Ktetaichinh’s Blog

January 3, 2010

Thập kỷ mất mát thứ ba đang chờ đợi nước Nhật?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 2:57 am
Tags: ,

Đã hai mươi năm ròng Nhật Bản vật vã vì hậu quả của những bong bóng trong quá khứ.

Với nhiều người Nhật, những năm bùng nổ kinh tế vẫn còn nhói đau trong ký ức.

Họ nhớ lại những cái giá đáng hổ thẹn để mua tác phẩm của Van Gogh và Renoir; những bất động sản ở Manhattan; những giờ làm việc điên cuồng rồi đổ xô đến các khu trượt tuyết đông chật chỉ đến tốn thời gian xếp hàng chờ thang máy.

Bong bóng vỡ thế nào lại khó nhận thấy hơn. Thế giới không sụp đổ sau ngày 29/12/1989, ngày giao dịch cuối cùng của thập kỷ đó khi thị trường tạo đỉnh.

Tới năm sau người Nhật vẫn vung tiền mua các tác phẩm nghệ thuật theo trường phái ấn tượng tại nhà đấu giá Christie’s.

Chỉ đến năm 1991 bong bóng bất động sản mới vỡ tung. Không có vụ sụp đổ kiểu Lehman hay lừa đảo kiểu Bernie Madoff nào để sự ngạo mạn hiểu được cái ngu xuẩn của chính mình.

Nhưng khi chỉ số Nikkei 225 đạt mốc 38.916 điểm 20 năm trước, sự sống bắt đầu thoát khỏi nền kinh tế Nhật Bản.

GDP danh nghĩa quý III năm 2009 cho dù vẫn là khổng lồ nếu so với các nước khác đã giảm xuống dưới mức của năm 1992, khiến cảm giác có không chỉ một mà tới hai thập kỷ mất mát lại càng mạnh mẽ hơn.

Ngày 29/12, Nikkei đứng tại ngưỡng 10.638 điểm, giảm 73% so với đỉnh cho dù một ngân sách hào phóng được phác thảo hôm 25/12 mới giúp nó tăng thêm chút ít.

Giá bất động sản đô thị đã giảm gần 2/3. Một số căn hộ ở khu trượt tuyết giờ chỉ đáng giá 1/10 so với những gì “thế hệ bong bóng” đã trả để có được chúng.

Giá trị cứ giảm đều đặn như vậy tác động thế nào tới tâm lý người dân Nhật? Bong bóng vỡ không tàn phá nước Nhật như những gì cuộc Đại suy thoái đã làm với nước Mỹ trong thập niên 1930.

Thất nghiệp và tự tử tăng, đời sống thanh niên khó khăn hơn vì không kiếm nổi việc. Nhưng nước Nhật vẫn có tới 1,5 triệu tỷ yên tức 16.300 tỷ đôla tiền tiết kiệm, các doanh nghiệp xuất khẩu đẳng cấp và nhiều người dân vẫn may mặc, mua sắm và ăn uống xa hoa.

Như một quan chức cao cấp nói: “Người Nhật chưa bao giờ biết rằng mình đang ở trong một cuộc khủng hoảng, cho dù nền kinh tế có đang dần teo tóp.”

Tổn thất còn ẩn sâu bên trong mỗi cá nhân. Một trong những bong bóng đầu tiên nổ tung là bong bóng tâm lý: sự tự tin. Thay vì giận dữ, mọi người mất niềm tin vào sức mạnh kinh tế của Nhật Bản.

Tâm trạng nhà đầu tư nhanh chóng chuyển sang xu hướng ghét rủi ro. Đáng chú ý là nhà đầu tư cá nhân là những người đầu tiên rút khỏi thị trường, họ cũng bán ròng cổ phiếu trong giai đoạn 1991-2007. Mặc dù đã có 4 đợt tăng giá trong xu hướng giảm kể từ năm 1989 nhưng đều là nhờ sức cầu từ khối ngoại.

Người Nhật để tiền ở những nơi an toàn được chính phủ bảo đảm như bưu điện, những nơi này đến lượt mình lại đầu tư vào các trái phiếu an toàn. Kết quả là trái phiếu chính phủ loại 10 năm tăng giá 78% kể từ đáy năm 1999.

“Sản phẩm có thu nhập cố định là thị trường tăng giá dài nhất trên thế giới,” chiến lược gia trưởng của Goldman tại Nhật, bà Matsui nói.

Tâm lý giảm phát bắt đầu chiếm ưu thế. Khi giá giảm, tiền gửi ở ngân hàng hay bưu điện thực tế vẫn kiếm được khoàn lời không phải chịu thuế nhỏ.

Khi hệ thống ngân hàng bắt đầu lung lay lại bùng nổ làn sóng bán két sắt để dân chúng giữ tiền tại gia. Một quãng thời gian dài lãi suất bằng không thúc đẩy nhiều người tìm kiếm lợi suất cao hơn ở nước ngoài.

Tưởng tượng có một bà nội trợ quản lý tiền nong gia đình nào đó tên là Watanabe đang đặt cược vào trái phiếu Brazil, hơi châm biếm nhưng nếu vậy thì cho dù Tokyo có thất bại trong cuộc đua dành quyền đăng cai Olympic 2016, họ vẫn cứ tài trợ cho Thế vận hội tại Rio de Janeiro.

Vậy mà nhà đầu tư cá nhân Nhật Bản vẫn thận trọng với cổ phiếu quê nhà.

Tác động nguy hại nhất theo các nhà kinh tế đã được chuyển sang cho ngân hàng và doanh nghiệp.

Ngân hàng thấy mình ngập trong nợ xấu. Họ phải đối diện với những từ như thua lỗ, tái cơ cấu hay hợp nhất.

Nhưng theo Takuji Aida, nhà kinh tế tại UBS Nhật Bản, lợi suất dài hạn vẫn rất thấp do kỳ vọng giảm phát, do đó làm phẳng đường cong lợi suất (sự khác biệt giữa lãi suất ngắn và dài hạn).

Điều đó khiến ngân hàng không thể tìm được đường thoát suy thoái, vì vậy cho vay vẫn yếu ớt.

Trong khi đó doanh nghiệp tập trung vào việc trả nợ cũng như đối phó với giảm phát trong nền kinh tế nội địa và sức cạnh tranh từ các mặt hàng nhập khẩu giá rẻ.

Các nhà xuất khẩu lớn buộc phải tái cấu trúc và đã dễ chịu hơn trong đợt bùng nổ kinh tế từ 2002 đến 2007.

Nhưng doanh nghiệp trong các khu vực nhận được nhiều bảo hộ lại chống chọi kém: lợi nhuận, lương bổng và đầu tư đều giảm trong thập kỷ vừa qua.

Điều này gây tác động ngược lên các hộ gia đình. Khi doanh nghiệp thu hẹp, tỷ lệ hợp đồng lao động toàn thời gian đã giảm từ gần 80% lực lượng lao động năm 2007 xuống còn 66% năm 2007.

Tỷ lệ việc làm không thường xuyên thu nhập thấp do đó tăng. Lương bổng giảm khiến cả hai vợ chồng phải đi làm.

Có những hậu quả xã hội dài hạn khi thu nhập cứ giảm mãi thế này. “Cuộc suy thoái chậm chạp khiến mọi người không còn tự tin vào khả năng nuôi con của mình nữa,” ông Tasker nói.

Văn hóa vay mượn tiêu dùng yếu có nghĩa rằng dân chúng buộc phải dựa vào tiền tiết kiệm của mình hoặc cha mẹ.

Nhưng xã hội đang già đi nên tiết kiệm cũng tăng chậm dần. Tiết kiệm sẽ giảm khi có thêm người nghỉ hưu. Thập kỷ tới với thanh niên có lẽ sẽ còn khó khăn hơn hai thập kỷ vừa qua.

Theo Dân Trí/Nytimes

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: