Ktetaichinh’s Blog

January 5, 2010

Mối lo “chợ đen” trong lòng ngân hàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:14 pm
Tags: ,
Lãi suất VND trên thị trường tiếp tục nóng thêm, trong khi không gian để cung cầu vốn hoạt động vẫn ngột ngạt. Bởi vậy, không ít ý kiến cho rằng, đang xuất hiện sự thỏa thuận ngầm giữa một số ngân hàng và khách hàng để “qua mặt” cơ quan quản lý.
Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản của tháng 1/2010 tiếp tục giữ nguyên 8%/năm và như vậy, lãi suất thương mại tiếp tục duy trì mức tối đa là 12% /năm.

Ba lý do làm cầu vốn tăng
Quan sát trên thị trường hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều đẩy lãi suất huy động – cho vay lên mức cao nhất có thể được. Lãi suất huy động bình quân đối với kỳ hạn 12 tháng, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước duy trì từ 10,4% – 10,49%/năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần để ở mức 10% – 10,49%/năm nhưng đối với cho vay bình quân, kể cả ngắn hay trung, dài hạn, hai nhóm trên đều duy trì mức kịch trần 12%/năm.
Trước thực tế này, ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) nhận xét: “Lãi suất nóng lên là do nhu cầu huy động vốn trên thị trường đang rất căng thẳng” và tình trạng này xuất phát từ ba lý do.
Đầu tiên, với việc quy định không cho phép ngân hàng thương mại sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu cho vay đối với nền kinh tế, đã khiến cho sức ép về nhu cầu vốn tại các ngân hàng này tăng mạnh, mặc dù đây là quy định hết sức đúng đắn.
Tiếp theo, trong khi đó, các doanh nghiệp sau thời kỳ cầm chừng để duy trì tồn tại trong 2009 thì khi bước sang 2010, tình hình kinh tế hồi phục khá mạnh mẽ nên nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất được tăng lên, dẫn đến nhu cầu vốn tăng lên.
Như vậy, ngân hàng đứng giữa hai áp lực: huy động và sử dụng vốn. Cụ thể, trong khi nguồn vốn của chính mình không được dồi dào do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố kênh dẫn vốn từ thị trường liên ngân hàng để cho vay ra nền kinh tế bị “đóng cửa” thì nhu cầu vốn từ phía doanh nghiệp tăng lên. Hai áp lực này dồn nén, buộc ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư nhiều hơn. Điều này có thể nhìn thấy rất rõ qua mức lãi suất huy động và các chương trình khuyến mãi mà ngân hàng thương mại tung ra.
Lý do cuối cùng, trong điều kiện trên, hành vi người gửi tiền cũng khác so với 2009. Chẳng hạn, thay vì gửi 4, 6 tháng hay một năm thì họ chỉ gửi một tuần, nhưng về phía ngân hàng thì không thể huy động một tuần rồi cho vay một tuần được, nên họ găm lại tại ngân hàng mình. Và như thế, hành vi của ngân hàng cũng khác đi và điều này làm cho hệ số tạo tiền trong nền kinh tế bị nhỏ lại.
Cán bộ đầu tư một ngân hàng khác bổ sung thêm một lý do nữa là khi Ngân hàng Nhà nước tung ngoại tệ ra thị trường để bình ổn thị trường ngoại hối vừa qua, mặc dù cơ quan này vẫn thực hiện chu kỳ “bơm – hút” thông qua nghiệp vụ thị trường mở nhưng trong ngắn hạn, chúng cũng góp phần làm cho kênh hút vốn của ngân hàng thương mại bị thu hẹp bớt.
Tiền đề cho rủi ro đạo đức
Với những gì đang diễn ra, đã phản ánh rất đúng quy luật “cầu tăng, cung giảm thì giá tăng”, cộng thêm yếu tố mức lãi suất cơ bản giữ nguyên 8%/năm do Ngân hàng Nhà nước công bố có hiệu lực từ tháng 1/2010, do đó lãi suất thương mại tối đa chỉ 12%, đã xuất hiện nghi ngại có tình trạng “thỏa thuận ngầm” với nhau về giá vốn giữa một số ngân hàng và bên gửi tiền, cũng như giữa ngân hàng và bên vay vốn.
Liên quan đến vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia nói: “Thị trường bao giờ cũng hành xử theo đúng quy luật, nếu để thị trường hoạt động bình thường thì lãi suất luôn phản ánh đúng mức giá vốn, nếu bóp méo chỗ này, sẽ phình chỗ khác, làm giảm chỗ nọ, chúng sẽ tự điều chỉnh tăng chỗ kia”.
Ông Nghĩa cho rằng, giữa thị trường và ý chí chủ quan của con người luôn là cuộc rượt đuổi không có điểm dừng. Vì vậy, nếu xuất hiện một chính sách lãi suất và tỷ giá không hợp lý thì thậm chí, “chợ đen” sẽ diễn ra ngay trong lòng hệ thống ngân hàng, chứ không chỉ ở ngoài đường phố, dẫn đến xuất hiện hai loại tỷ giá chính thức – tỷ giá ngầm thỏa thuận với nhau và đối với lãi suất cũng tương tự.
Điều này cũng xảy ra ngay cả đối với thị trường liên ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất đối với loại giao dịch này không được quá 12%/năm, nhưng thực tế là bao nhiêu thì người trong cuộc biết rất rõ, trong khi hợp đồng ký với nhau vẫn 12%/năm!
Cũng từ thực tế này, một chuyên gia tài chính lo âu: “Đó chính là tiền đề xuất hiện rủi ro đạo đức, làm tha hóa phẩm chất của một số cán bộ ngân hàng. Nếu kéo dài, hậu quả rất khó lường và vô hình trung, việc tự mình lôi kéo “chợ đen” vào ngân hàng là khó tránh khỏi”.
Điều này cũng lý giải vì sao ở Mỹ, với hệ thống giám sát rủi ro rất hiện đại, nghiêm minh và hệ thống thông tin công khai, minh bạch, nhưng tất cả đều bất lực trước rủi ro đạo đức. Bởi chẳng có hệ thống giám sát nào “quản” thứ rủi ro này. Tổng thống Mỹ Barack Obama khi nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính đã thừa nhận: “Toàn bộ hệ thống giám sát từ giám sát nội bộ của ngân hàng thương mại đến hệ thống giám sát của chính quyền đều bất lực trước rủi ro đạo đức”.
Vị chuyên gia tài chính nói trên cho rằng, đối với sự phức tạp của một phần thị trường tiền tệ hiện nay, cần lường trước và sẵn sàng đón nhận những diễn biến không mong đợi như nói trên để sớm giải quyết dứt điểm “hai chế độ tỷ giá, hai chế độ lãi suất” trong cùng hệ thống ngân hàng. Được như vậy, ngành ngân hàng không những giảm thiểu được rủi ro đạo đức, mà cơ quan quản lý cũng không đánh mất vai trò của chính mình.
Theo VNE

Đua lãi suất và năng lực quản trị, điều hành

Trên danh nghĩa lãi suất huy động VND hiện chưa vượt rào 10,5%/năm. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng khẳng định các ngân hàng thương mại không có vấn đề gì về thanh khoản.

Thế nhưng, sự căng thẳng về nguồn VND đang ở đỉnh điểm khi một tháng qua lãi suất huy động trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường dân cư đều liên tục bị đẩy lên.

Lãi suất huy động: Xoay các kiểu

Trên bảng lãi suất, chưa có ngân hàng thương mại nào công bố mức lãi suất huy động vốn từ khu vực dân cư vượt mức 10,5%. Nhưng nếu nhìn vào các chiêu của ngân hàng thương mại thì thấy họ đang “nóng” đến mức nào trong việc huy động vốn.

Hầu hết các ngân hàng thương mại đều tung ra tất cả những chiêu có thể để thu hút khách hàng. Mức lãi suất thưởng thấp nhất mà các ngân hàng đưa ra ở mức 0,05 % và cao nhất có thể lên đến 0,42%/năm.

Do đó, thực tế khi cộng lãi suất từ các hình thức thưởng (thưởng tiền, thưởng lãi suất, lãi suất cho sản phẩm huy động đặc biệt) thì lãi suất huy động của nhiều ngân hàng thương mại đã vượt rào 10,5%/năm.

Trên thị trường liên ngân hàng, theo công bố của NHNN, doanh số giao dịch trong tuần gần đây nhất đạt xấp xỉ 120.350 tỷ VND và 2.033 triệu USD, tăng tiếp 8.507 tỷ đồng và 580 triệu USD so với trung tuần tháng 12/2009.

Đây là tuần thứ ba liên tiếp giao dịch trên thị trường này tăng cao. Sự căng thẳng về thanh khoản còn thấy rõ hơn khi doanh số giao dịch kỳ hạn qua đêm và 1 tuần chiếm tỷ trọng lớn nhất; trong đó giao dịch kỳ hạn 1 tuần chiếm 46%/tổng doanh số giao dịch.

Và tất nhiên, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục tăng lên trên 10%/năm. Hiện lãi suất bình quân qua đêm đang ở mức 10,71%/năm.

Lãi suất bình quân cao nhất, theo công bố của NHNN là 12%/năm nhưng lãnh đạo một ngân hàng thương mại cho biết, muốn có con số này trên thực tế thì phải cộng thêm vài điểm phần trăm nữa.

“Quân tử” phòng thân?

Tăng trưởng tín dụng quá cao là nguyên nhân chính khiến thị trường huy động vốn căng thẳng như hiện nay. Theo thống kê của NHNN, hiện tăng trưởng tín dụng đã ở mức 37,7% – cách xa con số 25% mà NHNN đưa ra hồi đầu năm và vượt gần 8% so với “phanh” dự kiến của NHNN trong những tháng cuối năm là 30%.

Thực tế, việc tăng trưởng tín dụng đã được NHNN và cả các ngân hàng thương mại lường trước do chương trình hỗ trợ lãi suất (tính chung là có đến 5 chương trình) được triển khai từ đầu năm đến nay.

Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất tuy ở mức hơn 445.000 tỷ đồng, song đây chính là lực đẩy khiến “con tàu tín dụng” không sao phanh lại được, dù NHNN liên tục có cảnh báo đối với các tổ chức tín dụng.

Nguyên nhân thứ hai, và cũng là căn bệnh cố hữu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, là hệ quả từ nguyên nhân thứ nhất: sự mất cân đối về kỳ hạn giữa vốn huy động và vốn cho vay.

Tuy NHNN chưa công bố nhưng theo ước tính của các ngân hàng thương mại, hiện hơn 90% vốn huy động VND của các ngân hàng là dưới 12 tháng; trong khi tỷ lệ này trong cho vay trung và dài hạn là 40%.

Cụ thể hơn, nếu nhìn vào bảng huy động lãi suất VND của ngân hàng thương mại có thể thấy rõ sự mất cân đối này. Ví dụ lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng của SHB là 10,44%/năm; từ 12 tháng đến 36 tháng có mức chung là 10,48%/năm.

Ở ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng đều ở mức 10,49%/năm. Hay ở Techcombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng cao hơn 15 tháng, tương ứng là 10%/năm và 9,20%/năm.

Nguyên nhân thứ ba, để bình ổn thị trường ngoại hối, trong tháng 12/2009, NHNN đã bán ra một lượng lớn ngoại tệ nên các ngân hàng thương mại cũng “tốn” một lượng VND không nhỏ cho việc này. Trước tình hình căng thẳng của thị trường, NHNN đã phát đi thông điệp sẽ hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại nào thiếu hụt tạm thời.

Hiện tổng phương tiện thanh toán đã ở mức 28,67% – vượt mức dự kiến (25%) của NHNN. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng hơn một lần khẳng định sẽ làm mọi cách để giữ mức cung tiền trong tầm kiểm soát. Vì thế, NHNN sẽ không dễ gì tung tiền ra “cứu” ngân hàng thương mại.
Thanh khoản: Cốt lõi là ở năng lực quản trị ngân hàngThanh khoản của các ngân hàng thương mại luôn là vấn đề nhạy cảm và được “dự cảm” hàng năm, nhất là vào dịp tết Nguyên đán, khi cả nhu cầu tín dụng và chi tiêu của người dân lẫn doanh nghiệp đều tăng. Thêm vào đó là sự “chia sẻ” nguồn vốn cho các thị trường khác (chứng khoán, bất động sản, vàng…).

Đây là vấn đề thường niên của các ngân hàng thương mại. Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho rằng, vấn đề thanh khoản hiện chưa nghiêm trọng như năm ngoái nhưng nếu không xử lý kịp thời sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại.

Lãi suất lên đến 19%/năm?

Trong thư gửi về VnEconomy, bạn đọc Lê Hồng Lương đề nghị các khách hàng vay vốn phải chịu phí cùng lên tiếng, bên cạnh thông tin phản ánh về một “luật” riêng có tại một số ngân hàng.

Ví dụ mà bạn đọc Lê Hồng Lương đưa ra là ngân hàng ép khách hàng chịu một số loại phí vô lý như: Phí quản lý hạn mức 1,2% năm x số hạn mức; phí quản lý tài sản trước 31/12/2009 thu 3,2% năm, từ ngày 1/1/2010 đến nay thu 7,2% năm (phí này bắt buộc phải ký hợp đồng với khách hàng trước khi giải ngân). Theo đó, lãi suất vay vốn lên tới 19,2%/năm.

“Tôi xin nói rõ phí này là tài sản nhà đất đã được công chứng nhà nước và sở tài nguyên môi trường giữ hộ rồi (người vay đã phải trả phí)”, bạn Lê Hồng Lương nhấn mạnh thêm nhưng không nêu rõ trường hợp vay vốn là doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh, hay cá nhân để tiêu dùng.

Còn theo phản ánh của bạn Bùi Phú Hợp (buihopvietlinks@…), khi làm hồ sơ vay vốn cho công ty thì được biết ngoài lãi vay là 12%/năm thanh toán theo tháng, doanh nghiệp phải chịu thêm 7%/năm gọi là phí đảm bảo tài sản và thanh toán theo quý. Tổng lãi vay theo đó là 19%. “Ngân hàng thu phí 7% như vậy có đúng với quy định của Nhà nước không anh chị?”, bạn Hợp đặt câu hỏi.

Một trường hợp khác cho biết trong lần giải ngân mới đây, ngân hàng bất ngờ yêu cầu nộp phí quản lý tài sản đến 3,5%/năm. “Trong nội dung hợp đồng lại ghi là người vay tự nguyện yêu cầu quản lý tài sản thế chấp. Như thế ngân hàng đã ép buộc trắng trợn khách hàng, vì nếu không ký hợp đồng và nộp phí thì không giải ngân. Vì cần tiền để kinh doanh nên tôi đành phải nộp… Rất mong Ngân hàng Nhà nước điều tra và có sự chỉ đạo, xử lý những việc làm sai của các ngân hàng thương mại và có thông tin rộng rãi những văn bản qui định, và địa chỉ các cơ quan chức năng để các doanh nghiệp chúng tôi phản ánh các việc làm sai trái đó”, bạn đọc Anh Tuấn (tuanhtlienson@…) viết.

Một bạn đọc ở Cần Thơ cho biết hiện đang có khoản vay xây dựng khách sạn và chỉ mới nhận giải ngân một nửa số tiền mà ngân hàng đã duyệt. Nhưng từ 1/12/2009, khi yêu cầu giải ngân số còn lại thì bị yêu cầu phải ký một hợp đồng với đơn vị thứ 3 về việc quản lý tài sản với mức phí là 6%/năm.

Ở trường hợp trên, bạn đọc Nguyễn Phạm Anh Hải lại đặt ra câu hỏi: “Các ngân hàng ở Cần Thơ có thuộc diện bị thanh tra? Tôi phải làm thế nào để có thể tiếp tục được giải ngân? Trước thời điểm 1/12/2009, lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho tôi là 10,5%/năm. Nay với mức lãi suất mới cộng thêm phí quản lý tài sản thì lãi suất cho khoản giải ngân mới là 18%/năm. Hiện doanh nghiệp chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn với các chủ nợ”.

Nhiều phản ánh của bạn đọc đều nêu đích danh ngân hàng mình vay vốn và phải chịu phí. Tuy nhiên, trả lời VnEconomy, những ngân hàng này đều phủ nhận việc thu phí và làm sai quy định hiện hành. Hiện dư luận đang chờ đợi kết quả kiểm tra cụ thể của Ngân hàng Nhà nước sau 1 tuần vào cuộc.

Lãi suất lên đến 19%/năm?

Trong thư gửi về VnEconomy, bạn đọc Lê Hồng Lương đề nghị các khách hàng vay vốn phải chịu phí cùng lên tiếng, bên cạnh thông tin phản ánh về một “luật” riêng có tại một số ngân hàng.

Ví dụ mà bạn đọc Lê Hồng Lương đưa ra là ngân hàng ép khách hàng chịu một số loại phí vô lý như: Phí quản lý hạn mức 1,2% năm x số hạn mức; phí quản lý tài sản trước 31/12/2009 thu 3,2% năm, từ ngày 1/1/2010 đến nay thu 7,2% năm (phí này bắt buộc phải ký hợp đồng với khách hàng trước khi giải ngân). Theo đó, lãi suất vay vốn lên tới 19,2%/năm.

“Tôi xin nói rõ phí này là tài sản nhà đất đã được công chứng nhà nước và sở tài nguyên môi trường giữ hộ rồi (người vay đã phải trả phí)”, bạn Lê Hồng Lương nhấn mạnh thêm nhưng không nêu rõ trường hợp vay vốn là doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh, hay cá nhân để tiêu dùng.

Còn theo phản ánh của bạn Bùi Phú Hợp (buihopvietlinks@…), khi làm hồ sơ vay vốn cho công ty thì được biết ngoài lãi vay là 12%/năm thanh toán theo tháng, doanh nghiệp phải chịu thêm 7%/năm gọi là phí đảm bảo tài sản và thanh toán theo quý. Tổng lãi vay theo đó là 19%. “Ngân hàng thu phí 7% như vậy có đúng với quy định của Nhà nước không anh chị?”, bạn Hợp đặt câu hỏi.

Một trường hợp khác cho biết trong lần giải ngân mới đây, ngân hàng bất ngờ yêu cầu nộp phí quản lý tài sản đến 3,5%/năm. “Trong nội dung hợp đồng lại ghi là người vay tự nguyện yêu cầu quản lý tài sản thế chấp. Như thế ngân hàng đã ép buộc trắng trợn khách hàng, vì nếu không ký hợp đồng và nộp phí thì không giải ngân. Vì cần tiền để kinh doanh nên tôi đành phải nộp… Rất mong Ngân hàng Nhà nước điều tra và có sự chỉ đạo, xử lý những việc làm sai của các ngân hàng thương mại và có thông tin rộng rãi những văn bản qui định, và địa chỉ các cơ quan chức năng để các doanh nghiệp chúng tôi phản ánh các việc làm sai trái đó”, bạn đọc Anh Tuấn (tuanhtlienson@…) viết.

Một bạn đọc ở Cần Thơ cho biết hiện đang có khoản vay xây dựng khách sạn và chỉ mới nhận giải ngân một nửa số tiền mà ngân hàng đã duyệt. Nhưng từ 1/12/2009, khi yêu cầu giải ngân số còn lại thì bị yêu cầu phải ký một hợp đồng với đơn vị thứ 3 về việc quản lý tài sản với mức phí là 6%/năm.

Ở trường hợp trên, bạn đọc Nguyễn Phạm Anh Hải lại đặt ra câu hỏi: “Các ngân hàng ở Cần Thơ có thuộc diện bị thanh tra? Tôi phải làm thế nào để có thể tiếp tục được giải ngân? Trước thời điểm 1/12/2009, lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho tôi là 10,5%/năm. Nay với mức lãi suất mới cộng thêm phí quản lý tài sản thì lãi suất cho khoản giải ngân mới là 18%/năm. Hiện doanh nghiệp chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn với các chủ nợ”.

Nhiều phản ánh của bạn đọc đều nêu đích danh ngân hàng mình vay vốn và phải chịu phí. Tuy nhiên, trả lời VnEconomy, những ngân hàng này đều phủ nhận việc thu phí và làm sai quy định hiện hành. Hiện dư luận đang chờ đợi kết quả kiểm tra cụ thể của Ngân hàng Nhà nước sau 1 tuần vào cuộc.

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: