắn” tỷ giá đồng nhân dân tệ với đô la Mỹ!

Trong khi đó, đô la Mỹ mất giá, nhưng giá dầu thô và giá vàng còn tiếp tục biến động. Điều bắt buộc phải xảy ra là đồng nhân dân tệ cũng mất giá, khiến hàng xuất khẩu của Trung Quốc “ngẫu nhiên” được lợi thế cạnh tranh về giá, ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất của nhiều nước trên thế giới. “Đây là dấu hỏi lớn cho chúng ta”, ông Doanh nói.

Còn về thu hút đầu tư nước ngoài, liệu có tăng sau khi đã tụt giảm trong năm 2009? Có khả năng tăng, nhưng ông Doanh cho rằng, trước tiên cần xem lại tiến trình cải cách. “Năm 2006, về chỉ số năng lực cạnh tranh, Trung Quốc đứng vị trí thứ 54, còn Việt Nam là 77. Nhưng đến giai đoạn 2008-2009, vị trí lần lượt lại là 30 và 70, còn hiện tại là 29 và 75”, ông Doanh dẫn chứng.

Vẫn phải thận trọng với mục tiêu tăng trưởng

Nhận định về chỉ tiêu lạm phát dưới 7% trong năm 2010, ông Doanh cho rằng, trước tiên phải lưu ý đến quy luật tăng tín dụng và tăng giá thường có độ trễ từ 3-5 tháng. Từ tháng 2-2009, doanh số cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất liên tục tăng vọt và chỉ siết lại kể từ tháng 8-2009. “Chúng ta đã “bơm” tín dụng rất nhiều, và điều lo lắng là vào tháng 1 và tháng 2-2010, giá cả sẽ tăng lên, nhất là sau khi Ngân hàng Nhà nước vừa điều chỉnh tỷ giá”, ông lo lắng.

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), giá dầu thô trong năm 2010 có thể tăng, đạt mức bình quân 73,3 đô la Mỹ/thùng. Nhiều mặt hàng công nghiệp, các mặt hàng phi dầu cũng sẽ tăng giá… Do đó theo ông Doanh, vẫn phải rất thận trọng với mục tiêu tăng trưởng bởi nhiệm vụ hàng đầu vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát. Ông đề xuất: “Chỉ đầu tư những gì thực sự cần thiết cho nền kinh tế”.

WB cũng đã thay đổi chính sách, từ năm 2009 các khoản cho vay đã có lãi suất gần tương đương lãi suất thương mại, thời gian ân hạn giảm, thời hạn trả cũng ngắn hơn trước đây. “Do đó, phải chú ý đến việc giải ngân và phải cân nhắc xem có nên nhận vốn hay không”, ông Doanh lưu ý thêm.

Để giúp ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ông Doanh cho rằng, phải đưa ra chính sách tỷ giá, lãi suất sao cho doanh nghiệp có thể dự báo được ít nhất trong sáu tháng. Ông kể, mới đây một doanh nghiệp cho biết đã thua lỗ khá nặng, chỉ vì tỷ giá thay đổi ngay sau khi doanh nghiệp nhập phôi thép về!

Điều đáng lo nữa chính là các chỉ tiêu như nhập siêu trong năm 2010 là 13,6 tỉ đô la Mỹ, tương đương 22,7% xuất khẩu, đồng thời cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt 9,4 tỉ đô la Mỹ. “Điều này sẽ tạo sức ép rất lớn lên sự ổn định của đồng tiền Việt Nam”, ông Doanh nói.

Năm 2009, cán cân thanh toán quốc tế chung đã âm khoảng 6,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó cán cân tài khoản vãng lai âm khoảng 7,4 tỉ đô la Mỹ. “Đây là những con số không thể xem thường! Nó sẽ tác động đến tỷ giá trong năm 2010. Về dài hạn, phải thay đổi cơ cấu kinh tế, giữ nhập khẩu ở mức ổn định và không cho tăng. Bởi nếu cán cân thanh toán âm mạnh thì rất khó kiểm soát”, ông Doanh nói.

Huy động vốn qua đấu thầu trái phiếu Chính phủ đạt thấp

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:26 pm
Tags: ,

Thursday, 7. January 2010, 09:46:54

Với tỷ lệ huy động được chỉ đạt hơn 4,18% so với gọi thầu, mức độ huy động vốn qua đấu thầu trái phiếu Chính phủ trong năm 2009 tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội là khá thấp so với các năm 2007 và 2008.

Theo thống kê, năm 2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 51 đợt đấu thầu trái phiếu Chính phủ bằng nội tệ, huy động được 2.578 tỷ/62.700 tỷ gọi thầu. Trong khi đó, năm 2007 huy động được 15.839 tỷ đồng/khối lượng gọi thầu 23.400 tỷ đồng, tỷ lệ thành công là 67,69%. Năm 2008 huy động 6.060 tỷ đồng/26.600 tỷ đồng khối lượng gọi thầu, tỷ lệ thành công 22,78%. Năm 2009 huy động 2.578,5 tỷ đồng/61.700 tỷ đồng khối lượng gọi thầu, tỷ lệ thành công 4,18%.

Tuy nhiên, điểm nhấn trong hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong năm 2009 là tổ chức 6 phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (USD), với các kỳ hạn 1, 2 và 3 năm. Số trái phiếu đấu thầu thành công trong đợt 1/2009 và đợt 2/2009 lên niêm yết và giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu Chính phủ.

Hàng hóa trái phiếu đưa ra đấu thầu và có tỷ lệ thành công phần lớn là các trái phiếu có kỳ hạn ngắn 2 năm, 3 năm, các trái phiếu có kỳ hạn dài như 10 năm hầu như không huy động được. Không có loại trái phiếu nào có kỳ hạn trên 10 năm.

Cũng trong các phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại HNX năm 2009 đã thiếu vắng sự tham gia của các tổ chức nước ngoài do tình hình kinh tế thế giới biến động cũng như lo ngại tình hình lạm phát gia tăng, thêm vào đó không có phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ lô lớn nào.

Đánh giá về hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, một số ý kiến cho rằng, một trong những lý do khiến cho tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ năm 2009 thấp là công tác điều hành lãi suất trần chưa thực sự linh hoạt và điều chỉnh sát với tốc độ tăng lãi suất của thị trường.

Về nguyên tắc, trong điều kiện bình thường, lãi suất trái phiếu Chính phủ thấp hơn lãi suất huy động vốn của các tổ chức khác trên thị trường và là lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác tham chiếu, Tuy nhiên, mức độ khác biệt phải phù hợp để thị trường chấp nhận được.

Trong những tháng đầu năm, đặc biệt là tháng 2 và tháng 3, khi lãi suất trên thị trường bình quân ở mức 7%/năm, nhưng trần lãi suất ở mức 6%/năm đối với tín phiếu 364 ngày, 6,7%/năm đối với kỳ hạn 2 năm và 6,75%/năm đối với kỳ hạn 3 năm.

Lãi suất này thấp hơn quá nhiều so với kỳ vọng thị trường từ 1,2% – 1,4%/năm theo từng loại kỳ hạn. Vì vậy, mặc dù thời điểm này thị trường đang dồi dào về vốn (thể hiện các phiên đấu thầu, bảo lãnh đều thu hút được khối lượng tham gia từ 1.000 – hơn 2.000 tỷ đồng), nhưng việc phát hành trái phiếu Chính phủ vẫn không thành công.

Hiện nay, lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại đang tăng cao, lãi suất kỳ hạn 1 năm của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước dao động từ 9,0 – 9,4%/năm, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần ở mức từ 9,24 – 9,9%.

Ngoài ra, để giữ khách hàng các ngân hàng còn có thêm các hình thức thưởng cho khách hàng thường xuyên hoặc khách hàng gửi với số lượng lớn, vì vậy lãi suất thực nhìn chung đã có xu hướng chạm ngưỡng 10%/năm. Trên thị trường mở, mỗi ngày Ngân hàng Nhà nước đang phải bơm từ 6.000 – 8.000 tỷ đồng với lãi suất 7%/năm, kỳ hạn 7 ngày. Số lượng thành viên tham gia thị trường mở khá đông, thể hiện các ngân hàng thương mại cổ phần đang trong tình trạng thiếu vốn khả dụng.

Ngoài ra, các nhà đầu tư lo ngại lạm phát trở lại vào năm 2010, trong khi lãi suất trái phiếu Chính phủ không hàm chứa yếu tố này, thị trường chứng khoán có một khoảng thời gian dài sôi động, thị trường vàng nóng…. là những yếu tố làm giảm tính hấp dẫn của trái phiếu Chính phủ trong thời gian qua.

Thêm vào đó, hiện nay có nhiều tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ nên nhìn chung cung lớn hơn cầu. Trong năm 2010, để củng cố và phát triển thị trường trái phiếu, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã phối hợp với các đơn vị liên quan trình Bộ Tài chính cơ cấu lại hàng hóa theo hướng giảm bớt số mã niêm yết trên thị trường thứ cấp, cải tiến phương thức phát hành theo hướng ưu tiên phát hành trái phiếu lô lớn, đồng thời tập trung hoàn thiện hệ thống để đưa trái phiếu ngoại tệ vào giao dịch trên hệ thống trái phiếu Chính phủ chuyên biệt.

Chênh lệch giàu nghèo ở TP.HCM gần 7 lần

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:45 pm
Tags: , ,
Hiện nay, tại TP.HCM, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.500 USD/năm. Nhưng nếu tính bình quân chung giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất thì con số này chênh nhau 6,9 lần.

Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM vừa cơ bản hoàn thành đề tài nghiên cứu “Mức sống kết hợp với môi trường sống của các hộ gia đình tại TP.HCM” do thạc sĩ Lê Văn Thành chủ nhiệm. Lần đầu tiên TP nghiên cứu về vấn đề này và được thực hiện tại 12 quận huyện với 720 phiếu điều tra.

Kết quả cho thấy mức sống của người dân TP không ngừng tăng lên và hiện nay thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 2.500 USD/năm. Nhưng nếu tính bình quân chung giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất thì con số này chênh nhau 6,9 lần.

Bình quân chung TP có 4,6 người/hộ, trong đó gia đình từ 1-4 người chiếm 43,3%. Số người trong độ tuổi lao động là 69,7%, cao hơn bình quân cả nước, dân số phụ thuộc (bao gồm những người chưa đến độ tuổi lao động) chiếm khoảng 19,6% và những người ngoài độ tuổi lao động chiếm 10,7%.

“Với cơ cấu dân số này, TP.HCM không còn là cơ cấu dân số trẻ nữa mà đang dần đi tới giai đoạn cơ cấu dân số bắt đầu già” – kết quả nghiên cứu đánh giá.

Riêng tỉ lệ người có việc làm ổn định không cao (chiếm 47,8%), tỉ lệ thất nghiệp chiếm khoảng 4,5% và nhóm làm việc bấp bênh là 4,1%. Về thời gian cư trú, có gần phân nửa số hộ cư trú dưới 25 năm và người định cư trong vòng 10 năm trở lại đây chiếm phần lớn. Điều này cho thấy số người từ các khu vực khác di chuyển đến và định cư tại TP ngày càng nhiều và xu hướng ngày càng tăng nhanh.

Khảo sát cũng cho thấy chỉ có khoảng 24,3% hài lòng với mức thu nhập của mình và con số không hài lòng cao hơn: 35%. Chi tiêu ăn uống chiếm hơn phân nửa trong tổng thu nhập của hộ gia đình, cá nhân, khoảng 20% chi cho việc học hành. Nếu lấy thu nhập trừ cho chi tiêu thì số tiền dư ra của khoảng 40% tổng số hộ gia đình là không đáng kể, thậm chí nhóm có mức thu nhập và chi tiêu thấp nhất còn bị âm nên cuộc sống của những hộ này không đảm bảo.

Kết quả nghiên cứu cũng cho biết việc động viên và giúp đỡ những gia đình nghèo cố gắng vươn lên để thoát nghèo là những ý kiến được nhiều người quan tâm.

Từ 1/1/2010: hình sự hoá 3 tội danh chứng khoán

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:43 pm
Tags: ,

Cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán; sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán và thao túng giá chứng khoán là 3 tội danh trong lĩnh vực chứng khoán lần đầu tiên được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2010. Tính khả thi của những quy định này đến đâu và cần những điều kiện gì để các điều khoản mới này được thực thi hiệu quả? Liên quan đến nội dung này, ĐTCK đã có cuộc trao đổi với Luật sư Hà Đăng, Giám đốc Công ty Luật Hà Đăng.

Lần đầu tiên tại Việt Nam, 3 tội danh chứng khoán được đưa vào Bộ Luật hình sự. Ông cảm nhận như thế nào về vấn đề này?

TTCK đã hiện diện gần 10 năm nay, thực sự đã trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tài sản của các nhà đầu tư (NĐT), các doanh nghiệp (DN) đang gặp khó khăn, do đến nay nhiều vi phạm trong lĩnh vực này chưa được xử lý. Việc quy định những hành vi vi phạm nào thì bị xử lý hình sự và theo từng mức độ khác nhau là cần thiết. Bởi vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự bổ sung các điều luật xử lý những vi phạm trong lĩnh vực hoạt động chứng khoán là tất yếu. Thế nhưng, với các đặc trưng hoạt động của TTCK, thì việc phát hiện, chứng minh hành vi bị coi là phạm tội không phải dễ, bởi các hành vi giao dịch dựa trên các thông tin đa dạng, nên khó xác định ai người bị thiệt hại, số lượng bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại… Tóm lại, những vi phạm có mức độ từ nhắc nhở, cảnh báo, đến phạt hành chính, thì cơ quan xử lý chỉ cần có kết luận về hành vi vi phạm là có thể áp dụng hình thức xử phạt, còn truy tố về trách nhiệm hình sự thì cần chứng minh đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.

Theo ông các Điều 181a, 181b và 181c của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự quy định về các tội danh trong lĩnh vực chứng khoán có đảm bảo tính khả thi?

Nghiên cứu kỹ các quy định tại 3 điều trên cho thấy nhiều nội dung còn trừu tượng, nên không dễ xử lý tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán. Cụ thể, tại điểm C, khoản 2, Điều 181a rất khó xác định như thế nào được coi là phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Sự trừu tượng cũng tương tự tại điểm C, khoản 1, Điều 181c với quy định: người nào lôi kéo người khác liên tục mua bán chứng khoán gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 100 – 500 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng – 3 năm. Với quy định này, cơ quan điều tra gần như “bó tay” trong việc thu thập chứng cứ để chứng minh một người nào đó có hành vi lôi kéo người khác liên tục mua, bán chứng khoán, bởi khái niệm “liên tục” ở đây được hiểu là 1 tháng, 3 tháng hay 5 tháng; đầu tuần mua, bán, giữa tuần mới mua, bán tiếp có được hiểu là liên tục không, hay là giao dịch liên tiếp các phiên trong tuần mới bị coi là mua, bán liên tục; mua, bán một hay nhiều mã chứng khoán… Do quy định trên cũng không làm rõ hành vi lôi kéo người khác mua, bán chứng khoán bằng các hình thức nào, nên rất khó phát hiện, xử lý các vi phạm.

Điều này sẽ khiến hoạt động đấu tranh với các loại tội phạm trên TTCK khó mang lại hiệu quả, thưa ông?

Bất kỳ một điều luật nào cũng vậy, nó chỉ có tính khả thi cao khi xác định được đặc trưng của tội danh rõ ràng. Các hành vi phạm tội trên TTCK rất tinh vi, bởi ranh giới phân chia giữa một bên là thủ thuật đầu tư với bên còn lại là hành vi phạm tội rất mong manh, nên sẽ khiến các cơ quan tố tụng khó thu thập được các chứng cứ trực tiếp để chứng minh hành vi phạm tội. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán.

Sự trừu tượng, thiếu cụ thể như ông đề cập liệu có thể được khắc phục bằng các văn bản hướng dẫn dưới luật, nhằm đảm bảo cho luật có tính khả thi cao?

Để đảm bảo cho các quy định của luật có tính khả thi cao, tạo điều kiện cho áp dụng luật hiệu quả, trước mắt, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán nhà nước cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định về những tội danh trong lĩnh vực chứng khoán. Chỉ có như vậy, mới giúp các cơ quan tố tụng thuận lợi trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Mặt khác, do Luật trên mới có hiệu lực, nên cần có thời gian triển khai, trên cơ sở đó có thể tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định mới cho phù hợp, đảm bảo cho hoạt động đấu tranh chống tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán hiệu quả.

Quant – Mô hình đầu tư ưu việt giai đoạn hậu khủng hoảng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:41 pm
Tags: ,

Trend following không hướng tới việc dự đoán thị trường ngày mai ra sao, mà là tìm kiếm cơ hội tham gia thị trường ngay khi chứng khoán có dấu hiệu tăng mạnh.

Thị trường đang cần những phương pháp phân tích ưu việt hơn

Vào những năm đầu khi TTCK Việt Nam mới hoạt động, phân tích cơ bản là phương pháp vẫn được đa số NĐT tin dùng. Đây là phương pháp hướng tới việc mua và nắm giữ cổ phiếu dài hạn, phù hợp giai đoạn thị trường biến động với bước giá nhỏ khi đó. Vài năm gần đây, phân tích kỹ thuật (PTKT) được nhiều NĐT áp dụng rộng rãi. Điều này là dễ hiểu khi thời gian gần đây, TTCK Việt Nam luôn dao động mạnh với biên độ lớn, khiến việc mua và nắm giữ cổ phiếu dài hạn không mang lại hiệu quả tối ưu. Phương pháp PTKT giúp NĐT có thể theo kịp các diễn biến nhanh của thị trường. Tuy nhiên, cũng chính PTKT gây ra khá nhiều bối rối do các chỉ báo đưa ra nhiều tín hiệu trái chiều nhau. Chẳng hạn, trong tháng 12 vừa qua, VN-Index có lúc đã tụt giảm khá mạnh, khác xa so với những dự báo trước đó là thị trường sẽ dịch chuyển theo chiều hướng tăng – kịch bản lạc quan dựa trên các chỉ báo và mô hình PTKT… Tất nhiên, không có phương pháp dự báo nào hoàn hảo, tính chính xác phụ thuộc nhiều nhân tố thay đổi từng ngày và từng giờ. Nhưng câu hỏi đặt ra là, liệu có thể có một mô hình hay phương pháp nào áp dụng tối ưu phù hợp hơn các phương pháp truyền thống hay không?
Thời gian gần đây, mô hình Quant được nói đến nhiều trên các phương tiện truyền thông. Mô hình Quant là sự kết tinh ưu việt của cả hai phương pháp trên kết hợp với việc phân tích số liệu thống kê. Phần lớn cũng vận dụng phương pháp PTKT, nhưng mô hình Quant còn sử dụng thêm các đặc điểm ưu việt nhất trong phương pháp phân tích cơ bản và phân tích thống kê, tạo ra tính hiện đại, khoa học và năng động hơn so với các trường phái truyền thống.

Năm 2009, TTCK Việt Nam tụt giảm khá sâu vào đầu năm và phục hồi mạnh trở lại trong suốt 8 tháng. Những tháng cuối năm, thị trường lại giảm điểm mạnh và chỉ phục hồi trong vài tuần qua. Dù nền kinh tế trong nước đã có dấu hiệu hồi phục nhưng vẫn chưa thể khẳng định sự tăng trưởng bền vững của TTCK trong năm 2010. Theo nhận xét của giới phân tích, tại các thị trường mới nổi như Việt Nam, Trung Quốc…, giai đoạn hậu khủng hoảng, chứng khoán sẽ tăng, giảm với biên độ lớn. Tuy nhiên, giới phân tích cũng đồng ý rằng, dù còn gặp thách thức nhưng triển vọng của thị trường không thể phủ nhận ở giai đoạn trung và dài hạn. Đây là thời điểm rất tốt để các mô hình đầu tư ưu việt như Quant phát huy tác dụng và tìm kiếm lợi nhuận. Với sự biến động liên tục của thị trường trong thời gian qua, nếu sử dụng các phương pháp đầu tư truyền thống, NĐT có thể kiếm lời, nhưng nếu sử dụng Quant thì mức lợi nhuận tạo ra sẽ tối ưu hơn.

Quant – Mô hình hướng tới sự năng động

Một trong những chiến lược đầu tư theo mô hình Quant chính là mô hình đầu tư theo xu hướng (trend following). Mô hình Trend following không hướng tới việc dự đoán thị trường ngày mai ra sao, mà là tìm kiếm cơ hội tham gia thị trường ngay khi chứng khoán có dấu hiệu tăng mạnh. Việc đầu tư dựa hoàn toàn vào các chỉ báo được lọc ra bởi các máy tính siêu mạnh. Trước tiên, một khối lượng lớn thông tin và số liệu được tổng hợp phân tích trên hệ thống máy tính hiện đại. “Linh hồn” của hoạt động phân tích này bao gồm nhiều yếu tố, trong đó nổi bật nhất là thuật toán trí tuệ nhân tạo (Genetic Argrorithm) và Lý thuyết thông tin (Information Theory). Sau khi có các chỉ báo, máy tính xác định tín hiệu mua bán, đồng thời cũng đưa ra chiến lược phân bổ đầu tư hợp lý, tối ưu.

Mô hình Quant hoạt động dựa theo nguyên tắc chỉ tham gia thị trường khi chứng khoán có xu thế tăng dài hạn và rõ ràng. Đồng thời, việc chốt lời diễn ra khi xu thế này đảo chiều hoặc thị trường đi vào thời kỳ ít biến động, đi ngang (chạy sideways). Bên cạnh nguyên tắc chính trên, máy tính cũng tự động đưa ra chiến lược quản lý rủi ro thông qua cơ chế cắt lỗ, phân bổ và đa dạng hóa danh mục đầu tư. Với các nguyên tắc này, hoạt động đầu tư sẽ đạt mức lợi nhuận tối ưu, khi tối ưu hóa vùng giải ngân và vùng thanh toán tiệm cận hơn với đáy và đỉnh của thị trường. Nói cách khác, mô hình Quant hướng tới sự năng động theo tiêu chí “thị trường luôn luôn đúng”- điều mà chưa mô hình phân tích truyền thống nào đạt được.

Kết quả thử nghiệm mô hình Quant

Các nhà đầu tư chuyên nghiệp đã xem xét và có các nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn tại TTCK Việt Nam, tiên phong là VFM. Sau một thời gian thử nghiệm mô hình Quant với mẫu phân tích (in-sample) và mẫu thử nghiệm (out-sample), VFM đã xác định được kết quả bước đầu: Theo đó, từ tháng 1/2004 đến ngày 30/06/2008, kết quả mẫu phân tích (in-sample) tỷ lệ lợi nhuận đạt được là 200% trong vòng 3 năm rưỡi, bình quân mỗi năm tỷ lệ lợi nhuận đạt 110%. Trong đó xác suất thành công là trên 60%. Đối với kết quả mẫu thử nghiệm (out-sample), thời gian tiến hành từ 30/06/2008 cho đến nay, tỷ lệ lợi nhuận là 100% trong vòng 1,5 năm, bình quân 1 năm đạt 50%. Trong đó xác suất thành công là trên 70%. Như vậy, chúng ta có thể thấy kết quả giữa 2 phương pháp thử nghiệm này rất ấn tượng và gần trùng khớp. Thời gian thử nghiệm dài trên 3 năm với đầy đủ các tình huống thị trường lên mạnh, xuống mạnh hay đi ngang cho thấy tính khách quan và độ chính xác của quá trình thử nghiệm. Nếu áp dụng mô hình vào thực tế thì chúng ta có thể tin rằng, kết quả lợi nhuận bình quân sẽ xoay quanh kết quả thử nghiệm ở trên.

Với tính năng ưu việt của mô hình Quant, VFM đã nghiên cứu và phát triển mô hình này thành một quỹ đầu tư mang tên Quỹ đầu tư năng động Việt Nam (VFA) như là bước phát triển mới của ngành quản lý Quỹ trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Cơ hội và rủi ro vẫn ở phía trước nhưng nếu NĐT ưa thích sự năng động thì lợi nhuận đạt được sẽ hoàn toàn xứng đáng. Việc sử dụng mô hình Quant cho Quỹ đầu tư VFA này sẽ là bước đi tiên phong chào đón năm mới 2010 của Công ty VFM.

China-ASEAN pact offers more than win-win

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:52 am
Tags: , , ,

The formal inauguration of the ASEAN-China Free Trade Area (ACFTA) on January 1 marks the culmination of arguably the most successful big-power diplomacy of the post-Cold War era.

Since 1991, China’s relations with Southeast Asia have moved from an alliance of convenience with the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) against Vietnam, Cambodia and Laos to close and multi-dimensional interaction with an expanded 10-member ASEAN and with each of the association’s member states (in addition to the above-mentioned trio, the group now includes Myanmar alongside founding members Brunei, Indonesia, Malaysia, the Philippines, Singapore and Thailand).

A similar pattern of China’s successful engagement with neighbors can be seen in the Shanghai Cooperation Organization with Russia and Central Asia and, less successfully, in the six-party talks in northeast Asia over North Korea’s nuclear program. With the exception of China’s trans-Himalayan border, promotion of regional multilateral institutions has progressed hand-in-hand with strengthening bilateral relationships.

The formula for China’s successful good neighbor policy has many labels, but the simplest is “win-win”. Every country in Southeast Asia has benefited from broader and deeper relations with China, and ASEAN as a regional organization has been strengthened by China’s involvement.

Trade, investment and tourism have blossomed. China’s willingness to sign the Framework Agreement on Comprehensive Economic Cooperation in 2002 and the Treaty of Amity and Cooperation in 2003 encouraged other nations to follow suit. Despite global economic uncertainty displacing US-centered globalization, China and ASEAN are off on the right foot in a new era. But the path ahead is not simply a yellow brick road of win-win policies.

Why not? What could possibly be wrong with win-win? A cynical power theorist would say that if one side wins more than the other, the one who wins less may end up being dominated by the one who wins more. But this hardly applies to Southeast Asia. No individual state in Southeast Asia has ever considered itself the equal of China. Moreover, China’s military budget surpassed the aggregate military budgets of Southeast Asia in the 1990s. And ASEAN is no North Atlantic Treaty Organization. Rather than being a security umbrella for coordinating action in crisis situations, ASEAN is more of a consensual parasol that works best in sunny weather. If losing parity with China were the tipping point for subjugation, Southeast Asia lost long ago.

Win-win is too simple a formula precisely because of the disparities between China and Southeast Asia. Individually and collectively, Southeast Asian nations are more exposed in their relationship with China than vice versa. According to estimates of the Central Intelligence Agency in the United States, all of ASEAN together in 2008 had only one-third of China’s gross domestic product (GDP) in terms of purchasing power parity (PPP). The economy of Shanghai is one-and-a-half times that of Singapore. Guangdong’s GDP exceeds that of Indonesia, while the combined economies of Guangxi and Yunnan, middling provinces by Chinese standards, exceed those of their neighbors Vietnam, Laos and Myanmar.

Therefore, Southeast Asia is necessarily more alert to the risks as well as the opportunities of its relationship to China. Proportionally, it has more at stake, and the sense of risk as well as opportunity is all the more vivid to individual states in Southeast Asia.

Southeast Asia’s dilemmas in dealing with China can be illustrated by the recent controversy in Vietnam over Chinese investments in bauxite mining and processing. It is certainly a win-win situation. The Chinese company involved, Chinalco, is a major global investor in bauxite mining and alumina processing. Bauxite occurs in limestone areas with poor agricultural prospects. Vietnam has the world’s third-largest bauxite reserves, and hopes to attract US$15 billion in investment in this area by 2025. It needs the investment in the current global economic climate, and it also needs to offset its severe balance of payments deficit with China.

But the Vietnamese people have been very concerned about Chinese bauxite development. They are concerned about the ecological effects of mining; about the major stake that a powerful Chinese company would have in central Vietnam; and about losing jobs to imported Chinese workers. They do not want to have the future of a major national resource in the hands of an outside power. Win-win is not enough. Vietnam wants reassurance about its long-term interests because it is dealing with a much larger neighbor.

Similarly, the proposal of two corridors, rail and highway, from Nanning, the capital of the coastal Guangxi autonomous region, bordering Vietnam, to Singapore would undoubtedly benefit Vietnam. The corridors would run most of the length of Vietnam, thereby improving domestic transportation as well as connections to China and to the rest of mainland Southeast Asia. However, given current patterns of trade, far more goods will be coming down the corridors from China than going up from Vietnam, and much of Vietnam’s exports would continue to be raw materials and resources.

This is still win-win for China’s producers and Vietnam’s consumers, but consumers also need to produce, and Vietnam’s economy must continue to modernize and become more sophisticated. It is therefore hardly a surprise that on such win-win projects China pushes forward while Vietnam hesitates. A change at the periphery of China’s economy could affect the heartland of Vietnam’s.

Vietnam is the most sensitive country in Southeast Asia to China, but the entire region is aware that its interests and China’s interests are not identical, even if many are compatible. The problem of asymmetric relationships cannot be solved, it can only be managed.

Take for example China’s single most successful gesture in its regional relations. In 1997, China held the value of the yuan steady against the dollar while the Southeast Asian currencies were falling. Its neighbors were impressed that China could succeed where they failed, and they were grateful that China prevented a race to the bottom in currency devaluations.

Since August 2008, China has pursued exactly the same policy, but its effects on Southeast Asia are the opposite of a decade earlier. Now the yuan’s peg to a declining US dollar is forcing neighbors to compress their currency values in order to maintain market share. China’s neighbors wonder how long currency compression will last and what will happen when the yuan finally does revalue. There is little reassurance from China, and no claim that it is helping the neighborhood.

The tension between China and Southeast Asian states over conflicting claims in the South China Sea has become the symbol of the region’s collective uneasiness concerning China’s commitment to cooperation. The “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea” signed in 2002 was a watershed event in regional confidence-building, but there has been little further progress.

Moreover, China’s expansion of naval facilities on Hainan raises concerns throughout the region regarding China’s military transparency and intentions. In fact, however, multilateral cooperation is the only feasible way for any country, China included, to profit from the disputed area. It would be difficult to extract oil at gunpoint, and the costs to China’s regional and even global relations would outweigh any possible gains. The only winning path in the South China is one of more serious cooperation and reassurance.

While win-win is the slogan of the day, deeper principles have lain behind China’s successes of the past two decades. China’s willingness to work with multilateral regional institutions has been a big part of the winning formula. Participation in ASEAN’s general relationship with China buffers the exposure of each individual state. This benefits China as well as ASEAN.

Vulnerability causes smaller states to hesitate in asymmetric relationships, while collective agreements reduce individual vulnerability. Within each bilateral relationship, sensitivity to the dilemmas faced by the smaller side even in a win-win situation is essential for continued development.

For example, not only does Vietnam have reason to expand its merchandise market in China, but China has an interest in Vietnam’s marketing success. Currently, Vietnam’s weak sales to China are a major trade bottleneck; a more balanced relationship would enable trade volume to expand on a solid basis.

Finally and most importantly, China’s traditional respect for the sovereignty and autonomy of all states becomes ever more important with the growth of China’s relative power. As Sophie Richardson’s recent book on China-Cambodia relations demonstrates, the “Five Principles of Peaceful Coexistence” have been an especially important foundation of China’s relations with smaller states. [1] The time has come to multilateralize the five principles into a general respect for regional consensus and international agreements and institutions.

In the new era of global economic uncertainty, the risks that smaller countries face are more vivid than their opportunities. The special task faced by regional powers, whether China, or South Africa, or Brazil, or India, or Russia, is to earn regional leadership by reassuring neighbors that their interests and voices will be respected.

Moreover, they need to take the lead in regional projects that address common problems. But to do so effectively they must act in a spirit of multilateral respect. For the past two decades, China has led the cohort of regional powers in developing cooperative relationships with neighbors, and one of the fruits of success is the successful beginning of ACFTA. But it is only a successful beginning, it is not the end of the road.

Note
1. China, Cambodia, and the Five Principles of Peaceful Coexistence, by Sophie Richardson. Columbia University Press, 2009.

Brantly Womack is the Cumming Memorial Professor of Foreign Affairs at the University of Virginia. His recent books include China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (Cambridge University Press, 2006) and China among Unequals: Asymmetric Foreign Relations in Asia (World Scientific, forthcoming).

(Copyright 2010 Brantly Womack.)

Next Page »

Create a free website or blog at WordPress.com.