Ktetaichinh’s Blog

January 3, 2010

Chất lượng tăng trưởng của hạt gạo?

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 3:30 am
Tags: , ,

TBKTSG) – Năm 2009, lần đầu tiên sản lượng gạo xuất khẩu ước đạt hơn 6 triệu tấn, một con số kỷ lục. Chỉ có điều, đừng quá lạc quan với những con số, khi điều quan trọng là chất lượng của tăng trưởng vẫn chưa đạt như mong muốn.

Theo ông Nguyễn Thọ Trí, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), kể từ năm 1989, năm đầu tiên tham gia xuất khẩu gạo sau ngày thống nhất đất nước, năm 2009 là lần đầu tiên Việt Nam đạt mức xuất khẩu kỷ lục, có thể từ 6- 6,2 triệu tấn. Trước đó, năm 2008, dù giá xuất có cao hơn, nhưng sản lượng gạo xuất chỉ đạt gần 4,68 triệu tấn, tương đương gần 2,7 triệu đô la Mỹ. Như vậy, chỉ trong năm năm, từ 2005- 2009, xuất khẩu gạo đã chiếm 36% về lượng và 48,5% về tổng trị giá so với 21 năm xuất khẩu gạo.

Điều đáng nói ở đây là trong bối cảnh thiên tai xảy ra ở nhiều vùng miền, an ninh lương thực vẫn là yếu tố cần quan tâm, sản lượng sản xuất trong nước vẫn không tăng nhiều, nhưng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng rất khả quan.

Chưa bền vững!

Điều kỳ lạ nào đã xảy ra? Theo giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo, điều chưa lấy làm mừng là sự tăng trưởng sản lượng xuất khẩu ấy lại nhờ một yếu tố khách quan: thị trường thế giới. Sau cơn sốt gạo hồi năm 2008, nhiều quốc gia bắt đầu “giật mình” với bốn chữ an ninh lương thực, thế là các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới như Ấn Độ, Thái Lan… cũng phải e dè và có những toan tính riêng. Do vậy trong năm nay, đã có lúc hầu như các doanh nghiệp Việt Nam chiếm tỷ lệ áp đảo, chi phối nguồn cung, trong lúc nhu cầu thế giới vẫn đang mạnh mẽ. Mặt khác, khủng hoảng khiến thu nhập của tầng lớp lao động trên thế giới tụt giảm, điều đương nhiên là để tiết kiệm, họ phải tăng khẩu phần gạo… để thay thế một phần thịt, cá…

Do đó, tăng sản lượng xuất không có điều gì lạ, nhất là hồi cuối năm 2008, lượng gạo tồn kho trong các doanh nghiệp lên khoảng 0,8 triệu tấn, làm giảm áp lực về an ninh lương thực.

Nhu cầu lương thực trong tương lai vẫn còn cao. Gia tăng dân số, đất nông nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng biến đổi khí hậu, cộng thêm việc phát triển năng lượng sinh học… khiến nguồn cung gạo trên thế giới giảm dần. Theo Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc (FAO), thế giới đã dành khoảng 1% đất canh tác cho việc sản xuất các cây trồng làm nhiên liệu sinh học, đứng đầu là Brazil, Mỹ, các nước châu Âu, trong đó riêng Brazil đã sản xuất khoảng 3 tỉ lít ethanol từ cây mía…

Nhưng liệu Việt Nam chiếm thế thượng phong trong xuất khẩu gạo được bao lâu? Không đâu xa, ngay chính các nước đang đứng trước áp lực thiếu gạo cũng đã có kế hoạch đối phó từ sau năm 2008. Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), chính phủ Philippines đã cam kết đầu tư một tỉ đô la Mỹ để tăng sản lượng lúa. Maylaysia cũng thông qua khoảng chi 2,4 tỉ ringgit để đảm bảo lương thực. Còn Trung Quốc, quốc gia có lợi thế về đất đai, cũng đã ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính, hạ thấp giá đầu vào nông nghiệp, tăng mức giá mua gạo… nhằm khuyến khích tăng sản lượng.

Thực tế là trong năm nay, chính sự “co vòi” của Ấn Độ và sự rụt rè khi tung gạo ra thị trường thế giới của Thái Lan, đã tạo lợi thế cho Việt Nam, chứ đó không phải là một quy luật tất yếu. Dấu ấn mà VFA tạo ra không nhiều, khi cơ chế điều hành xuất khẩu gạo vẫn chưa hứa hẹn cởi mở hơn, dù đã có nhiều ca thán trong những năm qua.Và tại nội địa, dù theo tính toán của các nhà khoa học, an ninh lương thực vẫn có thể đảm bảo trong những năm tới vẫn có thể dôi ra nhiều gạo để xuất khẩu, nhưng trước tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra, những dự đoán này hoàn toàn có thể sai lệch do diện tích lúa buộc phải giảm vì xâm ngập mặn, thay đổi cơ cấu cây trồng… Cộng thêm những quy hoạch khu công nghiệp, đô thị… nên từ nay đến năm 2015, đất lúa sẽ giảm thêm trên dưới 0,1 triệu héc ta, nên đừng quá kỳ vọng vào sản lượng xuất khẩu có thể tăng tiếp mạnh mẽ trong những năm tới.

Vị trí đặt quảng cáoChưa thể hài lòng!

Chưa thể đo lường chất lượng tăng trưởng dựa trên con số kim ngạch ngoại tệ thu về. Dù thực tế sản lượng xuất năm nay tăng hơn 1,3 triệu tấn nhưng kim ngạch có thể giảm khoảng 193 triệu đô la Mỹ bởi giá gạo thế giới giảm. Vấn đề cần quan tâm ở đây là đồng lời của nông dân, liệu có tăng?

Những tháng cuối năm, giá lúa tăng vọt, có lúc trên 6.000 đồng/ki lô gam. Nhưng như ông Nguyễn Văn Hài, nông dân huyện Thới Lai (Cần Thơ), cho biết: “Vừa qua, tôi bán lúa hè thu khi giá chỉ có 3.200 đồng/ki lô gam, tính ra lỗ vì chi phí quá nặng”. Như vậy, với những bất lợi về vốn, kho trữ… nên nông dân không hề thu lãi khi giá lúa tăng vọt vào cuối năm. Còn vụ đông xuân vừa rồi, nông dân thu lợi nhuận khá tốt, nhưng chi phí phân bón lại tăng cao.

Theo khảo sát của IPSARD, lợi nhuận của nông dân trong vụ đông xuân giảm từ 8,3-31,2% so với vụ năm 2008, chỉ vì giá lúa không tăng kịp giá phân bón, thuốc trừ sâu… Và thực tế giá lúa hồi vụ này cũng chỉ tăng mạnh sau khi nông dân đã sạch bồ.

Đừng cứ cho rằng đó chỉ là những lời than vãn muôn thuở của những người chân lấm tay bùn. Theo phân tích chuỗi giá trị về lúa gạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, trong phần giá trị tăng thêm của hạt gạo xuất khẩu, những người mua bán trung gian thường đã hưởng đến 67% giá trị tăng thêm. Nông dân chẳng được hưởng bao nhiêu. Nguyên nhân do nông dân là người xa nhất với người tiêu dùng cuối cùng, khó nắm bắt thông tin và sự thay đổi của thị trường, chịu tác động mạnh của đầu vào, thiếu vốn, thiếu tài sản và khó tiếp cận với tín dụng nên khó lòng giữ lúa chờ giá, lại phải chịu nhiều rủi ro về thời tiết. Quan trọng nhất là đầu vào trong sản xuất lại bị thả nổi, phân bón giả, giá tăng khó kiểm soát… vẫn là điều mà nông dân vẫn phải gánh chịu.

Những sự quan tâm đến nông nghiệp là có. Nhưng liệu có thỏa đáng chưa? Bởi trong khi đó, với nhiều nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã có sự thay đổi mạnh. Trong giai đoạn 1989-2000, điểm yếu của các doanh nghiệp là thiếu thông tin, luôn phải tìm cách ký hợp đồng sớm để mong giữ giá cao, trong lúc các nhà nhập khẩu dựa thế người mua để trả giá thấp. Và hai điểm yếu lớn nhất thời kỳ đó chính là thiếu kho chứa, thiếu hụt tín dụng nên rủi ro rất cao. Nhưng kể từ sau năm 2005, nhiều điểm yếu này đã dần được hạn chế, như năng lực kho chứa được cải thiện, đa dạng được thị trường, tín dụng cho doanh nghiệp tốt hơn, sự phối hợp cũng tốt hơn… nên hiệu quả của doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã gia tăng. Mới đây, các doanh nghiệp quốc doanh còn được hỗ trợ vay vốn để xây dựng hệ thống kho chứa với tổng sức chứa 4 triệu tấn. Thông tin cho doanh nghiệp cũng được hỗ trợ, phối hợp tốt hơn…

Và liệu có ngẫu nhiên hay không, khi vào tháng 8-2009, thời điểm giá lúa chỉ trên dưới 4.000 đồng/ki lô gam, Tổng công ty Lương thực miền Nam và các doanh nghiệp hội viên VFA đã “mạnh dạn” mua dự trữ 0,4 triệu tấn gạo. Tiếp đó, tháng 9-2009, thêm 0,5 triệu tấn được mua thêm, nâng mức tồn kho lên gần 2 triệu tấn gạo, theo như số liệu công bố. Để rồi, từ tháng 11 đến nay, giá lúa tăng dần và ở mức trên dưới 6.000 đồng/ki lô gam, đương nhiên người hưởng lợi không phải nông dân, nhưng nông dân phải “mang ơn” doanh nghiệp vì đã mua trữ giúp nông dân!Nếu không cải thiện những điểm yếu của người nông dân, thì dù sản lượng xuất khẩu có tăng lên 7 hay 8 triệu tấn thì điều kỳ vọng nhất của chất lượng tăng trưởng là đồng lời của nông dân, vẫn không như mong muốn!

TrackBack URI

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: