Ktetaichinh’s Blog

January 5, 2010

Dự cảm 2010 và những kiến nghị

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:17 pm
Tags: ,

Năm 2009 qua đi kết thúc một năm thử thách đối với nền kinh tế nói chung và với TTCK nói riêng. Đây cũng là năm được đánh giá là có sự trưởng thành trong hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường và được kỳ vọng sẽ tạo một sức bật tốt cho thị trường khi bước sang năm 2010. Đại diện Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính, CLB các DN niêm yết, CLB Quản lý Quỹ đã chia sẻ những dự cảm về TTCK trong năm 2010.

“Năm 2010, các CTCK sẽ vững vàng và chuyên nghiệp hơn”

Ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam (VASB)

Năm 2009 qua đi, kết thúc một năm thử thách của nền kinh tế do suy thoái toàn cầu. Cũng như mọi ngành nghề khác, các CTCK đều có những khó khăn và thuận lợi riêng. Nhưng nhìn tổng thể, các chính sách của Nhà nước, của cơ quan quản lý đã tác động tích cực đến TTCK nói chung và CTCK nói riêng.

Một là, các gói kích cầu kinh tế và hỗ trợ lãi suất đã kích thích sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Việc lùi đánh thuế thu nhập cá nhân đối với đầu tư kinh doanh chứng khoán cũng là sự hỗ trợ mạnh mẽ. Hai là, UBCK đã có những đối sách tích cực như nới biên độ giao dịch, quy định chặt chẽ hơn việc thành lập CTCK, công ty quản lý quỹ, xử lý phí nói chung và giảm phí giao dịch cho các CTCK và NĐT… Ba là, các CTCK đã nhìn nhận đầy đủ hơn trách nhiệm của mình trước công chúng đầu tư. Sự liên kết giữa các CTCK, nhất là những CTCK hội viên VASB đã gắn bó hơn, thiết thực hơn.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy những khó khăn về phía chính sách khi một số nghiệp vụ thúc đẩy thị trường chưa được triển khai, một số rào cản chưa được gỡ bỏ như: chủ trương cho NĐT được mở nhiều tài khoản vẫn đang trong thời gian dự thảo; thuế thu nhập từ kinh doanh chứng khoán vẫn là vấn đề khiến nhiều NĐT e ngại; hệ thống công nghệ của các CTCK thiếu sự đồng nhất, tình trạng mạnh ai nấy làm, gây nhiều tốn kém; sự hỗ trợ TTCK của Chính phủ chưa mạnh mẽ. Đặc biệt là mối quan hệ giữa các ngành tài chính – ngân hàng – chứng khoán thiếu sự phối hợp đồng bộ. Một số thủ tục còn gây phiền hà. Nếu các cơ quan quản lý hỗ trợ thêm cho TTCK thì thị trường sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.

Năm 2008 và 2009 có nhiều khó khăn, nhưng chưa thấy một CTCK nào tuyên bố phá sản hay sáp nhập. Tôi tin rằng, năm 2010, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và sự hỗ trợ về chính sách của cơ quan quản lý, các CTCK sẽ vững vàng và chuyên nghiệp hơn.

“Vẫn còn một nửa tối mà VAFI sẽ tiếp tục kiến nghị, hy vọng giứp TTCK phát triển tốt”

Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính VAFI

Năm 2009 đã qua, TTCK trải qua nhiều cung bậc rất trái ngược, từ bi quan cực điểm sang lạc quan. Nhiều NĐT đã hoàn toàn lột xác nhờ tham gia đầu tư trên TTCK.

Các DN niêm yết cũng thể hiện sự tiến bộ qua việc công bố thông tin minh bạch, nhiều DN thực hiện soát xét BCTC bán niên… Về vấn đề này tôi đánh giá, dù chưa được hoàn thiện, nhưng đây là bước tiến đáng kể nhằm từng bước hướng đến thông tin thị trường thông suốt, hiệu quả. Điểm đáng khen nữa của các DN chính là việc tập trung hơn đầu tư vào ngành nghề cốt lõi, giảm tỷ trọng đầu tư và đầu tư mới vào TTCK.

Tuy nhiên, đây mới chỉ là nửa sáng của bức tranh TTCK. Vẫn còn một nửa tối mà VAFI sẽ tiếp tục kiến nghị và đưa ra giải pháp, hy vọng giúp TTCK phát triển bền vững, hiệu quả hơn. Đó là hiện tượng tin đồn trên TTCK vẫn còn phát tác, nhưng khâu giám sát của UBCK, dù đã có tiến bộ nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tế; NĐT vẫn còn tình trạng mua/bán cổ phiếu ồ ạt khi có thông tin vĩ mô tốt/xấu mà chưa đánh giá mức độ tác động của tin đồn đó đến DN đầu tư như thế nào. Ở chừng mực nào đó, VAFI mong muốn trong năm tới có thể đóng vai trò là một kênh hỗ trợ thêm NĐT trong đánh giá tác động của thông tin, nhưng có lẽ, nhân vật đóng vai trò chính vẫn phải là các CTCK, người tư vấn trực tiếp cho NĐT. Một chủ thể nữa, theo tôi cần tích hơn trong năm 2010 là UBCK. Năm 2009, nhiều chính sách tác động quan trọng đến sự phát triển của thị trường như: mở nhiều tài khoản, giao dịch cùng mua/bán một loại chứng khoán trong phiên… vẫn chưa được ban hành.

Năm 2010, VAFI sẽ tiếp tục kiến nghị cơ quan quản lý sớm “trả nợ” những gì còn thiếu sót. Chúng tôi cũng sẽ tích cực hơn trong việc nói lên nguyện vọng chính đáng của NĐT, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ để phát huy tốt nhất vai trò đại diện cho tiếng nói của NĐT trên TTCK.

Nên “cởi trói” quyền tự chủ cho DN niêm yết

Ông Đỗ Văn Trắc, Chủ tịch CLB các DN niêm yết, Tổng giám đốc SACOM (SAM)

Trên cương vị Chủ tịch CLB các DN niêm yết, trước thềm năm mới, tôi muốn đóng góp một số ý kiến với cơ quan quản lý thị trường nhằm giúp chính sách sát với thực tế hơn.

Đầu năm 2009 khá nhiều DN niêm yết bị lỗ. Tuy nhiên, trong số này có hai dạng: DN có hoạt động sản xuất – kinh doanh chính không hiệu quả và DN có ngành nghề lõi vẫn tăng trưởng nhưng cuối năm kết quả kinh doanh âm do phải thực hiện các khoản trích lập dự phòng đầu tư tài chính, tỷ giá… Cơ quan quản lý đã đưa tất cả các cổ phiếu này vào danh sách “cổ phiếu bị kiểm soát” (sau
chuyển thành cổ phiếu bị cảnh báo). Tuy nhiên, nhiều DN trong số này là các DN uy tín đang dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh của mình và có lãi trong hoạt động kinh doanh chính, thua lỗ chỉ do sự “sảy chân”. Khi gộp chung các DN trên với các DN hoạt động kém hiệu quả gây ra sự xáo trộn không đáng có trên thị trường, các cổ phiếu trên bị bán tháo trong nhiều phiên liền. Theo tôi, cơ quan quản lý nên cân nhắc để các sự việc tương tự không xảy ra.

Theo quy định hiện hành, các DN lỗ không được mua cổ phiếu quỹ. Tuy nhiên DN vẫn có lượng tiền mặt dồi dào, DN có khả năng hỗ trợ thị trường và cổ đông, và hơn ai hết DN biết cổ phiếu đang được giao dịch thấp hơn giá trị thực. Tại sao chính sách lại trói buộc quyền tự chủ của DN về việc này, trong khi ĐHCĐ nhất trí cho DN thực hiện? Một vấn đề khác, theo quy định hiện hành, trong lần triệu tập đầu tiên để có thể tổ chức ĐHCĐ, tỷ lệ cổ đông có mặt phải không dưới 65% số cổ phần. Tỷ lệ này được cho là bảo vệ quyền lợi các NĐT nhỏ, tuy nhiên TTCK Việt Nam có đặc thù riêng, sự đầu cơ rất cao, thực tế từ khi chốt danh sách tới khi họp ĐHCĐ nhiều NĐT đã không còn là cổ đông nữa, họ không thấy có trách nhiệm phải dự họp. Thêm nữa các NĐT cá nhân vẫn chiếm đa số trên thị trường, vị trí địa lý cách biệt khiến nhiều ĐHCĐ đã không thể thực hiện do không đủ tỷ lệ cổ đông tham dự, DN lãng phí hàng trăm triệu đồng. Theo tôi tỷ lệ này nên giảm xuống 51% như thông lệ quốc tế…

“Chỉ cần khơi thông dòng vốn tích lũy của dân cư sẽ tạo ra bước tăng trưởng ổn định mới cho TTCK”

Ông Trần Thanh Tân, Chủ tịch CLB Quản lý Quỹ, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc VFM

Hiện nay, CLB Quản lý Quỹ (CLB) họp hàng tháng, hàng quý với nội dung chính là chia sẻ những quan điểm đầu tư của các thành viên trong CLB; đánh giá tình hình thị trường và đưa ra những nhận định đa chiều, có phản biện và tranh luận. CLB cũng đề xuất những kiến nghị liên quan đến sự phát triển thị trường lên cơ quan quản lý…

Theo tôi, việc tổ chức và sinh hoạt thường kỳ giữa các thành viên CLB là yếu tố tích cực nhằm tạo ra một diễn đàn cởi mở của các nhà tạo lập thị trường tại TTCK Việt Nam. Ở đó, mọi thành viên có thể chia sẻ các quan điểm chính thức và không chính thức giúp NĐT tổ chức khác có thêm nhiều góc nhìn về thị trường.

Hiện tại, VN – Index biến động khá mạnh và không ổn định do NĐT quan ngại về chính sách và kinh tế vĩ mô thay đổi. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của NĐT tổ chức luôn theo sát thị trường, tôi đánh giá thị trường không tệ như đầu năm 2009. Thứ nhất, sức khỏe của nhiều DN niêm yết Việt Nam khá tốt dù một số yếu tố kinh tế vĩ mô có thể biến động. Thứ hai, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục có các điều chỉnh kinh tế vĩ mô kịp thời đảm bảo sự phục hồi của nền kinh tế nói chung và DN niêm yết nói riêng. Thứ ba, từng đơn vị cấu thành của nền kinh tế Việt Nam luôn nỗ lực hết mình và thích ứng nhanh với các thay đổi.

Về dài hạn, để TTCK phát triển một cách bền vững, trở thành kênh dẫn vốn cho các DN…, theo tôi cần nỗ lực rất lớn từ các cơ quan quản lý thị trường, đặc biệt là các cơ quan quản lý vĩ mô như NHNN, Bộ Tài chính và UBCK… CLB là hiệp hội của các NĐT tổ chức tại TTCK Việt Nam nhưng các thành viên CLB sẽ tiếp tục đóng góp ý kiến, đưa ra các phản biện chính sách cũng như phối hợp hành động nhằm giúp TTCK Việt Nam có bước tăng trưởng ổn định.

Nhóm phóng viên thực hiện

Advertisements

Mối lo “chợ đen” trong lòng ngân hàng

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:14 pm
Tags: ,
Lãi suất VND trên thị trường tiếp tục nóng thêm, trong khi không gian để cung cầu vốn hoạt động vẫn ngột ngạt. Bởi vậy, không ít ý kiến cho rằng, đang xuất hiện sự thỏa thuận ngầm giữa một số ngân hàng và khách hàng để “qua mặt” cơ quan quản lý.
Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản của tháng 1/2010 tiếp tục giữ nguyên 8%/năm và như vậy, lãi suất thương mại tiếp tục duy trì mức tối đa là 12% /năm.

Ba lý do làm cầu vốn tăng
Quan sát trên thị trường hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều đẩy lãi suất huy động – cho vay lên mức cao nhất có thể được. Lãi suất huy động bình quân đối với kỳ hạn 12 tháng, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước duy trì từ 10,4% – 10,49%/năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần để ở mức 10% – 10,49%/năm nhưng đối với cho vay bình quân, kể cả ngắn hay trung, dài hạn, hai nhóm trên đều duy trì mức kịch trần 12%/năm.
Trước thực tế này, ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) nhận xét: “Lãi suất nóng lên là do nhu cầu huy động vốn trên thị trường đang rất căng thẳng” và tình trạng này xuất phát từ ba lý do.
Đầu tiên, với việc quy định không cho phép ngân hàng thương mại sử dụng vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu cho vay đối với nền kinh tế, đã khiến cho sức ép về nhu cầu vốn tại các ngân hàng này tăng mạnh, mặc dù đây là quy định hết sức đúng đắn.
Tiếp theo, trong khi đó, các doanh nghiệp sau thời kỳ cầm chừng để duy trì tồn tại trong 2009 thì khi bước sang 2010, tình hình kinh tế hồi phục khá mạnh mẽ nên nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất được tăng lên, dẫn đến nhu cầu vốn tăng lên.
Như vậy, ngân hàng đứng giữa hai áp lực: huy động và sử dụng vốn. Cụ thể, trong khi nguồn vốn của chính mình không được dồi dào do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố kênh dẫn vốn từ thị trường liên ngân hàng để cho vay ra nền kinh tế bị “đóng cửa” thì nhu cầu vốn từ phía doanh nghiệp tăng lên. Hai áp lực này dồn nén, buộc ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư nhiều hơn. Điều này có thể nhìn thấy rất rõ qua mức lãi suất huy động và các chương trình khuyến mãi mà ngân hàng thương mại tung ra.
Lý do cuối cùng, trong điều kiện trên, hành vi người gửi tiền cũng khác so với 2009. Chẳng hạn, thay vì gửi 4, 6 tháng hay một năm thì họ chỉ gửi một tuần, nhưng về phía ngân hàng thì không thể huy động một tuần rồi cho vay một tuần được, nên họ găm lại tại ngân hàng mình. Và như thế, hành vi của ngân hàng cũng khác đi và điều này làm cho hệ số tạo tiền trong nền kinh tế bị nhỏ lại.
Cán bộ đầu tư một ngân hàng khác bổ sung thêm một lý do nữa là khi Ngân hàng Nhà nước tung ngoại tệ ra thị trường để bình ổn thị trường ngoại hối vừa qua, mặc dù cơ quan này vẫn thực hiện chu kỳ “bơm – hút” thông qua nghiệp vụ thị trường mở nhưng trong ngắn hạn, chúng cũng góp phần làm cho kênh hút vốn của ngân hàng thương mại bị thu hẹp bớt.
Tiền đề cho rủi ro đạo đức
Với những gì đang diễn ra, đã phản ánh rất đúng quy luật “cầu tăng, cung giảm thì giá tăng”, cộng thêm yếu tố mức lãi suất cơ bản giữ nguyên 8%/năm do Ngân hàng Nhà nước công bố có hiệu lực từ tháng 1/2010, do đó lãi suất thương mại tối đa chỉ 12%, đã xuất hiện nghi ngại có tình trạng “thỏa thuận ngầm” với nhau về giá vốn giữa một số ngân hàng và bên gửi tiền, cũng như giữa ngân hàng và bên vay vốn.
Liên quan đến vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia nói: “Thị trường bao giờ cũng hành xử theo đúng quy luật, nếu để thị trường hoạt động bình thường thì lãi suất luôn phản ánh đúng mức giá vốn, nếu bóp méo chỗ này, sẽ phình chỗ khác, làm giảm chỗ nọ, chúng sẽ tự điều chỉnh tăng chỗ kia”.
Ông Nghĩa cho rằng, giữa thị trường và ý chí chủ quan của con người luôn là cuộc rượt đuổi không có điểm dừng. Vì vậy, nếu xuất hiện một chính sách lãi suất và tỷ giá không hợp lý thì thậm chí, “chợ đen” sẽ diễn ra ngay trong lòng hệ thống ngân hàng, chứ không chỉ ở ngoài đường phố, dẫn đến xuất hiện hai loại tỷ giá chính thức – tỷ giá ngầm thỏa thuận với nhau và đối với lãi suất cũng tương tự.
Điều này cũng xảy ra ngay cả đối với thị trường liên ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất đối với loại giao dịch này không được quá 12%/năm, nhưng thực tế là bao nhiêu thì người trong cuộc biết rất rõ, trong khi hợp đồng ký với nhau vẫn 12%/năm!
Cũng từ thực tế này, một chuyên gia tài chính lo âu: “Đó chính là tiền đề xuất hiện rủi ro đạo đức, làm tha hóa phẩm chất của một số cán bộ ngân hàng. Nếu kéo dài, hậu quả rất khó lường và vô hình trung, việc tự mình lôi kéo “chợ đen” vào ngân hàng là khó tránh khỏi”.
Điều này cũng lý giải vì sao ở Mỹ, với hệ thống giám sát rủi ro rất hiện đại, nghiêm minh và hệ thống thông tin công khai, minh bạch, nhưng tất cả đều bất lực trước rủi ro đạo đức. Bởi chẳng có hệ thống giám sát nào “quản” thứ rủi ro này. Tổng thống Mỹ Barack Obama khi nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính đã thừa nhận: “Toàn bộ hệ thống giám sát từ giám sát nội bộ của ngân hàng thương mại đến hệ thống giám sát của chính quyền đều bất lực trước rủi ro đạo đức”.
Vị chuyên gia tài chính nói trên cho rằng, đối với sự phức tạp của một phần thị trường tiền tệ hiện nay, cần lường trước và sẵn sàng đón nhận những diễn biến không mong đợi như nói trên để sớm giải quyết dứt điểm “hai chế độ tỷ giá, hai chế độ lãi suất” trong cùng hệ thống ngân hàng. Được như vậy, ngành ngân hàng không những giảm thiểu được rủi ro đạo đức, mà cơ quan quản lý cũng không đánh mất vai trò của chính mình.
Theo VNE

Đua lãi suất và năng lực quản trị, điều hành

Trên danh nghĩa lãi suất huy động VND hiện chưa vượt rào 10,5%/năm. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng khẳng định các ngân hàng thương mại không có vấn đề gì về thanh khoản.

Thế nhưng, sự căng thẳng về nguồn VND đang ở đỉnh điểm khi một tháng qua lãi suất huy động trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường dân cư đều liên tục bị đẩy lên.

Lãi suất huy động: Xoay các kiểu

Trên bảng lãi suất, chưa có ngân hàng thương mại nào công bố mức lãi suất huy động vốn từ khu vực dân cư vượt mức 10,5%. Nhưng nếu nhìn vào các chiêu của ngân hàng thương mại thì thấy họ đang “nóng” đến mức nào trong việc huy động vốn.

Hầu hết các ngân hàng thương mại đều tung ra tất cả những chiêu có thể để thu hút khách hàng. Mức lãi suất thưởng thấp nhất mà các ngân hàng đưa ra ở mức 0,05 % và cao nhất có thể lên đến 0,42%/năm.

Do đó, thực tế khi cộng lãi suất từ các hình thức thưởng (thưởng tiền, thưởng lãi suất, lãi suất cho sản phẩm huy động đặc biệt) thì lãi suất huy động của nhiều ngân hàng thương mại đã vượt rào 10,5%/năm.

Trên thị trường liên ngân hàng, theo công bố của NHNN, doanh số giao dịch trong tuần gần đây nhất đạt xấp xỉ 120.350 tỷ VND và 2.033 triệu USD, tăng tiếp 8.507 tỷ đồng và 580 triệu USD so với trung tuần tháng 12/2009.

Đây là tuần thứ ba liên tiếp giao dịch trên thị trường này tăng cao. Sự căng thẳng về thanh khoản còn thấy rõ hơn khi doanh số giao dịch kỳ hạn qua đêm và 1 tuần chiếm tỷ trọng lớn nhất; trong đó giao dịch kỳ hạn 1 tuần chiếm 46%/tổng doanh số giao dịch.

Và tất nhiên, lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục tăng lên trên 10%/năm. Hiện lãi suất bình quân qua đêm đang ở mức 10,71%/năm.

Lãi suất bình quân cao nhất, theo công bố của NHNN là 12%/năm nhưng lãnh đạo một ngân hàng thương mại cho biết, muốn có con số này trên thực tế thì phải cộng thêm vài điểm phần trăm nữa.

“Quân tử” phòng thân?

Tăng trưởng tín dụng quá cao là nguyên nhân chính khiến thị trường huy động vốn căng thẳng như hiện nay. Theo thống kê của NHNN, hiện tăng trưởng tín dụng đã ở mức 37,7% – cách xa con số 25% mà NHNN đưa ra hồi đầu năm và vượt gần 8% so với “phanh” dự kiến của NHNN trong những tháng cuối năm là 30%.

Thực tế, việc tăng trưởng tín dụng đã được NHNN và cả các ngân hàng thương mại lường trước do chương trình hỗ trợ lãi suất (tính chung là có đến 5 chương trình) được triển khai từ đầu năm đến nay.

Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất tuy ở mức hơn 445.000 tỷ đồng, song đây chính là lực đẩy khiến “con tàu tín dụng” không sao phanh lại được, dù NHNN liên tục có cảnh báo đối với các tổ chức tín dụng.

Nguyên nhân thứ hai, và cũng là căn bệnh cố hữu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, là hệ quả từ nguyên nhân thứ nhất: sự mất cân đối về kỳ hạn giữa vốn huy động và vốn cho vay.

Tuy NHNN chưa công bố nhưng theo ước tính của các ngân hàng thương mại, hiện hơn 90% vốn huy động VND của các ngân hàng là dưới 12 tháng; trong khi tỷ lệ này trong cho vay trung và dài hạn là 40%.

Cụ thể hơn, nếu nhìn vào bảng huy động lãi suất VND của ngân hàng thương mại có thể thấy rõ sự mất cân đối này. Ví dụ lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng của SHB là 10,44%/năm; từ 12 tháng đến 36 tháng có mức chung là 10,48%/năm.

Ở ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng đều ở mức 10,49%/năm. Hay ở Techcombank, lãi suất kỳ hạn 1 tháng cao hơn 15 tháng, tương ứng là 10%/năm và 9,20%/năm.

Nguyên nhân thứ ba, để bình ổn thị trường ngoại hối, trong tháng 12/2009, NHNN đã bán ra một lượng lớn ngoại tệ nên các ngân hàng thương mại cũng “tốn” một lượng VND không nhỏ cho việc này. Trước tình hình căng thẳng của thị trường, NHNN đã phát đi thông điệp sẽ hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại nào thiếu hụt tạm thời.

Hiện tổng phương tiện thanh toán đã ở mức 28,67% – vượt mức dự kiến (25%) của NHNN. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng hơn một lần khẳng định sẽ làm mọi cách để giữ mức cung tiền trong tầm kiểm soát. Vì thế, NHNN sẽ không dễ gì tung tiền ra “cứu” ngân hàng thương mại.
Thanh khoản: Cốt lõi là ở năng lực quản trị ngân hàngThanh khoản của các ngân hàng thương mại luôn là vấn đề nhạy cảm và được “dự cảm” hàng năm, nhất là vào dịp tết Nguyên đán, khi cả nhu cầu tín dụng và chi tiêu của người dân lẫn doanh nghiệp đều tăng. Thêm vào đó là sự “chia sẻ” nguồn vốn cho các thị trường khác (chứng khoán, bất động sản, vàng…).

Đây là vấn đề thường niên của các ngân hàng thương mại. Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho rằng, vấn đề thanh khoản hiện chưa nghiêm trọng như năm ngoái nhưng nếu không xử lý kịp thời sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại.

Lãi suất lên đến 19%/năm?

Trong thư gửi về VnEconomy, bạn đọc Lê Hồng Lương đề nghị các khách hàng vay vốn phải chịu phí cùng lên tiếng, bên cạnh thông tin phản ánh về một “luật” riêng có tại một số ngân hàng.

Ví dụ mà bạn đọc Lê Hồng Lương đưa ra là ngân hàng ép khách hàng chịu một số loại phí vô lý như: Phí quản lý hạn mức 1,2% năm x số hạn mức; phí quản lý tài sản trước 31/12/2009 thu 3,2% năm, từ ngày 1/1/2010 đến nay thu 7,2% năm (phí này bắt buộc phải ký hợp đồng với khách hàng trước khi giải ngân). Theo đó, lãi suất vay vốn lên tới 19,2%/năm.

“Tôi xin nói rõ phí này là tài sản nhà đất đã được công chứng nhà nước và sở tài nguyên môi trường giữ hộ rồi (người vay đã phải trả phí)”, bạn Lê Hồng Lương nhấn mạnh thêm nhưng không nêu rõ trường hợp vay vốn là doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh, hay cá nhân để tiêu dùng.

Còn theo phản ánh của bạn Bùi Phú Hợp (buihopvietlinks@…), khi làm hồ sơ vay vốn cho công ty thì được biết ngoài lãi vay là 12%/năm thanh toán theo tháng, doanh nghiệp phải chịu thêm 7%/năm gọi là phí đảm bảo tài sản và thanh toán theo quý. Tổng lãi vay theo đó là 19%. “Ngân hàng thu phí 7% như vậy có đúng với quy định của Nhà nước không anh chị?”, bạn Hợp đặt câu hỏi.

Một trường hợp khác cho biết trong lần giải ngân mới đây, ngân hàng bất ngờ yêu cầu nộp phí quản lý tài sản đến 3,5%/năm. “Trong nội dung hợp đồng lại ghi là người vay tự nguyện yêu cầu quản lý tài sản thế chấp. Như thế ngân hàng đã ép buộc trắng trợn khách hàng, vì nếu không ký hợp đồng và nộp phí thì không giải ngân. Vì cần tiền để kinh doanh nên tôi đành phải nộp… Rất mong Ngân hàng Nhà nước điều tra và có sự chỉ đạo, xử lý những việc làm sai của các ngân hàng thương mại và có thông tin rộng rãi những văn bản qui định, và địa chỉ các cơ quan chức năng để các doanh nghiệp chúng tôi phản ánh các việc làm sai trái đó”, bạn đọc Anh Tuấn (tuanhtlienson@…) viết.

Một bạn đọc ở Cần Thơ cho biết hiện đang có khoản vay xây dựng khách sạn và chỉ mới nhận giải ngân một nửa số tiền mà ngân hàng đã duyệt. Nhưng từ 1/12/2009, khi yêu cầu giải ngân số còn lại thì bị yêu cầu phải ký một hợp đồng với đơn vị thứ 3 về việc quản lý tài sản với mức phí là 6%/năm.

Ở trường hợp trên, bạn đọc Nguyễn Phạm Anh Hải lại đặt ra câu hỏi: “Các ngân hàng ở Cần Thơ có thuộc diện bị thanh tra? Tôi phải làm thế nào để có thể tiếp tục được giải ngân? Trước thời điểm 1/12/2009, lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho tôi là 10,5%/năm. Nay với mức lãi suất mới cộng thêm phí quản lý tài sản thì lãi suất cho khoản giải ngân mới là 18%/năm. Hiện doanh nghiệp chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn với các chủ nợ”.

Nhiều phản ánh của bạn đọc đều nêu đích danh ngân hàng mình vay vốn và phải chịu phí. Tuy nhiên, trả lời VnEconomy, những ngân hàng này đều phủ nhận việc thu phí và làm sai quy định hiện hành. Hiện dư luận đang chờ đợi kết quả kiểm tra cụ thể của Ngân hàng Nhà nước sau 1 tuần vào cuộc.

Lãi suất lên đến 19%/năm?

Trong thư gửi về VnEconomy, bạn đọc Lê Hồng Lương đề nghị các khách hàng vay vốn phải chịu phí cùng lên tiếng, bên cạnh thông tin phản ánh về một “luật” riêng có tại một số ngân hàng.

Ví dụ mà bạn đọc Lê Hồng Lương đưa ra là ngân hàng ép khách hàng chịu một số loại phí vô lý như: Phí quản lý hạn mức 1,2% năm x số hạn mức; phí quản lý tài sản trước 31/12/2009 thu 3,2% năm, từ ngày 1/1/2010 đến nay thu 7,2% năm (phí này bắt buộc phải ký hợp đồng với khách hàng trước khi giải ngân). Theo đó, lãi suất vay vốn lên tới 19,2%/năm.

“Tôi xin nói rõ phí này là tài sản nhà đất đã được công chứng nhà nước và sở tài nguyên môi trường giữ hộ rồi (người vay đã phải trả phí)”, bạn Lê Hồng Lương nhấn mạnh thêm nhưng không nêu rõ trường hợp vay vốn là doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh, hay cá nhân để tiêu dùng.

Còn theo phản ánh của bạn Bùi Phú Hợp (buihopvietlinks@…), khi làm hồ sơ vay vốn cho công ty thì được biết ngoài lãi vay là 12%/năm thanh toán theo tháng, doanh nghiệp phải chịu thêm 7%/năm gọi là phí đảm bảo tài sản và thanh toán theo quý. Tổng lãi vay theo đó là 19%. “Ngân hàng thu phí 7% như vậy có đúng với quy định của Nhà nước không anh chị?”, bạn Hợp đặt câu hỏi.

Một trường hợp khác cho biết trong lần giải ngân mới đây, ngân hàng bất ngờ yêu cầu nộp phí quản lý tài sản đến 3,5%/năm. “Trong nội dung hợp đồng lại ghi là người vay tự nguyện yêu cầu quản lý tài sản thế chấp. Như thế ngân hàng đã ép buộc trắng trợn khách hàng, vì nếu không ký hợp đồng và nộp phí thì không giải ngân. Vì cần tiền để kinh doanh nên tôi đành phải nộp… Rất mong Ngân hàng Nhà nước điều tra và có sự chỉ đạo, xử lý những việc làm sai của các ngân hàng thương mại và có thông tin rộng rãi những văn bản qui định, và địa chỉ các cơ quan chức năng để các doanh nghiệp chúng tôi phản ánh các việc làm sai trái đó”, bạn đọc Anh Tuấn (tuanhtlienson@…) viết.

Một bạn đọc ở Cần Thơ cho biết hiện đang có khoản vay xây dựng khách sạn và chỉ mới nhận giải ngân một nửa số tiền mà ngân hàng đã duyệt. Nhưng từ 1/12/2009, khi yêu cầu giải ngân số còn lại thì bị yêu cầu phải ký một hợp đồng với đơn vị thứ 3 về việc quản lý tài sản với mức phí là 6%/năm.

Ở trường hợp trên, bạn đọc Nguyễn Phạm Anh Hải lại đặt ra câu hỏi: “Các ngân hàng ở Cần Thơ có thuộc diện bị thanh tra? Tôi phải làm thế nào để có thể tiếp tục được giải ngân? Trước thời điểm 1/12/2009, lãi suất mà ngân hàng áp dụng cho tôi là 10,5%/năm. Nay với mức lãi suất mới cộng thêm phí quản lý tài sản thì lãi suất cho khoản giải ngân mới là 18%/năm. Hiện doanh nghiệp chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn với các chủ nợ”.

Nhiều phản ánh của bạn đọc đều nêu đích danh ngân hàng mình vay vốn và phải chịu phí. Tuy nhiên, trả lời VnEconomy, những ngân hàng này đều phủ nhận việc thu phí và làm sai quy định hiện hành. Hiện dư luận đang chờ đợi kết quả kiểm tra cụ thể của Ngân hàng Nhà nước sau 1 tuần vào cuộc.

Những chiêu né thuế TNCN khi chuyển nhượng bất động sản

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:12 pm
Tags: ,
Vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Trên thực tế, không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng của luật để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho ngân sách. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.

Là sắc thuế có tầm ảnh hưởng rộng, tác động đến hầu hết mọi tầng lớp dân cư, mọi sinh hoạt của đời sống, xã hội nên việc triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầu triển khai.

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sung chính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập.

Tự khai là tài sản duy nhất

Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở.

Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách.

Hạ giá chuyển nhượng

Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.

Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.

Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất do UBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:

( 2tỷ đồng – 1,5 tỷ đồng) x 2% = 10 triệu đồng.

Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn. Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồng thì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn.

Chuyển nhượng bắc cầu

Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.

Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng bất động sản cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.

Không phủ nhận việc cải cách để cơ chế ngày càng được thông thoáng là mục tiêu mà các cơ quản quản lý hàng chính đang phấn đấu để đạt tới. Tuy nhiên, trong giai đọan quá độ, khi ý thức của một bộ phận dân cư còn thấp thì cũng cần phải có những giải pháp ngắn hạn đề chấn chỉnh, kiểm soát.

Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khi triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩn trương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:

Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên và môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng bất động sản để được miễn thuế.

Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành giá nhà, đất hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do.

Riêng ngành thuế, với vị trí, vai trò của cơ quan chịu trách nhiện chính, phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến đạo lý của Luật Thuế TNCN đến mọi tầng lớp dân cư để giúp họ nắm và hiểu về các quy định, đồng thời bằng kinh nghiệm và kỹ năng quản lý chuyên sâu, phải chủ động đề xuất ngay các giải pháp ứng phó trong mọi tình huống, đảm bảo quản lý sát nguồn thu.

Theo Tạp chí Thuế

Nhập siêu: 12 đồng hàng hoá, 1 đồng dịch vụ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:11 pm
Tags: ,

Khi hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu, một số lĩnh vực sẽ khó lòng cạnh tranh hơn nếu chỉ dựa vào lợi thế về giá và nhân công.

Ngoài 12,2 tỉ USD nhập siêu hàng hoá trong năm qua, Việt Nam còn nhập siêu dịch vụ 1,071 tỉ USD, tăng 17% so với năm trước. Theo số liệu của tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu dịch vụ của cả năm 2009 ước đạt hơn 6,8 tỉ USD.
Vận tải biển: yếu trên sân nhà

Trong cơ cấu nhập khẩu dịch vụ, cước phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu chiếm 52,3%. Hơn 20 năm qua, Việt Nam theo mô hình phát triển kinh tế dựa trên xuất khẩu. Có lợi thế 3.260km bờ biển, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 144 tỉ USD, trong đó 80% là vận tải bằng đường biển. Tuy vậy, đội tàu biển Việt Nam mới chiếm 20% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, theo báo cáo phân tích ngành vận tải Việt Nam năm 2009 của tổ chức Business Monitor Intelligence (BMI).

Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân vận tải biển Việt Nam thua sút có phần do thói quen bán theo FOB, mua CIF của các doanh nghiệp trong nước. Từng có những khuyến khích nặng tính bảo hộ như hỗ trợ miễn giảm thuế cho hàng xuất khẩu nếu sử dụng tàu của Việt Nam, nhưng thị trường vẫn có các quy tắc sàng lọc được các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp. Cho dù doanh nghiệp xuất, nhập khẩu từ bỏ thói quen mua CIF bán FOB, thì đội tàu biển 17 tuổi như của Việt Nam hiện nay vẫn khó cạnh tranh được, bởi chi phí bảo hiểm cho tàu càng già sẽ càng lớn. Chưa kể tới năng lực vận tải của đội tàu trong nước vẫn còn thấp. Trọng tải trung bình của đội tàu Việt Nam hiện nay là hơn 5,5 ngàn tấn, trong khi của Thái Lan là trên 6,5 ngàn tấn và của Trung Quốc là 12 ngàn tấn, theo số liệu phân tích của công ty Chứng khoán phố Wall.

Do khó tìm được nguồn hàng, doanh nghiệp vận tải buộc phải kiếm sống bằng cho thuê định hạn. Điều này chứng tỏ chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trên các con tàu không phải yếu mà do năng lực khai thác và quản trị của doanh nghiệp Việt Nam.

Thua sút trong thị trường vận tải, doanh nghiệp trong nước cũng thua kém trong việc phát triển dịch vụ hậu cần vận tải, với thứ hạng 53 trong tổng số 150 nước về chỉ tiêu đánh giá dịch vụ logistic.

Vì vậy, để giảm dần tỷ trọng nhập siêu dịch vụ, chìa khoá không chỉ nằm trong tay doanh nghiệp hoạt động trong ngành vận tải mà cần có sự chung tay của doanh nghiệp bảo hiểm, ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh mang tính toàn cầu như vận tải biển, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh được ở mức độ quy mô và khả năng vận hành mạng lưới vận tải một cách chuyên nghiệp. Khi quyền quyết định mở các điểm trung chuyển phụ thuộc vào các hãng tàu lớn thì doanh nghiệp nhỏ khó lòng chen chân.

Du lịch: hiệu quả thấp

So với năm 2008, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ du lịch năm 2009 đạt 3,05 tỉ USD, chiếm 52,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. Điều đáng nói là doanh thu xuất khẩu dịch vụ du lịch giảm nhiều hơn so với mức độ suy giảm lượng khách đến. Trong khi lượng khách ước đạt 3,8 triệu lượt, giảm 10,9% thì doanh thu xuất khẩu dịch vụ du lịch giảm 22,4%.

Việc doanh thu giảm mạnh hơn lượng khách cho thấy hiệu quả khai thác dịch vụ của ngành được mệnh danh là công nghiệp không khói chưa thật cao. Báo cáo về lữ hành và du lịch Việt Nam phát hành tháng 12.2009 của EuroMonitor Intelligence nhận xét, trong khi nhu cầu du lịch và lữ hành tăng nhanh trong những năm gần đây, hạ tầng của ngành du lịch Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu này.

Để thấy rõ hơn điểm yếu của du lịch Việt Nam, có thể dựa vào báo cáo đánh giá chỉ số cạnh tranh về lữ hành và du lịch Việt Nam do diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố cuối quý 1 năm ngoái. Trong 140 nước và vùng lãnh thổ được xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 96 về năng lực cạnh tranh trong ngành du lịch. Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam, theo báo cáo trên, là giá rẻ, xếp thứ bảy trong 140 nước, lãnh thổ. Các lợi thế cạnh tranh gồm có khả năng phát triển du lịch bền vững, ít ô nhiễm, chính sách ổn định, mạng lưới giao thông, tài nguyên về cảnh quan, thiên nhiên. Trong khi đó, chất lượng về hạ tầng giao thông, số lượng phòng khách sạn không đủ đáp ứng nhu cầu, tai nạn giao thông, chất lượng nguồn nhân lực đã làm giảm khả năng thu hút khách của Việt Nam. Tuy có được lợi điểm về di sản văn hoá, nhưng Việt Nam cũng mất điểm trong lĩnh vực này do thiếu các sự kiện triển lãm văn hoá hay hội chợ tầm cỡ quốc tế, theo đánh giá của WEF.

Câu chuyện nhập siêu dịch vụ cho thấy, nhân công giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang mất dần vai trò lợi thế cạnh tranh và trong đó, bài toán quan trọng là chất lượng nguồn nhân lực.

Quốc Khánh

2010 – Năm của chuẩn hóa thị trường chứng khoán

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:10 pm
Tags: , ,
Năm 2009 đã đi qua với không ít “thăng trầm” của thị trường chứng khoán và gợi những băn khoăn, lo lắng cho nhà đầu tư khi nhìn về năm 2010.

Ngay trước thềm năm mới, phóng viên Vietnam+ đã có cuộc phỏng vấn ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về những định hướng phát triển thị trường trong năm nay.

Chuẩn hóa thông tin, tăng phạt “nội gián”

Năm 2009, có một vấn đề “nóng” được các nhà đầu tư quan tâm đó là việc các nhóm nhà đầu cơ sử dụng “tin đồn, tin nội gián” như một “công cụ” làm giá trên thị trường. Vậy, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có những biện pháp nào để xử lý vấn đề trên?

Chủ tịch Vũ Bằng: Năm vừa qua khi thị trường hồi phục, các loại tin đồn ngày càng gia tăng. Để xử lý vấn đề này, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã có công văn gửi Bộ Thông tin và Truyền thông để có sự phối hợp và tăng cường công tác thông tin báo chí, tránh đưa ra nội dung thông tin có thể dẫn tới những ảnh hưởng đến thị trường.

Thứ hai, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng có công văn gửi tới các sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán đề nghị theo dõi các tin đồn trên thị trường, yêu cầu các đơn vị này và các doanh nghiệp có các tin đồn liên quan đến mình thì phải công bố cải chính ngay. Đây chính là nét văn hóa tạo ra sự minh bạch, chống lại những tin đồn không chính xác.

Đối với tin đồn qua hệ thống tin nhắn, chúng tôi đã yêu cầu các đơn vị gửi thông tin về Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, sau khi nhận được thông tin chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra để có xử lý.

Thứ ba, quan trọng hơn, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ hoàn thiện lại văn bản về công bố thông tin. Trong quy định công bố thông tin do Bộ Tài chính mới ban hành có quy định thêm các yêu cầu về công bố thông tin, yêu cầu về trang website, yêu cầu về báo cáo thành viên… theo đó các công ty niêm yết sẽ phải minh bạch hóa hơn nữa trong việc cung cấp thông tin ra thị trường.

Ngoài ra, chúng tôi sẽ tăng cường thanh tra, giám sát, xử phạt. Thời gian vừa qua, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cử nhiều đoàn đi kiểm tra bất thường và định kỳ. Đã phát hiện và có xử phạt một số vụ vi phạm.

Bên cạnh đó, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có công văn gửi các sở giao dịch tăng cường bóc tách tất cả các giao dịch nghi ngờ, các mã chứng khoán có vấn đề yêu cầu rà soát lại giao dịch trong vòng 6 tháng gần đây.

Đáng chú ý, tới đây sẽ có sửa đổi qui chế xử phạt liên quan đến giao dịch nội gián sau khi Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 36.

Đối với mức phạt thu lời bất chính qua giao dịch nội gián, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ có những hướng dẫn thi hành trên cơ sở tham khảo từ qui định quốc tế. Từ đó, khung hình phạt có thể cao hơn nữa.

Dưới góc độ là người đứng đầu Ủy ban, ông có thể cho biết Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vẫn còn những việc gì chưa thực hiện được trong năm qua?

Chủ tịch Vũ Bằng: Tôi cho rằng, cái “chưa làm được” là luật chứng khoán yêu cầu các công ty đại chúng phải đăng ký lưu ký tập trung để đưa vào giao dịch, nhưng vẫn chưa thực hiện được. Hiện tại, mới chỉ dừng ở việc các công ty đại chúng đăng ký kế hoạch lên. Trong 1.000 công ty đại chúng hiện nay, đăng ký kế hoạch mới chỉ là 300 công ty.

Mặt khác, công tác thanh tra xử phạt, với số lượng người hạn chế trong khi việc kiểm tra, kiểm soát tài khoản cũng như báo cáo tài chính năm chưa thực sự tốt, rồi nghiệp vụ mới phát sinh… cũng khiến cho công tác này gặp không ít khó khăn.

Nhìn lại thời điểm đầu năm 2009, thị trường đứng trước những khó khăn thử thách, đã có sự lo ngại các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút vốn ra khỏi Việt Nam. Theo ông có sự tháo chạy nào không? Và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trong năm qua ra sao?

Chủ tịch Vũ Bằng: Việc rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kinh tế toàn cầu và chiến lược kinh doanh của từng nhà đầu tư. Quý I/2009, xu hướng thoái vốn tăng. Nhưng từ quý II/2009 thị trường bắt đầu hồi phục, tình trạng rút vốn đã giảm dần. Đặc biệt, trong những tháng cuối năm lượng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường đã tăng gấp 3 lần so với các tháng trước đó.

Đây là một dấu hiệu tích cực đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Song dòng tiền này có duy trì hay không trong năm tới sẽ phụ thuộc vào sự cải thiện của nền kinh tế vĩ mô, sự hấp dẫn của thị trường chứng khoán và vấn đề tỷ giá, sự chuyển đổi đồng tiền… Đây là yếu tố mà họ sẽ cân nhắc khi đầu tư vào Việt Nam.

Lấp “lỗ hổng” tài chính, linh hoạt UPCoM

Thị trường UPCoM ra đời là “sân chơi” cho những doanh nghiệp chưa niêm yết và được kỳ vọng sẽ thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia, nhưng lại khá èo uột. Vậy xin ông cho biết đâu là nguyên nhân chính khiến thị trường này chưa hấp dẫn và biện pháp để thu hút doanh nghiệp trong thời gian tới?

Chủ tịch Vũ Bằng: Thị trường UPCoM bước đầu đã thu hút được một số công ty tham gia, tạo ra các phương thức giao dịch mới và góp phần tăng cường tính minh bạch cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, thị trường UPCoM chưa đáp ứng được hết các yêu cầu đề ra, tính thanh khoản còn thấp, chưa thu hút được công ty đại chúng như ý muốn. Mặt khác, thị trường chưng khoán hồi phục, nhiều đơn vị đại chúng lại có xu hướng lên thị trường chính thức nhiều hơn.

Đó là chưa kể, hoạt động chuyển nhượng OTC bên ngoài cũng bùng phát, cạnh tranh với thị trường UPCoM. Hiện, chúng tôi đã có những tổ chức đánh giá lại, đề xuất các giải pháp cải thiện và trình Thủ tướng Chính phủ.

Chắc chắn sang năm mới, khi áp dụng các phương thức giao dịch mới thì thị trường UPCoM sẽ trở nên linh hoạt hơn. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tăng cường bắt buộc các công ty đăng ký lưu ký tập trung và kiểm soát hoạt động giao dịch tự do đồng thời có những biện pháp xử lý hành chính các đơn vị vi phạm nhằm hướng tới phát triển thị trường có tố chức.

Năm 2010 được coi là năm “bản lề” quan trọng đối với việc cải cách thể chế, chuẩn hóa hoạt động của thị trường tiếp cận dần tới chuẩn quốc tế. Vậy ông có thể cho biết những định hướng lớn trong năm tới?

Chủ tịch Vũ Bằng: Thị trường chứng khoán phụ thuộc nhiều vào kinh tế vĩ mô. Khả năng tăng trưởng của Việt Nam theo Chính phủ đặt ra là khả thi. Tăng trưởng quốc tế hồi phục, nhìn chung kinh tế vĩ mô toàn cầu năm 2010 so với 2009 sẽ có nhiều thuận lợi hơn. Đây chính là nền tảng quan trọng cho thị trường phát triển.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam cũng vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn do tiềm ẩn của lạm phát, nhập siêu…

Trong bối cảnh đó, nếu đứng dưới góc độ nhà đầu tư so sánh mức tăng trưởng theo VN-Index thì chắc năm 2010 không được như 2009. Tuy nhiên, xét về sự phát triển qui mô thị trường thì năm nay sẽ cải thiện hơn.

Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là tập trung vào giải pháp dài hạn như xây dựng chiến lược phát triển thị trường đến năm 2010, bổ sung, sửa đổi luật chứng khoán và tiếp tục hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý.

Thứ hai, là phải tiếp tục nâng cao an toàn tài chính, kiểm soát rủi ro trong hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Kinh nghiệm qua thời kỳ khủng hoảng và cả trong thời kỳ thị trường chứng khoán bùng phát, vấn đề an toàn tài chính luôn luôn là vấn đề phải quan tâm nhằm tạo ra sự phát triển bền vững cho thị trường chứng khoán.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao dịch, lưu ký thanh toán bù trừ theo hướng tiếp cận dần với tiêu chuẩn quốc tế, trong đó có vấn đề công nghệ thông tin và các quy định trong hoạt động.

Cuối cùng, chuẩn bị các kế hoạch và điều kiện cho việc tái cấu trúc thị trường bước hai đối với các sở giao dịch chứng khoán nhằm tạo ra hoạt động đồng bộ và hiệu quả hơn của toàn bộ thị trường chứng khoán./.

Hạnh Nguyễn

Doanh nghiệp nhà nước không vay vượt quá 3 lần vốn điều lệ

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:07 pm
Tags: ,

Bộ Tài chính vừa ban hành thông tư 242/2009 hướng dẫn thi hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.

Theo thông tư này, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước… không được tự ý vay vốn làm cho hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệ vượt quá ba lần (đối với công ty có HĐQT) hoặc vượt quá vốn điều lệ (đối với công ty không có HĐQT) mà phải báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước xem xét quyết định.

Để tránh nợ nần chồng chất, thông tư 242 quy định công ty nào không được phép huy động vốn vượt mức trên nhưng liên tục hai năm có hệ số nợ phải trả vượt vốn điều lệ ba lần thì phải chuyển nhượng các khoản đầu tư tài chính, đa dạng hóa sở hữu các đơn vị thành viên, thu hồi vốn đầu tư vào các lĩnh vực ngoài ngành kinh doanh chính…
Để tránh các công ty trong tập đoàn đầu tư chéo lẫn nhau, thậm chí “con” đầu tư vào “mẹ”, thông tư 242 khẳng định sắp tới, các công ty con không được đầu tư góp vốn vào công ty mẹ. Công ty con, doanh nghiệp phụ thuộc không được góp vốn mua cổ phần của các đơn vị trong cùng tập đoàn, tổng công ty.

Cũng theo thông tư 242, nếu tài sản cố định mới công ty nhà nước đầu tư không mang lại hiệu quả như phương án ban đầu, công ty phải nhượng bán tài sản, không có khả năng thu hồi đủ vốn đã đầu tư dẫn tới không trả được nợ vay thì phải làm rõ trách nhiệm của những người có liên quan để báo cáo đại diện chủ sở hữu xử lý theo quy định của pháp luật.

C.V.KÌNH

Kiểm soát giá cả – nên hay không?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 6:00 pm
Tags: ,

Khả năng Chính phủ Việt Nam (CPVN) áp đặt quản lý giá cả trên một danh mục lớn các mặt hàng bất kể nguồn sản xuất là doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tư nhân (DNTN) hay doanh nghiệp có vốn nước ngoài (DNVNN) đang khiến nhiều người lo ngại. Thí dụ, Phòng thương mại Âu châu ở Việt Nam (EuroCham) đã 2 lần gửi thư lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ sự lo ngại đặc biệt đối với dự thảo mới về quản lý giá cả mà bộ Thương mại đang xây dựng.

Tờ Wall Street Journal hồi cuối tháng 12 vừa rồi đã đăng bài của James Hookway, lập luận rằng tăng cường quản lý giá cả là bước đi có tính toán của CPVN nhằm kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, James Hookway cho rằng đây là một bước thụt lùi nghiêm trọng, đánh dấu sự nổi lên của các thế lực bảo thủ trong bộ máy Đảng – Nhà nước trước sự mờ nhạt dần đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – người được James Hookway mô tả là có đầu óc cải cách. Theo James, cùng với việc thiết chặt quản lý xã hội như khống chế blogs, bỏ tù bất đồng chính kiến, và cấm phản biện, việc tăng cường quản lý giá cho thấy quá trình cải cách ở VN đang bị đẩy lùi.

Vậy quản lý giá cả là gì? Và ảnh hưởng của nó như thế nào đối với nền kinh tế?

Quản lý giá cả (price control) thường được hiểu là việc nhà nước đặt ra một số ràng buộc đối với doanh nghiệp trong việc xác định mức giá bán hàng hóa. Ở mức cực đoan nhất, nhà nước ấn định mức giá thay cho doanh nghiệp (thí dụ như giá cả hàng hóa thời bao cấp). Ở mức độ linh hoạt hơn, nhà nước có thể xác định mức giá trần (thí dụ giá trần của vé máy bay ở VN do Bộ Tài chính xác định) hoặc ấn định mức lợi tức cao nhất mà doanh nghiệp được phép có (margin control). Ở hình thức thứ 3 này, nhà nước dựa vào báo cáo của doanh nghiệp về chi phí sản xuất để xác định mức “giá thành”. Từ đó, nhà nước đặt điều kiện cho doanh nghiệp không được tính giá cao hơn mức giá thành cộng với một tỉ lệ lợi tức hợp pháp.

Nhìn chung, quản lý giá cả làm cho các quy luật kinh tế bị biến dạng. Doanh nghiệp có ít động cơ để cung ứng, vì thế có thể gây khan hiếm trên thị trường. Mặt khác, nó cũng làm méo mó việc phân bổ nguồn lực kinh tế nói chung. Thời bao cấp ở Việt Nam đã cho thấy sức tàn phá nghiêm trọng của biện pháp kiểm soát giá cả ngặt nghèo.

Từ khi mở cửa tới nay, kinh tế Việt Nam đã từng bước được cải cách theo hướng tự do hóa. Một trong những thành phần quan trọng nhất của định hướng thị trường là bãi bỏ kiểm soát giá cả – theo đó nhà nước để mặc các doanh nghiệp tự hạch toán kinh doanh.

Có lẽ vì thế mà Wall Street Journal – một tờ báo thi thoảng vẫn bị chế giễu là ngả theo trường phái kinh tế thị trường tự do một cách quá đáng tới mức ngốc ngếch – đã dựa vào việc đẩy mạnh kiểm soát giá như là một bằng chứng cho rằng các thế lực bảo thủ ở VN đang đảo ngược quá trình cải cách.

Thế nhưng đúng như tờ Wall Street Journal bình luận, kiểm soát giá cả ở VN nên được hiểu trong bối cảnh sức ép lạm phát quá lớn từ vài năm trở lại đây. Đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về xã hội do lạm phát gây ra, CPVN đã tìm mọi cách để ghìm cương con ngựa này. Đầu tiên là siết chặt quản lý kinh doanh tín dụng của ngân hàng (thí dụ như nâng mức dự trữ bắt buộc, đặt ra hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm) và nâng lãi suất cơ bản. Bước tiếp theo mà CPVN đã thực hiện là trợ cấp cho một số mặt hàng như xăng dầu để giữ giá trong nước ổn định (trong khi giá xăng dầu quốc tế tăng đột biến).

Từ cuối năm 2008, Bộ Tài chính (BTC) đã đi xa hơn nữa bằng cách xây dựng một danh mục 15 mặt hàng thuộc diện phải quản lý giá. Theo thông tư số 104 của BTC, danh mục 15 mặt hàng này bao gồm xăng dầu, xi măng và thép xây dựng, khí hóa lỏng, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, muối, sữa, đường ăn, thóc lúa, gạo tẻ thường, thuốc y tế cho người, cước vận chuyển, thức ăn chăn nuôi gia súc, và các mặt hàng do UBND cấp tỉnh quy định. Các doanh nghiệp thuộc diện bị quản lý giá là các DNNN và DN có vốn đầu tư nước ngoài trong đó nhà nước nắm đa số cổ phiếu (trên 50%).

Không có ai phàn nàn gì về việc nhà nước bù lỗ để giữ giá xăng dầu, hoặc áp đặt quản lý giá đối với các DNNN. Việc áp đặt các quy định hành chính đối với hoạt động của DNNN vốn được coi là bình thường.

Thế nhưng rõ ràng là hiệu quả của thông tư vừa kể không đi đến đâu. Với các thị trường mà khu vực tư nhân và nước ngoài thống trị như trường hợp thị trường sữa nhập khẩu thì việc quản lý giá của các DNNN tham gia các thị trường này rõ ràng không có tác dụng gì tới mức giá cả trên thị trường. Chính vì thế BTC mới có tham vọng sửa đổi thông tư này để đưa các DNTN và DNVNN vào diện bị quản lý. Việc này đương nhiên làm khối DNTN và DNVNN không vui. Phản ứng của EuroCham là một thí dụ.

Khi đưa ra đề xuất mới này, có vẻ như cơ sở mà BTC dựa vào là (1) các thị trường thiết yếu này không thực sự cạnh tranh (competitive), và (2) có dấu hiệu cho thấy trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp đã thao túng giá. Thí dụ khi chi phí nhập khẩu thành phẩm không tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn đồng loạt tăng giá sữa bột bán ở VN.

Trái lại, những tổ chức như EuroCham thì lại lập luận rằng các thị trường (mà VN muốn áp đặt quản lý giá) thực ra là các thị trường hết sức cạnh tranh. Trên một thị trường có sức ép cạnh tranh lớn, doanh nghiệp không thể tùy tiện nâng giá bán. Nói cách khác, chuyện thao túng giá là không khả thi. Trong một môi trường như vậy, không nên kiểm soát giá.

Điều mà EuroCham không nói đến là ngay cả khi thị trường không thực sự cạnh tranh (not competitive), hoặc khi có dấu hiệu cho thấy trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp đã thao túng giá thì NN cũng không thể “chữa” bằng cách quản lý giá. Thay vào đó, NN cần phải ráo riết áp dụng Luật Cạnh tranh, thường xuyên điều tra các họat động cấu kết giữa các doanh nghiệp nói riêng, và cạnh tranh không lành mạnh nói chung để bảo đảm mức giá cả phản ánh thực chất sức ép cạnh tranh trên thị trường.

Áp dụng quản lý giá ồ ạt trên hàng lọat thị trường sẽ làm bộ máy hành chính của BTC phải phình to để có đủ khả năng quản lý giá cả trên diện rộng, và các doanh nghiệp phải làm thêm công việc thường xuyên báo cáo cấu trúc chi phí và giá cả. Điều này gây tổn phí nguồn lực cho cả hai bên. Thêm vào đó, quản lý giá bằng giá trần sẽ quá hà khắc và có thể gây ra tình trạng khan hiếm giả tạo, trong khi quản lý giá bằng giá thành thì lại thường không có tác dụng hạ thấp giá bán. Trong trường hợp quản lý thông qua giá thành, các doanh nghiệp luôn “thông minh” hơn NN trong việc làm phình to giá thành, và qua đó, đẩy giá bán lên cao.

Tóm lại, có thể hiểu được là trong điều kiện phải chống lạm phát bằng mọi giá, CPVN đã phải cầu cứu tới các biện pháp hành chính “nặng tay” như quản lý giá. Điều này có vẻ như là một dấu hiệu của sự bế tắc hay tuyệt vọng về chính sách hơn là một nỗ lực với chủ đích là nhằm đẩy lùi cải cách. James Hookway của Wall Street Journal có vẻ như đã phiến diện khi coi đây là một tín hiệu của phe bảo thủ đang thắng thế.

Về chuyện quản lý giá nên hay không, câu trả lời là không. Tuy nhiên, NN cũng không nên tin tưởng vào các tổ chức lobbyists như EuroCham khi họ tuyên bố rằng các thị trường ở VN đã rất cạnh tranh và NN không cần phải can thiệp. Theo tôi, nhà nước rất cần và thường xuyên phải can thiệp, nhưng không phải bằng cách quản lý giá, mà bằng cách sử dụng Luật về cạnh tranh để chống lại các hành vi cấu kết và thao túng giá cả trên thị trường.

Vietnam “never so determined” to reform administrative procedures

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:54 pm
Tags: , ,

VietNamNet Bridge – The business community hopes that tax procedures will be simplified since State regulators have promised to ease the burden on businesses.

Economists, policy makers, domestic and international organizations all say that complicated procedures are one of the three biggest problems that hinders the development of Vietnam’s economy.

In the new period of development, if administrative procedures cannot be stream-lined, Vietnam is not likely to obtain a high economic growth rate of 7-8 percent per annum.

The Government has been aware of the need for administrative reform. A resolution to revise administrative procedures was issued 15 years ago in 1994. Since that time, drastic measures have been taken to simplify administrative red tape. However, as Nguyen Minh Man, Head of the Administrative Procedure Reform Department, admitted, progress has been limited.

“The administrative procedure reform has brought modest results, not because we are lacking determination, but because we still do not have suitable measures,” Man maintained.

The IFC report on the global business environment, sponsored by the World Bank, demonstrated that Vietnam ranks the 140th among 182 economies in terms of tax procedures. The other ASEAN countries’ rankings include Singapore, which ranked fifth, Malaysia 21st, Thailand 22nd and Indonesia at 116th.

The report showed that Singapore businesses only spent 84 hours a year to fulfill their tax duties. In Malaysia, businesses spend 145 hours, while Thai businesses must spend 264 hours and Indonesia 266 hours.

Vietnamese businesses lose 1,050 hours a year to tax procedures and financial duties.

A Prime Minister’s taskforce on administrative procedure reform official claimed that there has been no concrete survey on the effects of the complicated procedures. However, the influence is so big that many people would rather pay additional fees, known as the “apparatus lubrication fee”, to avoid procedures.

“The Government had never, in the last 65 years since Vietnam obtained its independence, been so determined to push for administrative procedure reform like in 2009,” asserted Man.

Vietnam has completed the first stage of reform (checking all currently applied procedures) and has entered the second stage (removing all unnecessary procedures).

Deputy Prime Minister Nguyen Sinh Hung has ordered the Ministry of Finance to raise Vietnam’s grade in the IFC’s ranking to 120th from 140th, and reduce the number of hours spent on tax procedures to 600 hours. Hung has also decided that the time needed for customs procedures must be reduced to a level equal to 1.5 times the average time in neighboring countries.

Deputy Minister of Finance Do Hoang Anh Tuan is committed to slashing at least 30 percent of the 330 currently applied tax procedures and 239 customs procedures in 2010 to create a more favourable business environment.

VietNamNet/DTCK

Confidence evaporates amid fears of overheating

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:50 pm
Tags: ,

By Tim Johnston in Bangkok

Published: January 5 2010 02:00 | Last updated: January 5 2010 02:00

// 0){if (nl.getElementsByTagName(“p”).length>= paraNum){nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[paraNum]);}else {if (nl.getElementsByTagName(“p”).length == 3){nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[2]);}else {nl.insertBefore(tb,nl.getElementsByTagName(“p”)[0]);}}}}
// ]]>

A flurry of new building in downtown Hanoi, endless swarms of new motorbikes in Ho Chi Minh City: by some standards Vietnam’s economy is powering into 2010. But many economists and business executives remain stubbornly gloomy.

Vo Truong Son should be a happy man. But sitting in his office high above the central Vietnamese town of Pleiku, the deputy general manager of Hoang Anh Gia Lai, one of the country’s largest privately owned conglomerates, doesn’t seem to be celebrating either the company’s healthy results or the fact that Vietnam was one of the world’s strongest performers last year.

“I think the first half of 2010 will be hard due to the high interest rates and tighter monetary policy, and the problems with the balance of payments,” said Mr Son.

Vietnam’s communist government, weaned on running a command economy, has struggled with the nuances of using market mechanisms to direct and control growth. Over the past two years there have been violent swerves from austerity to stimulus and back again as the economy moved through inflation, the global crisis and now renewed signs of overheating.

But for an economy that has relied on exports and foreign direct investment for much of its growth over the past decade, Vietnam has survived the global slowdown remarkably well.

Statistics released last week show the country’s economy grew 5.32 per cent last year, down from its average of more than 7 per cent over the preceding four years, but still substantially stronger than the expectations of many of its competitors. The construction sector grew 11.4 per cent and retail by 18.4 per cent.

Mr Son is not alone in his glum assessment of the future, however, with many analysts warning that the biggest threat to the Vietnamese economy is overheating.

“I’m afraid it is a bit of a bubble again,” said Terence Mahony, a long-term investor in Vietnam. “They have two negative deficits, both the budget and the current account.” Like other businesspeople and economists, he fears Vietnam has returned to a state of chronic trade deficit. After running a surplus in the first half of the year, imports are again on the rise, and the deficit hit $1.97bn (€1.36bn, £1.22bn) in November.

That has been coupled with a rising budget deficit that the World Bank estimates will hit 9.7 per cent of GDP this year after expenditure on a stimulus programme which the bank estimates has cost the country almost $4bn, or 4 per cent of GDP. At the end of November, the government moved to tighten fiscal and monetary policy.

The dong was devalued by over 5 per cent, interest rates were raised by 100 basis points, state-owned enterprises were encouraged to sell their hoarded dollars to ease a foreign exchange liquidity crisis, and business was told that the flagship element of the stimulus programme, a four percentage point interest rate subsidy, would be wound up at the end of the year, despite pleas that it be continued.

The result has been a crisis of confidence that provoked a flight into dollars and gold. Exporters hoarded dollars. Retail investors, many of whom had been caught out by the 70 per cent fall in the stock market, moved into gold, turning Ho Chi Minh City hotel cafés into impromptu gold trading floors.

Last week, the government moved to try to regain some control over the exuberance of the market, ordering gold trading floors to shut by the end of March. Jewellery and retail sales – the bulk of the non-speculative market – will be allowed to continue.

But Benedict Bingham, the head of the International Monetary Fund in Hanoi, says that although there is some froth on the top of the economy, it is underpinned by solid fundamentals.

“There is some underlying resilience, stemming primarily from the fact that household balances were in quite good shape going into the crisis, so the Vietnamese consumer kept on buying,” said Mr Bingham.

But Mr Mahony says that although the global economy is improving, that might not be enough without a change of attitude at the top.

“I think it is still a horribly centralised approach to economics. They don’t understand the capitalist flows of the economy: they are control freaks.”

Copyright The Financial Times Limited 2010. You may share using our article tools. Please don’t cut articles from FT.com and redistribute by email or post to the web.

Vietnam Stocks Gain Most in 5 Months Amid Easing Trading Rules

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 4:34 am
Tags: , ,

January 4

By Van Nguyen and Nguyen Kieu Giang

Jan. 4 (Bloomberg) — Vietnam’s benchmark stock index gained the most in more than five months after the government eased trading rules and said it will close about 20 gold exchanges, boosting demand for equities.

The VN Index advanced 4.5 percent, the most since July 24, to close at 517.05 on the Ho Chi Minh City Stock Exchange, the highest in more than a month. Vietnam Export-Import Commercial Joint-Stock Bank, the country’s fourth-biggest listed bank, gained by the daily limit of 5 percent to 25,200 dong. PetroVietnam Fertilizer & Chemical Joint-Stock Co. climbed 5 percent, the most since Aug. 25, to 35,700 dong.

State Securities Commission Chairman Vu Bang Dec. 30 said the minimum period that buyers must hold shares before selling them may be reduced by one day. The government on the same day ordered the closure of about 20 gold trading floors in the country by March 30.

“A relatively big capital flow is expected to transfer from gold exchanges to the stock market,” said Giang Trung Kien, head of research at FPT Securities Inc., the brokerage unit of Vietnam’s biggest listed software maker. “Investors were trading very excitingly today because they expect the liquidity in the market will rise after the new rules.”

Investors currently have to wait three days after the date of purchase for the transaction to clear before they’re able to sell the shares. The delay will be cut to two days after the date of purchase, Bang said in an interview in Hanoi.

Agribank Securities Joint-Stock Co., the brokerage unit of Vietnam’s biggest lender by assets, rose 5 percent to 25,200 dong. Joint-Stock Bank for Foreign Trade of Vietnam, the country’s largest listed lender, added 4.9 percent to 49,300 dong, the highest since Nov. 16.

First Day

Shares surged in the first trading session of 2010 after a strengthening economy helped boost the index 57 percent last year, the most since 2006. The Southeast Asian nation’s economy expanded 5.3 percent last year and the government expects growth of 6.5 percent this year.

“We hold positive forecasts if you incorporate the growth rate of Vietnam and the general view of Vietnam and other emerging countries,” said Louis Nguyen, chairman and chief executive officer of Saigon Asset Management, which manages about $125 million.

“The forward price-earnings ratio appears to be reasonable,” he said by phone today. The “true” ratio for shares on the VN Index is 15 times earnings or less, he said. That compares with a multiple of 22.5 times estimated earnings for shares on the MSCI Asia Pacific Index.

–Editors: Reinie Booysen, Richard Frost

To contact the reporter on this story: Van Nguyen in Ho Chi Minh City at +84-9-1312-0044 or vnguyen23@bloomberg.net; Nguyen Kieu Giang in Hanoi at +84-4-3936-6725 or giang1@bloomberg.net

To contact the editor responsible for this story: Linus Chua at +65-6212-1530 or lchua@bloomberg.net

Next Page »

Blog at WordPress.com.