Ktetaichinh’s Blog

January 5, 2010

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Việt Nam cần tạo bước ngoặt đột phá để phát triển

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:44 am
Tags: , ,
Năm 2009, Việt Nam đã bước qua ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Nhìn lại 10 năm đầu của thế kỷ 21, chúng ta rút ra được những bài học gì, những kinh nghiệm gì để chuẩn bị cho bước phát triển của thập kỷ tiếp theo và lâu hơn nữa. Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh xung quanh vấn đề này.

* PV: Ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế Việt Nam năm 2009?

* TS LÊ ĐĂNG DOANH: Năm 2009, VN đã vượt qua được tác động của cuộc khủng hoảng tương đối nhanh, nhưng không nhẹ nhàng, hệ quả của nó không thể xem thường. Cùng với đà hồi phục kinh tế thế giới, VN đã tăng trưởng trở lại nhờ những gói kích thích kinh tế của chính phủ, hỗ trợ lãi suất… Nhưng quan trọng là sự nỗ lực của các doanh nghiệp (DN) và nhờ vào một nền nông nghiệp hoạt động có hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực… Người lao động đã có việc làm trở lại mặc dù người lao động trong lĩnh vực phi hình thức như làng nghề, hộ cá thể, thợ thủ công vẫn còn khó khăn.

* Nhìn lại 10 năm qua, theo ông, kinh tế VN đã có những phát triển như thế nào?

* Trong 10 năm qua, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng. Cơ cấu xuất khẩu vẫn chủ yếu là dầu thô, than đá, cà phê hạt, da giày, may mặc… là những sản phẩm có ít giá trị gia tăng, ít hàm lượng chất xám, trí tuệ của dân tộc VN, con người VN.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2006, 73% tổng tài sản quốc gia của VN là tài nguyên thiên nhiên, 20% là tài sản vốn vật chất đã xây dựng (như kết cấu hạ tầng) và chỉ khoảng 7% là tài sản vốn vô hình (tri thức, vốn con người được đào tạo, công nghệ…) trong khi ở các nước OECD (có thu nhập trên 10.000 USD/người), các chỉ số này là 2%, 17% và 80%.

Hiện nay, việc khai thác tài nguyên VN đã đi gần đến giới hạn tự nhiên. Trong khi đó, từ năm 2006 đến nay, trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), VN tụt liên tục 11 bậc so với trước đó, từ 64 xuống 75/133 nền kinh tế, còn Trung Quốc tăng liên tục, từ 35 lên thứ 29/133.

VN đang đứng trước yêu cầu bức bách phải cải cách để nắm bắt cơ hội phát triển. Chúng ta đã có tiến bộ trong việc thực hiện đội nón bảo hiểm… nhưng trật tự giao thông và giảm tai nạn giao thông chậm tiến bộ. Chúng ta đã dùng những ngôn từ mạnh mẽ nhất để lên án nạn tham nhũng như “nội xâm”, đã ban hành Luật Chống tham nhũng, nhưng kết quả chống tham nhũng trên thực tế còn rất hạn chế.

Trong 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999, đã bãi bỏ được 186 giấy phép con, nhưng nền hành chính của chúng ta đã thay đổi bao nhiêu khi số giấy phép con đã tăng lên quá số đã bãi bỏ. Chúng ta có nhiều năm cố gắng nâng cao chất lượng giáo dục, cải cách giáo dục nhưng rõ ràng là chưa đạt hiệu quả mong muốn. Chúng ta mới chủ yếu xuất khẩu lao động tay nghề thấp, chưa xuất khẩu được bác sĩ, chuyên gia giỏi được đào tạo từ nền giáo dục của chúng ta.

Ô nhiễm môi trường sống tại thành thị và nông thôn ngày càng trầm trọng hơn. Vụ hơn 3.000m³ gỗ trôi xuống hạ nguồn sau cơn bão số 9 vừa qua cho thấy mức độ phá rừng rất nghiêm trọng, không đơn thuần là những vụ phá rừng lẻ tẻ do lâm tặc mà đây là những vụ phá rừng có quy mô lớn. Rõ ràng là trong những lĩnh vực kể trên, chúng ta đã tiến lên rất chậm, dưới sự mong đợi của người dân.

* Kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường, theo ông, chúng ta cần làm gì để phát triển căn cơ, bền vững hơn?

* Thay vì tăng trưởng theo chiều rộng, chúng ta phải tăng trưởng theo chiều sâu, tạo thêm giá trị gia tăng cao hơn từ mỗi đơn vị nguyên liệu, nhiên liệu. Thay vì tăng lượng gạo xuất khẩu, chúng ta phải nâng cao chất lượng gạo, giảm thất thoát sau thu hoạch, chế biến các sản phẩm từ gạo, từ cà phê, từ các sản phẩm thủy sản, nông sản thay cho xuất thô như hiện nay. Để đạt được điều này, chúng ta không chỉ đầu tư vào công nghệ, đào tạo lao động mà cần có kết cấu hạ tầng hiện đại, bộ máy hành chính chuyên nghiệp, trong sạch, doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế. Không thể chấp nhận gạo, cà phê, hàng thủy sản Việt Nam chỉ xuất thô trong khi lao động cần việc làm.

Chúng ta cần tạo bước ngoặt, một bước phát triển vượt bậc. Trước hết phải tiếp tục cải cách thể chế cho nền kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường phát huy sự năng động, sáng tạo và huy động nguồn vốn từ nhân dân; cải cách bộ máy nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân. Người dân có quyền tiếp cận thông tin, cần ban hành luật về trưng cầu dân ý, vận động hành lang và thực thi các luật một cách nghiêm túc. Có những cơ quan chăm lo lợi ích lâu dài cho dân tộc và không bị tác động bởi những lợi ích nhóm.

Về giáo dục, cần đào tạo người lao động VN có kỹ năng, kỷ luật, khao khát sáng tạo, năng lực sáng tạo và có không gian sáng tạo một cách thực chất. Có không ít sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài tuy muốn về Việt Nam làm nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại phải ra nước ngoài. Không hẳn vì tiền mà vì họ không có đủ không gian sáng tạo, một môi trường làm việc để phát huy hết khả năng, và một môi trường tôn trọng người lao động. Hiện nay, hầu hết sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học đều giỏi đến hết năm thứ 2 vì đây là thời gian học những môn cơ bản. Nhưng sang những năm tiếp theo, khi học những môn đòi hỏi tư duy độc lập, sáng tạo thì số sinh viên giỏi của Việt Nam giảm rất nhiều và đến khi tốt nghiệp thì số sinh viên giỏi còn rất ít.

Giáo dục là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn dân, hiện nay ngành giáo dục của chúng ta đang nỗ lực một cách đơn độc mà chưa thật sự có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Không chỉ cải cách giáo dục mà phải cải tổ cả hệ thống. Đây là trách nhiệm của toàn xã hội, của toàn dân.

* Xin cảm ơn ông!

CHIẾN DŨNG (thực hiện)

Kinh tế năm qua: Bốn hạn chế từ góc nhìn thống kê

Năm 2009 kết thúc với toàn cảnh kinh tế Việt Nam khá sáng sủa. Nhiều chỉ tiêu vĩ mô đã xoay chuyển từ suy giảm sang tăng trưởng ở mức khá: GDP tăng vượt mục tiêu, lạm phát được kiềm chế, sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh chóng, đầu tư trong nước khơi thông, tỷ lệ hộ nghèo giảm…

Tuy nhiên, nổi lên trong năm qua là 4 hạn chế yếu kém, tồn tại ngay trong những kết quả đạt được. Tổng cục Thống kê đã làm rõ những vấn đề này tại buổi họp báo công bố số liệu kinh tế – xã hội năm 2009, tổ chức ngày 31/12.

Thứ nhất, nhận xét về kết quả tăng trưởng 5,32% trong năm nay, Tổng cục Thống kê cho rằng GDP tuy đã tăng lên, vượt qua giai đoạn suy giảm, nhưng tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng các nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả.

Năm 2009, vốn đầu tư phát triển đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Với kết quả này, tỷ lệ đầu tư so với GDP đã tăng từ mức 41,3% trong năm 2008 lên mức 42,8% năm 2009. Tuy nhiên, tăng trưởng lại sụt giảm từ mức tăng 6,18% xuống 5,32%.

“Tăng trưởng chưa thật vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao… Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Đức Hòa nhận xét.

Làm rõ thêm quan điểm cấp lãnh đạo cao nhất của mình, Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia Bùi Bá Cường cho biết thêm, năng suất các yếu tố tổng hợp TFP có xu hướng giảm trong những năm gần đây.

Theo tính toán của ông Cường, giai đoạn 2004 – 2009, TFP khoảng 15,1%. Trong khi đó, giai đoạn 2003 – 2008 là 15,53%. “Như vậy là đóng góp vào tăng trưởng có giảm”, ông Cường nhận xét.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tuy bước đầu có chuyển dịch nhưng vẫn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đối cao của khu vực sản xuất vật chất.

Năm 2009, cơ cấu tổng sản phẩm 3 khu vực kinh tế chủ chốt bao gồm nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ lần lượt là 20,66%; 40,24%; và 39,1%. Tổng cục Thống kê cho rằng tỷ trọng này không khác nhiều so với năm 2008 và những năm gần đây.

“Cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm còn bất hợp lý, chưa phát huy khả năng, thế mạnh của mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước”, Thứ trưởng Hòa dẫn lại nội dung báo cáo trong phần phát biểu của mình.

Thứ ba, Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc.

Cụ thể, nhập siêu hàng hóa năm 2009 tuy giảm 32,1% so với năm 2008 nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa; nhập siêu dịch vụ bằng 18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm 2008. Trong khi đó, kiều hối được dự báo sẽ giảm khoảng từ 1 đến 1,2 tỷ USD trong năm nay; dòng vốn FDI giảm lượng vốn chảy vào và tăng lượng tiền rút ra…

Một số chuyên gia cho rằng thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể năm nay sẽ nghiêm trọng hơn so với nhiều năm trở lại đây.

Một điểm đáng chú ý khác, lạm phát trong năm 2009 tuy đã được khống chế nhưng nhìn chung giá cả ngày càng tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao.

Phân tích các yếu tố gây áp lực tăng lạm phát hiện nay, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại Dịch vụ Giá cả Nguyễn Đức Thắng trước đó cho rằng, tác nhân có cả cầu kéo, chi phí đẩy và nhập khẩu lạm phát.

Đồng tình với quan điểm này ông Cường phân tích thêm, tăng trưởng cung tiền M2 đã đạt gần 29%; trong khi đó, tín dụng cho nền kinh tế cũng tăng gần 38%. Trong tương quan so sánh tiền – hàng, tăng trưởng GDP thực tế chỉ 11,4% trong năm nay không thể tạo vị thế cân bằng. Thêm vào đó, mức thâm hụt ngân sách tuy đã được khống chế nhưng đã lên tới 7% GDP trong năm nay.

Trong khi đó, lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh tăng lên, chưa kể phụ phí đươc có xu hướng gia tăng trong hoạt động ngân hàng. Trong khi đó, chi phí tiền lương cũng sẽ tăng trong năm 2010. Nhưng ngược lại, nhiều chính sách hỗ trợ đã được cắt giảm vào cuối năm 2009 vừa qua. Có nghĩa rằng, doanh nghiệp phải thêm chi phí.

Thêm nữa, xu hướng tăng giá của thế giới là rõ ràng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng sắp tới sẽ phải tăng nhập khẩu nguyên, nhiên liệu đầu vào.

Thứ tư, Tổng cục Thống kê cho rằng một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục; đời sống nhân dân, nhất là người có thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người và vùng bị ảnh hưởng của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn.

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp với tỷ lệ thất nghiệp là 2,9%, cao hơn mức 2,38% của năm 2008; tỷ lệ hộ nghèo tuy đã giảm nhưng vẫn còn 12,3% (năm 2008 là 13,4%).

Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông tiếp tục gia tăng; tình trạng vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện trên tất cả các khâu từ sản xuất đến bảo quản, giết mô và chế biến gia súc, gia cầm, thủy sản, báo cáo của Tổng cục Thống kê chốt lại.

Anh Quân

TBKTVN

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: