Ktetaichinh’s Blog

January 6, 2010

Vay vốn trong năm 2010 được hỗ trợ 2% lãi suất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:35 pm
Tags: , , ,
Đây là hướng dẫn mới nhất của Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn hỗ trợ lãi suất (HTLS) đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn.

Theo đó, các khoản cho vay thuộc đối tượng HTLS là các khoản cho vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam để thực hiện đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh theo các hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày 1/1/2010 mà được giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2010 đến 31/12/2010 đều thuộc diện hưởng hỗ trợ lãi suất mới.

Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 2%/năm, tính trên tổng số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế, thời hạn cho vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân. Trường hợp, các khoản vay thuộc đối tượng HTLS bị quá hạn trả nợ, được gia hạn nợ vay, thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng, thì không được HTLS đối với khoảng thời gian quá hạn trả nợ, gia hạn nợ và vượt quá 24 tháng.

Ngân hàng Nhà nước cũng lưu ý, khách hàng vay vốn có số dư tài khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (TCTD) thì khi ký kết hợp đồng tín dụng, các TCTD phải tính toàn bộ số dư tài khoản tiền gửi là vốn tự có của khách hàng vay và mức vốn cho vay phải loại trừ số dư tài khoản tiền gửi này. Khách hàng có trách nhiệm báo cáo về số dư tài khoản tiền gửi và giá trị giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ tại các TCTD khác.

Quy định về việc hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn

GiadinhNet – Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 27 quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất với các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngân hàng trong năm 2010.

Theo đó mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 2%/năm, tính trên tổng số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế. Thời hạn cho vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân. Trường hợp, các khoản vay bị quá hạn trả nợ sẽ được gia hạn nợ vay, nhưng nếu thời hạn vay thực tế vượt quá 24 tháng, thì không được hỗ trợ lãi suất với khoảng thời gian vượt quá 24 tháng.
Advertisements

Người dân phải được quyền lựa chọn khu tái định cư

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:14 pm
Tags: , ,
Chiều qua, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi truờng (TN-MT), GS-TSKH Đặng Hùng Võ đã trả lời phỏng vấn Báo Thanh Niên xung quanh vấn đề chất lượng của các khu tái định cư. Theo GS Võ:

– Sự thực là chất lượng các khu tái định cư đã được cải thiện nhiều so với trước khi sửa đổi Luật Đất đai 1993. Tuy nhiên, cho dù đã không còn hiện tượng người dân bị thu hồi đất ở chưa nhìn thấy nơi tái định cư ở đâu đã bị đuổi khỏi nhà, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Luật Đất đai, Nghị quyết số 26 được Hội nghị Ban chấp hành T.Ư Đảng lần thứ VII, khóa IX thông qua là: Nơi tái định cư phải có điều kiện phát triển tốt hơn hoặc bằng so với nơi ở cũ. Điều này được thể hiện qua hai điểm dưới đây.

Thứ nhất, khi chuyển đến nơi tái định cư, người dân bị thu hồi đất ở không có điều kiện tiếp tục kiếm sống bằng nghề cũ đã làm. Khi chưa mất đất ở – nhà ở, người dân có thể gắn nơi ở với kinh tế hộ gia đình, làm vườn tược, kinh doanh các dịch vụ, kể cả việc mở quán cóc bán trà đá. Bây giờ, chuyển đến nơi ở mới tại khu tái định cư, chủ yếu là chung cư nên họ không còn điều kiện để tiếp tục làm kinh tế hộ gia đình. Vì thế, trên thực tế, đa số người dân mất đất ở – nhà ở, đã bán nhà ngay sau khi vừa nhận nhà tại khu tái định cư, lấy tiền mua nhà ở tại những nơi dễ tìm kiếm công ăn việc làm, đảm bảo đời sống gia đình. Thậm chí, ở Hà Nội và TP.HCM còn diễn ra tình trạng bán “lúa non” suất tái định cư cho giới đầu cơ để rồi sau đó nhà được bán lại với giá cao hơn cho những người khác có nhu cầu.

Thứ hai, chất lượng nhà tái định cư hiện rất thấp. Chỉ bằng mắt thường chúng ta cũng có thể nhận thấy trần và tường nhà được xây và trát thiếu xi măng, kết cấu cũng được làm theo kiểu cho qua chuyện. Chất lượng dịch vụ như vệ sinh, điện, cấp – thoát nước, công trình công cộng… vừa yếu kém vừa thiếu. Nhiều khu tái định cư không bảo đảm gắn liền với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, chất lượng cuộc sống ở mức rất thấp.

* Thưa ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng kể trên?

– Tôi cho rằng, mặc dù đã có chủ trương nhưng trên thực tế, chúng ta chưa tiến hành quy hoạch tổng thể khu tái định cư cho từng địa phương. Từ trước đến nay, chúng ta đang loay hoay với việc xây dựng khu tái định cư kịp thời cho từng dự án. Vì thế, các địa phương chưa thể cung cấp đa dạng các loại hình tái định cư và người dân bị mất đất ở – nhà ở chưa có quyền được lựa chọn khu tái định cư phù hợp để ở.

Bên cạnh đó, quá trình triển khai công tác tái định cư chưa được như mong muốn là do thiếu kinh phí để xây dựng trước các khu tái định cư. Lãnh đạo nhiều địa phương còn thiếu quyết tâm, mặc dù HĐND các tỉnh, theo tôi được biết, rất quan tâm đến lĩnh vực này. Một nguyên nhân nữa, UBND cấp tỉnh cũng như các chủ đầu tư ở nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng đúng mức lợi ích chính đáng của người dân mất đất ở – nhà ở. Tiền bồi thường và hỗ trợ người dân nhận được thấp mà tiền phải trả cho suất tái định cư lại cao.

* Vậy theo ông, cần phải làm gì để cải thiện chất lượng các khu tái định cư, nâng cao chất lượng đời sống của người dân sinh sống tại đây?

– Điểm mấu chốt là chúng ta phải tổ chức thực hiện tái định cư chung cho tất cả các dự án của địa phương, cần chấm dứt việc tái định cư theo từng dự án. Việc thực hiện tái định cư chung cho cả địa bàn cần tới một quy hoạch tổng thể, một chương trình xây dựng nơi tái định cư dài hơi và sẽ tạo ra quỹ nhà tái định cư đa dạng về chất lượng, diện tích, tọa lạc tại nhiều vị trí khác nhau và kết nối hợp lý với các khu vực dân cư kế cận với điều kiện đủ về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, quan trọng hơn cả là tạo điều kiện để người được tái định cư có quyền được lựa chọn nơi phù hợp với hoàn cảnh của mình. Tất nhiên, đây là cách làm chủ động nhưng cần một tầm nhìn, tư duy và năng lực đủ dài hơi.

Khi thực hiện các dự án, xây dựng các khu tái định cư, việc cần làm là phải tiến hành giám sát chặt chẽ quá trình thi công công trình và cuối cùng là khâu thẩm định – đánh giá chất lượng công trình. Các nhà quản lý cần tạo ra hành lang pháp lý đủ hiệu lực và hiệu quả cho các hoạt động tư vấn giám sát thi công và đánh giá chất lượng công trình xây dựng nhà ở, các nhà quản lý không đi làm trực tiếp các công việc này. Mặt khác, cần khuyến khích phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ giám sát thi công và đánh giá chất lượng đối với các công trình xây dựng nhà ở. Các nước phát triển họ cũng làm như vậy, chỉ có điều họ làm với một ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn và văn hóa thị trường cao hơn.

Một giải pháp chiều sâu nữa, theo tôi nghĩ cần phải nâng giá bồi thường về đất ở – nhà ở sao cho tương xứng với giá thị trường, để đảm bảo điều kiện người được tái định cư có thể tiếp cận được với những nơi tái định cư chất lượng cao hơn và điều kiện phát triển tốt hơn. Một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ hài lòng của người được tái định cư là tỷ lệ người được tái định cư không bán nơi được tái định cư mà tiếp tục ở lại đó trên tổng số người được tái định cư.

Quang Duẩn
(thực hiện)

Khan tiền đẩy lãi suất lên cao

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 11:05 pm
Tags:
SGTT – Lãi suất cho vay thực tế ở một số ngân hàng mà chúng tôi tiếp cận được đang được đẩy lên xấp xỉ với mức lãi suất kỷ lục 18 – 20%/năm của năm 2008.Đầu tuần này, một người khách quen có 20 tỉ đồng đề nghị gửi kỳ hạn một tháng tại một chi nhánh ngân hàng với mức lãi suất tiết kiệm 11,5%/năm – cao hơn lãi suất niêm yết của ngân hàng. Không ngần ngừ, ngân hàng này gật đầu.

Mặc cả lãi suất

Ở một phòng giao dịch ngân hàng khác, một phụ nữ đòi mức lãi suất 12%/năm cho món tiền 20 tỉ đồng kỳ hạn ba tháng của bà. Một nhân viên ngân hàng kể, đã năn nỉ với lý do rằng huy động 12%/năm, cho vay 12%/năm không thể có lời, thì được bà trả lời: “Chịu giá thì chuyển tiền, không thì tìm ngân hàng khác”. Ngân hàng phải đồng ý.

Với số tiền nhiều hơn, người gửi có thể thoả thuận với ngân hàng ở giá 12,5%/năm, kỳ hạn từ 1 – 3 tháng. Thậm chí, có người nắm bắt được sự căng thẳng cung cầu vốn của ngân hàng, đã thoả thuận gửi chỉ một tuần với mức lãi suất này. Một số ngân hàng huy động kỳ hạn một tuần cho đến một tháng với giá 11,5%/năm, dù trên bảng niêm yết lãi suất huy động vẫn theo quy định không vượt lãi suất huy động trần 10,5%/năm, phần nào cho thấy nhu cầu tiền mặt ở ngân hàng khá cao.

Người phụ trách một chi nhánh ngân hàng ở quận Tân Bình cho biết, ngày càng nhiều người chọn gửi kỳ hạn 1 – 2 tuần thay vì kỳ hạn 3 – 6 tháng, mà ngân hàng thì cần khoảng ba tháng để tìm và cho vay, thành ra nhiều lúc chưa kịp cho vay đã đến hạn khách rút tiền. “Ngoài ra, thời gian này nhiều người rút tiền mua hàng dự trữ cuối năm, tiền lời kinh doanh kiếm được cao gấp hàng chục lần tiền lãi gửi ngân hàng, trong khi người gửi không nhiều bằng gây nên tình trạng căng thẳng vốn”, ông nói.

Với mức lãi suất huy động cao ngang bằng lãi suất cho vay theo quy định 12%/năm, theo nhân viên ngân hàng trên, lãi suất cho vay ít nhất 16,5% ngân hàng ông mới có lãi. Một số ngân hàng cho vay ở mức 17 – 18%/năm, gần bằng mức lãi suất kỷ lục của năm 2008, tất nhiên, khoản vượt trần được hạch toán vào các khoản khác không thể hiện trên hợp đồng về lãi suất. Một số nhân viên ngân hàng còn tư vấn cho khách hàng, thay vì vay kinh doanh, nên chuyển sang vay tiêu dùng, rồi dùng khoản vay tiêu dùng này để kinh doanh. Vì làm như vậy, ngân hàng sẽ dễ hạch toán hơn. Theo quy định, vay tiêu dùng, ngân hàng được phép thoả thuận lãi suất với người vay, không bị chi phối bởi lãi suất trần. Một người vay kể, đã được tư vấn vay mua nhà lãi suất 15,5%/năm, cộng thêm 3 – 5% phụ phí, nên mức lãi suất thực tế phải trả trong năm đầu tiên là 18,5 – 20%.

Qua tết có đỡ căng?

Trong năm 2009, theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân, đại học Kinh tế TP.HCM, các ngân hàng đã tận dụng hết nguồn vốn sở hữu của mình, đồng thời vòng quay vốn chậm quay về ngân hàng đã góp phần làm vốn căng thẳng trong thời điểm này.

Ngoài ra, quy định không cho phép ngân hàng sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để cho vay ra nền kinh tế, đã gia tăng sức ép, buộc ngân hàng càng phải đẩy mạnh huy động vốn.

Nhiều người đi vay đã quay về tay không, và nhận được lời khuyên của các nhân viên tín dụng: đợi xem qua tết, hoặc hết quý 1/2010 tình hình có đỡ căng hơn thì quay lại. TS Ngân cho rằng, tình hình căng thẳng cung cầu vốn sẽ giảm dần khi qua hết tháng 1 – 2.2010. Bởi dư nợ hỗ trợ lãi suất của năm qua sẽ giảm, người có lương thưởng bắt đầu mua hàng… sẽ dần đưa tiền quay về ngân hàng.

Hồng Sương

Đôla Mỹ có dấu hiệu ế

Sáng 5.1, giá đôla Mỹ tại các tiệm vàng, điểm thu đổi ngoại tệ ở mức 19.380 – 19.450 đồng/USD. Đến đầu giờ chiều cùng ngày, giá giảm còn 19.300 – 19.400 đồng/USD. Như vậy, giá đôla Mỹ đã giảm 200 đồng/USD chỉ trong vòng hai ngày, sau khi có tin các tập đoàn nhà nước phải bán ngoại tệ cho ngân hàng.

Tại một điểm chuyên thu đổi ngoại tệ khu vực chợ An Đông, có khách mang đến 80.000 USD muốn bán, thì nơi này chỉ đồng ý mua 30.000 USD và giải thích: do giao dịch chậm, nên chỉ mua số lượng lớn khi nào có mối đặt mua. Một chủ kinh doanh ngoại tệ gần chợ Bến Thành cũng cho biết không dám mua trữ sẵn lượng đôla lên đến hàng trăm ngàn như những ngày giá sốt nóng, vì sợ giá giảm sẽ lỗ. Chỉ khi có khách đặt mua, thì mới gom hàng.

SGTT

Banks paying out to depositors while charging borrowers

more

Commercial banks says they are having to dodge the law by offering higher-than-allowed interest rates to depositors while charging borrowers more.

Banks paying out to depositors while charging borrowers more

They claim that if they didn’t then there’d be left with only limited funds to lend out to assist businesses.

While the ceiling lending interest rate is 12 percent per annum, businesses are paying 15 percent, including a 3 percent “loan fee”. The State Bank of Vietnam instructs banks not to pay more than 10.5 percent for deposits, but banks still more to attract more deposits.

One director of a business said that he was told by a bank that he would have to pay 15.6 percent per annum if he wanted to receive a loan. Meanwhile, the additional 3.6 percent is charged as assessment fees, mortgaged asset management fees and other kinds of expenses. The director said that previously, fees were equal to just half of current levels at 2.5-3 percent.

In other cases, businesses do not have to pay additional fees to lenders, but they still have pay more for loans. A deputy director of a garment company in HCM City said he signed a contract on borrowing 10 billion dong from a bank, but he received eight billion dong only, while the other two billion dong were deposited at the bank as the collateral for the interest the business has to pay.

Nguyen Bang Tam, deputy chairman of the Listing Companies’ Club, said that a lot of businesses are complaining that additional fees are making production costs higher.

The ‘fee collection technology’

Most commercial banks have admitted that they cannot provide loans at the interest rate of 12 percent as set by the State Bank. It is because they cannot mobilize capital at 10.5 percent as stipulated by the State Bank. They have to pay higher to depositors if they want to have capital.

Commercial banks are now sharing with each other their experiences on how to collect additional fees from borrowers and avoid the punishment from the State Bank. Therefore, the “fee collection technology” has become increasingly sophisticated.

A director of an import-export company in HCM City said he was told to sign a “finance consultancy contract”. He had to write a document outlining a business plans complete with problems. He was then requested to ask for the bank’s consultancy assistance. With the contract, he had to pay 1 percent worth of the consultancy fee, which, in fact, is the lending interest rate.

Vietnam is among the 10 countries in the world which have the highest lending interest rates. Many claim that the high interest rates are contrary to the Government’s effort to stimulate the national economy.

The inflation rate in Vietnam is less than seven percent, while the deposit interest rate is up to 10.5 percent, and lending interest rates are between 12 and 15 percent per annum.

The State Bank of Vietnam says it has realized the “abnormality” of the interest rate performance. Therefore, it has instructed banks not to apply overly high interest rates. However, it seems that both bankers and businesses do not want to follow the instructions.

Commercial banks says they are having to dodge the law by offering higher-than-allowed interest rates to depositors while charging borrowers more.

Banks paying out to depositors while charging borrowers more

They claim that if they didn’t then there’d be left with only limited funds to lend out to assist businesses.

While the ceiling lending interest rate is 12 percent per annum, businesses are paying 15 percent, including a 3 percent “loan fee”. The State Bank of Vietnam instructs banks not to pay more than 10.5 percent for deposits, but banks still more to attract more deposits.

One director of a business said that he was told by a bank that he would have to pay 15.6 percent per annum if he wanted to receive a loan. Meanwhile, the additional 3.6 percent is charged as assessment fees, mortgaged asset management fees and other kinds of expenses. The director said that previously, fees were equal to just half of current levels at 2.5-3 percent.

In other cases, businesses do not have to pay additional fees to lenders, but they still have pay more for loans. A deputy director of a garment company in HCM City said he signed a contract on borrowing 10 billion dong from a bank, but he received eight billion dong only, while the other two billion dong were deposited at the bank as the collateral for the interest the business has to pay.

Nguyen Bang Tam, deputy chairman of the Listing Companies’ Club, said that a lot of businesses are complaining that additional fees are making production costs higher.

The ‘fee collection technology’

Most commercial banks have admitted that they cannot provide loans at the interest rate of 12 percent as set by the State Bank. It is because they cannot mobilize capital at 10.5 percent as stipulated by the State Bank. They have to pay higher to depositors if they want to have capital.

Commercial banks are now sharing with each other their experiences on how to collect additional fees from borrowers and avoid the punishment from the State Bank. Therefore, the “fee collection technology” has become increasingly sophisticated.

A director of an import-export company in HCM City said he was told to sign a “finance consultancy contract”. He had to write a document outlining a business plans complete with problems. He was then requested to ask for the bank’s consultancy assistance. With the contract, he had to pay 1 percent worth of the consultancy fee, which, in fact, is the lending interest rate.

Vietnam is among the 10 countries in the world which have the highest lending interest rates. Many claim that the high interest rates are contrary to the Government’s effort to stimulate the national economy.

The inflation rate in Vietnam is less than seven percent, while the deposit interest rate is up to 10.5 percent, and lending interest rates are between 12 and 15 percent per annum.

The State Bank of Vietnam says it has realized the “abnormality” of the interest rate performance. Therefore, it has instructed banks not to apply overly high interest rates. However, it seems that both bankers and businesses do not want to follow the instructions.

Làm nông nghiệp thu nhập tốt hơn?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:46 pm
Tags:
SGTT – Một bất ngờ lớn trong báo cáo cung – cầu lao động năm 2009 được bộ Lao động – thương binh và xã hội trình Chính phủ, đó là thu nhập của người lao động tự do và lao động nông nghiệp vẫn tốt hơn lao động đã tốt nghiệp đại học.

Thực tế này được đưa ra để lý giải cho việc lao động vẫn thích ở lại nông thôn để làm nông nghiệp, hơn là tham gia đào tạo để trở thành lao động công nghiệp. Đồng thời, vấn đề thu nhập thấp còn được dùng để lý giải cho việc khan hiếm lao động tại nhiều khu công nghiệp hiện nay.

ấp bênh

Theo báo cáo, tiền lương bậc 1 với hệ số lương 2,34 của người vừa tốt nghiệp đại học là 50.700 đồng/ngày, trong khi lao động tự do, lao động nông nghiệp có thể kiếm được 80.000 – 120.000 đồng/ngày. Lao động tốt nghiệp đại học phải làm những việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và khó khăn khi tuyển dụng… thì lao động tự do làm những công việc như gặt lúa thuê, bốc vác… với thời gian ít ràng buộc nhưng thu nhập lại cao hơn.

Đây đúng là một công bố gây bất ngờ, ngay cả với những người đã nghiên cứu lâu năm về sự tồn tại và phát triển của thị trường lao động nước ta. Bởi trước hết nó là một cái nhìn chưa đầy đủ và chưa đúng. Mức tiền lương thấp theo hệ số của lao động tốt nghiệp đại học hiện nay chỉ áp dụng đối với những lao động khu vực nhà nước. Ở khu vực ngoài nhà nước, thu nhập thực tế của người lao động phụ thuộc vào thoả thuận. Thực tế mức lương theo hệ số chỉ được dùng để đóng bảo hiểm xã hội, không phải là thu nhập của người lao động. Theo kết quả một cuộc điều tra về thu nhập của người lao động năm 2009 của chính bộ này, thu nhập bình quân của người lao động trong doanh nghiệp đạt 2,75 triệu đồng/tháng, trong đó cao nhất thuộc về doanh nghiệp nhà nước là 3,2 triệu đồng/tháng, sau đó là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 2,6 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp tư nhân là 2,35 triệu đồng/tháng. Thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp khó đạt được mức này trong nhiều năm nữa.

Kể cả trong trường hợp lao động nông nghiệp và lao động tự do có thể kiếm được 80.000 – 120.000 đồng/ngày thì đây cũng là một công việc bấp bênh. Không ai đảm bảo được cả 30 ngày trong tháng, những lao động này có thu nhập.

40 triệu lao động chưa được bảo vệ

Cùng với mức thu nhập cao hơn hẳn, lao động làm việc trong các doanh nghiệp và khu vực hành chính sự nghiệp, thường được gọi là khu vực chính thức đang được hưởng một chính sách an sinh xã hội tốt hơn. Luật Cán bộ công chức, luật Lao động, luật Bảo hiểm xã hội được ban hành để bảo vệ người lao động ở khu vực này. Tất cả những quy định về mức tiền lương tối thiểu, điều kiện làm việc tối thiểu, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, những việc cấm sử dụng lao động nữ, bảo hiểm thất nghiệp… được quy định chỉ để bảo vệ người lao động làm việc ở khu vực nhà nước và có hợp đồng lao động. Họ còn được bảo đảm bởi các chế độ bảo hiểm xã hội cả ngắn hạn và dài hạn như tai nạn lao động, ốm đau thai sản, lương hưu và tử tuất. Nhưng số lao động ở khu vực chính thức hiện chỉ khoảng 4 triệu người trong tổng số 44 triệu người đang trong độ tuổi lao động ở nước ta.

Trong khi đó, còn tới 40 triệu người đang làm việc trong khu vực phi chính thức hay khu vực không có hợp đồng lao động hầu như đang nằm ngoài các chính sách an sinh xã hội. Chỉ có một nhóm người rất nhỏ thuộc diện khó khăn được hưởng trợ cấp. Còn lại họ không được bảo hiểm việc làm, hưởng lương hưu, trợ cấp nặng nhọc độc hại hay trợ cấp khi bị tai nạn lao động… Tất nhiên, mức thu nhập của họ không cao như báo cáo của bộ Lao động – thương binh và xã hội. Nhìn vào những điều này để thấy vì sao người ta cố thi đỗ đại học và theo đuổi các chương trình đào tạo chắc chắn không phải để nhận được một mức lương thấp hơn người mò cua bắt ốc, mà để có được sự đảm bảo về tương lai vững chắc hơn.

Trong thực tế, vẫn đang có một dòng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị, từ nông nghiệp sang công nghiệp do tương lai của những người nông dân ngày càng bấp bênh hơn vì mất đất sản xuất. Nhưng sự dịch chuyển này không được định hướng, dẫn dắt bởi sự can thiệp từ phía những nhà quản lý thị trường lao động nên nó tự phát trong nhiều năm qua. Đến lúc suy thoái, sự dịch chuyển lao động ít hơn lại đổ tại lương người mò cua bắt ốc cao là không khách quan.

Tây Giang(SGTT)

Công ty Vàng Thế giới (VTG): Ra mắt sản phẩm đầu tư tài chính VTG- VNIndex

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:45 pm
Tags: , ,
SanOTC- Sáng nay, ngày 06/01/2010, Công ty Vàng Thế Giới đã chính thức giới thiệu sản phẩm VTG-VNIndex. Sự ra đời sản phẩm này đánh dấu một mốc quan trọng trong hướng đi mới của VTG. Đây là công ty tiên phong trong việc chuyển hướng kinh doanh sản phẩm lĩnh vực chứng khoán thay cho sàn vàng. Sản phẩm này hứa hẹn mở cho nhà đầu tư chứng khoán một sự lựa chọn mới.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ngưng hoạt động các sàn vàng sau thời điểm ngày 31/03/2010 đã có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các sàn vàng hiện nay. Các đơn vị chủ quản cũng như các sàn vàng buộc phải đưa ra định hướng mới. Một số có kế hoạch mở sang kinh doanh vàng bạc, kim loại quý và thu hẹp dần hoạt động kinh doanh vàng tài khoản. Công ty Vàng Thế Giới (VTG) đã định hướng phát triển các sản phẩm đầu tư tài chính thay thế trong đó có sản phẩm VTG-VNIndex.

Ông Lâm Minh Chánh – Tổng Giám đốc VTG chia sẻ: “ VTG- Index là sản phẩm đem lại tỷ suất lợi nhuận dài hạn cao, theo sát với tỷ suất lợi nhuận của chỉ số VN-Index. Ngoài việc giúp nhà đầu tư loại bỏ hoàn toàn rủi ro cục bộ khi đầu tư vào sản phẩm này; hơn nữa tính thanh khoản của sản phẩm cũng hứa hẹn rất cao”

Tính độc đáo của VTG – VNIndex là cơ chế chuyển nhượng hoạt động giống như cơ chế giao dịch vàng tài khoản: Khách hàng sẽ giao dịch sản phẩm VTG – VNIndex dựa vào sự biến đổi của chỉ số VNIndex. VTG sẽ quản lý tài khoản của nhà đầu tư và chịu trách nhiệm tăng trưởng tài khoản của nhà đầu tư theo sát với sự tăng trưởng của chỉ số VNIndex.

Tỷ lệ đòn bẩy tài chính 5 lần tương đương với tỷ lệ ký quỹ 20% hứa hẹn tỷ suất sinh lời hấp dẫn. Ngoài ra, sản phẩm này đang được giới đầu tư rất quan tâm khi mà một số cơ chế giao dịch: tiền về tài khoản ngay lập tức (T+0); mở trạng thái bằng lệnh mua hay bán ( bán khống) sẽ được áp dụng cho việc chuyển nhượng sản phẩm VTG- VNIndex giữa các nhà đầu tư. Hình thức này hiện chưa được áp dụng khi nhà đầu tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp trên sàn niêm yết.

Bên cạnh đó, nhà đầu tư còn có thể thanh lý hợp đồng với VTG bất cứ lúc nào và nhận được tiền sau ( T+3) kể từ ngày quyết định thanh lý hợp đồng.

Công ty Cổ phần Đầu Tư Kinh Doanh Tài Chính Vàng Thế Giới được thành lập ngày 9/4/2009 với đầy đủ chức năng về kinh doanh, mua bán, tư vấn đầu tư, môi giới vàng, bạc, kim loại đá quý và một số ngành nghề kinh doanh khác về tài chính, thương mại. Vốn điều lệ của công ty là 100 tỷ đồng.

Thông tin thêm về cách thức đầu tư vào VTG- VNIndex:

Quy Trình:

– Khách hàng ký với công ty chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh HSC hợp đồng giao dịch chứng khoán. Trong hợp đồng này khách hàng ủy thác cho công ty Tài Chính VTG quản lý tài khoản khách hàng.

– Khách hàng ký với VTG hợp đồng tư vấn đầu tư và tư vấn quản lý tài khoản.

– Khách hàng quyết định ngày mua sản phẩm VTG-VNIndex, và số đơn vị mua. Số tiền đầu tư bằng = số đơn vị x chỉ số VNIndex x 10.000 VND. (Số đơn vị mua phải là bội số của 10, ví dụ 10 đơn vị, 20 đơn vị, 50 đơn vị…).

– Khi sản phẩm VTG-VNIndex đạt được tỷ suất lợi nhuận mong muốn, khách hàng ra quyết định bán. Sau 3 ngày làm việc (T+3), khách hàng sẽ nhận được tiền mặt = số đơn vị x chỉ số VNIndex x 10.000 VND.

Phí quản lý:

– Phí quản lý là phí mà khách hàng phải trả cho VTG để VTG tư vấn đầu tư và tư vấn quản lý danh mục của khách hàng đạt được tỷ suất lợi nhuận của chỉ số VNIndex. Phí quản lý một năm bằng 2% số tiền đầu tư. Trong trường hợp khách hàng bán ra trong vòng 6 tháng kể từ ngày mua, VTG sẽ hoàn trả cho khách 50% số phí quản lý.

– Phí giao dịch là phí khách hàng phải trả cho VTG để VTG thay mặt khách hàng tiến hành giao dịch hàng ngày nhằm làm cho danh mục đầu tư theo sát chỉ số Index. Phí giao dịch năm bằng 1% số tiền đầu tư. Trong trường hợp khách hàng bán ra trong vòng 6 tháng kể từ ngày mua, VTG sẽ hoàn trả cho khách 50% số phí giao dịch.
Thanh Xuân

Trần Vinh Dự – Việt Nam: Một năm nhìn lại – Kinh tế

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 10:40 pm
Tags: , ,

Việt Nam bước vào năm 2009 trong khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang trên đà tăng tốc. Là một nước tăng trưởng dựa nhiều vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, VN chịu ảnh hưởng lớn từ doanh số xuất khẩu giảm sút và đầu tư nước ngoài thu hẹp. Trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của VN giảm 11.4% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư nước ngoài trong 10 tháng đầu năm chỉ xấp xỉ 25% so với cùng kỳ năm trước. Đây là những thử thách to lớn đối với nền kinh tế và với chính phủ – với tư cách là người lèo lái con thuyền này.

Tin liên quan:

Lèo lái tốt trong khủng hoảng: Trong bối cảnh như vậy, tăng trưởng kinh tế ước tính của năm 2009 vẫn lên tới 5.2% (sau khi đã khấu trừ lạm phát). Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN luôn tăng trưởng trong tất cả 4 quý của năm 2009. Thành tích tăng trưởng này được Ngân hàng Thế giới tán dương với nhận định “kinh tế Việt Nam chèo chống tương đối tốt qua cuộc khủng hoảng,” còn IMF thì tuyên bố Việt Nam chắc sẽ làm tốt hơn các nước láng giềng trong giai đoạn hồi phục.”

Duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối tốt trong điều kiện thế giới chìm đắm trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái rõ ràng là thành tích ấn tượng nhất trong lĩnh vực quản lý kinh tế của chính phủ trong năm 2009.


Hình 1: Chỉ số VN-Index từ cuối 2008 tới nay (Nguồn: Bloomberg)

Thị trường chứng khoán VN (TTCK) hồi phục: TTCK bắt đầu năm 2009 với VN-Index nằm ở mức 315 điểm, sau đó tụt xuống thấp nhất ở mức 235 điểm vào ngày 24 tháng 2 (giảm 25.4%). Từ đó tới nay, TTCK đã hồi phục mạnh mẽ, VN-Index đạt trần vào ngày 22 tháng 10 với mức 624 điểm, tức là tăng khoảng 100% so với hồi đầu năm và 165% so với thời điểm chỉ số này chạm đáy. Tuy nhiên, VN-Index đã liên tục giảm trở lại từ cuối tháng 10 và hiện nay chỉ còn ở mức 440 điểm (số liệu trong ngày 16 tháng 12). Đà giảm điểm này có lẽ còn kéo dài nữa do vấn đề thanh khoản (liquidity) trong hệ thống ngân hàng ở VN.

Thâm hụt mậu dịch và sức ép phá giá tiền tệ: Ngược lại với các điểm sáng kể trên, kinh tế Việt Nam vẫn còn đang gặp phải vô số khó khăn trong ngắn hạn. Thâm hụt mậu dịch quốc tế vẫn liên tục tăng từ hàng chục năm nay tạo nên sức ép thường trực lên giá trị của đồng VND. VN đã phải tuyên bố phá giá 5.4% giá trị đồng VND vào hồi cuối tháng 11 vừa rồi mặc dù chỉ vài ngày trước đó các chính trị gia hàng đầu của đất nước vẫn khẳng định như đinh đóng cột là không có chuyện phá giá.

Đầu tư nước ngoài ít thực chất: Do sức ép phải duy trì được thành tích kêu gọi vốn nước ngoài, Việt Nam đã phải chấp nhận cho FDI đi mạnh vào các khu vực “bong bóng” như bất động sản và du lịch thay vì vào các khu vực công nghệ, kỹ thuật, hạ tầng, hay giáo dục là các khu vực có tác dụng nâng cao năng suất của nền kinh tế về dài hạn. Tỉ lệ FDI đầu tư vào bất động sản trong năm 2008 là 36.8% và trong 10 tháng đầu năm 2009 là 30% ($5.67 tỉ trong tổng số khoảng $19 tỉ). Nếu tính cả số FDI đầu tư vào dịch vụ du lịch thì vốn FDI vào bất động sản và du lịch chiếm tới 76% trong tổng số vốn FDI đầu tư vào VN trong 10 tháng đầu năm 2009.

Khả năng trả nợ của quốc gia ngày càng bị đánh giá thấp: Xếp hạng tín dụng quốc gia đang ngày càng kém đi. Hiện nay các khoản nợ quốc gia của Việt Nam được Moody xếp hạng Ba3 và Standard & Poor’s xếp hạng BB. Hồi giữa năm 2008, Standard & Poor’s đã hạ thấp mức xếp hạng chỉ số tín dụng quốc gia của Việt Nam từ “ổn định” (stable) xuống “tiêu cực” (negative). Một báo cáo gần đây của Nomura còn khuyến cáo rằng Việt Nam đang đứng trước khả năng tiếp tục bị đánh tụt hạng tín dụng. Vì bị xếp hạng tín dụng thấp, khả năng huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài ngày càng khó khăn.

Cuộc đánh đổi giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tín dụng: Việt Nam hứng chịu sức ép lạm phát trong suốt cả năm 2009 do tăng trưởng tín dụng nhanh và giá nguyên vật liệu thô tăng. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tìm cách kiềm chế đà tăng này bằng cách yêu cầu các ngân hàng duy trì mức tăng tín dụng cả năm không quá 30%. Tuy nhiên, chỉ trong 11 tháng từ đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã lên tới 36%. Vì thế, mức lạm phát cả năm hiện nay được dự tính sẽ vào khoảng 6.8%. Ngân hàng phát triển Châu Á hồi cuối tháng 9 vừa qua còn dự báo lạm phát của năm 2010 ở Việt Nam có thể lên tới 8.5% nếu chính phủ tiếp tục duy trì gói kích thích tài chính.

Để ngăn chặn khả năng lạm phát quá cao, hồi cuối tháng 11 này, NHNN đã phải tăng lãi suất cơ bản và yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) hạn chế cho vay vào các mục đích phi sản xuất. Hậu quả là nguồn tín dụng cho chứng khoán và nhà đất bị thu hẹp một cách bất ngờ. Chính vì vậy mà TTCK tiếp tục tụt dốc không phanh, còn thị trường bất động sản thì cũng được VNeconomy mô tả là “bong bóng đang xì hơi.”

Hiệu quả sử dụng vốn quá thấp: Một thước đo thường được sử dụng để xác định hiệu quả sử dụng vốn là Tỉ lệ vốn tăng thêm trên sản lượng (ICOR-Incremental Capital Output Ratio). Ti lệ này cho biết mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn trong sản xuất. ICOR càng cao có nghĩa là Việt Nam càng phải sử dụng nhiều vốn hơn chỉ để sản xuất ra một sản lượng như trước.

Nghiên cứu của Deutsche Bank cuối năm 2007 đã kết luận “không may là hiệu quả của vốn đầu tư của Việt Nam đã ngày càng kém đi trong nhiều năm trở lại đây. ICOR của Việt Nam [năm 2006] là 4.2, cao hơn nhiều so với Trung Quốc khi đó là 3.7 hay Ấn Độ là 3.3.” Theo một nghiên cứu được Intellasia trích đăng lại thì ICOR trong năm 2007 là 4.76.

Có vẻ như chỉ số này của năm 2009 còn kém hơn nữa. Khi được đề nghị dự báo về chỉ số cho năm 2009, ông Bùi Bá Cường của Tổng cục Thống kê đã trả lời: “Đầu tư của nhà nước tăng bất thường lên hơn gấp rưỡi – tính theo giá thực tế, mà tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 5,2% thì rõ ràng là ảnh hưởng đến ICOR rồi.”

Hiệu quả sử dụng vốn thấp đồng nghĩa với giá thành cao và khả năng cạnh tranh của hàng hóa ở Việt Nam sẽ phải kém đi tương đối. Điều này hoàn toàn bất lợi cho một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu. Các lãnh đạo của Việt Nam hiểu rõ vấn đề này, ngay đến như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng bình luận: “ICOR tăng cao thế là rất đáng lo ngại nhưng cần có đánh giá thêm của các nhà khoa học.”

Nền kinh tế “chạy” không nhanh nhưng luôn “quá nóng”: Điểm đau đầu nhất mà chính phủ của Thủ tướng Dũng đang gặp phải có lẽ là kinh tế Việt Nam đang bị coi là ở trong tình trạng “quá nóng” mặc cho tốc độ tăng trưởng không thực sự cao nếu so sánh với tốc độ phát triển kinh tế của các nước Đông Á hay Trung Quốc một vài thập niên trước. Mấu chốt của vấn đề này có lẽ ở chỗ cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang bị mất cân đối nghiêm trọng và cần phải được điều chỉnh về cơ bản.

Hiện nay các chủ nợ như ADB đang kêu gọi Việt Nam nên tăng trưởng chậm lại và tập trung vào giải quyết các vấn đề đang tồn đọng, tái cấu trúc cơ cấu kinh tế nhằm duy trì được khả năng tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Đọc bài: Trần Vinh Dự – Việt Nam: Một năm nhìn lại – Kinh tế (VoA)

Đời sống công nhân da giày: Khốn khó trăm bề

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:14 pm
Tags:

LĐ) – Khi những người lãnh đạo của Liên minh Châu Âu (EU) đặt bút ký quyết định tiếp tục áp thuế chống bán phá giá thêm 15 tháng nữa đối với những đôi giày có xuất xứ từ VN, họ có biết đâu, hơn nửa triệu lao động ngành da giày VN – kèm theo hàng triệu con người ăn theo khác – ngày càng lâm vào cảnh khốn khó trăm bề.

Chúng tôi đã có những ngày rong ruổi nhiều chốn ở của những CN ngành da giày, mới thấy bao nhiêu nỗi khổ đã và đang đè nặng lên từng số phận, từng mảnh đời tha phương… Hơn bao giờ, cuộc sống của hàng trăm ngàn CN da giày VN vẫn chưa qua cơn bĩ cực.

>> Quyết định áp thuế của EU: “Rào cản thương mại trá hình”
>> EU kéo dài thời hạn áp thuế chống bán phá giá giày mũ da Việt Nam
>> Giày mũ da Việt Nam: EU vẫn kéo dài áp thuế chống bán phá giá
>> EU dự định áp thuế với giày mũ da: “Quyết định sai lầm”

Bài 1: Điệp khúc “co kéo, chắt bóp”

Quay trong cơn… bão giá

Phải tới 3 lần canh me, chầu chực, tới lui khu nhà trọ CN nằm trên đường Phạm Văn Chiêu, quận Gò Vấp, TPHCM vào buổi tối, tôi mới gặp được 3 nữ CN Cty giày Huê Phong. Suốt từ sáng cho đến 6 giờ chiều, cả dãy nhà trọ gần như đóng cửa im ỉm. Bà chủ nhà trọ bảo: “CN họ đi làm hết rồi. Chú muốn gặp, phải sau 6 giờ chiều”.

Gặp tôi, Nguyễn Thị Hoa (23 tuổi, quê ở Thanh Hóa) cho biết: “Vừa tan ca, mệt bã người, nhưng em vẫn phải tạt qua mua vài con cá, mớ rau về làm bữa cơm chiều. Tết nhất sắp đến, giá cái gì cũng lên vùn vụt anh ạ. Loáng cái, hết 50.000 đồng cho chỗ cá, rau, mắm muối này đấy ”.

Hoa cho biết, làm CN giày đã 4 năm tròn, lương vẫn không vượt qua mức 2 triệu đồng/tháng. Chi xài trong tháng hết già nửa số tiền trên, ky cóp lắm, mới có dư ra 500.000 đồng để dành dụm gửi về cho bố mẹ ở quê.

Lê Thị Minh Tuyết (24 tuổi, quê Nghệ An) và Quách Tố Hoàn (21 tuổi, quê Hà Tĩnh), cùng làm việc ở Cty giày Huê Phong và sống cùng phòng trọ với Hoa, bộc bạch với tôi: “Chị Hoa được lương 2 triệu đồng/tháng là “thâm niên” đấy; chứ bọn em, mới vào làm được 1 – 2 năm, lương rẻ bèo, chỉ 1,2 – 1,3 triệu đồng/tháng. Chẳng dư giả đồng nào cho gia đình”.

Thật vậy, với mức lương 1,2 triệu đồng/tháng, CN Quách Tố Hoàn nhỏ tuổi nhất, tiêu xài… “hồn nhiên” nhất, nên tháng nào cũng… lủng túi. Hoàn nói: “Biết làm sao được, thời buổi này, với thu nhập cỡ đó chẳng thấm đâu. Em chỉ biết làm được đồng nào, mình lo cho cuộc sống của mình thôi. Khi nào dư dả hẵng hay”.

Đối diện căn phòng của 3 cô gái trên là cặp vợ chồng CN Trương Thị Lê (27 tuổi ) và Nguyễn Văn Định (30 tuổi, cùng quê ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp). Chị Lê bức xúc: “Mới hôm qua, sữa lên giá ào ào, tôi đi mua hộp sữa “lắc” (tức Similac) cho thằng con mà thấy ngao ngán luôn. Tháng trước, 330.000 đồng/hộp, vậy mà bây giờ tới gần 370.000 đồng/hộp”.

Hai vợ chồng chị Lê dìu dắt nhau từ Đồng Tháp lên Sài Gòn làm CN giày đã 5 năm. Tổng thu nhập của cả 2 người chỉ gần 4,5 triệu đồng. Thêm đứa con gần 2 tuổi rưỡi, chị Lê cho biết: “Riêng tiền mua sữa cho con, mỗi tháng đã xấp xỉ 1,5 triệu đồng. Còn lại 3 triệu đồng, phải trả tiền nhà 800.000 đồng/tháng, điện 3.500 đồng/kWh, nước 15.000 đồng/m3… và tiền ăn uống, tiêu dùng hằng ngày; coi như cuối tháng… tay trắng, chẳng dư được cắc bạc nào”.

Xung quanh sự kiện EU áp thuế chống bán phá giá 10% lên sản phẩm giày xuất khẩu của VN vào Châu Âu, chị Lê nói: “CN chúng tôi không rành lắm vụ này. Nhưng hổm rày nghe đài, báo, tivi nói rầm rầm; vô xưởng, được một số chị bên chuyền trưởng giải thích, mới biết sắp tới, đời sống CN còn khó khăn hơn. Chúng tôi cảm thấy lo lắng quá; nhưng biết làm sao đây?”.

Bữa cơm đạm bạc.


Đành phải chắt bóp thôi!

Nếu như cảnh sống của CN Cty giày Huê Phong ở TPHCM quay cuồng, chóng mặt trong bối cảnh nội thị, giá cả leo thang, thì đời sống của hàng vạn CN ngành giày ở khu vực 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai lại khốn khó, héo hắt theo một kiểu khác.

Khu nhà trọ Bình Đường, xã An Bình, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương – nơi được coi như là một “ốc đảo” CN ngành da – giày. Ước chừng có tới 50 Cty, nhà máy gia công, sản xuất giày xuất khẩu tập trung ở đây như: Thái Bình, Duy Hưng, An Lộc, Đồng Hưng, Freetrend, Việt Lập, Liên Phát… Hơn 100.000 CN ngành da – giày đang sinh sống rải rác ở khu vực này.

Tại khu nhà trọ CN Bình Đường, có dãy nhà trọ kéo dài gần 100 phòng, với vô số CN từ mọi miền đất nước, tụ tập về thuê nhà trọ, chen chúc nhau sống trong điều kiện môi trường hết sức thấp kém.

Khi tôi tới một dãy nhà trọ có độ 40 phòng, cách khu dân cư Bình Đường 2 khoảng 300m, cũng là lúc trời chập choạng tối. Hàng trăm CN lũ lượt tan ca, đổ về khu nhà trọ… Tại một phòng trọ, có 8 CN từ các tỉnh phía bắc vào làm việc và sống chung với nhau.

CN Lê Thị Minh Hoài (25 tuổi, quê Thái Bình) cho tôi biết: “Thu nhập của CN ngành giày không cao, bình quân 1,7 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, áp lực công việc rất căng. Có thời điểm đơn hàng nhiều, tăng ca liên tục. Về tới nhà trọ đã 9 – 10 giờ đêm, bọn em không còn hơi sức đâu để mà nấu ăn nữa. Lại mì gói, đun sôi ấm nước đổ vào, vơ vội vào miệng cho dạ dày bớt cồn cào… Xong là mạnh đứa nào đứa nấy lăn ra nền nhà, sàn nhà ngủ để mà lấy sức, sáng mai tiếp tục cày”.

Tôi thắc mắc: “Nếu vậy, chắc bọn em dư tiền nhỉ. Vì lương làm ra, có tiêu xài gì đâu ?”. CN Đặng Thị Ngoan (22 tuổi, quê Bắc Ninh), hiện đang làm cho Cty giày Liên Phát – xởi lởi cho biết: “Vậy mà cuối tháng, đa phần chúng em không bao giờ có dư. Nếu có dư, chúng em đã không than thở. Cũng có người cố gắng chắt bóp, mới có được chút ít gửi về giúp bố mẹ ngoài quê”.

CN Lê Văn Nam (26 tuổi, quê Nam Định) – CN Cty giày Việt Lập – giải thích: “Hàng loạt khoản chi, nào là tiền thuê nhà trọ, tiền điện, tiền nước…; với bọn đàn ông chúng em, lại thêm khoản càphê, thuốc lá, em út…; nên 1,7 triệu đồng tiền lương mỗi tháng, hết vèo ấy mà. Nói tóm lại, CN da – giày còn khổ lắm lắm”.

Chiều hôm ấy, thay vì phải mua ít thịt về để kho mặn, ăn với canh rau muống; nhóm nấu ăn chung 3 người của CN Đặng Thị Ngoan đã phải chuyển sang mua đậu hũ chiên, chấm mắm tôm thay cho món mặn. Họ cho biết, tới lúc này, Cty chưa phát lương, ai cũng cạn tiền túi, nên đành phải chắt bóp, tiết kiệm từng ly từng tí ngay trong bữa ăn hằng ngày. “Thậm chí, có hôm chúng em chỉ nấu duy nhất một nồi canh với 1 quả trứng vịt, 2 trái cà chua; sau đó, 3 đứa xì xụp… húp, ăn canh trứng – cà chua với cơm trắng. Vậy cũng xong”.

Ăn uống thất thường kiểu ấy, chả trách không ít CN, dường như thiếu cái gì đó của cái gọi là nhựa sống, trẻ trung mà lẽ ra phải thấy ở lứa tuổi của họ. Trái lại, trước mắt tôi, 3 nữ CN, phải nói là rất đẹp, có duyên; thế nhưng, những vất vả lo toan, mưu sinh trong cuộc sống hằng ngày, kèm theo ăn uống thất thường đã khiến cô nào cũng có một nước da xanh mét, đôi mắt thiếu ngủ, cơ thể thiếu cân…

CN Lê Văn Nam – “bật mí” với tôi: “Cty giày của em đã cảnh báo rồi, đơn hàng trong quý I/2010 sẽ cạn. Sắp tới, nguy cơ sẽ thưa vắng khách hàng, CN bọn em sẽ đối mặt với thiếu việc dài dài…”. Nam không hiểu điều mà Nam nói ra, chính là tác động xấu từ việc EU áp thuế chống bán phá giá đối với ngành da – giày của VN. Song, anh chàng này cũng nói rằng, lương chờ việc chỉ 1 triệu đồng/tháng. Nếu qua 3 tháng mà Cty vẫn không có việc làm, Nam sẽ quay trở lại quê làm ruộng với gia đình.

2 công nhân Đặng Thị Ngoan và Lê Thị Liễu sẽ không về nhà ăn tết, vì sợ mất việc làm, nếu trắc trở tàu xe, không vào kịp…


Hơn 500.000 CN da – giày đối mặt với… thất nghiệp

Theo ông Nguyễn Đức Thuấn – Chủ tịch Hiệp hội Da – giày VN: “Sự kiện vừa qua, chúng tôi không bất ngờ. Hơn 3 năm qua, ngành da – giày VN đã phải gánh chịu sự “áp giá” bất công này từ phía EU. Trong năm 2009, với rất nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế thế giới, đầu tư trong nước giảm sút, tiêu dùng của thị trường thế giới suy giảm… vậy mà ngành da – giày VN còn phải đối mặt với 2 thách thức, chỉ trong thời gian rất ngắn ngủi: Tháng 7.2009, bị EU cắt ưu đãi thuế quan GSP và tháng 12.2009, tiếp tục bị áp thuế chống bán phá giá thêm 15 tháng nữa. Tất cả những đối xử bất công này đều tác động rất xấu đến toàn bộ ngành sản xuất da – giày của VN”.

Ông Nguyễn Văn Khánh – Tổng Thư ký Hội Da – giày TPHCM – cho rằng: “Cả nước có khoảng 200 DN sản xuất da – giày và xuất khẩu ra thị trường thế giới (chủ yếu là vào EU). Toàn ngành da – giày có khoảng 650.000 CN; việc áp thuế chống bán phá giá 10% cho giày VN vào EU; đồng nghĩa, mỗi đôi giày VN phải cõng thêm 10% tiền thuế. Lợi nhuận DN sẽ giảm trầm trọng, kéo theo, họ phải cắt bớt thu nhập của hàng trăm ngàn CN.

Chưa kể, do phải chịu thuế bất công, các nhà đầu tư sẽ bắt buộc phải chuyển đầu tư vào những quốc gia không bị áp thuế như: Ấn Độ, Campuchia, Indonesia, Bangladesh… Điều gì sẽ xảy ra với hơn nửa triệu CN Việt Nam, một khi các nhà đầu tư chuyển hướng? Đó là nguy cơ hơn nửa triệu CN ngành da – giày của VN sẽ phải đối mặt với thất nghiệp”…

Something fishy is going on Visiting a fish sauce factory in Vietnam is like going on a wine-tasting tour of a vineyard, only a more pungent experience

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:54 am
Tags: , ,
The Straits Times (Singapore)
January 5, 2010 Tuesday
Something fishy is going on
Visiting a fish sauce factory in Vietnam is like going on a wine-tasting tour of a vineyard, only a more pungent experience

Gemma Price

When cruising through Normandy in France, you might stop to pick up a few rounds of Camembert. While in Spain, you would want to sample some of the finest Iberian acorn ham as you stand in a forest of suspended hams at a Seville charcuter?a.

In Vietnam, the speciality is fish sauce and I was keen to sample some of this highly prized tincture in its purest form.

My quest took me to Phan Thiet, a sunny beach town located 200km east of southern economic hub Ho Chi Minh City. In recent years, this picturesque sequence of sandy bays has been popularised as one of Asia’s top kite-surfing destinations. But the region’s main industry, fishing and the manufacture of fish sauce, is still going strong.

The distinct – and stinky – brown liquid forms the foundation of Vietnam’s rich and varied cuisine, and is a fixture at almost every Vietnamese meal. Nuoc mam, or fish sauce, can be used at any stage of the cooking process: as a marinade for meat, a stock base, added for flavour or diluted to create a light dipping sauce.

It is one of Vietnam’s proudest culinary traditions and, like a fine wine or mature cheese, quality ranges from simple working kitchen standard to high-end connoisseur specialities.

The Sao Vang Dat Viet (Vietnam’s Golden Star) is awarded to the creme de la creme and competition is fierce. There are around 600 nuoc mam factories of different sizes in Binh Thuan province, producing a combined total of 36 million litres a year.

The provincial capital Phan Thiet and nearby town of Muine are recognised as the country’s leading sources of fish sauce, and an excursion to the local factories is an interesting, albeit overwhelming, sensory experience.

At Phan Thiet’s Fish Sauce Joint Stock Company (Fisaco), the biggest operation of all which produces 16 million litres of nuoc mam every year under four brand names, curious gastronomes are offered a somewhat smellier take on a wine-tasting tour: a guided stroll around the compound to see the process in all its olfactory foulness as well as the opportunity to sample some of the finished products.

The tours, which are free, are conducted from Mondays to Fridays, from 9am to 5pm.

‘Anchovies or salmon are best but you can use pretty much any fish. We collect ours from the port or market as soon as the fishermen dock every morning,’ explained my tour guide as we meandered between the jars and barrels.

‘The fast option is to put fish into 30-tonne wooden tanks called leu at a fish to salt ratio of 10 to four, or three to one,’ he continued. ‘We don’t wash the fish first – they have already been washed by the sea – and the run-off (the salt and water mixture that runs through the layers of fish and sinks to the bottom) from the fish is removed through a hole in the bottom of the tank, and put through the tank again and again. Within five days, we can take the first fish sauce.’

Once the first high-grade sauce has been decanted from the festering cocktail, manufacturers will add more salt and water to produce another 60 litres of low-grade product. Like with olive oil, the quality of the first collection is the best. Rich, dark and pungently aromatic, this black gold earns the makers around 40,000 dong (S $3) a litre.

‘The other, more traditional method is to layer fish sauce and salt in jars under the sun and wait for three months while natural hydrolysis occurs,’ said the tour guide.

This low-tech method has been used by fishing families all over Binh Thuan province for generations. Most of the families do not offer tours as a matter of course, but it seems everyone knows someone with a boutique outfit. Just mentioning my interest in trying the local speciality at a beachfront cafe was enough to secure an invite to one of the staff’s uncle’s nuoc mam shop.

A 15-minute motorbike ride later, I found myself in a lean-to shack fronting a family-owned yard along Muine beach’s main stretch.

Under the shade of a rickety corrugated iron roof fringed by coconut trees, a girl dressed in pink floral pyjamas and, incongruously, white heavy-duty rubber boots squatted over a collection of dish bowls, cutting the dorsal fins of a dead, bleached-pink perch.

Catching sight of us, she waved cheerily and gestured towards the yard out back, where immense clay jars arranged roughly in three haphazard rows bore the full brunt of the scorching midday sun, some topped with bamboo lids, some capped with recycled rubber tyres, and all elevated from the sandy ground on chunks of house brick.

In Muine, statistically Vietnam’s most sunny locale, the midday sun is unforgiving. But here in the yard the air seemed to shimmer more from the rank stench than the tropical heat. In each of the still, solemn brown bellies a wickedly mephitic mix was silently festering away – a salty cocktail of rotting, fermenting fish that could singe nose hair at 100 paces.

‘It’s very important to keep the temperature constantly high – a higher temperature means better fish sauce,’ explained my waitress-cum-tour guide Nhu from beneath her newspaper sun visor.

‘After a few months, you draw the nuoc mam off and filter it. Each of these jars has a capacity of 400 litres and the first tapping will give 100 litres of premium nuoc nam.’

In the past, local producers would give bus drivers ferrying tourists between Nha Trang and Ho Chi Minh City a tip to stop at their factory shop. Militant schedules imposed by tour companies have meant this practice has stopped completely. Besides, let’s face it, when you are happily snoozing away the 10-hour jaunt between the two destinations, an opportunity to experience one of the most offensive smells on the planet is not much of an incentive to get up.

Now it is only Fisaco that offers a taste tour.

Standing among wooden barrels surrounded by an assortment of bottles, I felt like I was attending a wine tasting at a vineyard – apart from the smell, of course.

The Vietnamese even package and promote their brands just like a fine wine. ‘Purity and well-balanced flavour’, proclaimed the Fisaco brand label. The nose was not unpleasant: Rich, acrid, meaty, it was reminiscent of Bovril and Worcester sauce.

On the palate, the caramel liquid was salty, with well-rounded salmon tones that developed quickly on the tongue. When used as a dip, marinade or sauce base, nuoc mam is commonly mixed with lime juice, water and sugar.

But even undiluted I found it flavourful and extremely appetising. I bought three bottles (15,000 to 40,000 dong a bottle) and then went in search of some of Phan Thiet’s more pleasurable aromas at the Princess d’Annam resort, Vietnam’s first all-villa boutique luxury resort 35km south of the Fisaco factory.

stlife@sph.com.sg

Gemma Price is a freelance writer based in Ho Chi Minh City.

Blog at WordPress.com.