Ktetaichinh’s Blog

January 2, 2010

Đồ cổ: Thật và giả

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:34 pm
Tags:

(ANTĐ) – Cuộc sống ngày nay giờ đã khấm khá hơn trước rất nhiều. Gánh nặng cơm áo đối với nhiều gia đình nơi phố phường giờ cũng đã vợi đi tới dăm bảy phần. Nhưng khi mà thu nhập cá nhân tăng lên thì cổ vật cũng ít đi, kéo theo giá tiền đầu tư cho cổ vật cũng cao lên.

Một xưởng sản xuất gốm Chu Đậu- Hải Dương

Nơi hội tụ đồ gốm cổ

Ở Hà Nội, vào mỗi dịp Tết, vỉa hè dọc phố Hàng Lược, Hàng Mã… người ta bày ê hề đồ cổ ra bán. Thôi thì đủ loại, đồng, sắt, đá, gỗ, ngà, sơn mài, vải, giấy, ngọc, đất… nhưng nhiều nhất vẫn là gốm sứ. Lệ chơi gốm xưa được xếp vào một trong 4 thú chơi thanh tao: “nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ gốm”. Vì thế, nhiều người Hà Nội, cứ đến cận Tết lại có thói quen ra chợ đồ cổ, sắm cho mình một món đồ. Dù cho trong lòng không khỏi hoài nghi: “Đâu ra mà nhiều đồ cổ thế”?

Chúng ta vẫn chưa quên sự kiện trục vớt thành công con tàu gốm cổ ở Hội An (năm 1999), sau đó là con tàu Bình Thuận (năm 2001). Chưa bao giờ gốm cổ xuất hiện nhiều đến thế ở Việt Nam. Gốm cổ được bán theo lố, theo sọt, theo containner. Gốm cổ được các bà, các chị quảy gánh bán 20.000đ/chiếc, 150.000đ/chục và 700.000-800.000đ/gánh. Rồi Ủy ban đấu giá gốm cổ ra đời, 13 container gốm cổ được hãng đấu giá Christie’s bán lay lắt khắp thế giới trong suốt 5 năm. Kể từ đó, Việt Nam được biết tới là một trong những kho gốm cổ Đông Nam Á lớn nhất thế giới.

Phát đạt nghề làm đồ giả cổ

Vài kinh nghiệm nhận biết đồ phỏng: Đối với khách du lịch hay những tay chơi amateur thì dễ không phân biệt được đâu là đồ thật, đồ giả, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy mấy điểm: Đồ phỏng cổ thường trắng, men mịn, đều, nét chắc chắn, tròn trịa, trong khi đó đồ “thật” thường có men hơi xanh, cũng có khi men chảy thành dòng, cầm nhẹ tay hơn, gõ tiếng kêu đục hơn… tóm lại là… xấu hơn. Hãy chú ý một số điểm sau:

– Cốt thai: Đồ phỏng thường nhẵn, mịn và màu men tươi, mới.

– Trang trí: Đồ phỏng thường được vẽ tỉ mẩn, cẩn thận, tô màu chuẩn mực, trong khi đồ thật ít khi, thường phóng tay. Nguyên nhân do tính bị động của người vẽ (cố phỏng cổ).

– Mầu coban của đồ phỏng thường xanh thẫm hoặc “sống” trên bề mặt trong khi đồ thật thường “nhuyễn” vào cốt gốm. Nguyên nhân do thời gian nung và do cả chất liệu coban. Đồ phỏng thường dùng coban hóa chất (không phải từ quặng coban) nên gây trở ngại trong công đoạn nung.

– Đồ phỏng thường trắng bởi nung bằng lò gas (công nghệ hiện đại) trong khi đồ thật thường là lò củi (hiện đại nhất thời đó: tk.16-17) nên có sắc xanh nhạt.

– Đồ phỏng thường thấy chắc, mịn là bởi nhiệt nung đều (cũng là vì lò gas) trong khi đồ thật khá “loạn xạ” do nấu bằng lò củi.

– Men đồ phỏng thường láng đều (không kể chuyện lạc tinh vì bị phun cát) trong khi thật có khi hơi lấm tấm vết nám đen, lỗ hổng men, dòng chảy men… cũng vì nguyên nhân lò củi…

Kể từ thời điểm năm 1999, khi con tàu cổ Hội An được trục vớt, đã 10 năm qua đi, gốm cổ cũng theo thời gian mà ít dần trong khi người mua ngày càng tăng. Một nghề mới ra đời, đó là sản xuất gốm giả cổ. Nghề này đối với chúng ta tuy là mới, nhưng đối với Cảnh Đức trấn – Trung Quốc lại là quá trẻ. Bằng nhiều cách, những thợ nghề Việt tìm đường sang Cảnh Đức học nghề. Ít nhất cho đến ngày nay, có hai cơ sở thành danh mà một là “nghệ sĩ” của đồ sứ “giả cổ” diệu nghệ Chu Bá Tước ở Bắc Giang – một vùng “trắng” của truyền thống gốm sứ và một là Chu Đậu – Hải Dương. Suốt 10 năm âm thầm sản xuất và cũng âm thầm tiêu thụ, đến khi tham gia cuộc triển lãm hoành tráng của nghệ sĩ Trịnh Bách về trang phục cung đình triều Nguyễn, với sự xuất hiện của vài món đồ mô phỏng sứ thanh hoa của triều Nguyễn với chất lượng cao, đã khiến cho tiếng tăm của Chu Bá Tước nổi như cồn.

Hai từ “giả cổ” – nghe thoáng qua tưởng nó chỉ đơn giản như việc người ta làm đồ giả, trà trộn vào đồ thật bán kiếm lời. Nhưng cái thuật làm đồ giả cổ của những nghệ nhân gốm sứ xem chừng phải mất rất nhiều công phu. Để làm được thứ… đồ giả này người làm phải có óc quan sát tinh tế, bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng phong phú và sự am hiểu nhất định về món đồ mà anh ta định làm giả. Có thể mường tượng, anh ta là một họa sĩ tài ba, điêu khắc gia, nhà hóa chất và… hơn cả là có vài % may mắn… Những sản phẩm của Chu Bá Tước không chỉ dừng ở đó.

Những mẫu gốm sứ tìm thấy trong các tàu đắm vớt được biển Việt Nam gần đây là những tiêu bản quý để Chu Bá Tước chế tác đồ giả cổ. Bình thường, không ai dại gì bỏ 300.000 đồng (giá tại chỗ) để mua một chiếc đĩa đường kính 30cm về dùng. Đầu ra của các sản phẩm này chính là các cửa hàng lưu niệm với giá 50 – 300 USD tùy thuộc vào từng món đồ. Một cơ sở quy mô và hoành tráng hơn phải kể đến là Cơ sở sản xuất gốm sứ Chu Đậu do Tập đoàn Hapro đầu tư ở chính quê hương gốm Chu Đậu, tỉnh Hải Dương nếu không muốn kể đến cả một làng nghề rừng rực lửa gốm đã 400 năm Bát Tràng.

Nhiều trăm năm lịch sử đã qua đi. Những tạo vật cũng phải trải qua binh lửa và thời gian. Không thiếu gì đồ thật đã nát nhưng “bản sao” lại còn. Xã hội ổn định, kinh tế phát triển và đồ cổ nối đuôi nhau được “tìm thấy”. Trong biển… cổ vật đó, ai dám “dũng cảm” khẳng định đồ thật… đồ giả… nếu chỉ còn vài độc bản cư trú cách nhau đến cả chục ngàn kilômét? Thế thì, những ai nếu trót dính máu “sưu tầm”, cố mà suy xét, cố mà học hỏi, rồi cố mà… thanh minh cho những món đồ 50-50 (50 thật, 50 giả) của mình. Xét cho cùng, nếu không ra thương trường, không đi vào học thuật, chỉ là để bày cho “đẹp nhãn, đẹp nhĩ…” thì… thật-giả khác gì nhau?

TrackBack URI

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: