Ktetaichinh’s Blog

January 2, 2010

10 sự kiện kinh tế 2009

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 9:09 pm
Tags: ,
Do các chuyên gia, cộng tác viên, biên tập viên, và phóng viên của TBKTSG bình chọn

1. Năm 2009 khép lại với một kết quả được ghi nhận là nền kinh tế đã vượt qua đáy suy giảm và đang hồi phục.

GDP tăng dần qua từng quí (xem biểu đồ) và đạt mức tăng trưởng 5,2% cho cả năm. Trong kết quả này, có sự đóng góp rất lớn của khu vực nông nghiệp và nông thôn, vốn là trụ đỡ vững chắc cho nền kinh tế trong suy thoái.

Ngoài ra còn phải kể đến tác dụng giải cứu nhanh của các gói kích thích kinh tế, trong đó quan trọng nhất là gói hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17.000 tỉ đồng. Một yếu tố khác cũng cần được nhắc đến trong việc tạo đà cho nền kinh tế hồi phục là nguồn tiền trong dân và sức mua nội địa. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, sức mua của thị trường trong nước vẫn tăng 18,5%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá còn tăng 10,8% (số liệu 11 tháng).

2. Năm 2009 có thể xem là năm của vàng. Giá vàng thế giới liên tục phá rồi lập kỷ lục mới và vượt ngưỡng 1.200 đô la Mỹ/ounce vào đầu tháng 12-2009. Việt Nam nhanh chóng xuất vàng trong những tháng đầu năm (bốn tháng đầu năm thu về khoảng 2,5 tỉ đô la Mỹ) nhưng không ngờ giá vàng thế giới còn tăng cao vào cuối năm (năm 2009, chỉ số giá vàng tăng 64,32% theo Tổng cục Thống kê).

Cùng với sự biến động này là việc ra đời của hàng loạt sàn vàng trong nước, từ 7 sàn vào cuối năm 2008 đến nay đã là 17 sàn, với hàng trăm đại lý nhận lệnh và để lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư. Điều trớ trêu là mặc dù các sàn vàng hoạt động rất rầm rộ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý, cũng như cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm quản lý hoạt động này.

3. Hai cơn bão Ketsana (số 9) và Mirinae (số 11) trong năm qua đã gây thiệt hại nặng nề cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Tính đến ngày 10-11-2009, thiên tai đã làm 453 người chết và mất tích, tổng thiệt hại lên đến 23.000 tỉ đồng (số liệu báo cáo của Chính phủ tại Quốc hội), cao hơn tổng mức thiệt hại do thiên tai của cả năm 2008 (13.300 tỉ đồng).

Hậu quả nặng nề này có phần tiếp tay của con người, mà biểu hiện rõ nhất là quy hoạch các dự án thủy điện còn nhiều bất cập, từ việc phá rừng làm thủy điện, thiếu phối hợp trong điều tiết xả lũ… Chỉ tính riêng khu vực miền Trung và Tây Nguyên hiện có hơn 355 nhà máy thủy điện lớn nhỏ. Hiệu quả kinh tế đóng góp cho địa phương đến đâu chưa được công bố nhưng thiệt hại đã rõ qua những con số nêu trên.

4. Việt Nam lại lập kỷ lục mới về xuất khẩu gạo với 6 triệu tấn nhưng các chuyên gia cho rằng mục tiêu cuối cùng của xuất khẩu gạo là giúp nâng cao đời sống nông dân đến nay vẫn chưa đạt. Dù khối lượng xuất khẩu cao nhưng tiền thu về lại ít hơn năm ngoái (thu về 2,74 tỉ đô la, giảm 5,3% so với năm ngoái), mà một trong những nguyên nhân chính là do cách điều hành xuất khẩu chưa tốt của Hiệp hội Lương thực Việt Nam và Bộ Công Thương.

Không chỉ kim ngạch xuất khẩu gạo giảm mà cả dầu thô, dệt may, da giày, thủy sản… cũng giảm khiến kim ngạch xuất khẩu chung của năm 2009 lần đầu tiên có mức tăng trưởng âm (đạt 56,7 tỉ đô la Mỹ, giảm 9,5%). Trong khi đó, mức nhập khẩu lại cao (68,7 tỉ đô la Mỹ), đẩy mức thâm hụt thương mại năm 2009 lên đến 12 tỉ đô la.

5. Hai dự án đầu tư lớn là khai thác bauxite ở Tây Nguyên và dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận, vốn gây nhiều tranh luận, cuối cùng vẫn được xúc tiến. Các chuyên gia, nhà khoa học và nhiều giới khác đã có nhiều ý kiến phản biện thẳng thắn về hiệu quả kinh tế, các tác động đến môi trường, xã hội của hai dự án này, nhưng Chính phủ vẫn quyết định tiếp tục triển khai thí điểm dự án khai thác bauxite ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Dak Nông). Trong khi đó, Quốc hội cũng đã thông qua chủ trương xây hai nhà máy điện hạt nhân với tổng mức đầu tư khoảng 200.000 tỉ đồng (thời giá quí 4-2008, lúc lập dự án).

6. Hai vụ án liên quan đến lĩnh vực kinh tế thu hút sự quan tâm lớn của dư luận trong năm qua là vụ xử ông Huỳnh Ngọc Sĩ, nguyên Phó giám đốc Sở Giao thông Vận tải kiêm Giám đốc Ban Quản lý dự án đại lộ Đông-Tây và Môi trường nước TPHCM và vụ xử bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông trường sông Hậu.

Ông Sĩ, người bị cho là có liên quan trong vụ Công ty PCI của Nhật đưa hối lộ hàng triệu đô la Mỹ để nhận được dự án ở Việt Nam, cuối cùng lại bị kết án ba năm tù do Ban Quản lý dự án cho phía PCI thuê nhà lấy tiền chia nhau.

Còn bà Sương, là Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, bị kết án 8 năm tù với tội danh lập quỹ trái phép.

7. Thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản biến động mạnh trong năm 2009 khiến giới chuyên gia phải đưa ra cảnh báo coi chừng hiện tượng bong bóng tài sản.Trước hết là chứng khoán. Sau khi tụt dốc thê thảm suốt năm 2008 và kéo dài sang năm 2009, đến 24-2-2009, VN-Index xuống mức thấp nhất 235,5 điểm và sau đó lại tăng mạnh lên hơn 633 điểm vào tháng 10 rồi xuống khoảng 500 điểm vào cuối tháng 12.

Tương tự giá bất động sản cũng sốt nóng rồi hạ nhiệt nhanh ở một số địa phương. Hai thị trường này chững lại trong mấy tháng qua có phần quan trọng do dòng tiền đổ vào thị trường đã cạn, khi mà nguồn vốn kích cầu đã giải ngân gần hết, tăng trưởng tín dụng lên cao (cả năm gần 38%) và các ngân hàng siết chặt cho vay.

Còn thị trường tài chính để lại dấu ấn với việc căng thẳng nguồn cung ngoại tệ do vốn giải ngân FDI, xuất khẩu, kiều hối đều giảm. Kết quả là tiền đồng Việt Nam bị mất giá đến 10,7% so với đô la Mỹ trong năm 2009 (số liệu của Tổng cục Thống kê).

8. Hàng loạt vụ vi phạm nghiêm trọng về vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra trong năm qua, từ các mặt hàng chế biến trong nước cũng như nhập khẩu, khiến niềm tin người tiêu dùng giảm sút. Điều này một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động về những lỗ hổng trong quản lý nhà nước cũng như sự xuống cấp về đạo đức của nhà sản xuất.

Điều đáng quan tâm là lĩnh vực này có tới 5 bộ quản lý, với hơn 1.200 văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành (theo báo cáo giám của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hồi tháng 6-2009). Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm không phải là một vấn đề mới, nó đã được mổ xẻ trong rất nhiều các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, nhưng giải pháp thì vẫn còn dừng ở mức độ kiến nghị.

9. Cơ sở hạ tầng yếu kém tiếp tục là rào cản lớn cho sự phát triển kinh tế, làm suy giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam. Các nhà đầu tư cho rằng những hạn chế về cơ sở hạ tầng vật chất ở Việt Nam đang bắt đầu đe dọa đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và cả xuất khẩu trong tương lai. Điện năng là lĩnh vực bị than phiền nhiều nhất, kế đến là hệ thống giao thông, cảng biển…

Theo đánh giá của các chuyên gia, nhu cầu vốn cho cơ sở hạ tầng từ nay đến năm 2020 ước tính chiếm khoảng từ 10-11% GDP trong khi nguồn vốn của Chính phủ chỉ có thể đáp ứng chưa đến phân nửa nhu cầu.

Đầu tháng 12 vừa qua, các nhà tài trợ cho Việt Nam đã cam kết tài trợ hơn 8 tỉ đô la Mỹ vốn ODA cho năm 2010, mức kỷ lục từ trước tới nay, mà một trong những lĩnh vực được ưu tiên đầu tư sẽ là cơ sở hạ tầng.

10. Tài nguyên khoáng sản ở nước đến nay vẫn được khai thác một cách tự phát, bừa bãi, do đây là nguồn lợi béo bở, mà không dựa trên một chiến lược khoa học, hiệu quả và bền vững. Vì vậy, các cuộc tranh giành quyền khai thác cũng hết sức khốc liệt, từ than đá, cát sỏi, sắt, titan… Tình trạng này vừa gây tác hại cho môi trường vừa ăn vào của để dành cho con cháu mai sau.

Ví dụ, năm nay, Việt Nam vẫn xuất đến 25 triệu tấn than, thu về 1,3 tỉ đô la, dù biết rằng chỉ vài năm tới phải nhập than với giá cao để phát điện và việc đàm phán mua than cũng không hề dễ dàng. Hy vọng với Luật Thuế tài nguyên mới được Quốc hội thông qua vào tháng 11-2009 và sẽ có hiệu lực từ 1-7-2010, những bất cập nói trên sẽ được khắc phục.

Advertisements

Tản mạn về cán cân thanh toán Việt Nam năm 2009

(TBKTSG) – Trong khi suy nghĩ về những số liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam của năm 2009 sắp kết thúc, chúng ta vẫn phải tự hỏi: có hay không những mầm mống bất ổn có thể gây bất lợi cho mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững mà Việt Nam mong muốn?

Các phân tích về cán cân vãng lai Việt Nam

Chúng tôi bắt đầu từ các số liệu của cán cân thanh toán Việt Nam trong khoảng thời gian 2005-2009. Nguồn dữ liệu chúng tôi lấy từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), do những dữ liệu khả dụng, công khai từ các cơ quan Việt Nam còn manh mún và không đầy đủ. Một số chỉ tiêu có thể có những sai lệch so với các số liệu công bố của các cơ quan hữu quan của Việt Nam, thế nhưng, đôi khi những sự sai lệch đó vẫn có thể trở thành một chủ đề thảo luận nào đó.

Vị trí đặt quảng cáoTừ bảng số liệu của IMF, chúng ta nhận thấy, thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam gia tăng rất nhanh qua các năm. Trong khi IMF dự báo mức thâm hụt cán cân thương mại năm 2009 là 7 tỉ đô la Mỹ trong bối cảnh suy thoái kinh tế, thì thông tin trong tháng 11-2009 cho biết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ước tính con số đó cho cả năm 2009 là 11 tỉ đô la Mỹ.

Nếu như trong các năm 2005-2006, kiều hối (chiếm hơn 90% khoản mục “Chuyển giao”) đã vượt quá nhu cầu cần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, làm giảm nhẹ đáng kể thâm hụt của cán cân vãng lai, thì nay, tình hình trên đã trở nên xấu hơn nhiều trong năm 2009.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM cho biết, trong 10 tháng đầu năm, lượng kiều hối nhận được tại các ngân hàng trên địa bàn vào khoảng 2,6 tỉ đô la Mỹ, chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm ngoái. Chúng ta biết rằng, TPHCM là nơi nhận gần 60% tiền kiều hối cả nước. Con số kiều hối cả nước nhận được trong năm 2009 được giới chuyên môn ước tính sẽ xấp xỉ 6 tỉ đô la.

Kết hợp với nguồn số liệu của IMF, nếu như các luồng tiền ròng về dịch vụ và thu nhập của năm 2009 không đổi so với năm 2008 (thâm hụt xấp xỉ 4,2 tỉ đô la) thì với thâm hụt thương mại ước tính 11 tỉ đô la, sau khi trừ đi 6 tỉ đô la kiều hối, thì thâm hụt cán cân vãng lai có thể ước tính ở mức 9-10 tỉ đô la Mỹ cho năm 2009.

Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nợ nước ngoài của Việt Nam

Theo lý thuyết, cán cân vãng lai là một trạng thái lý tưởng để diễn tả quan hệ nợ nần của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nếu cán cân vãng lai thặng dư, thì chúng ta nợ nước ngoài ít hơn nước ngoài nợ chúng ta, và ngược lại. Thâm hụt cán cân vãng lai có thể được bù đắp bằng thặng dư của cán cân vốn, trong đó, chúng ta mong muốn rằng, với mục tiêu ổn định và cân bằng kinh tế vĩ mô, những nguồn bù đắp đó phải là những nguồn dài hạn và ổn định.

Trong bối cảnh Việt Nam, đó chính là các nguồn FDI và những khoản vay dài hạn nước ngoài. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI giải ngân trong 11 tháng đầu năm là 9 tỉ đô la Mỹ, bằng 89,6% so với cùng kỳ năm 2008. Mức 10 tỉ đô la là kỳ vọng cho tổng giải ngân FDI năm 2009 tại Việt Nam. Trong khi chúng tôi không có số liệu nào về vốn đầu tư gián tiếp, và với giả định rằng mức 10 tỉ đô la giải ngân FDI là có thể đạt được trong năm 2009, thì luồng tiền FDI gần như đã bù đắp được thâm hụt trong năm của cán cân vãng lai.

Mức bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai còn cao hơn do Việt Nam ngày càng mang nợ nhiều hơn. Đồ thị bên dưới diễn tả mức chênh lệch ròng giữa rút vốn và tổng trả nợ các khoản nợ chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh trong các năm 2004-2008, qua đó, chúng ta có thể thấy mức chênh lệch ròng có xu hướng ngày càng dãn rộng ra. Hàng năm, nước ta vay nợ nhiều hơn là trả nợ. Chênh lệch ròng năm 2008 đã vượt qua con số 2 tỉ đô la Mỹ.

Giả định rằng con số đó không đổi trong năm 2009, cộng với các khoản nợ “đột xuất” phát sinh trong năm 2009 là 2 tỉ đô la Mỹ (vay của ADB, Ngân hàng Thế giới và Nhật Bản), thì luồng tiền ròng từ vay nợ nước ngoài có thể lên đến 4 tỉ đô la Mỹ. Cuối cùng, bỏ qua việc nhầm lẫn và bỏ sót, trong khi chưa có dữ liệu gì về nguồn vốn đầu tư gián tiếp cũng như các luồng vốn ngắn hạn khác, thì con số 4 tỉ đô la đó có thể tạm xem như là thặng dư của cán cân tổng thể (?!)

Thế nhưng, tại sao trong kỳ họp Quốc hội vừa qua (tháng 10, 11-2009), Chính phủ đã dự báo mức thâm hụt cán cân tổng thể năm 2009 có thể lên đến con số 1,9 tỉ đô la Mỹ?

Về mặt kỹ thuật, theo chúng tôi, có thể có những vấn đề sau đây:

– Như trên đã nói, các giả định và tính toán phía trên của chúng tôi vẫn chưa đề cập đến những chu chuyển tài chính ngắn hạn có thể gây ra những thâm hụt nặng nề hơn cho cán cân tổng thể. Chúng ta chưa có dữ liệu gì về các luồng vốn đầu tư gián tiếp và cả những luồng vốn ngắn hạn cho năm 2009.

Theo IMF, cán cân thanh toán Việt Nam đã ghi nhận một mức thặng dư kỷ lục của đầu tư gián tiếp lên đến 6,2 tỉ đô la Mỹ trong năm 2007. Ghi nhận và quản lý các luồng vốn gián tiếp vẫn còn là một vấn đề chưa được giải quyết rốt ráo hiện nay ở Việt Nam. Cũng theo IMF, trong năm 2008 Việt Nam đã chứng kiến một mức thâm hụt 400 triệu đô la Mỹ đối với đầu tư gián tiếp. Có hay không những luồng vốn đầu tư gián tiếp tiếp tục đảo chiều trong năm 2009 và chúng diễn ra với mức độ nào? Đó chính là một câu hỏi lớn vẫn còn chờ lời giải đáp.

– Vẫn còn những tranh luận về mức độ chính xác của số liệu về các khoản giải ngân FDI hàng năm, đặc biệt là bản chất của các nguồn giải ngân. Xin đơn cử một ví dụ sau đây. Một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có mức vốn đầu tư 100 triệu đô la Mỹ, trong đó, công ty mẹ chỉ cấp một số vốn điều lệ 20 triệu đô la. Phần còn lại phải đi vay trung dài hạn ngân hàng thông qua bảo lãnh của chính công ty mẹ.

Giả sử doanh nghiệp FDI đó vay số tiền 80 triệu đô la từ một ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam và việc giải ngân được thực hiện bằng chuyển khoản, từ tài khoản của ngân hàng đó mở tại New York, về tài khoản vốn chuyên dùng (Capital Account) của doanh nghiệp mở tại ngân hàng cho vay tại Việt Nam. Bản chất của giao dịch vay vốn trên không hề làm gia tăng quỹ ngoại hối cho nền kinh tế Việt Nam, vì thực chất, đó là giao dịch giữa người cư trú – người cư trú. Đúng là tiền từ nước ngoài chuyển về cho giải ngân FDI, nhưng không phải là một luồng tiền được ghi nhận vào cán cân thanh toán.

– Cũng như vậy đối với các khoản vay mượn. Chúng ta biết rằng đối với một số điều kiện vay ODA, đặc biệt là vay tín dụng xuất khẩu (Export Credit), một tỷ lệ giải ngân không nhỏ sẽ được chuyển ngân trực tiếp cho các nhà cung cấp nước ngoài (người không cư trú-người không cư trú).

Trong một chừng mực nào đó, đối với các khoản nhập khẩu được tài trợ bằng ODA và tín dụng xuất khẩu, thì một sự “thâm hụt” cán cân thương mại chưa chắc đã là điều xấu. Còn ở phân tích nguồn đối ứng, các luồng vốn ODA và tín dụng xuất khẩu tạo “thặng dư” cho cán cân vốn dài hạn chưa hẳn là một điều tốt, những luồng thặng dư thực sự, với kỳ vọng bù đắp cho thâm hụt của cán cân vãng lai.

Thay cho lời kết

Bài viết này, tuy xoay quanh các phân tích về cán cân thanh toán quốc tế, nhưng vẫn mang tính tản mạn. Chúng tôi hy vọng rằng nó có thể là một gạch nối cho một chủ đề sâu xa hơn, chỉn chu hơn, đó là việc sử dụng cán cân thanh toán quốc tế như là một công cụ quan trọng trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và cơ chế tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước nói riêng và Chính phủ nói chung.

Người ta tự hỏi, phải chăng những khó khăn trong tính toán, thống kê, phân tích và dự báo những đại lượng kinh tế vĩ mô thể hiện trong bảng cán cân thanh toán là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự thụ động, lúng túng của các cơ quan hữu quan trong thời gian qua trong việc điều hành chính sách tiền tệ?

Chẳng hạn, nếu như cán cân cơ bản (= cán cân vãng lai + cán cân vốn dài hạn) được dự báo là thặng dư, thì đó chính là hàm ý của một khả năng lên giá đồng nội tệ. Thế nhưng, tại sao cuối cùng lại là một sự thâm hụt lớn ngoài dự đoán của cán cân tổng thể, được xem là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm giá đồng nội tệ vào những ngày cuối tháng 11-2009?

Rõ ràng, chúng ta vẫn còn lúng túng và chồng chéo trong việc quản lý các nguồn vốn đầu tư gián tiếp. Việc phối hợp quản lý các luồng FDI, ODA, tín dụng xuất khẩu vẫn chưa thực sự thông suốt giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một số cơ quan khác.

Thị trường bất động sản, nhìn từ tầm vĩ mô

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 8:03 pm
Tags: ,

TBKTSG) – Sau một thời gian dài trầm lắng, thị trường bất động sản (*) đã bắt đầu ấm trở lại. Nhiều người dự đoán thị trường sẽ hồi phục và tăng trưởng sau một hai năm nữa. Có hai vấn đề hay được nói đến về thị trường bất động sản: 1) Sốt chu kỳ, từ nóng đến rét (trầm lắng, đóng băng); 2) Giá quá cao.

Vì sao thị trường bất động sản từ sốt đến rét?

Sốt là triệu chứng cung cầu mất cân đối. Khi cầu lớn hơn cung, hàng thiếu, thị trường nóng, ngược lại, hàng thừa, thị trường rét. Hiện nay thị trường bất động sản đang rét. Nhiều người cho rằng đó là hậu quả của đầu cơ. Thật vậy chăng? Theo Bộ luật Hình sự, đầu cơ là một tội với hành vi trục lợi bằng cách thu gom và găm giữ hàng hóa, gây khan hiếm giả tạo. Đó là dấu hiệu đặc trưng của đầu cơ và cũng là đường ranh phân biệt đầu cơ với sở hữu nhiều nhà đất. Không nhận rõ đường ranh này dễ dùng biện pháp chống đầu cơ làm biện pháp chống sở hữu nhiều nhà đất.
Thực tế ở nước ta đã từng có nơi có lúc diễn ra cảnh người ta chen lấn, tranh giành nhau ghi tên mua nhà dự án. Nhưng ngay khi thị trường có vẻ nóng như thế, có người đã cho rằng đó chỉ là những màn kịch, vì thấy hầu hết người tham gia chỉ đóng vai “diễn viên”, người thật sự muốn mua nhà để sử dụng không nhiều. Chính bởi thế, sau nóng nhất thời, thị trường hạ nhiệt nhanh, rồi trở rét và trầm lắng dài dài. Tình trạng đó chứng tỏ thị trường không khan hiếm. Đầu cơ là có thực. Tuy nhiên đầu cơ bất động sản không dễ. Phải có vốn cực lớn đủ sức khuynh đảo thị trường hoặc/và có những đặc quyền nào đó.

Vốn của các nhà đầu cơ bất động sản chắc hẳn không hề nhỏ, nhưng vẫn cần đặt câu hỏi: trong điều kiện thị trường trầm lắng kéo dài, nếu chỉ dựa vào vốn của mình, các nhà đầu cơ bất động sản có đủ lực để một mặt tiếp tục các dự án đầu tư, mặt khác vẫn giữ giá bất động sản cao hay không? Phải chăng họ có những điều kiện tài chính và hành chính thuận lợi để thu gom và găm giữ bất động sản? Đây là giả thiết cần chứng minh nếu muốn tìm giải pháp chống đầu cơ, ổn định thị trường.

Vị trí đặt quảng cáoMột trong những câu trả lời có thể tìm thấy trong chính sách đất đai. Đến nay, dù đã nhiều lần sửa đổi, Luật Đất đai vẫn chưa tạo được khuôn khổ pháp lý cho sự vận hành của thị trường đất (thường nói kín kẽ là thị trường quyền sử dụng đất) như một thị trường. Cơ chế chuyển nhượng đất vẫn bị ràng buộc bởi nhiều thủ tục hành chính phiền hà, cứng nhắc, chậm chạp. Nhưng cũng nhờ thế, một khi nhà đầu tư có dự án được duyệt, họ lại được giao đặc quyền sử dụng đất mà hầu như không cần bỏ vốn vào đó. Và cũng nhờ có đặc quyền đó, nhà đầu tư có quyền định giá bất động sản cao. Cần thấy rằng chênh lệch quá xa giữa giá đền bù đất và giá bất động sản mà nhà đầu tư bán ra là nguyên nhân sâu xa khiến dân khiếu kiện nhiều về giá đền bù đất.

Cũng có thể tìm thấy câu trả lời trong chính sách tín dụng. Có ba đối tượng vay vốn liên quan tới bất động sản: 1) Nhà đầu tư sơ cấp, chủ các dự án đầu tư, cũng là những con nợ lớn. Với cơ chế tín dụng nặng tính chất “hiệu cầm đồ”, nếu chưa bán được, bất động sản – vật thế chấp vẫn còn, có nghĩa là chủ đầu tư chưa buộc phải trả nợ. Vậy tội gì vội bán mà không găm chờ giá; 2) Nhà đầu tư thứ cấp, người mua buôn bất động sản để bán buôn lại cho nhà đầu tư thứ cấp khác và bán lẻ cho người tiêu dùng. Là nhà đầu tư nhỏ, chân rết của nhà đầu tư sơ cấp, họ cũng có thể vay và cũng lấy ngay bất động sản đã mua làm vật thế chấp để vay tiếp, để rồi lại mua, lại thế chấp, lại vay nữa và mua nữa… Vốn vay cứ tích tụ lại, có thể lớn hơn cả giá trị bất động sản – vật thế chấp. Từng món vay của họ tuy không quá lớn, nhưng cộng dồn lại rất lớn, và hơn nữa rất khó thống kê, tổng hợp, do đó cũng khó kiểm soát; và 3) Người mua nhà để sử dụng. Họ chỉ có thể trả được nợ nếu nguồn trả nợ nằm trong khả năng thu nhập thường xuyên ổn định của họ.

Điều đã rõ là đầu tư bất động sản không thể thiếu vốn vay. Nhưng khi thị trường đã trầm lắng, rất cần xem lại tỷ số vốn vay/vốn có. Tỷ số này cần được xây dựng hợp lý và coi là căn cứ chủ yếu điều tiết vốn tín dụng thay cho cơ chế thế chấp bằng bất động sản. Thực tế ở nhiều nước phát triển cao như Mỹ, Nhật… đầu tư bất động sản chủ yếu dựa vào vốn vay sẽ dễ lâm vào tình trạng tăng trưởng bong bóng. Khủng hoảng tài chính và kinh tế bắt nguồn từ đấy.

Những điều nêu trên cho thấy: sốt và đầu cơ bất động sản không chỉ là vấn đề của thị trường bất động sản, mà còn là vấn đề quản lý vĩ mô, trong đó chính sách đất đai rất quan trọng. Sửa đổi Luật Đất đai đã nhiều lần được nêu ra tại diễn đàn Quốc hội như một vấn đề kinh tế bức xúc. Song, được biết tới năm 2013 việc này mới có thể thực hiện! Có nghĩa là nó chưa được đặt vào vị trí bức xúc cần có.

Hiện nay dự luật Thuế Nhà đất đang trong quá trình hoàn thiện để có thể trình Quốc hội thông qua vào giữa năm 2010. Song dường như dự luật này đang đi lạc hướng, khi mục tiêu chống đầu cơ bất động sản được đặt lên hàng đầu, còn các mục tiêu khuyến khích sử dụng hiệu quả đất, tăng nguồn thu ngân sách, điều tiết hoa lợi thu được từ sử dụng đất dường như không được đề cập, mà đó mới chính là những mục tiêu đích thực và là cơ sở để quyết định những nội dung cơ bản của thuế nhà đất. Cứ theo hướng như thế, thuế nhà đất có thể trở thành công cụ phân phối lại tài sản và hạn chế sở hữu nhà đất hợp pháp, trái với đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay, cũng trái với Hiến pháp hiện hành.

Vì sao giá bất động sản quá cao

Theo đánh giá chung hiện nay, so với thu nhập của đa số dân cư và với giá ở nhiều nước, giá bất động sản ở ta quá cao. Điều này không có gì phải bàn cãi. Vấn đề là xác định nguyên nhân. Trước hết có thể khẳng định mà không cần chứng minh rằng nguyên nhân không phải do giá xây dựng cao. Cũng không phải do giá đền bù đất cao. Hiện nay 80% số vụ khiếu kiện của dân liên quan tới đất đai, trong đó chủ yếu là khiếu nại giá đền bù thấp. Theo Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 1-10-2009 của Bộ Tài nguyên – Môi trường, giá đền bù đất (tính cả nhiều loại trợ cấp khác) đã được nâng thêm. Cho nên chỉ có thể nói giá đền bù đất hiện hành đang thấp.

Đã có nhận định cho rằng giá bất động sản cao vì các nhà đầu tư dựa quá nhiều vào vốn vay. Khi bất động sản tiêu thụ chậm, lãi về vốn vay sẽ tích tụ lại, dẫn tới chi phí ngày càng lớn. Điều này rất cần nghiên cứu vì nó liên quan tới tính bền vững của thị trường bất động sản. Tuy nhiên, có một yếu tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá về giá bất động sản lại chưa thấy ai nghiên cứu: tỷ suất sinh lợi kinh doanh bất động sản. Chưa tính được tỷ suất này, chưa đủ cơ sở để kết luận giá nhà đất hiện hành có quá cao hay không?

Khi phân tích giá nhà đất còn phải tính tới ảnh hưởng liên thông giữa thị trường bất động sản với thị trường chứng khoán, thị trường vàng, thị trường tiền tệ, bởi vì bất động sản không chỉ là nhà đất, mà còn là vật bảo tồn giá trị. Với chức năng này, nó có giá trị sử dụng như vàng. Cho nên nghiên cứu về giá bất động sản cần tính tới nhiều nhân tố kinh tế – xã hội tác động đan xen, nhiều khi ngược chiều nhau. Chớ nên suy nghĩ đơn giản, nhất là ở tầm vĩ mô.

______________________________________

(*) Thị trường bất động sản nói trong bài này giới hạn trong phân khúc nhà đất dự án (cao ốc, khu nhà biệt thự, đất nền… thuộc các dự án đầu tư). Trong các phân khúc khác, tính chất thị trường chưa rõ.

Lê Văn Tứ

Buyers find claws in Year of the Tiger

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:56 pm
Tags: ,

The year 2009 was marked by global recession and consumer uncertainty. By reviewing last years consumption dynamics, TNS Vietnam, Kantar Worldpanel and Kantar Media have identified several key trends that will influence consumerism in 2010.

One year ago, Vietnam was marred in its first recession in modern history and the prospects of the average consumer were looking bleak. Twelve months later, it appears that Vietnamese consumers seem to have weathered “the perfect financial storm” and are feeling much more optimistic.

The return of consumer confidence

Last January, 86 per cent of all consumers surveyed believed that unemployment in Vietnam would increase over the course of 2009. For 2010, consumers appear to be much more upbeat with fear of unemployment dropping below 50 per cent, while a third believes that unemployment will reduce in 2010.

Three quarters of these same consumers also noted that they were secure in their present jobs, compared to only 60 per cent in 2009. Though concerns still exist, this is a significant increase in overall employment confidence and should translate into stronger consumer purchasing behaviour.

On the whole consumer confidence has rebounded significantly from 2009. As part of the TNS consumer confidence poll conducted in both January 2009 and January 2010, the TNS consumer confidence index has risen from 64 in 2009 to 78 for 2010. The index is comprised of the following measures, the value of the Vietnamese dong, employment, cost of living, Vietnam’s economy, foreign direct investment and consumers’ personal standard of living and the impact these indices will have on consumers in the next 12 months.

Only the value of the dong saw a decline while all other indices showed some to vast improvement from 2009. Leading the way were Vietnam’s economy (60 per cent), foreign direct investment (59 per cent) and consumers personal standard of living (53 per cent) agreeing that these indices would improve over the next 12 months of 2010. If confidence is the true measure of consumer spending, 2010 should see a positive return of consumer spend, maybe not to the levels of 2008, but certainly better than in 2009.

The Facts and Future of Fast Moving Consumer Goods (FMCG) in Vietnam

Kantar Worldpanel Vietnam data, recently re-branded from TNS, identifies some key changes in purchase behavior of consumers that will likely shape consumption attitudes of more mature and demanding consumers for years to come.

From Nice-to-have to Must-have

Overall, Vietnamese urban households re-arranged their budget on FMCG categories in order to deal with the high price increase in packaged foods. They spent more on necessities and sacrificed on nice-to-have products among their share of wallet for FMCG.

Simultaneous up-trading and down-trading
To maintain the value growth rate during the recession, manufacturers in Vietnam played it smart by up-trading the spending of the current consumers by launching new products with new added-values and benefits, targeting to the current ‘better-value-for-money’ attitude of the consumers. At the same time, they also continued to consider the limited ‘cash outlay’ of the low income consumers by launching or re-launching more economical products and smaller pack sizes into the FMCG market.

A new era of ready to drink

The beverage sector in Vietnam was the fastest growing sector in the region with healthy growth in both value and volume. This increase was strongly fueled by the expansion of modern drinks like RTD tea, energy drinks and branded soy milk. Simultaneously, Kantar Worldpanel recorded negative growth of major powder type beverages.

Looking at the switching in expenditure for beverages of urban consumers, there was definitely a transition from powder to liquid, especially among categories where a ready to drink format is available. This new wave has gone wild in urban Vietnam and is expected to get even stronger in 2010 and the coming years.

The rise of the private labels

As part of the changes fuelled by the recession Kantar Worldpanel recorded a strong growth of the private label brands in the FMCG market in urban Vietnam. The penetration of this segment has more than doubled and is now reaching a fifth of urban families. In modern trade channels, private label are gaining significant share, especially for big pack size products.

With the fast development of the modern trade in Vietnam, and the bi-polarisation trend between luxurious and mass products, key FMCG manufacturers could expect to cope with more competitive pressure from private labels in the next few years.

A shift in media consumption

Vietnam is on the verge of the digital age. With over 25 million weekly on-line users of the internet, the way Vietnamese communicate, shop and gain information shall change rapidly. Though e-commerce will still be a small element of the overall digital commercial offer, more and more of the interactive generation will be purchasing on line and more importantly shall be seeking new forms of entertainment and information.

This will actually have a direct impact on print readership, which has already shown an overall decline from 40 per cent reading newspapers daily in September of 2008 to only 35 per cent in September 2009, based on Kantar Media results. This phenomenon is largely attributed to the growth of internet usership, which has ballooned by 609 per cent in the past six years and to the fact that most dailies are now also on-line.

English media content is on the rise

One of the new trends to emerge in 2009 in the Vietnamese media sector is the emergence of English content and programming. Since some 80 per cent of university students are presently studying English and a similar number also taking some form of English as a second language at the high school level this should come as no surprise.

In a recent Kantar Media (re-branded as of January 1, from TNS Media) national radio survey, the 15-29 year old demographic has bucked the 2008-2009 broadcast media decline, tuning-in to the radio in droves with the highest youth measures ever recorded.

The new wave of modern commercial youth FM programming in Vietnam has certainly been evidenced, and in the most part created, by Xone FM. The national survey, released in December 2009 ranks Xone FM in the number one position in the country with over 10 million listeners aged 15-35, which equates to 56 per cent of all radio listeners in Vietnam. Interestingly, 48 per cent of these listeners are aged between 15-19 and 28 per cent between 20-25 years further evidencing the youth listening movement and the new found desire for English and international music content.

Following on from radio, English language newspapers and magazines are also seeing an uplift in Vietnamese readers. Based on survey findings undertaken by Cimigo, The Word Ho Chi Minh City has noticed that Vietnamese readership is up 62 per cent, from 2008, suggesting an increased Anglicisation of the urban Vietnamese population living in Ho Chi Minh City.

However, there is no better proof of this emerging trend than comparing TV audiences in Vietnam. Free-to-air TV (Vietnamese Language) viewership has dropped by 8.3 per cent in one year, (September 2008-September 2009) while English cable viewership has risen by 1.4 per cent during this same period. Though Vietnamese have more entertainment options than ever before, due to increased English language studies and the fact that the programming provided by English language programming such as SCTV, Vietnamese are more and more tuning into English content media.

Time is money

Purchasing convenience products and services is another trend on the rise and will continue to grow as consumers look for time saving devices to ease their busy lives. A prime example of this trend can be seen in Vietnamese consumers increase in bulk shopping purchases and a shift from traditional to modern trade shopping venue selection.

Consumers are gradually moving from daily shopping to bulk purchasing and stocking-up with more items purchased per trip, bigger pack sizes, and a higher spend per trip. They also changed their shopping behaviors from traditional trade to modern trade channels where they can find better product ranges with more competitive prices. This also indicates spending less time shopping, while saving their time for other more enjoyable activities.

Another example of time is money is the growth of the instant/ready to drink beverage market in Vietnam. Over the past three years, this has been the single largest growth engine for beverages among with milk in Vietnam. This leads one to foresee many time saving products and services to grow and consumers with more disposable income begin to pay for convenience as a way to save their own time.

A prime example is the growth of instant coffee, which in the past few years has taken off as consumers no longer have the time nor inclination to wait for their coffee to drip. The raise of internet backing and ATM cards use has also blossomed and shall continue to do so as more and more consumers are looking to save their time to earn more wealth.

So 2010 will be marked by returned consumer confidence which will drive spend, shaped by more western style shopping habits and a desire for convenience. The year of the Tiger shall also see a continued shift in media trends such as more internet and radio consumption, which will keep businesses on their toes, as they adjust their strategies to meet Vietnamese consumers increased and more sophisticated needs.

Ralf Matthaes – TNS Vietnam, Antoine Louat Bort – Kantar Worldpanel, and Tran Thi Thanh Mai – Kantar Media

Bài học từ hỗ trợ lãi suất

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:43 pm
Tags: ,
Bài này đưa ra một cách tiếp cận khác – cách tiếp cận vi mô – để phân tích tính hiệu quả của gói “kích cầu”, chủ yếu là gói hỗ trợ lãi suất 4% vay vốn lưu động phục vụ sản xuất – kinh doanh trong năm 2009. Qua đó cho thấy không phải ngẫu nhiên mà không mấy nước áp dụng mô thức “kích cầu” này.

Mục tiêu chính sách: khoảng cách giữa thực tế và mong muốn

Mỗi chính sách của Chính phủ đều có những mục tiêu tốt, nhưng tiếc thay luôn có những khoảng cách giữa mục tiêu mong muốn và thực tế đạt được. Gói “kích cầu” thông qua hỗ trợ 4% lãi suất cũng không là ngoại lệ. Bên cạnh một số kết quả tích cực đã đạt được thì còn nhiều hệ quả mà có lẽ ngay khi thiết kế chính sách, người làm chính sách cũng đã không thể lường trước hết được, gây tốn kém nguồn lực cho xã hội.

Vấn đề thứ nhất: ai được hưởng lợi 17.000 tỉ đồng?

Lẽ đương nhiên, đứng về phương diện mục tiêu chính sách, đó là các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh. Tuy nhiên, một số ý kiến đã cho rằng chính các ngân hàng cũng hưởng lợi không ít từ chính sách này, liệu có đúng không? Trong khi chính các quan chức Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng khẳng định rằng, các ngân hàng chỉ đóng vai trò cho vay theo mức lãi suất thông thường, sau đó trừ đi 4% lãi suất được hỗ trợ để xác định mức lãi suất thực trả của khách hàng. Quan điểm này cũng giống như ai đó đã từng cho rằng thuế giá trị gia tăng (GTGT), một loại thuế gián thu, do người tiêu dùng chịu chứ không phải là doanh nghiệp. Thoạt nghe, điều này có vẻ hợp lý nhưng tiếc thay kinh tế học vi mô chỉ ra rằng vấn đề không phải như vậy. Khoản thuế GTGT phải được chia sẻ giữa khách hàng và doanh nghiệp không phải cách này thì là cách khác. Vấn đề trợ cấp cũng tương tự như vậy, có điều hãy xem nó giống như một khoản thuế âm mà thôi.

Thực tế thì khoản hỗ trợ 17.000 tỉ đồng được phân bổ làm ba phần, trong đó một phần đúng là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được nhận, một phần khác do chính các ngân hàng được hưởng, và phần còn lại là mất mát vô ích (dead weight loss). Tỷ phần lợi ích giữa doanh nghiệp và ngân hàng phụ thuộc vào độ co dãn của cung và cầu quỹ cho vay theo lãi suất (xem hình a và b).

Hình a cho thấy phần các doanh nghiệp được hưởng sẽ lớn hơn phần ngân hàng được hưởng nếu độ co dãn theo lãi suất của cầu quỹ cho vay kém hơn cung quỹ cho vay. Trong khi đó, hình b lại cho thấy điều ngược lại khi cầu quỹ cho vay co dãn theo lãi suất lớn hơn so với cung quỹ cho vay. Chưa có nghiên cứu định lượng đáng tin cậy để ước lượng hệ số co dãn của cung và cầu quỹ cho vay theo lãi suất ở Việt Nam. Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm ở Mỹ về mô hình cung cầu tiền tệ cho thấy hệ số co dãn của cầu tiền theo lãi suất khoảng từ -0,15 đến -0,7 tùy theo lãi suất ngắn hạn hay dài hạn, còn hệ số co dãn của cung tiền theo lãi suất khoảng từ 0,12-0,17 tùy theo phương pháp ước lượng (Teigen, 1965). Điều đáng lưu ý là trong cả hai trường hợp đều gây ra những mất mát vô ích mà cả doanh nghiệp và ngân hàng đều không nhận được.

Như vậy, mong muốn của Chính phủ là chuyển giao phần 17.000 tỉ đồng hỗ trợ cho các doanh nghiệp chứ không phải là ngân hàng nhưng do tính chất co dãn của cung và cầu quỹ cho vay mà mục tiêu này không thể đạt được hoàn toàn. Người vay vốn đúng là được hưởng mức lãi suất (rD) thấp hơn mức lãi suất cân bằng (r0) nhưng khoảng chênh lệch đó không phải là 4% như kỳ vọng, trong khi đó ngân hàng sẽ nhận được mức lãi suất thực tế rS cao hơn r0. Đặc biệt, một phần của khoản hỗ trợ sẽ bốc hơi mà không ai được nhận cả.

Vấn đề thứ hai: phân bổ vốn sai đối tượng

Bây giờ giả sử nếu có sự gia nhập thêm vào đường cầu quỹ cho vay của nhóm đối tượng không thuộc diện được hỗ trợ lãi suất, tức là cho vay không đúng đối tượng, lúc đó sẽ làm cho đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển sang phải, đẩy lãi suất cân bằng mới lên cao hơn so với lãi suất cân bằng trước đây. Việc phân tích lợi ích của các nhóm trong trường hợp này cũng tương tự như trên nhưng tại điểm cân bằng mới. Trường hợp này ngân hàng càng hưởng lợi nhiều hơn so với trường hợp trước đây, trong khi đó lợi ích của nhóm đối tượng được hỗ trợ sẽ giảm đi, thậm chí trong một số trường hợp còn bị thiệt hại do lợi ích đã chuyển vào túi những nhóm đối tượng không thuộc diện được hỗ trợ nhưng vẫn tiếp cận được vốn vay.

Báo cáo của NHNN cho thấy, tính đến cuối năm 2009, tổng số dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt gần 420.000 tỉ đồng (tính đến ngày 19-11-2009 là 416.737 tỉ đồng), trong khi chỉ khoảng trên 20% trong tổng số doanh nghiệp, tức khoảng 78.000 trong tổng số khoảng 390.000 doanh nghiệp tiếp cận được vốn hỗ trợ. Như vậy, tính bình quân mỗi doanh nghiệp vay được hơn 5 tỉ đồng vốn hỗ trợ. Con số này không nói được điều gì cả và con số 20% cũng không đủ để kết luận nhưng phải thừa nhận rằng không phải tất cả 78.000 doanh nghiệp này đều thuộc diện được hỗ trợ và cần thiết phải hỗ trợ. Trong khi số còn lại chưa hẳn là không cần hỗ trợ hay có thể họ là đối tượng đáng được hỗ trợ nhưng lại không thể tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Điều này cho thấy, sự tham gia của nhóm đối tượng bên ngoài có khả năng chèn lấn lợi ích của nhóm đối tượng bên trong.

Có nhiều nhóm đối tượng rất cần được hỗ trợ để vượt qua khó khăn, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (SMEs) và những hộ nông dân sản xuất nhỏ, nhưng trong thực tế do những thủ tục vay vốn quá phức tạp và nhiều lý do khác làm cho họ khó tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Trong khi đó, việc cho vay sai đối tượng hoặc cho vay trùng lắp với giá trị hàng ngàn tỉ đồng được NHNN báo cáo cũng chỉ là bề nổi của tảng băng mà thôi.

Vấn đề thứ ba: sử dụng vốn sai mục đích và các bong bóng tài sản

Ngoài những vấn đề trên thì việc sử dụng vốn sai mục đích cũng là một trong những vấn đề chính làm giảm hiệu quả của gói hỗ trợ lãi suất. Vấn đề đảo nợ là một ví dụ. Quan điểm của NHNN là không cho phép đảo nợ nhưng thực tế việc đảo nợ được phản ánh là đã và đang diễn ra. Tuy nhiên NHNN cho rằng qua thanh tra họ chưa phát hiện có hiện tượng đảo nợ. Đây có lẽ là tin vui cho doanh nghiệp hơn là cho NHNN.

Bên cạnh đó, một số trục trặc nảy sinh như tình trạng găm giữ ngoại tệ gây áp lực lên tỷ giá, hiện tượng đầu cơ đẩy giá vàng lên cao… liệu có phải được đóng góp một phần từ nguồn lực của gói hỗ trợ lãi suất không? Chỉ số chứng khoán trên cả hai sàn HOSE và HNX đều có tương quan đồng biến với số dư nợ tín dụng hỗ trợ lãi suất trong cùng thời gian, làm nảy sinh một số nghi vấn rằng liệu có vốn kích cầu chảy vào chứng khoán không?

Nếu việc tăng trưởng của chỉ số chứng khoán phản ánh vốn kích cầu đã phát huy tác dụng đối với ít nhất các doanh nghiệp niêm yết thì quả là một thành công đáng mừng, nhưng nếu đây là dấu hiệu của những bong bóng chứng khoán thì thật nguy hiểm. Chi phí kinh tế khi những bong bóng chứng khoán như vậy nổ tung là rất tốn kém. Bài học năm 2007 vẫn còn mới. Không có gì tệ hơn việc lợi dụng nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ để đầu cơ trục lợi trong điều kiện nền kinh tế còn muôn vàn những khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, không thể trách cứ và kêu gọi nhà đầu tư hãy sống bằng lương tâm được, bởi hành vi của họ là duy lý. Thay vào đó, chính phủ phải kết hợp hài hòa giữa những biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính để điều chỉnh những hành vi của nhà đầu tư, sửa chữa những thất bại của thị trường.

Tóm lại, gói “kích cầu” thông qua việc hỗ trợ lãi suất được phân tích như một khoản trợ cấp của chính phủ cho các doanh nghiệp bằng con đường tài khóa. Phân tích mô hình kinh tế vi mô giản đơn cho thấy tự mô thức của gói “kích cầu” đã có trục trặc làm cho đối tượng thụ hưởng chính sách không đạt được hết lợi ích kỳ vọng. Mô hình chứng minh không những nhóm đối tượng được hỗ trợ lãi suất mục tiêu mà còn là hệ thống ngân hàng và cả các nhóm ngoài đối tượng hỗ trợ cũng được hưởng lợi. Tất nhiên, nếu đứng ở một góc độ khác là toàn bộ nền kinh tế thì điều này không hẳn là hoàn toàn xấu. Thế nhưng, điều quan trọng liên quan đến cách thức hỗ trợ lãi suất đã tạo ra những mất mát vô ích cho nền kinh tế mà lẽ ra không đáng có trong điều kiện các nguồn lực đang rất hạn hữu như hiện nay.

Đỗ Thiên Anh Tuấn

Đồ cổ: Thật và giả

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 7:34 pm
Tags:

(ANTĐ) – Cuộc sống ngày nay giờ đã khấm khá hơn trước rất nhiều. Gánh nặng cơm áo đối với nhiều gia đình nơi phố phường giờ cũng đã vợi đi tới dăm bảy phần. Nhưng khi mà thu nhập cá nhân tăng lên thì cổ vật cũng ít đi, kéo theo giá tiền đầu tư cho cổ vật cũng cao lên.

Một xưởng sản xuất gốm Chu Đậu- Hải Dương

Nơi hội tụ đồ gốm cổ

Ở Hà Nội, vào mỗi dịp Tết, vỉa hè dọc phố Hàng Lược, Hàng Mã… người ta bày ê hề đồ cổ ra bán. Thôi thì đủ loại, đồng, sắt, đá, gỗ, ngà, sơn mài, vải, giấy, ngọc, đất… nhưng nhiều nhất vẫn là gốm sứ. Lệ chơi gốm xưa được xếp vào một trong 4 thú chơi thanh tao: “nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ gốm”. Vì thế, nhiều người Hà Nội, cứ đến cận Tết lại có thói quen ra chợ đồ cổ, sắm cho mình một món đồ. Dù cho trong lòng không khỏi hoài nghi: “Đâu ra mà nhiều đồ cổ thế”?

Chúng ta vẫn chưa quên sự kiện trục vớt thành công con tàu gốm cổ ở Hội An (năm 1999), sau đó là con tàu Bình Thuận (năm 2001). Chưa bao giờ gốm cổ xuất hiện nhiều đến thế ở Việt Nam. Gốm cổ được bán theo lố, theo sọt, theo containner. Gốm cổ được các bà, các chị quảy gánh bán 20.000đ/chiếc, 150.000đ/chục và 700.000-800.000đ/gánh. Rồi Ủy ban đấu giá gốm cổ ra đời, 13 container gốm cổ được hãng đấu giá Christie’s bán lay lắt khắp thế giới trong suốt 5 năm. Kể từ đó, Việt Nam được biết tới là một trong những kho gốm cổ Đông Nam Á lớn nhất thế giới.

Phát đạt nghề làm đồ giả cổ

Vài kinh nghiệm nhận biết đồ phỏng: Đối với khách du lịch hay những tay chơi amateur thì dễ không phân biệt được đâu là đồ thật, đồ giả, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy mấy điểm: Đồ phỏng cổ thường trắng, men mịn, đều, nét chắc chắn, tròn trịa, trong khi đó đồ “thật” thường có men hơi xanh, cũng có khi men chảy thành dòng, cầm nhẹ tay hơn, gõ tiếng kêu đục hơn… tóm lại là… xấu hơn. Hãy chú ý một số điểm sau:

– Cốt thai: Đồ phỏng thường nhẵn, mịn và màu men tươi, mới.

– Trang trí: Đồ phỏng thường được vẽ tỉ mẩn, cẩn thận, tô màu chuẩn mực, trong khi đồ thật ít khi, thường phóng tay. Nguyên nhân do tính bị động của người vẽ (cố phỏng cổ).

– Mầu coban của đồ phỏng thường xanh thẫm hoặc “sống” trên bề mặt trong khi đồ thật thường “nhuyễn” vào cốt gốm. Nguyên nhân do thời gian nung và do cả chất liệu coban. Đồ phỏng thường dùng coban hóa chất (không phải từ quặng coban) nên gây trở ngại trong công đoạn nung.

– Đồ phỏng thường trắng bởi nung bằng lò gas (công nghệ hiện đại) trong khi đồ thật thường là lò củi (hiện đại nhất thời đó: tk.16-17) nên có sắc xanh nhạt.

– Đồ phỏng thường thấy chắc, mịn là bởi nhiệt nung đều (cũng là vì lò gas) trong khi đồ thật khá “loạn xạ” do nấu bằng lò củi.

– Men đồ phỏng thường láng đều (không kể chuyện lạc tinh vì bị phun cát) trong khi thật có khi hơi lấm tấm vết nám đen, lỗ hổng men, dòng chảy men… cũng vì nguyên nhân lò củi…

Kể từ thời điểm năm 1999, khi con tàu cổ Hội An được trục vớt, đã 10 năm qua đi, gốm cổ cũng theo thời gian mà ít dần trong khi người mua ngày càng tăng. Một nghề mới ra đời, đó là sản xuất gốm giả cổ. Nghề này đối với chúng ta tuy là mới, nhưng đối với Cảnh Đức trấn – Trung Quốc lại là quá trẻ. Bằng nhiều cách, những thợ nghề Việt tìm đường sang Cảnh Đức học nghề. Ít nhất cho đến ngày nay, có hai cơ sở thành danh mà một là “nghệ sĩ” của đồ sứ “giả cổ” diệu nghệ Chu Bá Tước ở Bắc Giang – một vùng “trắng” của truyền thống gốm sứ và một là Chu Đậu – Hải Dương. Suốt 10 năm âm thầm sản xuất và cũng âm thầm tiêu thụ, đến khi tham gia cuộc triển lãm hoành tráng của nghệ sĩ Trịnh Bách về trang phục cung đình triều Nguyễn, với sự xuất hiện của vài món đồ mô phỏng sứ thanh hoa của triều Nguyễn với chất lượng cao, đã khiến cho tiếng tăm của Chu Bá Tước nổi như cồn.

Hai từ “giả cổ” – nghe thoáng qua tưởng nó chỉ đơn giản như việc người ta làm đồ giả, trà trộn vào đồ thật bán kiếm lời. Nhưng cái thuật làm đồ giả cổ của những nghệ nhân gốm sứ xem chừng phải mất rất nhiều công phu. Để làm được thứ… đồ giả này người làm phải có óc quan sát tinh tế, bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng phong phú và sự am hiểu nhất định về món đồ mà anh ta định làm giả. Có thể mường tượng, anh ta là một họa sĩ tài ba, điêu khắc gia, nhà hóa chất và… hơn cả là có vài % may mắn… Những sản phẩm của Chu Bá Tước không chỉ dừng ở đó.

Những mẫu gốm sứ tìm thấy trong các tàu đắm vớt được biển Việt Nam gần đây là những tiêu bản quý để Chu Bá Tước chế tác đồ giả cổ. Bình thường, không ai dại gì bỏ 300.000 đồng (giá tại chỗ) để mua một chiếc đĩa đường kính 30cm về dùng. Đầu ra của các sản phẩm này chính là các cửa hàng lưu niệm với giá 50 – 300 USD tùy thuộc vào từng món đồ. Một cơ sở quy mô và hoành tráng hơn phải kể đến là Cơ sở sản xuất gốm sứ Chu Đậu do Tập đoàn Hapro đầu tư ở chính quê hương gốm Chu Đậu, tỉnh Hải Dương nếu không muốn kể đến cả một làng nghề rừng rực lửa gốm đã 400 năm Bát Tràng.

Nhiều trăm năm lịch sử đã qua đi. Những tạo vật cũng phải trải qua binh lửa và thời gian. Không thiếu gì đồ thật đã nát nhưng “bản sao” lại còn. Xã hội ổn định, kinh tế phát triển và đồ cổ nối đuôi nhau được “tìm thấy”. Trong biển… cổ vật đó, ai dám “dũng cảm” khẳng định đồ thật… đồ giả… nếu chỉ còn vài độc bản cư trú cách nhau đến cả chục ngàn kilômét? Thế thì, những ai nếu trót dính máu “sưu tầm”, cố mà suy xét, cố mà học hỏi, rồi cố mà… thanh minh cho những món đồ 50-50 (50 thật, 50 giả) của mình. Xét cho cùng, nếu không ra thương trường, không đi vào học thuật, chỉ là để bày cho “đẹp nhãn, đẹp nhĩ…” thì… thật-giả khác gì nhau?

Ngân hàng quay cuồng tiền cho kịp quyết toán!

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:33 pm
Tags: ,
Gọi điện hẹn gặp mấy anh bạn làm giám đốc ngân hàng mấy ngày nay thật khó. Anh em lâu ngày không gặp, định hàn huyên một bữa “tất niên”, nhưng mấy anh bạn dứt khoát: Chịu chết, tôi phải “trực chiến” mấy ngày cuối năm ở cơ quan không thể đi đâu được. Nhất là ngày 31/12 này thì chỉ có nước “mắc màn” ngủ lại cơ quan để làm cho kịp quyết toán năm.

Không những kẹt cứng về thời gian, nhiều ông bạn cũng không giấu được vẻ mặt bơ phờ vì phải lo chạy đôn đáo tiền để cho “đẹp” số dư huy động khi chốt sổ!

Từ lãnh đạo đến nhân viên bơ phờ vì… tiền

“Tôi có ông bạn, mấy hôm nay gặp là cứ than vãn không biết ‘moi’ đâu ra 300 triệu đồng cho ba đứa cháu làm ở ba ngân hàng. Bởi, cứ đến ngày cuối năm, nếu ai chưa đủ chỉ tiêu dư nợ huy động thì phải cố đạt cho kỳ được, nếu không muốn bị xếp loại B. Mà ở ngân hàng, chênh lệch tiền thưởng giữa loại A và B là cả chục triệu đồng chứ chẳng ít,” ông Thăng, một chuyên gia từng là lãnh đạo ngân hàng cho biết.

Năm nay, nhiều ngân hàng cổ phần đang phải lo méo mặt, phần vì chỉ tiêu về tăng trưởng dư nợ cho vay bị “siết lại,” trong khi chỉ tiêu về huy động thì lại phải “phình” ra càng nhiều càng tốt! Ai cũng muốn khi chốt sổ quyết toán ngày 31/12, cột bên huy động phải “thặng dư” so với cột bên cho vay.

Chính vì thế, có một chuyện tưởng như là chuyện cười, khi trong mấy ngày nay, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp cho biết họ đều “bị” các ngân hàng “ruột” hỏi thăm cho “mượn” tiền khoảng từ 2-4 ngày. Thậm chí, có doanh nghiệp vì cuối năm cũng cần tiền phải chi tiêu lương, thưởng hay thanh toán các khoản hợp đồng đến hạn thanh toán, cũng đành phải cho ngân hàng mượn đỡ tiền… trong 1 ngày!

“Đích thân lãnh đạo ngân hàng tôi có quan hệ thân thiết điện thoại nhờ tôi gửi tiền vào, dù chỉ 1 ngày, 31/12 chuyển vào rồi ngay ngày 1/1 là có thể rút ra ngay nên dù bí lắm nhưng tôi cũng không thể từ chối. Vì những lúc mình khó khăn, họ cũng luôn giúp mình nhiệt tình, thì nay không thể chỉ vì có 1 ngày mà mình làm họ thất vọng,” bà Xuân, chủ một doanh nghiệp ở Hà Nội cho hay.

Thế mới có chuyện, lãnh đạo một chi nhánh ngân hàng cổ phần ở Cầu Giấy vui ra mặt khi chỉ trong 1 ngày 29/12, anh và nhân viên đôn đáo đi “nhờ vả” đã huy động được 30 tỷ đồng tiền mặt, chưa kể trên 10 tỷ đồng được chuyển khoản. “Chỉ trong buổi sáng lượn một vòng qua mấy doanh nghiệp thân quen, anh em đã có thể đếm tiền cật lực đến tận 7h tối. Mệt nhưng mà vui,” vị lãnh đạo này khoe.

…Và nỗi lo lãi suất

Cũng chính vì yêu tố “thời vụ” nên mới có chuyện cứ vào dịp cuối năm là ngân hàng vắt chân lên cổ lo chạy tiền, còn nhiều doanh nghiệp lại ung dung “kiếm tiền” ngay trên lưng chính ngân hàng!

Lãnh đạo một ngân hàng cổ phần cho biết, do áp lực phải huy động bằng được nên nhiều ngân hàng đã đẩy lãi suất lên tới 16%/năm, trong khi lãi suất cho vay tối đa là 12%/năm.

Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã đến rút tiền ở các ngân hàng có lãi suất huy động không cao để mang đến gửi tại ngân hàng có lãi suất ở mức hấp dẫn ngất ngưởng đó, để rồi lại được vay tới 90% chính số tiền mình đã gửi với lãi suất chỉ có 12%/năm.

Thậm chí, có ngân hàng từng xôn xao khi một cá nhân có tiền gửi lên tới 350 tỷ đồng chỉ trong 1 ngày đã xin rút hết số tiền trên khỏi ngân hàng, với lý do lãi suất tại ngân hàng đó chỉ “kịch đường” là 12%/năm trong khi một ngân hàng khác đang mời chào lãi suất tới 16%/năm. Thế là, cũng chính vị khách này, sau khi đã gật đầu đồng ý chuyển sang gửi tiền tại ngân hàng nọ, lãnh đạo ngân hàng đó ngay lập tức cho xe áp giải tiền cùng vệ sĩ và nhân viên kho quỹ đến ngân hàng kia để rút tiền…

Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng mà khách hàng rút tiền chỉ còn biết “ngồi khóc” vì không có cách nào giữ chân, thậm chí còn bị rơi vào tình trạng mất thanh khoản trong một vài thời điểm nhất định.

Đó là chưa kể, dịp cuối năm nay cũng là hạn nhiều ngân hàng phải tăng vốn để phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Áp lực quyết toán, cùng với tín hiệu “thắt chặt” tín dụng từ phía Ngân hàng Nhà nước đã khiến nhiều ngân hàng rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan.” Trong khi mải lo với nhiệm vụ của năm 2009, nhiều lãnh đạo ngân hàng cũng không giấu được vẻ lo lắng khi nhìn về năm 2010-năm mà khó khăn của doanh nghiệp đã bị đẩy lên gấp đôi (lãi suất cho vay từ 6,5% lên 12%)!

theo TTXVN
Việt Báo (Theo_VnMedia)

Credit target points to credibility gap

Filed under: Uncategorized — ktetaichinh @ 5:23 pm
Tags: ,

When the State Bank announced a 30 per cent credit growth target for 2009, some banking experts thought back to 2007.

In 2007, the authority also set a 30 per cent credit growth target, which in reality turned out to be 52 per cent. The same scenario happened in 2009 as credit expansion finally reached 37.73 per cent.

While central banks worldwide normally set inflation controls or nominal gross domestic product (GDP) growth as a prime target, the State Bank normally sets credit growth as a major target. Its 2010 target is 25 per cent.

A financial expert said the target and ultimate result normally reflect a central bank’s credibility to bankers and business community. The State Bank said runaway credit growth in 2009 was due to the stimulus package via a bank lending rate subsidy. By December 10, 2009, total bank loans extended through this package amounted to VND445 trillion ($24 billion).

Nguyen Thi Mui, a member of the National Monetary Policy Consulting Board, said by setting a lower credit growth target in 2010 than previous three years, the State Bank showed its determination to control inflation. “However, it should be noted that monetary policy is flexible to economic movements,” said Mui.

Michel Tosto, an institutional sales senior manager at VinaSecurities, said inflation was not a worry as long as it stayed in the single digit range. “But, we could see some interest rate hikes in the New Year, especially if the economy picks up strongly as many expect.”

The consumer price index (CPI) grew by 1.38 per cent month-on-month by end of December. The aggregate CPI increase in 2009 was estimated at 6.52 per cent. Last week, the State Bank decided to keep the base rate unchanged at 8 per cent in January, 2010. In Vietnam, banks are allowed to set mobilisation and lending rates within 1.5 times of the base rate.

A Vietinbank official said controlling credit growth was not an easy task. “Banks have money, enterprises want to borrow then loans will be extended,” she said. Normally, the State Bank contains the credit growth by imposing requests on state-owned banks and equitised banks like Vietinbank and Vietcombank where the state still holds golden stakes. These banks together make up 60-70 per cent of the credit market.

An Asia Commercial Bank official said credit growth would be driven in tune with economic growth. That means if the economic growth is slower than expected, credit expansion could be paced up and vice versa.
Prime Minister Nguyen Tan Dung admitted that Vietnam’s 5 per cent GDP expansion in 2009 despite macro difficulties was bsupported by effective monetary policy.

VietNamNet/VIRx

Create a free website or blog at WordPress.com.